Phía sau trang sách

Bàn tiệc văn chương cho ngày Halloween đen tối

Published

on

Từ ma ca rồng đến hiệu ứng song trùng; chúc bạn dùng bữa ngon miệng.

1. Phỏng vấn ma cà rồng (Anne Rice)

Là một trong những mảnh ghép cấu thành nên vũ trụ ma cà rồng của Anne Rice (Ricean Universe), Phỏng vấn ma cà rồng mở ra cho ta góc nhìn về một thế giới mới lạ mà từ trước đến nay vẫn ít xuất hiện trong văn chương đương đại. Lấy bối cảnh thế kỷ 18 tràn ngập không gian gothic của những lời đồn đoán, Anne Rice khắc họa những nhân vật của mình một cách sống động, hợp lý và kỳ lạ thay, lại đầy tính người. Có thể nói, Phỏng vấn ma cà rồng là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất về ma ca rồng, khi nó không chỉ là những câu chuyện tưởng tượng mà song hành cùng đó còn là những hiện sinh chủ nghĩa tiến bước song hành. 

Chuyện kể về Louis, chủ một điền trang ở Lousiana vì quá đớn đau trước cái chết của vợ và đứa con mới chào đời, đã xin ân huệ là cái chết từ Lestat – một con ma cà rồng lâu năm. Lestat đồng thời vừa muốn chiếm đoạt số gia sản ấy, lại vừa muốn có một người bạn cạnh cầu; vì thế đã không giết mà biến Louis trở thành ma cà rồng như y, và kể từ đó số phận hai người gắn với nhau. Thế nhưng, sâu trong Louis luôn là những dằn vặt giữa thiện và ác, giữa con người và ma quái. Nhận thấy Louis có khả năng rời bỏ mình, Lestat đã dùng Claudia như đứa con chung để níu giữ anh. Claudia ngày càng lớn lên, nhận ra trạng thái mắc kẹt mãi mãi trong thân thể đứa trẻ sáu tuổi của mình, đã cùng Louis bàn cách giết chết Lestat và tìm đến những con ma cà rồng khác để được tự do và hiểu thêm về cuộc sống này. Thế nhưng vì mắc tội giết đi đồng loại, cả hai người họ đều bị sự phản trắc dội ngược, và cái kết là Claudia bị ép thiêu rụi trong ánh nắng ban ngày. Louis vì quá hằn thù những kẻ ấy nên đã đốt trụi rạp xiếc cùng những con ma cà rồng. Đến cuối, Lestat vẫn ở đó và cầu mong Louis trở lại, nhưng chỉ nhận được lời từ chối từ anh.

Với Phỏng vấn ma cà rồng, Anne Rice không những thành công trong việc khắc họa những con ma cà rồng “điển hình” nhất (nếu so với Chạng vạng), mà còn thành công ở một mặt khác, về khía cạnh hiện sinh. Nói Louis và Lestat, nhưng dễ dàng nhận ra, đó cũng đồng thời là hai bản ngã của một con người. Ở đây, Claudia được thêm vào dưới nhân dạng một đứa trẻ như nỗi kinh hãi, kinh hãi thật sự khi mãi mãi phải chìm trong thân xác đứa trẻ sáu tuổi dẫu cho thời gian đã phôi phai 70 năm. Hành động giết chết Lestat của Claudia và Louis như tiếng gọi tha thiết tự do, và Louis khi đốt trụi Théâtre des Vampire của những con ma cà rồng làm hại Claudia, nó như tiếng thét cuối cùng của bản chất lương thiện. Ma ca rồng dù sao vẫn từng là người, họ muốn sống và được yêu thương; và một cách thật sâu, Anne Rice đã đưa chính những triết lý đơn giản này vào câu chuyện tưởng chừng không liên quan như thế.

Với hơn tám triệu bản được bán ra trên toàn cầu và sự bảo chứng thành công của bản chuyển thể điện ảnh vào năm 1994 cùng những tên tuổi đắt giá như Tom Cruise, Brad Pitt, Kirsten Dunst, Phỏng vấn ma ca rồng cùng với Queen of the Damned của nữ sĩ tài họa yểu mệnh Aaliyah thật sự là hai tượng đài của thể loại tiểu thuyết kinh dị gây ám ảnh. Anne Rice đã thành công khi làm nên một vũ trụ của những nhân vật như thế; và biết đâu ngay khi cơn sốt siêu anh hùng của Marvel nguội lạnh vì bội thực, một thế giới ma cà rồng khác sẽ lại lên ngôi, thế chỗ, và mang lại những giá trị hiện sinh đầy ý nghĩa như thế?

