Phía sau trang sách

451 độ F và khát khao tự do của con người

Như mọi tác phẩm dystopian (phản địa đàng) khác, Ray Bradbury vẽ ra một viễn cảnh nơi những nỗi sợ, khúc mắc, mâu thuẫn, bức bối của con người được đẩy đến cực điểm.

Published

on

Tự cổ chí kim, con người luôn trăn trở về hai từ TỰ-DO. Thế nào là tự do? Tự do từ đâu mà có? Ta có tự do hay không? Làm sao biết ta đang được tự do? Những nỗi đau đáu ấy dày vò chúng ta – loài homo sapien, với vị thế là loài thông minh nhất (hay chúng ta vẫn nghĩ như thế khi tự gọi mình là sapien), đến mức chúng ta mang nỗi niềm ấy vào thi ca nhạc họa, ở cả hình thức tường minh hay hàm ẩn. Nếu chọn ra một đại diện cho nhóm sau, 451 độ F (tựa gốc Fahrenheit 451) của Ray Bradbury là một lựa chọn tuyệt vời.

451 độ F lấy bối cảnh tại một thời điểm nào đó ở tương lai, khi những bức tường phòng khách trở thành bốn màn hình lớn chiếu đủ thứ trên đời, khi lính cứu hỏa từng đi dập lửa nay trở thành lính phóng hỏa triệu hồi thần lửa nhún nhảy trên đống tàng thư. Montag, một anh lính phóng hỏa, vẫn ngoan ngoãn thực hiện nhiệm vụ mà sếp mình, Beatty, giao phó: Thiêu rụi mọi cuốn sách. Sách giờ đây là man dã, là điên dại, là đồi trụy, là quá khứ lãng quên. Những thứ ướm mùi ô uế ấy phải bị tận diệt. Kẻ đọc sách là tội phạm, bởi “ai mà biết được những kẻ đọc nhiều sẽ nhắm đến ai cơ chứ?” Tuy nhiên, sống trong một xã hội nơi mọi thứ tự do ý chí và tư duy độc lập đều bị triệt tiêu, đặc biệt là sau cuộc nói chuyện đầy tính gợi mở với cô bé hàng xóm Clarisse, Montag dần hoài nghi về những việc mình làm, về đâu là chân giá trị của cuộc sống: Là sách, hay là lửa? Sau một lần đi phóng hỏa, anh đã chứng kiến cái chết huy hoàng của một người đọc sách. Cái chết rực rỡ ấy đã gieo vào đầu anh nhiều suy nghĩ. Anh đã bất chấp bí mật giấu một cuốn sách cho riêng mình. Và cuốn sách ấy đã đưa Montag đi xa hơn những gì anh có thể mường tượng.

