Phía sau trang sách

Những bí mật về Lehman Brothers: Từ Bavaria tới Alabama, từ đỉnh cao tới vực thẳm

Published

on

Đã có thời những người đam mê nghệ thuật trình diễn tại Mỹ luôn cập nhật thông tin về những vở diễn mới, ngay cả khi họ không sống ở New York hay không đủ khả năng chi trả cho những tấm vé đắt đỏ. Thay vào đó, họ “xem” chúng thông qua những kịch bản được xuất bản thành sách1. Kịch bản vở “Cái chết của người bán hàng” của tác giả Arthur Miller2, xuất bản bởi Viking Press, được lựa chọn vào câu lạc bộ những cuốn sách của tháng; hay kịch bản “Ai sợ Virginia Woolf?” của Edward Albee3 cũng kiếm bộn tiền về cho Atheneum với cả hai bản bìa cứng và bìa mềm.

Khi các nhà hát lớn đóng cửa vào tháng Ba, những buổi công chiếu của những vở kịch tiềm năng bị hoãn vô thời hạn. Một số sẽ không bao giờ xuất hiện trở lại, hoặc sẽ không bao giờ trở lại với diện mạo quen thuộc với khán giả. Một trong số đó là vở diễn “Bộ ba Lehman” của nhà viết kịch người Ý Stefano Massini, một thiên sử thi hoành tráng về hành trình đầy thăng trầm của tập đoàn Lehman Brothers.

Massini bắt đầu viết kịch bản cho “Bộ ba tác phẩm về Lehman” (The Lehman Trilogy) vào năm 2008, ngay sau khi công ty phá sản một cách nhanh chóng như tro tàn của điếu xì gà, giữa sự sụp đổ của thị trường tín dụng thế chấp với đầy những khoản nợ xấu. Lần đầu tôi được chứng kiến những tấm ảnh chụp vở diễn tại New York, một người đàn ông trong bộ vest tối màu đang chỉ trỏ trong khối văn phòng lấp lánh, tôi cho rằng vở kịch nói về sự sụp đổ kiểu “căn phòng lò hơi”4.

Đó không phải là tất cả. Vở kịch của Massini đã đi qua quá trình 160 năm lịch sử của tập đoàn, từ khi Hayum (hay chính là Henry) Lehman chuyển từ Baravia tới Alabama và gia nhập ngành kinh doanh sợi cotton. Vở kịch phiên bản Ý kéo dài tới 5 tiếng đồng hồ. Sam Mendes, đạo diễn cho vở kịch công chiếu tại London và New York, đã thu gọn lại còn 3 tiếng rưỡi.

Simon Russell Beale, Ben Miles và Adam Godley trong vở kịch “Bộ ba tác phẩm về Lehman”, về những thăng trầm của Lehman Brothers diễn tại sân khấu Park Avenue Armory ngày 27.03.2019. Ảnh được thực hiện bởi Stephanie Berger.

Bản nguyên gốc của Massini, một tiểu thuyết thơ, đã được xuất bản sang tiếng Anh lần đầu và được dịch bởi Richard Dixon5. Đó là một tác phẩm phi thường, một thứ ngôn ngữ trải dài 700 trang giấy hoàn toàn không có văn nói. Nhưng đây là sự thực, Massini hiện hữu – cái điều mà có thể cảm nhận thấy ngay từ những dòng đầu tiên của tác phẩm. Vở kịch của ông ấy diễn ra thật mạch lạc, uyển chuyển và dồn dập.

Đồng thời, như một tín hiệu, vở kịch của ông ấy xoay quanh những câu hỏi lớn: Bản chất của ba anh em nhà Lehman và hậu duệ của họ là những người hùng hay những kẻ phản diện? Có phải họ đã dẫn dụ linh hồn và thể xác người Mỹ bằng những thực nghiệm, hay họ chỉ đơn giản là những con tu hú đang đẻ trứng vào tổ của loài chim khác? Đây là một câu hỏi rất khó trả lời.

