Trà chiều

Cách nhìn thế giới qua lăng kính của Định luật I Newton

Published

on

Vật lý có lẽ là nỗi ám ảnh của rất nhiều thế hệ học sinh, và chắc cũng không ít bạn cho rằng nó là môn học vô vị, nhàm chán hay thậm chí là khó hiểu và đáng sợ. Nhưng theo tôi, vật lý cũng như bao môn học khác – nó có điểm thú vị của riêng nó. Mong rằng sau khi đọc bài viết, tôi có thể thay đổi chút ít cái nhìn của bạn về bộ môn này. Mà các bạn yên tâm đi, hôm nay chúng ta sẽ chẳng nói gì về tính toán cả đâu.

Vật lý là bộ môn khoa học tự nhiên chú trọng về thực nghiệm, lí thuyết và tính toán. Nhưng thông qua cơ duyên nào đó, hay vì do bản chất của ngành khoa học này là nghiên cứu về thế giới xung quanh, mà một số định luật vật lý lại tình cờ mang những ý nghĩa nhân văn sâu sắc và có thể ứng dụng vào cả đời sống xã hội của con người. Sau đây sẽ là một số bài học không ngờ đến về cuộc sống, khi bạn nhìn nhận định luật của nhà vật lý thiên tài Newton qua một lăng kính, một góc nhìn có phần khác lạ một chút.

*

Định luật I Newton:

Định luật này nói rằng, một vật nếu không chịu tác dụng của bất cứ lực nào hoặc tất cả các lực tác dụng lên vật đã tự triệt tiêu lẫn nhau (hợp lực bằng không) thì một vật đang đứng yên sẽ tiếp tục đứng yên, một vật đang chuyển động thẳng đều sẽ tiếp tục chuyển động thẳng đều.

Chỉ qua vài câu thôi, nhưng tôi vừa mô tả cho bạn một bản chất cơ bản của bản thân bạn, của tôi và của cả vũ trụ này nữa. Đó chính là mọi vật trên thế gian này đều muốn bảo toàn trạng thái hiện tại của nó.

Một viên đá nằm trên mặt đất, nếu không ai động vào nó, nếu không có gió thổi vào nó; nếu không có côn trùng, vi khuẩn, nấm mốc đến đục khoét thì viên đá đó chắc chắn sẽ nằm yên tại đó hàng triệu, hàng tỷ năm. Điều này nghe qua thì có đôi chút vô lí nhỉ? Nhiều điều kiện đến thế thì làm gì có hòn đá nào đáp ứng được, đúng không? Bạn nói cũng không hẳn sai đâu, một viên đá nằm mãi mãi ở một chỗ thì đúng là gần như không thể trong cái thế giới vận động không ngừng này của chúng ta. Nhưng liệu bạn có biết, trên cái hành tinh đầy biến động này, nơi mà qua hàng triệu năm, đáy biển cổ đại có thể bị vỏ Trái Đất đẩy lên thành ngọn núi khổng lồ cao hàng ngàn mét; nơi một vùng biển, một vùng nhiệt đới ẩm ướt khi xưa giờ lại hóa thành sa mạc Sahara rộng lớn và khô cằn, ấy thế mà vẫn tồn tại những hòn đá mong manh nằm yên và còn nguyên vẹn suốt hàng triệu năm. Đó là những hoá thạch cổ đại, những hòn đá chứa di tích của những sinh vật đã sống cách đây từ rất lâu, rất lâu rồi. Những hòn đá hoá thạch này, chúng chôn mình sâu trong đất đá, trốn tránh khỏi thế giới hiện thực đầy biến động để rồi sau hàng triệu năm, chúng vẫn chỉ là những hòn đá vô tri vô giác, suốt hàng triệu năm mà cũng chẳng đổi thay gì cả.

Bạn cũng như vậy đấy, nếu cứ sống khép mình mà trốn tránh khỏi thế giới, nếu cứ ở yên đấy chờ cơ hội đến với mình thì dù có bao lâu nữa trôi qua, bạn cũng sẽ chẳng có chút tiến bộ nào so với ngày hôm nay đâu, cũng sẽ giống như hòn hoá thạch kia mãi chẳng thay đổi được gì cả, mãi mãi cứ tiếp tục đứng yên, đứng yên và đứng yên. Như một di tích từ một quá khứ xa xăm nào đó, cứ nằm đấy mãi không chịu thay đổi.

Một vật khi đã đứng yên thì nó tiếp tục đứng yên để bảo tồn cái trạng thái ù lì, bị động, lười biếng của bản thân. Vì đó là bản chất của vạn vật trên thế giới này, và cả trong vũ trụ rộng lớn bao la này. Bảo toàn trạng thái hiện tại chính là lý tưởng của vạn vật.

Nhưng khoan đã nào, liệu các bạn có đang thắc mắc, rằng nếu như mọi vật đang đứng yên đều muốn tiếp tục đứng yên, vậy thì tại sao mọi thứ xung quanh chúng ta, mọi thứ trong thế giới của chúng ta đều cứ như là đang không ngừng vận động. Bạn có đang băn khoăn về điều này không? Quả đúng là một nghịch lí phải không nào?