1. Nhà tù tư tưởng

Như mọi tác phẩm dystopia (phản địa đàng) khác, Ray Bradbury vẽ ra một viễn cảnh nơi những nỗi sợ, khúc mắc, mâu thuẫn, bức bối của con người được đẩy đến cực điểm. Trong thế giới của 451 độ F, ta không biết rõ tên của xã hội mà nhân vật Montag đang phụng sự hay thời gian mà anh này sinh sống. Tất cả những gì mà ta biết chỉ mà một xã hội bị thống trị bởi truyền thông – biểu hiện bằng những chương trình truyền hình vô nghĩa chiếu trên bốn bức tường phòng ngủ, trên cửa phương tiện giao thông công cộng, trên radio mà Mildred – vợ Montag, vẫn nghe. Điều này càng được minh chứng khi thời điểm Ray Bradbury viết 451 độ F cũng là thời hoàng kim của radio và khởi đầu giai đoạn chuyển tiếp sang truyền hình. Tất cả những thứ này, cộng thêm việc thủ tiêu con chữ, là một hình thức mị dân, tận diệt tư duy độc lập. Nói cách khác, đó là cầm tù con người từ trong tư tưởng. Sách vở mang đậm tính cá biệt. Đó là tư tưởng của mỗi con người trong xã hội. Dù cho đó là sách tuyên truyền phục vụ mục đích chính trị, những quyển sách vẫn mang tư tưởng của một nhóm người nhất định. Như vậy, sách đại diện cho dòng tư tuởng chảy tự do và cũng chính là tư tưởng về TỰ DO nếu đặt trong bối cảnh của 451 độ F. Thiêu trụi sách và thủ tiêu người đọc sách cũng chính là dập tắt tự do và những người vun đắp khái niệm ấy. Những người lính phóng hỏa trở thành công cụ để thực hiện công cuộc đồng hóa của nhà cầm quyền. Một sự đồng hóa kinh tởm. Tởm hơn bất kỳ thứ gì chúng ta từng biết, vì sự đồng hóa này không hướng xã hội theo một hệ tư tưởng nào đó như người Trung Hoa khi thời Minh diệt Hồ đã áp lên dân Việt, không phải là Đức Quốc Xã bắt tất cả dân tộc khác phải tôn sùng tộc Aryan, không phải là những bộ phim ca ngợi tinh thần người hùng Mỹ cứu lấy nhân loại. Sự đồng hóa ở đây khiến cho xã hội đại đồng trong đôi mắt lạnh lẽo, trong trái tim thờ ơ, trong khối óc mông muội, không lấy một chút động lực được khai sáng. Sự đồng hóa như cơn hạn rút cạn dòng suối nguồn tư tưởng đổ ra biển lớn tự do. Nếu sự áp chế được Ray Bradbury rót vào gã sếp Beatty tàn nhẫn, thì sự tối tăm mà thứ tù túng ấy gây ra lại cô đặc thành cô vợ Mildred và những người bạn của ả (và nếu độc giả để ý, Mildred còn nghiện thuốc ngủ. Vâng, là thuốc ngủ). Tất cả tạo nên một bối cảnh không thể bức bối hơn, như “hơi kerosene phản phất” từng con chữ, từng chi tiết, từng nhân vật. Căng thẳng, ngột ngạt. Tất cả những gì mà độc giả cần chỉ là một que diêm thổi bùng tất cả.