Những lời phê bình có vẻ ít phức tạp hơn. Một trong những lời phê bình chính xác nhất, được đưa ra bởi Sarah Churchwell trong bài viết trên chuyên trang New York Review of Books, bày tỏ quan điểm rằng tác phẩm của Massini vẫn che đậy việc nhà Lehman có dính dáng tới đường dây buôn bán nô lệ tại bang Alabama. Những vở diễn trong tương lai sẽ tập trung và phơi bày rõ ràng hơn vấn đề này.

Henry di cư tới New York. Khi tới nơi, ông ta

ngửi thấy sự thối rữa của thành phố New York,
bao quanh mình:
một hỗn hợp buồn nôn của thức ăn gia súc, khói bụi và mọi loài nấm mốc,
thật sự, thậm chí lỗ mũi của ông ta chẳng còn cảm nhận gì nữa,
thành phố New York mà ông hằng ao ước
trông có vẻ tồi tệ hơn cái chuồng gia súc của cha,
ở miền xa nước Đức, ở Rimpar, Bavaria.

Henry Lehman di chuyển về phía Nam, tới bang Alabama, vì một ngày mai tươi sáng hơn. Bertolt Brecht, một người Bavaria khác, chưa từng tới Alabama khi viết “Bài hát Alabama” (hay còn gọi là “Mặt trăng của Alabama”) vào những năm 19206. Người ta tự hỏi Henry mong đợi điều gì ở đó. Ông ấy tới, giống như hai người em ngay sau đó. Họ luôn tất bật, để đảm bảo nguyên vật liệu của họ là tuyệt vời nhất với mức giá hấp dẫn nhất.

Họ hoàn hảo, nếu không muốn nói, họ là hình mẫu trung gian lý tưởng trong quan niệm của người Mỹ. Họ trở thành nhà môi giới, mua sợi cotton và bán lại chúng ở đâu đó. Công việc kinh doanh của họ mở rộng sang lĩnh vực cà phê, dầu mỏ và than đá, với cả điện lực, đường sắt, sản xuất máy bay, truyện tranh, điện ảnh Hollywood và lắp ráp máy tính. Họ tham gia vào lĩnh vực ngân hàng, và thế là câu hỏi rốt cuộc họ đang làm gì ngày càng trở nên trừu tượng.

Người ta sẽ nhanh chóng đọc tới đoạn này:

Đầu tiên: khi chúng ta đang kinh doanh
mọi người đưa chúng ta tiền
và chúng ta đưa họ một cái gì đó đổi lại
Bây giờ chúng ta đã trở thành một ngân hàng
mọi người vẫn đưa chúng ta tiền
nhưng chúng ta không đưa trả lại gì nữa
Ít nhất là trong lúc này. Rồi chúng ta sẽ xem xét sau.

Tới cuối cuốn sách, việc tráo đổi nợ nần và những tính toán phức tạp khiến cho mọi người phải tự hỏi, “Ít nhất, bạn đã từng tự hỏi rằng một cái trại chăn nuôi7 như thế liệu có hợp pháp?”

“Bộ ba Lehman” trở nên sống động trên từng trang giấy nhờ có những khoảnh khắc đầy tính người: sự tán tỉnh giữa những cặp vợ chồng; vụ bê bối và lừa đảo; những nỗ lực bất chấp để leo lên tầng lớp cao hơn.

Đoạn hay nhất của vở kịch là khi nhà Lehman muốn có một xếp hạng cao hơn trong ngôi đền Manhattan8, cạnh tranh với những tập đoàn gia đình như Goldmans và Sachses – những kẻ có rất nhiều điểm chung với họ. Massini viết:

Điểm khác biệt duy nhất
vì sự thật nên được phơi bày
chính là sự thật rằng nhà Goldmans
họ kinh doanh một thứ kim loại
gọi là vàng
và họ tự hào về điều đó
nên họ dùng nó làm họ.
Vì thế, và cũng chỉ vì lý do này
họ được xếp vào dãy thứ hai
trong Ngôi đền.”
9

Gia tộc có quá nhiều sự mộng tưởng đẹp đẽ, được nhào nặn bởi những ngón tay ma thuật, nhồi nhét vào đầu những thanh niên đời sau. Họ học được cách đánh bóng tên tuổi thông qua hoạt động từ thiện. Một hình thức tẩy não trong thời gian dài dành cho những thành viên trẻ trong gia tộc.