2. 172 giờ trên mặt trăng (Johan Harstad)

Mang trong mình đầy đủ yếu tố kinh dị thường thấy của những tiểu thuyết trinh thám Bắc Âu, 172 giờ trên mặt trăng đem đến một sự kinh hãi dần dần cho người đọc như cơn triều rút. Mở ra không gian vũ trụ không mấy thân quen ở thì tương lai, Johan Harstad tha hồ sáng tạo nên những nhân vật không thực – mà ở đây rõ ràng anh đã không làm người đọc thất vọng. Cái hay của Johan là không tạo nên những nhân vật quá phi logic, vượt quá xa hiểu biết con người hay quá mang tính thể nghiệm thực dụng; mà ở đây, anh dùng những câu chuyện dân gian đồng thoại, kết hợp cùng những cái thực làm ra một thế giới vừa ảo tưởng đấy lại vừa thật đấy, vừa kinh hãi ghê rợn đấy nhưng nghe trong đó tiếng cười lại thành xa xôi.

172 giờ trên mặt trăng

Là một tiểu thuyết gia viết cho lớp thanh thiếu niên, câu chuyện trong tác phẩm này cũng tràn đầy hơi thở tuổi trẻ như thế. Lấy bối cảnh cuộc trở lại mặt trăng sau thành công những năm 60, ba đứa trẻ được NASA tuyển chọn trên khắp thế giới mang vinh hạnh thực hiện thử thách này, nhưng đằng sau đó, là những âm mưu của người đứng đầu bộ sậu về những nghi ngờ lịch sử đã từng xảy ra. Ở đó, Mia, Midori và Antoine như ba chú chuột thí nghiệm bị nhốt trong chiếc lồng sắt DARIAH 2 trên Biển bình yên để chờ những kỳ dị tới. Ở đó, trên chính trạm không gian bị bỏ hoang từ lâu, bắt đầu xuất hiện những cái chết – cái chết bên ngoài không gian mỗi khi ai đó ra ngoài một mình hay cái chết đến từ bên trong, khi không khí đã dần cạn hết. Không dừng ở đó, Johan đẩy mạch truyện dần lên cao trào, khi ngoài cái chết, là chính khi con người ta lại phải đối diện với bản thân mình – một thể mang dáng hình mình lại không phải mình, một hệ song trùng vô cùng kinh hãi.

Nếu bỏ qua mạch truyện ban đầu đôi khi dài dòng lê thê, thì ở phần sau, tất cả đã mang cân bằng về lại cho tác phẩm này. Thế nhưng, đó thật sự là điều dễ hiểu, bởi nhẽ một tiểu thuyết viết riêng cho lớp thanh thiếu niên thì không thể thiếu đi đời sống của họ, nhịp điệu của họ. Johan cũng đồng khéo léo khắc họa được những vấn đề ở lứa tuổi ấy: là sự bốc đồng ngông cuồng với thứ nhạc Rock thập niên 60, là sự hảo danh của những đứa trẻ vẫn chưa kịp lớn, và cả tình yêu dẫu cho cuồng loạn. Với cú bùng nổ ở phía sau chót, Johan Hastard gợi ra một nỗi ám ảnh tưởng như vô song, một sự kích động mà những bộ phim như Us hay Truth or Dare đã từng làm được. Nhận giải Barge danh giá nhất Na Uy cho cuốn tiểu thuyết đầu tay, 172 giờ trên mặt trăng đòi hỏi nhiều sự kiên nhẫn, nhưng khi đến trang cuối cùng, cũng chính là khi adrenalin vượt khỏi trang giấy, chính ta sẽ thấy nó thật sự là cuốn sách lạ, và có thể, bởi sự dị kỳ, ta sẽ không còn bao giờ cầm lại đến lần thứ hai.

3. Đứa trẻ thứ 44 (Tom Rob Smith)

Tương tự 172 giờ trên mặt trăng, Đứa trẻ thứ 44 của Tom Rob Smith là cuốn sách đầu tay mang đến sự bùng nổ về tài năng cho chính tác giả. Được đề cử hơn 17 giải thưởng quốc tế trong đó có Man Booker, giành chiến thắng bảy giải, Đứa trẻ thứ 44 là cuốn sách trinh thám rất đáng để đọc những năm gần đây, sau những Hoa súng đen của Michel Bussi hay Chim cổ đỏ của Jo Nesbø.