2. Cánh cửa tự do

Tác phẩm mở đầu bằng một câu đơn giản mà hàm súc: “Đốt là một cái thú!” Thật vậy, bạn có thể là mọt sách, là người viết sách, nhưng bạn không thể chối bỏ bản chất bạo lực của con người1. Nhìn thấy “thứ này thứ nọ bị ngốn dần, thứ này thứ nọ bị đen đi và biến dạng” có làm bạn cảm thấy lâng lâng? Cảm giác vừa kinh tởm vừa phấn khích hẳn đã đến với Montag khi anh lấy về một quyển sách từ chỗ mình vừa thiêu trụi. Hóa ra, sự tò mò, nói cho bóng bẩy hơn là khát khao biết được sự thật, đã ăn sâu vào con người, đến mức dẫu có lúc ta nghĩ nó đã lụi tàn trong đêm đông dưới lớp tuyết khỏa lấp, khi được gửi cho vài hơi ấm, vẫn đủ sức nhen nhóm và chực bùng lên. Trong cuốn Walden, Henry David Thoreau từng viết: “Rather than love, than money, than fame, give me truth.” (“Thay vì tình yêu, tiền tài, danh vọng, hãy cho tôi sự thật.”) Trên tất cả mọi thứ tạm bợ, con người đi tìm sự thật, vì sự thật cho ta tự do. Như đã nói ở trên, dối trá không khác gì nhà tù của tư tưởng. Dối trá hiển hiện suốt 451 độ F. Rằng những căn nhà xưa nay đều chịu được lửa, rằng sách vở như súng đã nạp đạn, rằng người lính phóng hỏa đầu tiên không ai khác là Benjamin Franklin – người có công thành lập đội lính CỨU HỎA đầu tiên2, cũng thúc đẩy ngành in ấn ở nước Mỹ sơ khởi và cho mở một trong những thư viện quan trọng3 ở miền đất này (mỉa may và ghê tởm thay!). Đối với Montag, hơi ấm thổi bùng ngọn lửa chính là cô bé Clarisse. Cô bé nói gì? “Chẳng phải ngày xưa chỉ có lính chuyên ngăn lửa chứ không có lính chuyên phóng hỏa rồi mặc cho lửa cháy hay sao?” Đúng hay sai, anh chưa thể quyết ngay, nhưng ít nhất, cô bé đã gieo vào anh một chút ánh sáng dắt anh qua cánh cửa ra khỏi nhà lao u muội. Hoang mang lớn dần, sợ hãi lớn dần, kinh tởm lớn dần. Anh lấy một quyển sách từ hiện trường nơi anh đã chứng kiến một cái chết lộng lẫy. Anh đem về nhà quyển Kinh Thánh – một dấu hiệu của con đường đi tìm chân lý. Càng dấn thân qua cánh cửa sự thật, khi anh biết tin về cái chết của Clarisse, khi anh đến gặp Faber và đồng chí của ông, thì cũng là lúc anh nhìn xã hội mà mình đang sống – với Beatty và Mildred, với anh mắt khác, áp dụng một lối hành xử khác. Mâu thuẫn nội tại chồng chất trong Montag. Đỉnh điểm của mâu thuẫn này, theo thiển ý của người viết bài này, không thể hiện rõ nhất qua cuộc truy đuổi của Montag và Beatty cùng con chó máy, mà là ở lần anh lớn tiếng với Mildred. Cuộc đối thoại ấy như lần đối đầu trực tiếp giữa con người khai sáng và con người mông muội, giữa sự thật và dối trá, giữa khát khao và chịu đựng, giữa tự do và ngục tù.

3. Vài bàn luận ngoài lề

Tác phẩm 451 độ F được Ray Bradbury cho xuất bản năm 1953, tức đỉnh cao của Chiến tranh Lạnh. Thanh gươm Damocles đang lơ lửng trên đầu nhân loại. Các nhà cầm quyền, đầu óc chìm đắm trong nghi kỵ và hoang mang. Tại Mỹ, những tác phẩm bị cho là thân Xô, thân Trung, thân Cộng đều sẽ bị tiêu diệt, chủ của chúng cũng sẽ khó mà sống yên. Con người sống trong sợ hãi, ngột ngạt, hệt như bối cảnh trong truyện. Vì vậy, khao khát vươn ra khỏi tù túng càng rõ hơn hết. Những điều ấy vẫn còn thiết thực ở thời đại chúng ta, dẫu những ngày tháng Chiến tranh Lạnh đã qua đi. Có lẽ Ray Bradbury không thể ngờ giá tác phẩm của mình lại có giá trị tiên đoán và phổ quát đối với mọi thời kỳ đến như vậy. Trong tác phẩm, cuốn sách mà Montag lấy về là Kinh Thánh – chính xác hơn là một trong những phiên bản cuối cùng của Kinh Thánh. Điều này phần nào hợp với tiến trình nhận thức của con người trong lịch sử. Con người từ khi có những nhận thức đầu tiên đã tôn thờ thiên nhiên. Về sau, khi nhu cầu tinh thần tăng lên, con người bắt đầu tìm đến đức tin, đến tín ngưỡng, và khi những niềm tin có tôn ti trật tự, ta có tôn giáo. Tư tưởng Montag vừa được giải phóng, nếu thứ cởi trói cho anh là sự thật, thì tư tưởng cho anh niềm tin đi tiếp là tôn giáo.