Anh em nhà Lehman ngày càng thèm muốn những con mồi mới. Massini có một quãng nghỉ để chỉnh sửa lại một số thuật ngữ tài chính. Trước đó, những từ như “vượt trội” hay “đối thủ cạnh tranh” vốn được sử dụng, bây giờ sẽ phải nhường chỗ cho “áp đặt” và “kẻ thù”. Nhà Lehman nắm chặt lấy quyền lực của họ thông qua kiểm soát, kỷ luật và trừng phạt. Khi mà kẻ thù đã bị chinh phục, họ sẽ áp đặt trạng thái Carthage10. Thương trường đã trở thành chiến trường.

Có một sự lệch lạc kỳ dị nhưng sâu sắc trong những bộ phim được sản xuất vào thời kỳ hoàng kim, mà đa phần được nhà Lehman tài trợ. Massini cho rằng những bộ phim đó, hay những diễn viên như John Wayne, đã mãi mãi bóp méo hình tượng nam tính của người Mỹ.

“Người đàn ông nên trao những nụ hôn? Chẳng bằng nhổ toẹt,” Massini viết. “Người đàn ông thấu hiểu? Tốt hơn là anh ta nên cắn càn”. Ông bổ sung thêm: “Năm này qua năm khác, những cư xử tốt đẹp / đã bị cuốn đi bởi hàng tá bộ phim.”

Massini sử dụng một thứ ngôn ngữ tự hào hứng với chính nó, và luôn luôn có khả năng thôi miên người đọc. Tuy nhiên, trong một vài khoảnh khắc, tôi ao ước phải chi mình đang đọc một đoạn thuật ngắn về lịch sử tập đoàn này, nhưng mà, chà, những khoảnh khắc đó cũng hiếm lắm.

Anh em nhà Lehman rất giỏi những việc họ đã làm. Họ còn được ban cho nhiều may mắn. Họ có phần nào đó giống với Rosencrantz và Guildenstern trong vở kịch của Tom Stoppard, những người đã tung được mặt ngửa đồng vàng trong 157 lần liên tiếp.

Công ty nên tiếp tục tung đồng xu cho tới khi, Massini viết:

họ đã đạt được thành công
và rồi họ hối hận.

Hết.

Bún Cứng dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Dwight Garner, đăng tại The New York Times.

Chú thích:

  1. Nguyên văn không có, dịch giả bổ sung để làm rõ nghĩa cho đoạn văn.
  2. Nguyên văn: vở kịch “Death of a Saleman” của nhà viết kịch Arthur Miller người Mỹ, được công chiếu trên sân khấu Broadway vào tháng 2 năm 1949. Vở kịch đã mang lại giải Pulitzer và giải thưởng Tony cho vở chính kịch hay nhất năm 1949.
  3. Nguyên văn: vở kịch “Who’s Afraid of Virginia Woolf?” của nhà viết kịch Edward Albee, được công chiếu trên sân khấu Broadway năm 1963. Vở kịch cũng mang lại giải thưởng Tony cho vở kịch hay nhất năm 1963 và được dựng thành phim năm 1966 bởi đạo diễn Ernest Lehman.
  4. Nguyên văn: Boiler-room, từ chuyên ngành trong kinh doanh, nói về một phòng làm việc của dân bán hàng tài chính, trong đó, những tay bán hàng gọi điện cho các nhà đầu tư tiềm năng và dùng mọi cách để thuyết phục họ bất chấp thủ đoạn.
  5. Richard Dixon (1956): Dịch giả, tiểu thuyết gia rất nổi tiếng người Anh với chuyên môn sâu về văn học Ý.
  6. Ý kiến dịch giả: trong câu này, ý người viết muốn ám chỉ suy nghĩ của Henry lúc đó, chưa từng tới Alabama nhưng tưởng tượng ra những điều tốt đẹp tại đó.
  7. Nguyên văn: rodeo – theo nghĩa Mỹ, nó chỉ cuộc tập trung gia súc tại các trại chăn nuôi để đóng giấu. Ý nói nơi tập trung hỗn tạp và làm những công việc bẩn thỉu.
  8. Nguyên văn: Mahattan temple. Tại Mahattan, New York có một kiến trúc tên gọi Mahattan temple. Tuy nhiên, trong đoạn văn này, cũng có thể hiểu người viết đang nhắc đến Temple of Capitalism – ngôi đền tư bản nhắc tới nhóm những Ngân hàng và Tổ chức tài chính lớn hoạt động theo kiểu tư bản tại phố Wall, Mahattan, New York.
  9. Tác giả muốn mỉa mai về các hoạt động của những ngân hàng lớn, kinh doanh quá nhiều ngành và nhiều thủ đoạn.
  10. Thuật ngữ “Hòa bình Carthaginian” xuất hiện khi đế chế La Mã tấn công thành phố Phoenicia của Carthage, một kiểu hòa bình giả vô cùng tàn bạo khi hoàn toàn nghiền nát kẻ thù, tiêu diệt hết người cầm quyền cũ, tiêu diệt quân đội và phá hủy hoàn toàn thành phố.

Phía sau trang sách

Giải mã hạnh phúc: Khám phá nguồn gốc của niềm vui và sự hài lòng

Liệu có bí mật nào cho hạnh phúc? Đây là câu hỏi đã xuất hiện từ hàng thập kỷ trước, và nhiều triết gia, lãnh tụ tôn giáo cũng như nhà khoa học đã đưa ra câu trả lời của riêng họ. Nhưng liệu có thể dùng khoa học để giải mã sự mưu cầu hạnh phúc được không?

Published

on

Hãy cùng đến với “Giải mã hạnh phúc”. Đây là một giả thuyết được đưa ra bởi chuyên gia tâm lý Jonathan Haidt, cho rằng hạnh phúc đến từ những khao khát nội tâm và đồng thời cũng đến từ các yếu tố bên ngoài. Nói cách khác thì hạnh phúc vừa là “bẩm sinh”, vừa là “nuôi dưỡng”.

Cụ thể thì như vậy nghĩa là gì? Hãy cùng phân tích các thành phần tạo nên “Giải mã hạnh phúc”, cũng như cách ứng dụng chúng vào cuộc sống để tìm kiếm niềm vui và sự hài lòng.

Bẩm sinh

Yếu tố di truyền đóng một vai trò nhất định trong cảm nhận chung về hạnh phúc của chúng ta. Một số người sinh ra đã có cái nhìn lạc quan, trong khi những người khác có thể phải vật lộn với lo âu và trầm cảm. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là mặc dù di truyền có thể ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc cơ bản, nhưng chúng không phải là yếu tố quyết định duy nhất.

Nuôi dưỡng

Môi trường và trải nghiệm cũng định hình hạnh phúc, điều này  bao gồm các mối quan hệ, công việc và thậm chí cả cộng đồng nơi chúng ta sống. Bằng cách tạo ra một môi trường hỗ trợ và trọn vẹn, chúng ta có thể nuôi dưỡng hạnh phúc lớn hơn trong cuộc sống.

Cân bằng giữa mong muốn và hoàn cảnh: “Giải mã hạnh phúc” cho rằng chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc bằng cách cân bằng giữa mong muốn bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Ví dụ, nếu bạn có mong muốn mạnh mẽ về an ninh tài chính, có thể bạn cần tìm một công việc mang đến nguồn thu nhập ổn định. Mặt khác, nếu bạn có niềm đam mê sâu sắc với sự sáng tạo, việc theo đuổi một sự nghiệp cho phép niềm đam mê đó phát triển có thể quan trọng hơn.