Sau đây là lí giải của tôi, sở dĩ mọi thứ xung quanh ta đều có vẻ đang không ngừng vận động trong khi bản chất của chúng lại là luôn muốn bảo toàn trạng thái là vì một trong hai lí do sau:

Lí do thứ nhất, trạng thái ban đầu của chúng đã là “chuyển động” nên chúng muốn tiếp tục bảo toàn trạng thái này. Một người từ lúc còn nhỏ đã siêng năng chăm chỉ, ngày nào cũng được mẹ gọi dậy thật sớm, thì đến lúc trưởng thành, người này hẳn vẫn sẽ cứ tiếp tục siêng năng chăm chỉ, ngày nào cũng sẽ dậy thật sớm như năm xưa dù không có mẹ gọi dậy nữa. Cả Trái Đất của chúng ta cũng vậy, ngày từ lúc được tạo thành nó đã chuyển động quay vòng xung quanh Mặt Trời rồi, nên đến tận ngày nay – 4,5 tỷ năm sau khi được sinh ra – Trái Đất vẫn cứ thế, vẫn còn quay quanh Mặt Trời. Trong vật lý, người ta có một tên gọi cho hiện tượng xuất hiện trong hai ví dụ trên – hiện tượng các vật muốn tiếp tục bảo toàn trạng thái hiện tại, đó là quán tính. Định luật I Newton còn được gọi là định luật quán tính, cũng chính vì lí do này.

Lí do thứ hai, trong vật lý có hai yếu tố khiến cho một vật đang đứng yên sẽ không thể tiếp tục đứng yên, một vật đang chuyển động thẳng đều sẽ không thể tiếp tục chuyển động thẳng đều, khiến cho vạn vật phải không ngừng vận động, không thể bảo toàn được trạng thái hiện tại, đó là ngoại lực và nội lực.

Nội lực là các yếu tố bên trong. Nếu muốn cuộc sống của bản thân thay đổi, nếu muốn bản thân mình cũng “vận động” không ngừng, thì dùng chính sức lực tự thân là một cách. Sử dụng chính ý chí, nghị lực và năng lực của bản thân để thay đổi cuộc sống, thay đổi thế giới của chính mình.

Việc này nói thì dễ nhưng làm thì lại rất khó, vì nếu muốn tạo ra một thay đổi thật sự, “nội lực” của bạn phải thật sự đủ mạnh. Có đủ sức mạnh ý chí từ bên trong để thay đổi đã là khó, nhưng có đủ quyết tâm để duy trì ý chí đó lại càng khó khăn hơn gấp bội phần. Sức mạnh ý chí vốn không phải là một tài nguyên vô tận, nó sẽ hao mòn dần theo năm tháng. Mỗi ngày tôi sẽ chạy bộ 10km – một lời hứa ai cũng làm được, nhưng có bao nhiêu người đủ ý chí để thực hiện điều đó được một ngày, bao nhiêu người sẽ thực hiện điều đó được ba ngày, một tuần, một tháng, một năm rồi xuyên suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời. Ý chí không phải là thứ ai cũng có và những người có khả năng duy trì sức mạnh ý chí suốt một thời gian dài lại càng hiếm hơn.

Vậy nên, nếu như bạn muốn dựa vào “nội lực” của bản thân để thay đổi cuộc sống của mình từ “đứng yên” sang “chuyển động” thì hãy dồn thật nhiều ý chí ngay từ lúc ban đầu, nhưng đừng dùng nó để duy trì một trạng thái “chuyển động” tạm bợ nào đó, vì khi ý chí của bạn cạn kiệt, “chuyển động” kia sẽ dừng lại và cuộc sống của bạn sẽ trở về với trạng thái đứng yên ban đầu. Việc bạn cần làm là hãy dồn thật nhiều công sức để biến trạng thái “đứng yên” của bản thân thành một “chuyển động thẳng đều”. Vì một vật chuyển động thẳng đều sẽ tiếp tục chuyển động thẳng đều, một vật đã quen với chuyển động sẽ tiếp tục chuyển động, vì nó đã có quán tính, vì quán tính của nó lúc này là một quán tính chuyển động. Có nghĩa là nếu như bạn muốn thay đổi cuộc sống của bản thân, hãy dồn thật nhiều quyết tâm để hình thành những thói quen sẽ tạo nên cuộc sống mới đó. Vì thói quen thì không cần nguồn nhiên liệu là sức mạnh ý chí để vận hành. Đây là một cuộc đua với thời gian, cuộc đua dùng ý chí để hình thành thói quen trước khi ý chí bị cạn kiệt. Một khi thói quen đã được hình thành thì bạn đã có “quán tính chuyển động”, bạn đã phần nào “chuyển động thẳng đều”, mọi thứ đã đi vào quỹ đạo. Khi ấy, hẳn là việc tiếp tục “chuyển động không ngừng” cũng sẽ dễ như việc Trái Đất dù không cần làm gì nhiều vẫn có thể quay quanh Mặt Trời suốt hàng tỷ năm.