Năm 2018, kênh HBO cho chuyển thể cuốn sách của Ray Bradbury lên màn ảnh nhỏ. Phim không thực sự xuất sắc, cốt truyện cũng được dẫn dắt khác nguyên tác, nhưng có một chi tiết được cải thiện rõ rệt so với những gì ray Bradbury viết. Cụ thể, cuốn sách mà Montag trên phim lấy về không phải là Kinh Thánh, mà là Ghi chép dưới hầm (Notes from Underground) của văn hào Nga Fyodor Dostoyevsky. Dù nhỏ bé hơn rất nhiều so với Kinh Thánh, tác phẩm này của Dostoyevsky lại đặt ra hàng loạt vấn đề mang tính hiện sinh, đánh thức lương tri con người: Con người ở đâu trong thế giới này? Con người hành động ra sao? Liệu con người có thể đạt đến cảnh giới cao nhất của tự do – tự do ý chí? Đâu là lý luận? Đâu là lý trí? Tại sao con người phải trải qua bao khổ đau?  Nếu Kinh Thánh là nơi gửi gắm đức tin của con người, thì những suy tư hiện sinh chính là bờ bến tiếp theo để con người định nghĩa bản thân mình. Đó cũng chính là con đường Montag, hay bất kỳ ai muốn sống vì tự do, sống trong tự do, chết trong tự do, phải đi qua. Nhưng để đến được đích đến ấy, ắt anh phải phản kháng, biết vươn lên, biết đặt niềm tin vào sự thật, vào tự do. Bởi Thoreau cũng từng viết trong cuốn Civil Disobedience: “Disobedience is the true foundation of liberty. The obedient must be slaves.” (“Phản kháng là nền tảng thực sự của tự do. Những kẻ dễ bảo hẳn phải là nô lệ.”).

Et par le pouvoir d’un mot
Je recommence ma vie
Je suis né pour te connaître
Pour te nommer
Liberté.
(Paul Éluard – Liberté)

Và do phép màu một tiếng – Ta làm lại cuộc đời
Ta sinh ra để biết em – Để gọi tên em
TỰ DO
(Paul Éluard  – Tự do, Tế Hanh dịch)

            

Hết.

Miên Túc

Chú thích:

  1. Gómez, J. M., Verdú, M., González-Megías, A., & Méndez, M. (2016). The phylogenetic roots of human lethal violence. Nature, 538(7624), 233.
  2. Union Fire Company, còn được gọi là Bucket Brigade, được Benjamin Franklin đồng thành lập năm 1736, trở thành cơ quan cứu hỏa tình nguyện tại các bang thuộc địa của Anh tại châu Mỹ (sau Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ 1775-1783 thì trở thành nước Mỹ sơ khởi).
  3. Library Company of Philadelphia, do Benjamin Franklin thành lập năm 1731.

1 Comment

1 Bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Những tháng năm rực rỡ: Người quan sát già cỗi hồn nhiên

Published

on

Để nói về “Những tháng năm rực rỡ” của tác giả Ae-ran Kim, tôi sẽ không bắt đầu bằng “Đây là câu chuyện kể về cặp cha mẹ trẻ nhất và đứa con già nhất…”, bởi nội dung chứa đựng trong sách còn hơn thế rất nhiều. Chắc chắn, tôi sẽ giới thiệu rằng đây là một câu chuyện kì lạ, về những nhân vật kì lạ, những đoạn hội thoại kì lạ bao trùm trong bầu không khí huyền ảo đan xen giữa mơ và thực, giữa quá khứ và hiện tại. Nơi đó, cậu bé Han Ah Reum đang tận hưởng mùa hè đầy nắng gió với chiếc bạt lò xo của mình. Những cú tung người của cậu làm lay động hoa cỏ, lay động cả những tán cây đậm màu xanh lục, dòng suối trong veo nơi bố mẹ cậu gặp nhau lần đầu, hòa vào tiếng ồn ã của đám ve sầu và chuồn chuồn ở đó. Khi Ah Reum bật nhảy, trái tim cậu ngân lên những rung cảm sâu sắc với cuộc đời, và bằng sóng rung ấy, cậu gửi đến bố mẹ những lời thì thầm, thấu hiểu và yêu thương như một người bạn. Ah Reum đang tiếp tục quan sát tất cả mọi người từ nơi của cậu, hết sức chăm chú với trái tim hiếu kỳ và tươi mới đón nhận mọi sự việc mà không phán xét của cậu bé 17 tuổi, cùng đôi mắt từng trải, thấu suốt nhân gian của một ông lão 80. Và ở đó, nơi mùa hè miên viễn của tuổi trẻ, cậu đang viết tiếp những câu chuyện về cuộc đời bằng một ngôn ngữ vô thanh. Ah Reum chẳng còn cảm thấy vốn từ vựng của mình bị xáo trộn khi cơn gió thổi qua nữa, bởi bây giờ cậu là gió, là không gian bao quanh và cứ rộng ra mãi…