Vậy, làm cách nào để áp dụng “Giải mã hạnh phúc” vào thực tiễn? Dưới đây là một vài mẹo giúp bạn tìm thấy niềm vui và sự hài lòng trong cuộc sống:

1. Xác định các giá trị của bản thân: Hiểu được điều gì thực sự quan trọng với bạn có thể giúp định hướng các quyết định và tạo ra một cuộc sống viên mãn hơn.

2. Nuôi dưỡng các mối quan hệ: Mối quan hệ bền chặt với gia đình và bạn bè có thể mang lại tình yêu thương, sự hỗ trợ và cảm giác được thuộc về.

3. Theo đuổi đam mê: Tham gia vào các hoạt động và sở thích mang lại niềm vui có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc và hài lòng.

4. Thực hành lòng biết ơn: Dành thời gian để trân trọng những điều tốt đẹp trong cuộc sống, dù nhỏ bé, có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc tổng thể của bạn.

5. Cho đi: Giúp đỡ người khác có thể mang lại ý nghĩa và sự trọn vẹn cho cuộc sống của chúng ta.

Jonathan Haidt là một nhà tâm lý học và nhà tâm lý học xã hội, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về tâm lý học đạo đức và tâm lý học tư tưởng chính trị. Ông là giáo sư ngành Lãnh đạo Đạo đức tại Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, và đã xuất bản một số cuốn sách và nhiều bài báo nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học.

Các công trình của Haidt thường tập trung vào ý tưởng rằng niềm tin và giá trị đạo đức của chúng ta được hình thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm văn hóa, sự nuôi dạy và kinh nghiệm cá nhân. Ông lập luận rằng đạo đức không chỉ là vấn đề lý trí mà còn bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và trực giác của chúng ta.

Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của Haidt cho lĩnh vực tâm lý học là mô hình “trực giác xã hội” về phán đoán đạo đức. Mô hình này cho rằng các phán đoán đạo đức thường dựa trên những đánh giá tự động, vô thức về các tình huống, thay vì lý luận có ý thức và có chủ ý. Công trình này thách thức quan điểm truyền thống cho rằng việc ra quyết định đạo đức là một quá trình hoàn toàn lý trí, và nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm xúc và trực giác trong việc hình thành niềm tin đạo đức của chúng ta.

Nghiên cứu của Haidt cũng đã khám phá vai trò của đạo đức trong hệ tư tưởng chính trị, và ông đã chỉ ra rằng những người theo chủ nghĩa bảo thủ và tự do thường có nền tảng đạo đức khác nhau. Ví dụ, những người theo chủ nghĩa bảo thủ có xu hướng coi trọng các giá trị như lòng trung thành, quyền lực và sự thiêng liêng, trong khi những người theo chủ nghĩa tự do có xu hướng coi trọng sự công bằng và chăm sóc. Haidt lập luận rằng những khác biệt về đạo đức này đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình thái độ và hành vi chính trị.

Các công trình của Haidt đã được trích dẫn rộng rãi và nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải thưởng William James Fellow từ Hiệp hội Khoa học Tâm lý. Các cuốn sách của ông được ca ngợi vì dễ tiếp cận và chứa đựng những hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người.

Nhìn chung, những đóng góp của Jonathan Haidt cho lĩnh vực tâm lý học đã làm sáng tỏ vai trò của đạo đức và cảm xúc trong việc định hình niềm tin và hành vi, đồng thời giúp mở rộng hiểu biết về sự phức tạp của tâm trí con người.