Đứa trẻ thứ 44

Liên Xô những năm 1930 rúng động với hàng loạt những vụ giết người theo một motif kinh dị giống nhau: khi đó đều là những đứa trẻ bị cắt dạ dày, nhét vỏ cây vào miệng và chân bị cột chặt dây. Leo Demidov – nhân viên MGB, vì những quyết định tự trọng của mình đã tự sa lầy vào chính bộ máy chính quyền quan liêu, phải tự dấn thân tìm ra sự thật mà không có thêm một sự hỗ trợ nào khác, trừ người vợ mình – Raisa. Ở đó, Leo đồng thời song hành ở hai con đường, một chạy thoát thân khỏi những hiểm họa muốn lấy mạng anh và một tìm ra hung thủ đằng sau màn nhung. Và hơn cả thảy, cuối cùng là sự khó hiểu, một nỗi nhận thức thật sự muốn quên. Những chọn lựa nào dành riêng cho anh?

Tom Rob Smith một cách tài tình đã cân bằng được logic chặt chẽ với tình cảm chi phối; giữa trinh thám điều tra cùng hiện trưng xã hội. Như thế hệ tiếp sau của Georges Simenon với mảng trinh thám xã hội, Đứa trẻ thứ 44 là cuộc truy ngược về bản chất con người, về bộ máy quan liêu và trên hết, về chính tình người ta dành cho nhau. Ở đó có niềm tin, thất vọng, tuyệt vọng; có cái chết, hy vọng, sự sống,… Đọc cuốn sách này không đơn giản như cùng phá án, mà chính ở đó, ta như lần ngược về những sang chấn tâm lý, những câu hỏi nguyên thủy nhất về thực chất chúng ta là ai, tình cảm chúng ta là gì.

Sử dụng lối viết xen kẽ những khoảng thời gian cùng nhiều câu chuyện đa góc nhìn, Tom Rob Smith làm nên thế trận rối tung, nhưng dù sao nếu đủ tỉnh táo cùng một chút cảnh giác, ta vẫn có thể nhìn được vào sâu sự thật. Đứa trẻ thứ 44 vẫn không thoát khỏi những tình tiết đôi khi gượng ép không thật, bởi những dàn xếp quá nhiều đâm ra rất thiếu tự nhiên hay dễ đoán trước; nhưng dẫu sao, với một cấu trúc phức tạp và những sắp xếp gọn ghẽ, đây vẫn là cuốn sách khiến ta muốn cầm đến trang cuối cùng. Như một nhận định: “Đứa trẻ thứ 44 dữ dội như một con sói Nga. Nó tóm lấy cổ họng ta và không buông ra nữa”; nếu đủ can đảm vào một đêm Halloween khuya khoắt nào đó, hãy cùng đọc và đồng hành cùng Leo Demidov như vừa bước ra từ câu lạc bộ của Maigret, Harry Hole hay Poirot; phiêu lưu một chuyến đến vùng đất xa, để săn lũ mèo, tìm ra sự thật.

4. Hiệu cầm đồ số 8 (Thâm Tuyết)

Văn học châu Á từ lâu vẫn mang trong mình một sự bóc trần chủ nghĩa hiện thực mang đậm phong cách địa phương. Và Hiệu cầm đồ số 8 của Thâm Tuyết là không ngoại lệ, trên hết nó còn mở đầu như một chứng nhân cho phong cách rất riêng của văn học Hongkong, vốn từ trước đến nay luôn được biết đến như nền văn học của nhiều những cây bút trẻ, hơi thiếu cá tính, đôi khi mơ mộng.

Hiệu cầm đồ số 8

Hiệu cầm đồ số 8 thực chất là một tiểu thuyết hiện thực hiện sinh trong lớp vỏ của những tưởng tượng. Ở đó, hai nhân vật chính – ông chủ và Tinh; với nét tính cách, những mối quan hệ cùng những xuất thân, dễ gợi nhớ đến hai nhân vật của Anne Rice như đã nói trên. Khác với Anne Rice, Thâm Tuyết ở đây không quá đi sâu vào việc phân tích tâm lý, phát triển cốt truyện, hay tạo cú hook – mà cô đơn thuần kể lại như đang chứng kiến.