Còn nếu bạn nghĩ bản thân sẽ không bao giờ có đủ ý chí để thay đổi (“nội lực” không đủ) thì vẫn còn một lựa chọn khác. Đó là ngoại lực – những yếu tố bên ngoài. Hãy tìm cho bản thân một ngoại lực để không ngừng nhắc nhở bản thân tiến lên phía trước, hay ít ra là một ngoại lực có thể thúc đẩy bạn mỗi khi ý chí đã bị hao mòn. Ngoại lực có thể là rất nhiều thứ, ví dụ như một người không ngừng nhắc nhở, phê bình bạn (dù sẽ có những lúc hơi phiền một chút nhưng đây là một cách vô cùng hiệu quả), một môi trường mới nơi những thách thức luôn đổ dồn về phía bạn. Còn nếu như không thể tìm được một người luôn ở cạnh và nhắc nhở bản thân thì bạn hãy trở thành người đó. Trong lúc ý chí còn đủ mạnh, hãy viết ra những việc phải làm, những thứ bạn muốn sửa đổi để tự nhắc nhở bản thân trong tương lai. Nhưng tuyệt đối phải luôn ghi nhớ rằng, bản thân trong tương lai này cũng chính là bạn chứ không phải một ai khác; việc bạn viết ra hôm nay sẽ do chính bạn thực hiện trong ngày mai, chứ không phải một đầy tớ thần kì nào đó sẽ hoàn thành mọi việc bạn giao phó.

Như đã nói ở trên, ý chí và quyết tâm là thứ sẽ hao mòn dần theo thời gian, khi đã quyết tâm thực hiện một việc lớn như thay đổi bản thân thì cuộc đua với thời gian cũng chính thức bắt đầu – cuộc đua hình thành những thói quen mới trước khi ý chí cạn kiệt. Nếu muốn có thêm chút ưu thế trong một cuộc đua như vậy, hãy tạo trước cho bản thân trong tương lai những nguồn ngoại lực để tiếp thêm sức mạnh. Hãy viết ra cho bản thân những lý do làm bạn muốn thay đổi và hãy vẽ tự vẽ ra viễn cảnh khi mà bạn đã thay đổi thành công. Để đến khi nào mỏi mệt khi lấy ra mà ngẫm lại, để nhớ xem vì sao bạn phải tiếp tục cố gắng: nếu cứ tiếp tục cuộc chiến với thời gian, với ý chí, những tương lai tốt đẹp nào sẽ chào đón bạn. Nếu những lời văn dông dài không hợp với bạn, hãy thử dùng một hình ảnh, một câu nói truyền cảm hứng, một báo thức trên điện thoại nhắc nhở bạn đi làm việc đúng giờ,… Bất cứ thứ gì cũng sẽ là một nguồn ngoại lực hiệu quả nếu nó có thể làm cho bạn gợi nhớ về động lực của bản thân để hướng đến tương lai.

*

Khi viết ra những định luật của mình, có lẽ Newton chỉ muốn mô tả một bản chất căn nguyên của vạn vật – quán tính – việc vạn vật luôn muốn bảo toàn trạng thái hiện tại. Nhưng phải chăng vì con người chúng ta dù có phức tạp đến đâu thì cũng chỉ là một vật thể nhỏ bé trong cái vũ trụ rộng lớn này, nên từ cơ thể đến suy nghĩ, thói quen rồi đến cả hành vi cũng đều có quán tính, cũng đều muốn bảo toàn trạng thái hiện tại.

Vậy, nếu con người ta muốn thoát khỏi trạng thái “đứng yên” của bản thân, mà chỉ có hai con đường để lựa chọn – ngoại lực và nội lực, ta nên chọn con đường nào?

Nội lực là lực từ bên trong. Ngoại lực là lực đến từ bên ngoài. Nếu bạn muốn cuộc sống thường ngày buồn chán của mình thay đổi, muốn xoá bỏ các thói quen xấu, hay muốn được quyền quyết định cái phần tương lai mơ hồ phía trước thì chỉ có hai cách: một là dùng chính sức mạnh và nghị lực nơi bản thân mình; hai là vay mượn sức mạnh từ thế giới xung quanh. Nhưng dù bạn có chọn cách nào đi nữa, hay thậm chí là phối hợp sử dụng cả hai cách trên, thì cũng hãy nhớ rằng thứ mà bạn đang cố thay đổi là chính bản thân mình, là “quán tính” của bản thân. Nếu “quán tính” hiện tại của bạn vẫn còn đang đứng yên chứ chưa chuyển động thẳng đều thì sớm muộn cũng có ngày nó quay về trạng thái đứng yên đấy nhé. Nếu như đó không phải là điều bạn muốn, vậy thì hãy cố gắng mà thay đổi đi.

Hết.

Stern

*

Bài viết có liên quan



Click to comment

Viết bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Trà chiều

Phía sau Ngày của Mẹ: Câu chuyện lịch sử bị lãng quên

Published

on

Ít ai biết rằng, Ngày của Mẹ khởi nguồn như một phong trào của những người phụ nữ mong muốn mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân Mỹ. Nguồn gốc bị lãng quên ấy xuất phát từ hai nhà hoạt động suốt đời cống hiến những nỗ lực cải thiện y tế, phúc lợi và hòa bình. Hiểu về lịch sử Ngày của Mẹ - để thêm trân trọng và tìm thấy cảm hứng từ đó.

Ai là người sáng lập ra Ngày của Mẹ?