Vẻ đẹp thiên nhiên trong cuộc sống của Ah Reum và mọi người thật sống động. Lấy bốn mùa làm những cột mốc để người ta nhìn lại một năm, bốn mùa cuối cùng của Ah Reum đã trôi qua thật rực rỡ. Mùa xuân đến một cách lặng lẽ âm thầm, nhưng có khả năng thay đổi cảnh vật chỉ trong chớp mắt với những màu sắc sặc sỡ như quần áo, đồ chơi trẻ con của một gia đình vừa chào đón đứa con đầu lòng. Rồi khi mùa hè đến, không khí ban đêm nặng nề và ngột ngạt đưa mùi hương thức ăn nhanh hỏng, chóng thiu đến những người khó ngủ. Mùa hè cũng là mùa nóng nực và công bằng, dù có lông hay không thì con người vẫn vã mồ hôi như tắm. Nhưng đó cũng là mùa thích hợp nhất để ăn món đá bào đậu đỏ và sữa theo kiểu truyền thống. Khi thu sang, đi đến đâu bạn cũng có thể nghe tiếng gió vi vu, vì ở nơi đâu cũng có gió. Màu vàng thay dần sắc xanh, rồi lại bị đẩy lùi bởi sắc đỏ. Gió như đang trút bỏ từng chút một chiếc áo mùa hè và kéo bật ngay cả những gốc rễ mùa hè đang ẩn sâu dưới lòng đất. Bầu không khí trong lành, se sắt được Ah Reum ví như hơi thở của Chúa. Những cơn gió liên tục thay đổi diện mạo để không ai có thể nắm bắt được. Vào những ngày nắng đẹp, mùa thu còn là hương cà phê ngọt ngào và êm dịu mà Ah Reum chưa từng được nhấp môi. Cậu ngồi đó ngắm nhìn những bệnh nhân sưởi nắng với chiếc áo len mỏng bên ngoài bộ đồng phục bệnh viện. Ngoài ra, khi phân tích một từ đồng nghĩa, Ah Reum còn khám phá ra rằng, mùa thu còn là mùa “liếc mắt đưa tình”, khoảng thời gian mọi vật phải thu hút sự quan tâm của kẻ khác giới trước khi cái giá rét của mùa đông kéo đến. Và cuối cùng, mùa đông cằn cỗi khiến cây rụng hết lá, nhường chỗ cho sự hiện diện của những bông tuyết. Bông tuyết có cấu tạo thật đẹp. Dù chỉ rơi lặng lẽ rồi tan ra ngay khi chạm đất, và không ai thấy được vẻ đẹp của chúng bằng mắt thường, nhưng chúng vẫn thật đẹp như thế đấy. Như Ah Reum vậy, cậu vẫn sống thật đẹp ngay cả khi biết mình phải sớm nói lời chào tạm biệt cuộc sống.

Ah Reum yêu quý sự biến đổi theo mùa, và hơn ai hết cậu hiểu rõ sức mạnh to lớn của quy luật tự nhiên ẩn sau những ngày tháng nối tiếp bình yên và tẻ nhạt. Chỉ khi không dễ dàng có được một điều gì đó, người ta mới biết rằng mình đã xem nhẹ những phúc lành ấy đến nhường nào. “Ở cái tuổi mà chúng ta điềm nhiên hút cạn sinh khí của những tạo vật bung nở rồi lụi tàn, ngạo nghễ tưởng rằng mình như không bao giờ chết, thì cũng là đã lao đến đỉnh cao của khoảnh khắc huy hoàng ngắn ngủi ấy”.