Đọc về cuộc đời của Tinh, đôi khi ta thấy hiện ra là cuộc đương đầu đối với số phận của người phụ nữ một lần nào đó đã từng thấp thoáng trong nhiều tác phẩm điện ảnh, từ một Lồng đèn đỏ treo cao cho đến Cao lương đỏ của Trương Nghệ Mưu; hay một điểm khác, là cái đói, cái nghèo, cái heo hút của Thu Cúc đi kiện,… Một cách giản dị mà không màu mè, Thâm Tuyết gom hết những thứ đặc trưng của vùng nông thôn Trung Quốc vào chung một mâm, để chúng tự nhiên hòa quyện vào trong tâm tưởng của mỗi người đọc, tự nhiên tuôn chảy như điều gì đó vốn đã từ lâu.

Với những tư liệu đắt giá vốn có thế này, Thâm Tuyết hoàn toàn có thể kéo dài mạch truyện để rồi phát triển ngày càng cao lên. Thế nhưng dường như cô rất tính toán và chỉ chọn ra những chi tiết thật sự đắt giá để mà đưa vào một lần rồi thôi. Đây là một nhân tố nữa làm nên chính sự cuốn hút của quyển sách này: sự vừa phải. Rõ ràng ở đây, Thâm Tuyết đã rất thành công trong việc miêu tả khía cạnh giả tưởng rất ư thật nhất. Yếu tố kinh dị tuy chỉ là phụ, thế nhưng lại là yếu tố cô làm tốt nhất. Những dòng miêu tả Hàn Nặc – hay chính con quỷ trong người cậu bé – luôn luôn khiến ta dựng hết tóc gáy mỗi lần đọc đến. Cô dùng chính lối tương phản giữa đứa trẻ con và một con quỷ để bật lên hết những niềm tàn ác. Đẩy lên cao trào, người cha trong chính cảnh này lại là chứng nhân tham gia can dự. Những đoạn hội thoại của hai cha con, hay chính con quỷ với người cha này – vô cùng sắc bén và rất gợi mở. Tuy chỉ là yếu tố phụ, thế nhưng Thâm Tuyết lại rất tài năng trong việc gợi mở một chiều kích khác, đánh sâu vào gai cảm giác của mỗi một người. Ngoài ra, một sự trùng hợp vô cùng kỳ lạ khi cả Anne Rice và Thâm Tuyết đều rất thành công khi đưa trẻ con vào trong câu chuyện của mình, và cũng kể từ đây, Claudia và Hàn Nặc thật sự trở thành hai trong số rất nhiều nhân vật trong các tiểu thuyết kinh dị mang nhiều những nỗi ám ảnh cho ai đã từng đọc đến.

Tạm quên đi các yếu tố làm nên những điểm đặc biệt cho tác phẩm này, thì phần còn lại của Hiệu cầm đồ số 8 xứng danh là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu cho văn chương Hongkong. Cùng viết về tình yêu nhưng được đặt dưới lớp vỏ kinh dị, Thâm Tuyết lại một lần nữa mang đến cái kết vô cùng dễ chịu cho mỗi người đọc – hệt như là những bộ phim ta từng mê mẩn những năm còn trẻ. Cùng viết về tình yêu và ý nghĩa của nó, Thâm Tuyết nhẹ nhàng truyền đến người đọc thông qua cốt truyện rất ư mới lạ. Tuy phần sau của tiểu thuyết này rất dễ đoán ra, cùng những tình tiết không hẳn logic hay những lời văn đao to búa lớn, chi tiết khoa trương rất không cần thiết; thế nhưng nhìn chung, Hiệu cầm đồ số 8 là tác phẩm lạ và vô cùng độc đáo, như một phiên bản phương Đông của Phỏng vấn ma cà rồng, nhẹ nhàng và khắc sâu hơn.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Đọc những bài viết của Ngô Thuật Phát.


Phía sau trang sách

Giải mã hạnh phúc: Khám phá nguồn gốc của niềm vui và sự hài lòng

Liệu có bí mật nào cho hạnh phúc? Đây là câu hỏi đã xuất hiện từ hàng thập kỷ trước, và nhiều triết gia, lãnh tụ tôn giáo cũng như nhà khoa học đã đưa ra câu trả lời của riêng họ. Nhưng liệu có thể dùng khoa học để giải mã sự mưu cầu hạnh phúc được không?