Việc tạo ra một ngày lễ quốc gia dành riêng cho mẹ phần lớn là công lao của ba người phụ nữ: Julia Ward Howe, Ann Reeves Jarvis, và con gái của Ann - Anna M. Jarvis.

Ann Reeves Jarvis

Được nhiều người gọi trìu mến là “Mẹ Jarvis”, Ann Reeves Jarvis là một người nội trợ trẻ sống ở vùng núi Appalachian, từng giảng dạy trong lớp học Kinh Thánh mỗi Chủ nhật. Nhưng bên cạnh đó, bà còn là một nhà hoạt động xã hội suốt đời. Vào giữa thế kỷ 19, bà đã tổ chức các “Câu lạc bộ hành động của những người Mẹ” (“Mothers’ Day Work Clubs”) tại West Virginia nhằm chống lại điều kiện sống mất vệ sinh nghiêm trọng lúc bấy giờ. Mẹ Jarvis lo lắng trước tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong quá cao - thậm chí trở nên tràn lan tại khu vực này, đồng thời mong muốn hỗ trợ và giáo dục các bà mẹ đang gặp khó khăn nhất.

Trong thời kì nội chiến Hoa Kỳ, bà tiếp tục tổ chức các đoàn phụ nữ, khuyến khích họ cùng giúp đỡ, bất kể chồng con họ đang đứng về phe nào. Sau chiến tranh, bà đề xuất tổ chức một “Ngày tình thân của những người Mẹ” (Mothers’ Friendship Day) - với hy vọng hàn gắn những rạn nứt giữa các gia đình từng đứng ở hai chiến tuyến: Liên minh miền Nam và Liên bang miền Bắc.

Julia Ward Howe

Julia Ward Howe là một nhà thơ và nhà cải cách nổi tiếng. Trong thời kỳ Nội chiến, bà tình nguyện làm việc cho Ủy ban Vệ sinh Hoa Kỳ, góp phần mang lại môi trường sạch sẽ cho các bệnh viện và đảm bảo điều kiện vệ sinh trong việc chăm sóc thương binh, bệnh binh. Năm 1861, bà sáng tác bài thánh ca nổi tiếng của thời Nội chiến – “The Battle Hymn of the Republic”, lần đầu được phát rộng rãi vào tháng 2 năm 1862. 

Khoảng năm 1870, Julia đã kêu gọi tổ chức riêng một “Ngày của Mẹ vì hòa bình” (“Mother’s Day for Peace”) để tôn vinh hòa bình và chấm dứt chiến tranh. Trong bản “Tuyên ngôn Ngày của Mẹ” (“Mother’s Day Proclamation”) do bà viết, Julia cảm thấy rằng chính những người mẹ - những người phải gánh chịu và thấu hiểu cái giá phải trả của chiến tranh - cần phải cùng nhau lên tiếng chống lại sự tàn khốc và sự phí hoài cuộc sống vì súng gươm. 

“Ngày của Mẹ” theo góc nhìn của Julia từng được tổ chức tại Boston và một vài nơi khác trong khoảng 30 năm nhưng nhanh chóng biến mất vào những năm trước Thế chiến thứ nhất.

Không có gì mới mẻ diễn ra trong phong trào này cho đến năm 1907, khi cô Anna M. Jarvis ở Philadelphia tiếp tục giương cao ngọn cờ ấy. 

Anna M. Jarvis

Sau khi mẹ qua đời vào năm 1905, cô Anna M. Jarvis ở Philadelphia đã ấp ủ ước nguyện tưởng nhớ cuộc đời đầy cống hiến của mẹ mình. Cô bắt đầu vận động một ngày lễ toàn quốc nhằm tôn vinh tất cả những người mẹ. “Tôi hy vọng và cầu nguyện rằng rồi sẽ có ai đó, vào một lúc nào đó, lập nên một ngày tôn vinh mẹ - để ghi nhận những cống hiến vĩ đại mẹ dành cho nhân loại trong mọi khía cạnh của cuộc sống,” Anna từng khẳng định - “Mẹ xứng đáng với điều đó.” 

Ý tưởng của Anna không xoay quanh những công việc xã hội như mẹ cô từng theo đuổi, mà thiên về việc tôn vinh vai trò thiêng liêng của người mẹ và những hy sinh thầm lặng trong mái ấm gia đình. Cô không ngừng gửi điện tín, thư từ, và gặp gỡ trực tiếp các nhân vật có tầm ảnh hưởng cũng như các tổ chức xã hội để thuyết phục họ ủng hộ. Dù tổ chức lớn hay nhỏ, cô đều kiên trì gửi thư trình bày ý tưởng của mình. Bằng chính tiền túi, Anna viết, in và phát hành hàng loạt tập sách ca ngợi Ngày của Mẹ.

Vì sao Ngày của Mẹ ở Mỹ lại rơi vào tháng 5?

Tháng 5 năm 1907, Anna tổ chức buổi lễ tưởng niệm để tưởng nhớ hành trình hoạt động không ngơi nghỉ của mẹ tại nhà thờ Giám Lý ở Grafton, West Virginia – nơi bà từng giảng dạy. Một năm sau, vào ngày 10 tháng 5, một buổi lễ chính thức nhân Ngày của Mẹ được tổ chức tại chính nhà thờ đó, lần này để vinh danh tất cả những người mẹ. Từ đây, ý tưởng dành riêng Chủ nhật thứ hai của tháng 5 để tôn vinh mọi người mẹ - dù còn sống hay đã khuất - bắt đầu hình thành.