Cũng như thiên nhiên và cuộc sống, Ah Reum tha thiết yêu thương bố mẹ mình. Bởi ngoài đặc ân được bố mẹ mang đến cuộc đời, qua việc viết lại câu chuyện của bố mẹ, cậu còn hiểu hơn về chính mình và sống tiếp cuộc đời mình sau tuổi 17.

Cậu được khoác vào cơ thể khỏe mạnh cường tráng và những khao khát tuổi mới lớn của bố Han Dae Soo; được chạm trán với những rắc rối của tuổi thiếu niên và chịu đựng những áp lực, bất công đầu đời. Cậu được phạm sai lầm và trả giá cho sai lầm đó. Cậu được phép thất bại, đau đớn và vượt qua nỗi đau. Cậu có nhiều thời gian để băn khoăn và bất an về tương lai vô định phía trước. Cậu nhận được một cô bạn gái trời ban và trở thành bố khi chưa hiểu hết về cuộc đời, phải học những thứ mới tinh để chăm nom một đứa trẻ và dù vất vả đến thế nào đi nữa, khi ngắm nhìn con trẻ, mọi mỏi mệt dường như tan biến khi cậu nảy ra muôn vàn thắc mắc về đứa bé. Khi con trẻ lớn, cậu cũng được lớn lên theo mà vẫn giữ lại tâm hồn của tuổi 17. Ngay giây phút nó bệnh, cậu vẫn cảm thấy hạnh phúc, may mắn vì cả gia đình được ngồi cạnh nhau yên bình và cùng ăn một bát canh cá.

Cậu cũng có thể hiểu nỗi lòng của người mẹ thiếu nữ Choi Mi Ra. Dường như má cậu cũng ấm nóng hơn khi mẹ thẹn thùng trong những buổi giao lưu gặp mặt người khác phái. Cậu cũng thất thểu bước đi khi ước mơ trở thành ca sĩ của mẹ tan tành vì gia đình còn nhiều định kiến. Cũng như bố, mẹ cậu cũng mông lung không biết cuộc sống sắp tới sẽ như thế nào. Rồi mẹ bước vào chuyến phiêu lưu không thể quay đầu lại với một người con trai đồng cảnh ngộ, dũng cảm bỏ lại sau lưng tiếng cười khúc khích vô tư thời con gái để trở thành một người mẹ tận tâm, cố gắng ngẩng cao đầu tự hào về đứa con đang mang cho đến khi niềm tự hào ấy trở thành sự thật. Có lẽ nhờ sự tự hào của mẹ truyền sang khi còn trong bụng mà Ah Reum có thể lạc quan đến thế. Dù thế nào đi nữa, cậu cũng không oán trách cuộc đời mà ngược lại, vẫn ngắm nhìn cuộc sống với góc nhìn dí dỏm và tràn đầy biết ơn.

Cứ thế, cậu được sống tiếp qua cuộc sống của người khác, sống đến khi già cỗi và thông thái mà vẫn còn bố, người thậm chí còn già cỗi và thông thái hơn như ông Jang lớn và ông Jang bé. Cậu có thể trải nghiệm lòng dũng cảm của việc tỏ tình và sức mạnh tự tin của một anh chàng không mấy sắc vóc như chú Seung Chan. Cậu được giận dữ và bất mãn trước một người nhẫn tâm lợi dụng đứa trẻ bệnh tật để lấy chất liệu viết văn. Và hơn hết, cậu có thể nếm trải trọn vẹn hương vị tình yêu, dù là đang chớm nở như nụ hoa, chín đỏ mọng như trái hồng, hoặc cả khi nó không có thật và đắng chát như một ngụm rượu Soju trên đầu lưỡi. Cậu đã trải nghiệm tất cả những điều đó qua từng câu chữ và vô cùng mãn nguyện.