Published

on

Hãy cùng đến với “Giải mã hạnh phúc”. Đây là một giả thuyết được đưa ra bởi chuyên gia tâm lý Jonathan Haidt, cho rằng hạnh phúc đến từ những khao khát nội tâm và đồng thời cũng đến từ các yếu tố bên ngoài. Nói cách khác thì hạnh phúc vừa là “bẩm sinh”, vừa là “nuôi dưỡng”.

Cụ thể thì như vậy nghĩa là gì? Hãy cùng phân tích các thành phần tạo nên “Giải mã hạnh phúc”, cũng như cách ứng dụng chúng vào cuộc sống để tìm kiếm niềm vui và sự hài lòng.

Bẩm sinh

Yếu tố di truyền đóng một vai trò nhất định trong cảm nhận chung về hạnh phúc của chúng ta. Một số người sinh ra đã có cái nhìn lạc quan, trong khi những người khác có thể phải vật lộn với lo âu và trầm cảm. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là mặc dù di truyền có thể ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc cơ bản, nhưng chúng không phải là yếu tố quyết định duy nhất.

Nuôi dưỡng

Môi trường và trải nghiệm cũng định hình hạnh phúc, điều này  bao gồm các mối quan hệ, công việc và thậm chí cả cộng đồng nơi chúng ta sống. Bằng cách tạo ra một môi trường hỗ trợ và trọn vẹn, chúng ta có thể nuôi dưỡng hạnh phúc lớn hơn trong cuộc sống.

Cân bằng giữa mong muốn và hoàn cảnh: “Giải mã hạnh phúc” cho rằng chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc bằng cách cân bằng giữa mong muốn bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Ví dụ, nếu bạn có mong muốn mạnh mẽ về an ninh tài chính, có thể bạn cần tìm một công việc mang đến nguồn thu nhập ổn định. Mặt khác, nếu bạn có niềm đam mê sâu sắc với sự sáng tạo, việc theo đuổi một sự nghiệp cho phép niềm đam mê đó phát triển có thể quan trọng hơn.

Vậy, làm cách nào để áp dụng “Giải mã hạnh phúc” vào thực tiễn? Dưới đây là một vài mẹo giúp bạn tìm thấy niềm vui và sự hài lòng trong cuộc sống:

1. Xác định các giá trị của bản thân: Hiểu được điều gì thực sự quan trọng với bạn có thể giúp định hướng các quyết định và tạo ra một cuộc sống viên mãn hơn.

2. Nuôi dưỡng các mối quan hệ: Mối quan hệ bền chặt với gia đình và bạn bè có thể mang lại tình yêu thương, sự hỗ trợ và cảm giác được thuộc về.

3. Theo đuổi đam mê: Tham gia vào các hoạt động và sở thích mang lại niềm vui có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc và hài lòng.

4. Thực hành lòng biết ơn: Dành thời gian để trân trọng những điều tốt đẹp trong cuộc sống, dù nhỏ bé, có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc tổng thể của bạn.

5. Cho đi: Giúp đỡ người khác có thể mang lại ý nghĩa và sự trọn vẹn cho cuộc sống của chúng ta.

Jonathan Haidt là một nhà tâm lý học và nhà tâm lý học xã hội, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về tâm lý học đạo đức và tâm lý học tư tưởng chính trị. Ông là giáo sư ngành Lãnh đạo Đạo đức tại Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, và đã xuất bản một số cuốn sách và nhiều bài báo nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học.

Các công trình của Haidt thường tập trung vào ý tưởng rằng niềm tin và giá trị đạo đức của chúng ta được hình thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm văn hóa, sự nuôi dạy và kinh nghiệm cá nhân. Ông lập luận rằng đạo đức không chỉ là vấn đề lý trí mà còn bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và trực giác của chúng ta.

Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của Haidt cho lĩnh vực tâm lý học là mô hình “trực giác xã hội” về phán đoán đạo đức. Mô hình này cho rằng các phán đoán đạo đức thường dựa trên những đánh giá tự động, vô thức về các tình huống, thay vì lý luận có ý thức và có chủ ý. Công trình này thách thức quan điểm truyền thống cho rằng việc ra quyết định đạo đức là một quá trình hoàn toàn lý trí, và nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm xúc và trực giác trong việc hình thành niềm tin đạo đức của chúng ta.