Nỗ lực của Anna dần gây được sự chú ý. Thị trưởng Philadelphia là người đầu tiên tuyên bố tổ chức Ngày của Mẹ tại địa phương. Từ đó, Anna tiếp tục hành trình vận động ở thủ đô Washington, D.C. Các chính trị gia ở đây nhanh chóng nhận thấy đây là một đề xuất đáng giá và bày tỏ sự ủng hộ công khai.

West Virginia là bang đầu tiên chính thức công nhận ngày này. Sau đó, nhiều bang khác cũng làm theo. Việc các bang liên tiếp đưa ra tuyên bố công nhận Ngày của Mẹ đã dẫn đến việc Hạ nghị sĩ J. Thomas Heflin (bang Alabama) và Thượng nghị sĩ Morris Sheppard (bang Texas) cùng đệ trình một nghị quyết lên Quốc hội nhằm công nhận Ngày của Mẹ là ngày lễ trên toàn quốc. Cả hai viện của Quốc hội đều thông qua nghị quyết.

Đến năm 1914, Tổng thống Woodrow Wilson đã ký ban hành đạo luật chính thức công nhận Chủ nhật thứ hai của tháng 5 là ngày lễ quốc gia với tên gọi “Ngày của Mẹ” - dành riêng cho “người mẹ tuyệt vời nhất trên đời: mẹ của bạn.”

Trong những năm đầu tiên, Ngày của Mẹ được tổ chức một cách mộc mạc và đầy thành kính - thường là qua các buổi lễ nhà thờ để tưởng nhớ và vinh danh các bà mẹ, dù còn sống hay đã qua đời.

Ngọt ngào xen lẫn đắng cay khi kế thừa Ngày của Mẹ

Theo nhiều tài liệu, điều duy nhất mà Anna mong muốn là tưởng nhớ mẹ mình - người mà cô tin là người khởi xướng thực sự của Ngày của Mẹ. Nhưng khi ngày lễ trở nên phổ biến, Anna dần cảm thấy thất vọng khi nó bị thương mại hóa: người ta gửi thiệp, tặng hoa một cách máy móc. Thậm chí cô không đồng tình khi các tổ chức phụ nữ hay hội từ thiện dùng Ngày của Mẹ để gây quỹ - điều khá mâu thuẫn nếu nhìn vào lý tưởng y tế cộng đồng mà mẹ cô từng theo đuổi.

Năm 1948, Anna Jarvis qua đời tại một viện dưỡng lão trong tình trạng sa sút trí tuệ.

Ngày của Mẹ hiện nay

Ngày của Mẹ vẫn bền bỉ tồn tại và không ngừng phát triển. Cũng giống như khởi nguồn ngày lễ bắt đầu từ sự sáng tạo của nhiều người phụ nữ, Ngày của Mẹ trong thời đại hiện nay tôn vinh sự đa dạng trong vai trò của người mẹ hiện đại. Chúng ta nhớ ơn những người mẹ đã đấu tranh để cải thiện cuộc sống của con cái bằng nhiều cách - từ phúc lợi xã hội đến lý tưởng phi bạo lực. Và hơn hết, chúng ta thấu hiểu, trân trọng tinh thần dũng cảm cùng đức hy sinh quý giá vô ngần dành cho con trẻ từ lúc chúng mới lọt lòng.

Hà Nhi dịch từ Almanac

Đọc bài viết

Trà chiều

Văn hóa đọc tại Việt Nam: Hành trình tỉnh thức trong thời đại mất tập trung

Khi cả thế giới đang quay cuồng trong cơn lốc của tốc độ, của công nghệ số và mạng xã hội, văn hóa đọc – vốn là một hoạt động tĩnh tại, cô độc và đòi hỏi sự kiên nhẫn – bỗng trở thành hiện tượng lạ giữa đời sống hiện đại.

Published

on

Một cú chạm màn hình có thể đưa bạn tới bất kỳ đâu: từ buổi hòa nhạc ở Vienna đến một bữa ăn đường phố ở Bangkok, từ những khoảnh khắc riêng tư của người xa lạ đến bản tin thời sự lúc rạng đông. Nhưng càng dễ dàng kết nối, chúng ta lại càng khó khăn trong việc lắng nghe chính mình. 

Và trong cuộc hành trình ấy, đọc sách - hành động tưởng như đã cũ kỹ, đang âm thầm trở lại như một nơi trú ẩn cuối cùng của tâm hồn hiện đại.

Văn hóa đọc không chỉ là việc “đọc sách”

Văn hóa đọc không nên được định nghĩa đơn giản chỉ là hành vi tiếp nhận văn bản in ấn, cần phải nhìn nó như là một cấu trúc hệ giá trị, nơi người đọc không chỉ tiêu thụ thông tin, mà còn tương tác với tri thức, phản tư, và từ đó tạo ra tầng sâu văn hóa cá nhân. Nên hiểu đọc là một hành vi văn hóa, không chỉ là kỹ năng.