Hình ảnh khu phố, bệnh viện, ngôi nhà làm phông nền cho câu chuyện của nhân vật hiện lên thật nhẹ nhàng và ấm áp. Những vất vả và khó khăn diễn ra trong suốt quá trình từ khi Ah Reum hoài thai cho đến khi cậu chào đời, khi bố mẹ vật lộn với mưu sinh và cả nhà cùng nhau chiến đấu với căn bệnh của cậu, đặc biệt là những cơn đau thể xác và nỗi cô đơn cùng cực mà Ah Reum phải một mình chịu đựng đều không thể nào diễn tả. Nhưng tất cả đều trở nên nhẹ bẫng dưới góc nhìn trong trẻo của Ah Reum. Hoặc cũng có thể, cậu đã vận dụng sức mạnh từ tâm hồn chững chạc của mình để xóa đi mọi cảm xúc bi lụy và viết lại cuộc sống thành một câu chuyện nên thơ, mộc mạc, không nặng nề nhưng vẫn dễ dàng chạm đến trái tim.

Ah Reum là biểu tượng của lòng ham sống và tình yêu cuộc sống. Chỉ khi đứng ở vị trí của một người khao khát được trải nghiệm nhưng phải rời đi quá sớm, chúng ta mới thấy rằng cuộc sống này tươi đẹp và đáng sống biết bao. Nơi ấy, mọi thứ đều là phước lành, kể cả những vấp ngã, sai lầm đáng thất vọng và thậm chí trở thành nỗi buồn của ai đó là điều không phải người nào cũng có cơ hội trải nghiệm. Tận hưởng từng khoảnh khắc được sống, trân trọng bản thân không hoàn hảo, yêu thương và tha thứ cho sự chưa sẵn sàng của bố mẹ... đó là cách mà Ah Reum đã sống. Vừa tách mình ra như một đài quan sát để nhìn sự việc như chính nó là, cậu vừa hòa mình bằng thân phận của một mảnh đời nhỏ xíu, tưởng như chẳng đáng kể nhưng lại góp phần điểm tô cho cuộc sống tươi đẹp và đa dạng hơn.

Dáng hình nhỏ bé nhưng mạnh mẽ của Ah Reum như một lời nhắn nhủ, động viên chúng ta rằng: Hãy thêm yêu cuộc sống và sống trọn vẹn đời mình! Đừng chán ghét cơ thể mình vì nó chưa hoàn hảo, hãy tạ ơn vì chúng vẫn lành lặn và hoạt động tốt. Đừng thoái chí trước những thất bại và lầm lỡ, hãy hân hoan vì có thể bắt đầu lại vào ngày mai. Đừng lo âu trước tương lai vô định, hãy trân trọng vì điều đó cho thấy chúng ta vẫn còn nhiều thời gian. Đừng ủ dột vì những điều nhỏ nhặt chưa vừa ý, ngoài kia chẳng phải còn rất nhiều vẻ đẹp đang chờ bạn ngắm nhìn sao? Đừng thổi phồng những khó khăn, đừng bi quan trước nghịch cảnh, đừng chờ đợi, băn khoăn mà hãy thực hiện ngay những mơ ước của mình. Hãy thức dậy khoan khoái và tràn đầy năng lượng, hãy quan sát cảnh vật và con người với thật nhiều yêu thương, hãy làm mọi việc với lòng say mê và tâm huyết, hãy tận hưởng mọi thứ nhỏ nhoi như thể đó là món quà tuyệt vời nhất.