Tóm lại, “Giải mã hạnh phúc” nhắc nhở chúng ta rằng hạnh phúc là sự kết hợp của cả bẩm sinh và nuôi dưỡng. Bằng cách cân bằng những mong muốn bên trong với hoàn cảnh bên ngoài, chúng ta có thể tạo ra một cuộc sống viên mãn và vui vẻ hơn. Vậy nên, hãy thử kiểm chứng “Giải mã hạnh phúc” và xem liệu nó có khiến bạn hạnh phúc hơn không nhé!

Lam dịch từ MindfulMac

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trách nhiệm thuộc về ai khi thiên nhiên hoang dã trở thành “tội phạm”?

Gấu đen đột nhập nhà dân, cây cối bị tình nghi gây ra án mạng, con nai băng qua đường không đúng luật. Nếu thiên nhiên phạm luật thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Published

on

Trong thế giới ngày càng đô thị hóa, ranh giới giữa lãnh địa con người và thiên nhiên hoang dã trở nên mong manh hơn bao giờ hết, dẫn đến những cuộc "chạm trán" dở khóc dở cười. Mary Roach đã khám phá thế giới kỳ thú nơi luật pháp - con người giao thoa, xung đột với bản năng tự nhiên trong Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật.

Giải mã "tội ác" của thiên nhiên

Mary Roach mở đầu Fuzz bằng cách đặt ra một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng lại khơi gợi vô số vấn đề phức tạp: Điều gì xảy ra khi thiên nhiên "phạm luật"? Không chỉ là những con thú lớn như gấu hay báo sư tử gây rắc rối ở vùng ngoại ô, danh sách "tội phạm tự nhiên" của Roach còn bao gồm cả những loài chim ăn trộm nông sản, những con khỉ tinh ranh ở Ấn Độ, những hạt đậu độc gây chết người hay thậm chí là những cái cây vô tri bị xem là mối nguy hiểm tiềm tàng.

Roach không ngồi yên trong phòng viết mà xông pha thực địa. Bà tham dự một khóa học về an toàn khi gặp thú dữ, theo chân các nhà khoa học điều tra hiện trường các vụ tấn công của động vật hoang dã, thậm chí nếm thử các loại thực vật bị xem là "có vấn đề".

Sách Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật (trái) và tác giả Mary Roach.

Khi tìm hiểu về những con voi ở Bắc Bengal thích chè chén, say xỉn, bà cho biết voi uống thứ mà dân làng thường uống: haaria, loại rượu pha chế tại nhà được lên men và dự trữ với số lượng đủ để làm say một con voi. "Theo Sĩ quan Raj, có hai điều xảy ra khi voi say xỉn. Hầu hết chỉ lạc đàn và ngủ quên. Nhưng dường như mọi đàn đều có một kẻ say xỉn hung hăng, thường là con đầu đàn hoặc voi đực đang trong kỳ musth. Trên đời, dù bạn có muốn mạo hiểm thế nào chăng nữa thì cũng phải tránh xa một con voi đực say xỉn", Roach viết.

Trọng tâm của Fuzz không phải là việc kết tội thiên nhiên mà là nỗ lực giải mã những hành vi bị xem là "phạm luật" ấy dưới góc độ khoa học. Tác giả đưa độc giả đi sâu vào thế giới của sinh thái học hành vi, di truyền học bảo tồn, khoa học pháp y động thực vật và quản lý động vật hoang dã.

Cụ thể như việc tìm hiểu các nghiên cứu tập tính nhằm hiểu rõ hơn về cách động vật di chuyển, kiếm ăn, và phản ứng với sự hiện diện của con người, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, như thiết kế hàng rào chống gấu, tạo hành lang di chuyển an toàn cho động vật hoang dã...

Con người nằm ở đâu trong "tội ác" này?

Một trong những thông điệp ngầm nhưng mạnh mẽ xuyên suốt Fuzz là sự tự vấn về vai trò của con người trong các cuộc xung đột với thiên nhiên. Mary Roach đặt câu hỏi: Liệu việc phá hủy môi trường tự nhiên, thay đổi cảnh quan, để thức ăn ngoài trời, vứt rác không đúng cách đã vô tình "mời gọi" động vật hoang dã vào những tình huống rắc rối?