Thế nhưng, tại Việt Nam, hành vi đọc nhiều khi bị giản lược thành “hoạt động học thuộc”. Cái gốc của việc đọc để hiểu mình và hiểu thế giới vẫn còn mờ nhạt trong đời sống học đường lẫn đời sống đô thị.

Chúng ta từng được dạy rằng đọc là để biết nhiều hơn. Nhưng biết không đồng nghĩa với hiểu. “Biết” là quá trình tiếp nhận và lưu trữ dữ liệu dưới dạng thông tin. “Hiểu” vượt lên trên điều đó - nó đòi hỏi sự tham gia của trải nghiệm cá nhân, khả năng phân tích, đồng cảm và cả những va chạm nội tâm. Một tác phẩm có giá trị không chỉ cung cấp tri thức ngoại tại, mà còn tạo điều kiện cho chủ thể tiếp nhận được soi chiếu, phản tỉnh từ đó nhận diện những lớp ẩn sâu của bản thể qua hình ảnh của người khác trong trang sách. 

Khi một đứa trẻ đọc Những tấm lòng cao cả, em sẽ không chỉ học đạo đức, mà bắt đầu cảm nhận được trái tim nhân loại. Khi một thiếu niên lần đầu đọc Người xa lạ của Camus, cậu ấy có thể không lý giải nổi thế giới, nhưng sẽ bắt đầu đặt câu hỏi về nó và về chính mình.

Vấn đề không nằm ở việc thiếu sách, mà thiếu “thái độ văn hóa” với sách

Mặc dù Việt Nam có hơn 30.000 đầu sách xuất bản mỗi năm (theo Cục Xuất bản), thế nhưng lượng sách bán ra tập trung chủ yếu ở thể loại giải trí, ngôn tình, self-help, còn các dòng sách triết học, văn hóa, nhân văn… chiếm tỷ lệ nhỏ hơn. Ta không thiếu sách, ta thiếu một nền tảng thẩm mỹ và nhân văn để lựa chọn sách một cách có chủ đích.

Nguyên nhân không chỉ nằm ở thời đại số làm thay đổi thói quen tiếp nhận thông tin, mà còn nằm ở cách giáo dục về đọc sách. Tại nhiều trường học, việc đọc vẫn gắn liền với hình thức kiểm tra, chấm điểm, làm bài văn nghị luận sách giáo khoa - điều khiến đọc sách trở thành một “nghĩa vụ” hơn là một hành trình khám phá. Gia đình, các bậc phụ huynh còn chưa thực sự nghiên cứu và đặt mối quan tâm lớn lao cho việc giáo dục con trẻ dẫn đến việc các em phụ thuộc quá nhiều vào các thiết bị công nghệ. 

Nhưng tín hiệu đáng mừng là trong những năm gần đây, chúng ta chứng kiến sự nở rộ của các phong trào đọc sách tự phát, không phải từ chỉ đạo hành chính, mà từ những con người đang đi tìm lại bản thân giữa cơn hỗn loạn của thông tin.

Đáng chú ý, sự phát triển của nền tảng số cũng không còn là lực cản, mà đang dần trở thành đòn bẩy cho việc tiếp cận sách: audio book, book podcast, nền tảng chia sẻ tóm tắt sách hay các cộng đồng đọc sách online đang lan tỏa mạnh mẽ. Sách không còn là một vật thể bất động mà trở thành dòng chảy đồng hành với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, âm thanh và cảm xúc.

Tất cả đang làm sống lại một giá trị xưa cũ: sự tĩnh lặng nội tâm. Đọc sách giờ đây không chỉ là tiếp nhận thông tin, mà là một hành động phản kháng với sự phân tán, ồn ào, và tiêu dùng giải trí mang tính chất "mì ăn liền".

Văn hóa đọc trong thời đại “siêu dữ liệu”

Thách thức lớn nhất với văn hóa đọc trong thời đại kỹ thuật số không phải là sự biến mất của sách giấy, mà là sự thoái hóa khả năng tập trung, năng lực phản tư và thái độ nghiêm túc của con người với tri thức. Chúng ta sống trong thời đại mà nội dung có thể bị tiêu thụ như thức ăn nhanh, nơi mọi người “đọc để phản ứng”, thay vì “đọc để cảm nghiệm”. Bởi vậy, chọn đọc - nhất là đọc sâu, đọc chậm giờ đây không chỉ là một lựa chọn mang tính trí tuệ, mà còn là một cách gìn giữ bản thân trước sự xao nhãng của thế giới hiện đại.

Đọc là kháng cự lại tốc độ. Là từ chối cái dễ. Là chọn cái sâu - dù biết nó chậm.

Văn hóa đọc giờ đây không chỉ là sách, mà còn là cách ta sống. Không chỉ là hành động cá nhân. Nó phản ánh cả một văn hóa. Một đất nước biết trân trọng sách là một đất nước không dễ bị lãng quên ký ức. Một thế hệ đọc sách là một thế hệ có nội lực.

Ở Việt Nam, từng có một thế kỷ mà sách được đọc bằng ánh đèn dầu, được chép tay, được truyền tay như những báu vật. Sách đi qua chiến tranh, qua đói nghèo, qua đạn bom, nhưng vẫn sống. Vấn đề của hôm nay không phải là thiếu sách, mà là quá nhiều thứ giành giật tâm trí ta khỏi sách.