Nghiên cứu của Haidt cũng đã khám phá vai trò của đạo đức trong hệ tư tưởng chính trị, và ông đã chỉ ra rằng những người theo chủ nghĩa bảo thủ và tự do thường có nền tảng đạo đức khác nhau. Ví dụ, những người theo chủ nghĩa bảo thủ có xu hướng coi trọng các giá trị như lòng trung thành, quyền lực và sự thiêng liêng, trong khi những người theo chủ nghĩa tự do có xu hướng coi trọng sự công bằng và chăm sóc. Haidt lập luận rằng những khác biệt về đạo đức này đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình thái độ và hành vi chính trị.

Các công trình của Haidt đã được trích dẫn rộng rãi và nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải thưởng William James Fellow từ Hiệp hội Khoa học Tâm lý. Các cuốn sách của ông được ca ngợi vì dễ tiếp cận và chứa đựng những hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người.

Nhìn chung, những đóng góp của Jonathan Haidt cho lĩnh vực tâm lý học đã làm sáng tỏ vai trò của đạo đức và cảm xúc trong việc định hình niềm tin và hành vi, đồng thời giúp mở rộng hiểu biết về sự phức tạp của tâm trí con người.

Tóm lại, “Giải mã hạnh phúc” nhắc nhở chúng ta rằng hạnh phúc là sự kết hợp của cả bẩm sinh và nuôi dưỡng. Bằng cách cân bằng những mong muốn bên trong với hoàn cảnh bên ngoài, chúng ta có thể tạo ra một cuộc sống viên mãn và vui vẻ hơn. Vậy nên, hãy thử kiểm chứng “Giải mã hạnh phúc” và xem liệu nó có khiến bạn hạnh phúc hơn không nhé!

Lam dịch từ MindfulMac

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trách nhiệm thuộc về ai khi thiên nhiên hoang dã trở thành “tội phạm”?

Gấu đen đột nhập nhà dân, cây cối bị tình nghi gây ra án mạng, con nai băng qua đường không đúng luật. Nếu thiên nhiên phạm luật thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Published

on

Trong thế giới ngày càng đô thị hóa, ranh giới giữa lãnh địa con người và thiên nhiên hoang dã trở nên mong manh hơn bao giờ hết, dẫn đến những cuộc "chạm trán" dở khóc dở cười. Mary Roach đã khám phá thế giới kỳ thú nơi luật pháp - con người giao thoa, xung đột với bản năng tự nhiên trong Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật.

Giải mã "tội ác" của thiên nhiên

Mary Roach mở đầu Fuzz bằng cách đặt ra một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng lại khơi gợi vô số vấn đề phức tạp: Điều gì xảy ra khi thiên nhiên "phạm luật"? Không chỉ là những con thú lớn như gấu hay báo sư tử gây rắc rối ở vùng ngoại ô, danh sách "tội phạm tự nhiên" của Roach còn bao gồm cả những loài chim ăn trộm nông sản, những con khỉ tinh ranh ở Ấn Độ, những hạt đậu độc gây chết người hay thậm chí là những cái cây vô tri bị xem là mối nguy hiểm tiềm tàng.

Roach không ngồi yên trong phòng viết mà xông pha thực địa. Bà tham dự một khóa học về an toàn khi gặp thú dữ, theo chân các nhà khoa học điều tra hiện trường các vụ tấn công của động vật hoang dã, thậm chí nếm thử các loại thực vật bị xem là "có vấn đề".

Sách Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật (trái) và tác giả Mary Roach.

Khi tìm hiểu về những con voi ở Bắc Bengal thích chè chén, say xỉn, bà cho biết voi uống thứ mà dân làng thường uống: haaria, loại rượu pha chế tại nhà được lên men và dự trữ với số lượng đủ để làm say một con voi. "Theo Sĩ quan Raj, có hai điều xảy ra khi voi say xỉn. Hầu hết chỉ lạc đàn và ngủ quên. Nhưng dường như mọi đàn đều có một kẻ say xỉn hung hăng, thường là con đầu đàn hoặc voi đực đang trong kỳ musth. Trên đời, dù bạn có muốn mạo hiểm thế nào chăng nữa thì cũng phải tránh xa một con voi đực say xỉn", Roach viết.

Trọng tâm của Fuzz không phải là việc kết tội thiên nhiên mà là nỗ lực giải mã những hành vi bị xem là "phạm luật" ấy dưới góc độ khoa học. Tác giả đưa độc giả đi sâu vào thế giới của sinh thái học hành vi, di truyền học bảo tồn, khoa học pháp y động thực vật và quản lý động vật hoang dã.