Theo tìm hiểu của Roach, một con gấu vào khu dân cư tìm thức ăn không phải vì nó "xấu tính". Mà có thể vì nguồn thức ăn tự nhiên của nó bị suy giảm hoặc vì thùng rác của con người quá hấp dẫn, dễ tiếp cận. Bà không đổ lỗi cực đoan nhưng chỉ ra nhiều "tội ác" của thiên nhiên thực chất là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành động của con người.

Cuốn sách cũng nhắc đến những tình huống tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, thực tiễn trong việc quản lý xung đột. Từ những người ủng hộ biện pháp cứng rắn để bảo vệ tài sản và tính mạng con người, đến những nhà bảo tồn nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhân đạo hơn, tác giả để độc giả tự suy ngẫm về sự phức tạp của việc tìm kiếm điểm cân bằng. Làm thế nào để vừa bảo vệ lợi ích của con người, vừa tôn trọng quyền sống và không gian sinh tồn của các loài khác?

Theo Nguyệt Dạ | ZNews

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Nếu từng khóc khi xem phim “Mưu cầu hạnh phúc”, thì đây là cuốn sách bạn nên đọc

Published

on

Trong bộ phim Mưu Cầu Hạnh Phúc (The Pursuit of Happyness) ra mắt vào năm 2006 của đạo diễn Gabriele Muccino, diễn viên Will Smith vào vai Chris Gardner - một người cha đơn thân thất nghiệp, vô gia cư, phải vật lộn giữa cuộc sống bấp bênh, những đêm ngủ ở nhà ga, và giấc mơ đổi đời từ một chương trình thực tập không lương. Đó là một hành trình đầy khổ đau, nước mắt, nhưng cũng là bản hùng ca của lòng kiên cường và khát khao vươn lên.

Cùng năm 2006, chuyên gia tâm lý học Jonathan Haidt cho ra đời Giải Mã Hạnh Phúc, một công trình kết nối những minh triết cổ đại với khoa học hiện đại để trả lời câu hỏi muôn thuở: Hạnh phúc là gì, và làm sao để có được nó?

Khi đặt nhân vật Chris Gardner bên cạnh các giả thuyết về hạnh phúc của Haidt, ta nhận ra: Có những chân lý không bị mài mòn bởi thời gian hay hoàn cảnh, chẳng hạn như việc hạnh phúc không đến từ việc trốn tránh khổ đau, mà từ cách ta bước xuyên qua nó.

Will Smith và con trai Jaden Smith trong Mưu Cầu Hạnh Phúc.

"Con voi" và "người cưỡi voi": Cảm xúc và lý trí trong hành trình sinh tồn

Tác giả Jonathan Haidt dùng hình ảnh “con voi và người cưỡi voi” để ví von mối quan hệ giữa cảm xúc (con voi) và lý trí (người cưỡi). Trong phim, Chris Gardner nhiều lần bị cảm xúc dồn vào chân tường: Khi bị đuổi khỏi nhà, khi mất chỗ ngủ, khi con trai hỏi “Chúng ta có nhà không?”. Nhưng chính trong những khoảnh khắc ấy, “người cưỡi voi” - lý trí, bản lĩnh, lòng tin của Chris - vẫn kiên định dẫn đường.

Anh không để cảm xúc giận dữ, tuyệt vọng kiểm soát mình. Anh chọn hành động, kiên trì học hỏi, giữ vững phẩm giá ngay cả khi lau dọn toilet công cộng để có thêm chút tiền. Dù cảm xúc có lúc muốn gục ngã, anh vẫn tiếp tục hành động có lý trí, không để cơn tuyệt vọng làm tê liệt mình. Những lúc phải ngủ ở ga tàu với con trai, Chris vẫn giữ lòng tự trọng và tiếp tục cố gắng, giống như một người cưỡi đang cố gắng điều khiển một con voi đầy hoảng loạn.