Vấn đề sâu xa hơn: ta không còn coi đọc là một phần của việc sống đẹp. Thế giới đang dần lãng quên sự im lặng, sự chậm rãi, sự suy tư. Trong truyền thống tư tưởng phương Đông, đọc không phải là phương tiện để đạt được cái bên ngoài, mà là trở về với cái bên trong. Từ thời Lão - Trang, việc học, việc đọc vốn gắn liền với sự tĩnh tại của tâm. Đọc là tu thân. Đọc là dưỡng khí. Đọc là hành động đi ngược lại với sự xao động của đời sống, để khơi mở “minh tâm kiến tánh”, thấy lại chân diện mục của chính mình. 

Ngày xưa, các nho sĩ khi đọc sách thường đặt một bát nước trong veo bên cạnh, để “nếu tâm xao động thì nước đục” như một cách tự phản tỉnh. Người đọc không chỉ là kẻ truy cầu tri thức, mà còn là người gìn giữ đạo lý, tiết tháo và sự lặng thầm bền bỉ của văn hóa.

Trong thời đại siêu kết nối hiện nay, nghịch lý lớn nhất là con người càng lúc càng rỗng hơn giữa vô số dữ liệu. Chúng ta “biết” rất nhiều thứ nhưng lại hiểu rất ít điều, và càng ít sống sâu. Văn hóa đọc nếu được xem là một hệ sinh thái văn hóa bền vững - chính là cơ chế tự phòng vệ của trí tuệ trước sự tha hóa của thị hiếu và tốc độ.

Bởi vì đọc không chỉ là để “biết”, mà để nghi ngờ cái mình biết. Không chỉ để “giỏi lên”, mà để hiểu mình và hiểu người hơn. Và không chỉ để có tri thức, mà để trở nên người hơn trong thế giới ngày càng thiếu vắng chất người. 

Đọc - tự bản thân nó là một hành động kháng cự lại sự lãng quên, sự cạn mỏng và cả sự dễ dãi. Nó khơi mở lại điều tưởng như đã mất: một chiều sâu văn hóa không thể số hóa, không thể sao chép, thứ văn hóa được chưng cất từ mỗi lần lật trang, từ mỗi khoảnh khắc im lặng tự đối diện chính mình. Để được sống với một trái tim có lớp lang. 

Và nếu phải chọn một hành động lặng lẽ nào đó để định nghĩa tinh thần của một dân tộc đang muốn trở mình từ bên trong, thì đó hẳn phải là: đọc sách.

Ngọc Trâm

Đọc bài viết

Trà chiều

Vẻ đẹp từ những cuộc đời bình thường

Không cần phải nổi bật, bạn vẫn có thể sống một đời ý nghĩa.

Published

on

Làm người bình thường giờ đây bị ngầm hiểu là một thất bại trong một thế giới say mê những con người xuất chúng. Từ những giải vàng trong các trường tiểu học đến danh hiệu “nhân viên xuất sắc của tháng”; từ những tấm hình, thước phim được chọn lựa kĩ càng để đăng trên Instagram đến cuộc đua trở thành “phiên bản rực rỡ nhất của chính mình”, văn hóa của chúng ta không ngừng nâng cao chuẩn mực cho những tính từ “thành công”, “xứng đáng” hoặc thậm chí là “đủ”. Nhưng liên tục chạy đua để trở thành người xuất chúng liệu có khiến chúng ta hạnh phúc hơn hay chỉ đang gieo thêm lo âu, mặc cảm và đứt gãy trong kết nối giữa người với người?

Ẩn giấu trong những cuộc đời không mấy nổi bật vẫn tồn tại sự bình yên sâu lắng, đích đến đáng quý, thậm chí là vẻ đẹp đáng tôn vinh. Có lẽ đã đến lúc ta nên giành lại chân lý ấy - rằng không cần rực rỡ để sống một đời đáng sống.

Những chuẩn mực ngày càng leo cao

Ngay cả trẻ con giờ đây cũng không thoát khỏi chuỗi dài những kì vọng từ gia đình và xã hội. Trước kia, thời chúng ta đi học, “trung bình” được coi là nền tảng để phấn đấu, không có gì đáng xấu hổ. Nhưng nhìn xem, lũ trẻ bây giờ đang bị áp lực phải trở thành những người có thành tựu từ khi còn chưa học được cách chơi đùa vô tư. Giành được điểm A vẫn bị coi là chưa đủ tốt nếu chúng không mang thêm giải thưởng, tham gia hoạt động ngoại khóa và trong vai những người dẫn dắt, lãnh đạo đội nhóm. Những rào chắn vô hình không ngừng cao lên, vì thế chẳng ngạc nhiên khi những sinh viên mới bước vào ngưỡng cửa đại học hay thị trường lao động đã kiệt sức thay vì hạnh phúc. 

Mạng xã hội chỉ đổ thêm dầu vào lửa, đốt cháy cuộc đua kì vọng ấy hơn. Không dừng lại ở việc lướt xem những khoảnh khắc rực rỡ của người khác, chúng ta bắt đầu so sánh với cuộc đời chưa được đánh bóng của bản thân. Đọc được câu chuyện về những bạn trẻ 22 tuổi khởi nghiệp, đi du lịch vòng quanh thế giới, tự sắm nhà riêng - ta cảm thấy mình tụt lại vì mỗi ngày chỉ dậy đi làm và thanh toán hóa đơn. Những điều ấy trước kia từng được coi là phi thường, nay bỗng hóa tiêu chuẩn tối thiểu.