Cụ thể như việc tìm hiểu các nghiên cứu tập tính nhằm hiểu rõ hơn về cách động vật di chuyển, kiếm ăn, và phản ứng với sự hiện diện của con người, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, như thiết kế hàng rào chống gấu, tạo hành lang di chuyển an toàn cho động vật hoang dã...

Con người nằm ở đâu trong "tội ác" này?

Một trong những thông điệp ngầm nhưng mạnh mẽ xuyên suốt Fuzz là sự tự vấn về vai trò của con người trong các cuộc xung đột với thiên nhiên. Mary Roach đặt câu hỏi: Liệu việc phá hủy môi trường tự nhiên, thay đổi cảnh quan, để thức ăn ngoài trời, vứt rác không đúng cách đã vô tình "mời gọi" động vật hoang dã vào những tình huống rắc rối?

Theo tìm hiểu của Roach, một con gấu vào khu dân cư tìm thức ăn không phải vì nó "xấu tính". Mà có thể vì nguồn thức ăn tự nhiên của nó bị suy giảm hoặc vì thùng rác của con người quá hấp dẫn, dễ tiếp cận. Bà không đổ lỗi cực đoan nhưng chỉ ra nhiều "tội ác" của thiên nhiên thực chất là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành động của con người.

Cuốn sách cũng nhắc đến những tình huống tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, thực tiễn trong việc quản lý xung đột. Từ những người ủng hộ biện pháp cứng rắn để bảo vệ tài sản và tính mạng con người, đến những nhà bảo tồn nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhân đạo hơn, tác giả để độc giả tự suy ngẫm về sự phức tạp của việc tìm kiếm điểm cân bằng. Làm thế nào để vừa bảo vệ lợi ích của con người, vừa tôn trọng quyền sống và không gian sinh tồn của các loài khác?

Theo Nguyệt Dạ | ZNews

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Nếu từng khóc khi xem phim “Mưu cầu hạnh phúc”, thì đây là cuốn sách bạn nên đọc

Published

on

Trong bộ phim Mưu Cầu Hạnh Phúc (The Pursuit of Happyness) ra mắt vào năm 2006 của đạo diễn Gabriele Muccino, diễn viên Will Smith vào vai Chris Gardner - một người cha đơn thân thất nghiệp, vô gia cư, phải vật lộn giữa cuộc sống bấp bênh, những đêm ngủ ở nhà ga, và giấc mơ đổi đời từ một chương trình thực tập không lương. Đó là một hành trình đầy khổ đau, nước mắt, nhưng cũng là bản hùng ca của lòng kiên cường và khát khao vươn lên.

Cùng năm 2006, chuyên gia tâm lý học Jonathan Haidt cho ra đời Giải Mã Hạnh Phúc, một công trình kết nối những minh triết cổ đại với khoa học hiện đại để trả lời câu hỏi muôn thuở: Hạnh phúc là gì, và làm sao để có được nó?

Khi đặt nhân vật Chris Gardner bên cạnh các giả thuyết về hạnh phúc của Haidt, ta nhận ra: Có những chân lý không bị mài mòn bởi thời gian hay hoàn cảnh, chẳng hạn như việc hạnh phúc không đến từ việc trốn tránh khổ đau, mà từ cách ta bước xuyên qua nó.

Will Smith và con trai Jaden Smith trong Mưu Cầu Hạnh Phúc.

"Con voi" và "người cưỡi voi": Cảm xúc và lý trí trong hành trình sinh tồn

Tác giả Jonathan Haidt dùng hình ảnh “con voi và người cưỡi voi” để ví von mối quan hệ giữa cảm xúc (con voi) và lý trí (người cưỡi). Trong phim, Chris Gardner nhiều lần bị cảm xúc dồn vào chân tường: Khi bị đuổi khỏi nhà, khi mất chỗ ngủ, khi con trai hỏi “Chúng ta có nhà không?”. Nhưng chính trong những khoảnh khắc ấy, “người cưỡi voi” - lý trí, bản lĩnh, lòng tin của Chris - vẫn kiên định dẫn đường.