Điều kiện ngoại cảnh và “ngưỡng hạnh phúc”

Sách Giải Mã Hạnh Phúc chỉ ra rằng con người có “mức độ hạnh phúc” nhất định. Ta có thể vui hoặc buồn nhất thời vì sự kiện bên ngoài, nhưng sau đó sẽ quay về mức hạnh phúc trung bình của mình. Thế nhưng, Haidt cũng lưu ý rằng có những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lâu dài đến hạnh phúc: nghèo đói, cô lập, hoặc bị sỉ nhục kéo dài.

Chris Gardner trải qua gần như tất cả những điều này, nhưng thay vì cam chịu, anh đã cố gắng tìm nhiều cách khác nhau để xoay chuyển số phận của bản thân, dẫu có những lúc rơi vào cảnh nghèo túng đến mức chỉ còn vỏn vẹn 30 đô la trong ví. Vì đã nỗ lực tự mình thay đổi hoàn cảnh nên khi thành công đến, anh không chỉ nhận được phần thưởng vật chất mà kèm theo đó còn là cảm giác xứng đáng, sự gắn kết với con trai, và lòng tự tôn được củng cố.

Ý nghĩa và mục đích sống: Cội nguồn của hạnh phúc bền vững

Haidt cho rằng hạnh phúc bền vững không đến từ việc theo đuổi khoái lạc (pleasure), mà đến từ việc sống có mục tiêu, có giá trị. Chris Gardner không chỉ muốn giàu mà hơn thế nữa, anh muốn trở thành một người cha xứng đáng, một con người có giá trị. Tình yêu dành cho con trai là kim chỉ nam dẫn lối, khiến anh không bỏ cuộc dù bị cả thế giới quay lưng.

Điều này khớp với một câu nói của triết gia Friedrich Nietzsche: "Nếu bạn có một lý do đủ lớn để sống, bạn có thể chịu đựng hầu hết mọi nỗi đau." (He who has a why to live for can bear almost any how).

Hạnh phúc không phải đích đến, mà là hành trình

Cuối phim, khi Chris được nhận vào làm chính thức, anh rưng rưng cố không bật khóc giữa đám đông, chạy vội đến nhà trẻ của con trai và ôm lấy con. Đó không chỉ là giây phút hạnh phúc đơn thuần, mà còn là sự giải phóng sau bao tháng ngày chịu đựng và không từ bỏ. Từ một nhân viên chào bán thiết bị y tế, cuộc đời Chris đã thay đổi. Đó là minh chứng cho giả thuyết cuối cùng của Haidt: “Hạnh phúc không phải là thứ mà bạn có thể tìm thấy, có được hoặc đạt được một cách trực tiếp. Bạn phải có được các điều kiện phù hợp và sau đó chờ đợi. Một số điều kiện đó nằm trong bạn, chẳng hạn như sự gắn kết thống nhất giữa các phần và cấp độ trong tính cách của bạn. Các điều kiện khác yêu cầu mối quan hệ với những thứ bên ngoài bạn: giống như cây cối cần mặt trời, nước và đất tốt để phát triển, con người cũng cần tình yêu, công việc và sự kết nối với một điều gì đó lớn lao hơn.”

Mưu Cầu Hạnh Phúc không kể lại con đường đạt đến thành công của một người đàn ông, mà đã khắc họa lại lòng kiên trì bền bỉ và ý chí quyết tâm vượt lên số phận. Giải Mã Hạnh Phúc không dạy ta cách để luôn hạnh phúc, mà cho ta công cụ để hiểu hạnh phúc thật sự là gì. Một bên là nhân vật trong phim, một bên là những giả thuyết được đúc kết từ hàng ngàn năm trí tuệ của nhân loại, giao nhau tại điểm giữa: sự gắn kết với cuộc sống, niềm tin vào một điều tốt đẹp và cao cả hơn chính bản thân mình.

Lam

Đọc bài viết

Cafe sáng