Ngay cả trong đời sống riêng, áp lực vẫn len lỏi. Ta phải là những người yêu lý tưởng, cha mẹ dịu dàng, giỏi chăm sóc bản thân và công dân đầy chánh niệm - tốt nhất là xong hết trước 9 giờ sáng. Người ta truyền nhau một quan niệm hiện đại, rằng: bạn đang lãng phí tiềm năng nếu không tối ưu từng giây phút của cuộc đời mình.

Nhưng nếu tiềm năng không phải là một chiếc thang để leo, mà là một không gian để ta an trú thì sao?

Phẩm giá ẩn sau lựa chọn một đời an yên

Hãy đổi cách ta kể câu chuyện. Sẽ ra sao nếu một cuộc sống “tầm trung” lại chính là một công việc đủ nuôi sống bản thân, những mối quan hệ đầy yêu thương, và một mái nhà rộn tiếng cười xen lẫn tiếng bát đũa? Không phải thứ để ta trốn chạy khi nhắc đến, mà là điều đáng để gìn giữ và trân trọng đúng không?

Thật tuyệt khi bạn xuất hiện trên mạng xã hội với những khoảnh khắc như vậy, dù cho chẳng có lời tán dương nào. Chúng ta vẫn luôn cần một người bạn chân thành, một người lạ biết cảm thông, và một đồng nghiệp đáng tin cậy. Những vai trò ấy hiếm khi xuất hiện trên mạng xã hội, nhưng chúng là sợi chỉ âm thầm dệt nên kết cấu bền chặt của xã hội -  điều mà danh vọng và tiền bạc đôi khi không thể làm được.

Hãy nghĩ về những giáo viên, lao công, y tá, tài xế, đầu bếp, điều dưỡng - những con người mà công việc thầm lặng của họ vẫn đang giữ cho thế giới vận hành. Họ có thể không bao giờ được gọi tên rộng rãi, nhưng công sức của họ chạm đến cuộc sống của biết bao người. Những tên gọi nghề nghiệp nghe có vẻ “bình thường”, nhưng những gì họ làm được thì không hề nhỏ bé.

Bình thường không có nghĩa là tầm thường. Đó là sự biết đủ với những gì bạn có, thay vì liên tục đem so với những cuộc đời khác. Đó là việc bạn hiểu rằng mình không thất bại chỉ vì không xuất chúng - chỉ cần là một con người đã luôn là điều đặc biệt. 

Những đánh đổi phía sau niềm tin phải trở nên xuất chúng

Bị cuốn vào cuộc đua theo đuổi sự vĩ đại thường dẫn ta đến tình trạng kiệt sức, lo âu và cô đơn. Chủ nghĩa cầu toàn gây ra chứng tê liệt cảm xúc, còn việc so sánh khiến ta đánh mất niềm vui. Ai cũng có thể “trên mức trung bình” - rõ ràng về mặt thống kê quan niệm này sai. Ấy vậy mà xã hội vẫn tiếp tục bán giấc mơ ấy, và ta vẫn tiếp tục mua nó, rồi cảm thấy mình chưa bao giờ đủ.

Ở một góc độ khác, việc tôn vinh thành công thái quá cũng hình thành một tâm thức thiếu hoàn thiện: nếu chỉ có một vài người ở đỉnh cao, thì phần còn lại ắt phải là kẻ thua cuộc. Nhưng cuộc sống đâu phải là một bảng xếp hạng, nó là bức tranh khảm đầy những niềm vui nhỏ bé, những khoảnh khắc yên tĩnh, và những kết nối thành thật giữa con người với nhau.

Ta chỉ thực sự sống trong hiện tại khi ngừng đuổi theo những cột mốc tiếp theo. Ta có thể tìm thấy sự đủ đầy, không phải trong việc trở nên khác biệt, mà trong cảm giác được thuộc về gia đình, cộng đồng và chính bản thân mình.

Viết lại định nghĩa “cuộc đời ý nghĩa”

Định hình lại những gì là cốt lõi của cuộc sống đòi hỏi sự can đảm - nhất là trong nền văn hóa đầy rẫy phô trương. Nó đồng nghĩa với việc khước từ lối sống "cày cuốc", chọn thầm lặng thay vì tiếng tăm, chọn sống sâu thay vì sống gấp, chọn sống đúng với hệ giá trị riêng của bản thân thay vì đứng trên những tiếng vỗ tay hào nhoáng.

Một cuộc đời ý nghĩa không được xây nên từ giải thưởng hay thuật toán mà được dệt từ những cuộc trò chuyện chân thật, những thói quen bồi đắp nên chúng ta, những bữa cơm trong gian bếp, những bước đi chậm rãi, những cử chỉ tử tế nhỏ nhoi - và nghỉ ngơi mà không mang theo cảm giác tội lỗi.

Hà Nhi dịch từ Psychology Today

Đọc bài viết

Cafe sáng