Anh không để cảm xúc giận dữ, tuyệt vọng kiểm soát mình. Anh chọn hành động, kiên trì học hỏi, giữ vững phẩm giá ngay cả khi lau dọn toilet công cộng để có thêm chút tiền. Dù cảm xúc có lúc muốn gục ngã, anh vẫn tiếp tục hành động có lý trí, không để cơn tuyệt vọng làm tê liệt mình. Những lúc phải ngủ ở ga tàu với con trai, Chris vẫn giữ lòng tự trọng và tiếp tục cố gắng, giống như một người cưỡi đang cố gắng điều khiển một con voi đầy hoảng loạn.

Điều kiện ngoại cảnh và “ngưỡng hạnh phúc”

Sách Giải Mã Hạnh Phúc chỉ ra rằng con người có “mức độ hạnh phúc” nhất định. Ta có thể vui hoặc buồn nhất thời vì sự kiện bên ngoài, nhưng sau đó sẽ quay về mức hạnh phúc trung bình của mình. Thế nhưng, Haidt cũng lưu ý rằng có những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lâu dài đến hạnh phúc: nghèo đói, cô lập, hoặc bị sỉ nhục kéo dài.

Chris Gardner trải qua gần như tất cả những điều này, nhưng thay vì cam chịu, anh đã cố gắng tìm nhiều cách khác nhau để xoay chuyển số phận của bản thân, dẫu có những lúc rơi vào cảnh nghèo túng đến mức chỉ còn vỏn vẹn 30 đô la trong ví. Vì đã nỗ lực tự mình thay đổi hoàn cảnh nên khi thành công đến, anh không chỉ nhận được phần thưởng vật chất mà kèm theo đó còn là cảm giác xứng đáng, sự gắn kết với con trai, và lòng tự tôn được củng cố.

Ý nghĩa và mục đích sống: Cội nguồn của hạnh phúc bền vững

Haidt cho rằng hạnh phúc bền vững không đến từ việc theo đuổi khoái lạc (pleasure), mà đến từ việc sống có mục tiêu, có giá trị. Chris Gardner không chỉ muốn giàu mà hơn thế nữa, anh muốn trở thành một người cha xứng đáng, một con người có giá trị. Tình yêu dành cho con trai là kim chỉ nam dẫn lối, khiến anh không bỏ cuộc dù bị cả thế giới quay lưng.

Điều này khớp với một câu nói của triết gia Friedrich Nietzsche: "Nếu bạn có một lý do đủ lớn để sống, bạn có thể chịu đựng hầu hết mọi nỗi đau." (He who has a why to live for can bear almost any how).

Hạnh phúc không phải đích đến, mà là hành trình

Cuối phim, khi Chris được nhận vào làm chính thức, anh rưng rưng cố không bật khóc giữa đám đông, chạy vội đến nhà trẻ của con trai và ôm lấy con. Đó không chỉ là giây phút hạnh phúc đơn thuần, mà còn là sự giải phóng sau bao tháng ngày chịu đựng và không từ bỏ. Từ một nhân viên chào bán thiết bị y tế, cuộc đời Chris đã thay đổi. Đó là minh chứng cho giả thuyết cuối cùng của Haidt: “Hạnh phúc không phải là thứ mà bạn có thể tìm thấy, có được hoặc đạt được một cách trực tiếp. Bạn phải có được các điều kiện phù hợp và sau đó chờ đợi. Một số điều kiện đó nằm trong bạn, chẳng hạn như sự gắn kết thống nhất giữa các phần và cấp độ trong tính cách của bạn. Các điều kiện khác yêu cầu mối quan hệ với những thứ bên ngoài bạn: giống như cây cối cần mặt trời, nước và đất tốt để phát triển, con người cũng cần tình yêu, công việc và sự kết nối với một điều gì đó lớn lao hơn.”

Mưu Cầu Hạnh Phúc không kể lại con đường đạt đến thành công của một người đàn ông, mà đã khắc họa lại lòng kiên trì bền bỉ và ý chí quyết tâm vượt lên số phận. Giải Mã Hạnh Phúc không dạy ta cách để luôn hạnh phúc, mà cho ta công cụ để hiểu hạnh phúc thật sự là gì. Một bên là nhân vật trong phim, một bên là những giả thuyết được đúc kết từ hàng ngàn năm trí tuệ của nhân loại, giao nhau tại điểm giữa: sự gắn kết với cuộc sống, niềm tin vào một điều tốt đẹp và cao cả hơn chính bản thân mình.

Lam

Đọc bài viết

Cafe sáng