Cuộc sống không định nghĩa con người bạn, ngược lại, chính bạn là người lựa chọn gam màu cho bức tranh cuộc sống của mình. Như cách Ah Reum cố gắng thu nhặt thật nhiều hình ảnh và cảm xúc trong từng phút giây được sống từ lời kể của họ hàng, sách vở và từ góc nhìn của cậu đối với thế giới xung quanh, những hình ảnh và cảm xúc ấy cũng đã cô đặc lại và tạo nên danh tính của riêng cậu. Nếu các cô cậu học trò trạc tuổi Ah Reum có chiếc thẻ tên gắn trên bộ đồng phục học sinh cấp ba, cậu cũng có cho mình một chiếc thẻ như thế. Trên đó sẽ ghi rằng “Trường học cuộc đời, Han Ah Reum, lớp Tận hưởng mỹ vị cuộc sống”.

Về tác giả

Ae-ran Kim sinh năm 1980 tại Chungnam, Hàn Quốc, tốt nghiệp khoa Biên kịch Đại học Quốc gia Seoul. Từ khi còn trẻ, tác giả đã giành được nhiều giải thưởng văn học danh giá cho cả hạng mục tiểu thuyết và truyện ngắn, được đánh giá là cây viết tài năng trong làng văn học Hàn Quốc. Tác phẩm của Ae-ran Kim tập trung vào hình ảnh con người trong cuộc sống hiện đại, khéo léo đưa ra cái nhìn mới mẻ về xu hướng thay đổi của cuộc sống, trong đó nổi bật là câu chuyện của người trẻ Hàn Quốc trong quá trình đô thị hóa nông thôn.

Những tháng năm rực rỡ (Tựa gốc: My Brilliant Life) là cuốn tiểu thuyết Ae-ran Kim lấy cảm hứng từ truyện ngắn “Dị nhân Benjamin” (The Curious Case of Benjamin Button) của tác giả F. Scott Fitzgerald và thổi vào làn gió mới của yếu tố nội tâm, tình cảm gia đình đặc trưng của văn học Hàn Quốc. Cuốn sách đã trở thành tác phẩm bán chạy nhất tại Hàn Quốc và được dựng thành bộ phim cùng tên vào năm 2014.

Tự đánh giá Những tháng năm rực rỡ là mầm cây nảy từ những hạt giống đã gieo trồng trong những truyện ngắn trước đó, nữ nhà văn cho rằng đây là cột mốc đánh dấu thời khắc cô vượt lên khỏi câu chuyện của chính mình, quan tâm hơn đến những mảnh đời xung quanh. Điều đó được thể hiện rõ qua cái nhìn bao dung, cảm thông của tác giả về đôi vợ chồng trẻ con, đại diện cho những người đã đi lệch khỏi quỹ đạo được xem là đúng đắn của cuộc đời. Mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau, không có gì đúng hay sai bởi mọi thứ trong cuộc đời mỗi người là điều phải diễn ra và được sắp đặt để diễn ra.

Vào tháng 1 năm 2021, phiên bản tiếng Anh của cuốn sách đã phát hành tại Mỹ và được Tạp chí The Oprah Magazine bầu chọn là cuốn sách hay nhất trong tháng. Cũng như ở Châu Á, tác phẩm cũng để lại trong lòng người đọc phương Tây phong vị nhẹ nhàng, tinh tế, thấu hiểu và có sức mạnh lay động trái tim.

Hạ Nhiên

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Sự bất tử

Published

on

Tôi mất một năm để dịch xong cuốn sách ấy và nhiều năm sau để tiếp tục suy nghĩ về từng thông điệp mình đã nhận được.

Thậm chí lúc gõ ra những từ này, tôi vẫn chưa thực sự hiểu anh, Louis. Và đó là khoảng cuối năm 2018. Sau 3 năm, có lẽ bây giờ tôi đã gần điểm chạm hơn một chút.

Ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice hiếm khi chết do tác động ngoại cảnh, mà thường là tự kết liễu. Họ tồn tại hàng trăm năm, chứng kiến thế giới lột áo mới hết lần này đến lần khác. Giá trị văn hoá cũ mai một, giá trị tư tưởng cũ bị cười cợt. Gia đình, bạn bè lần lượt qua đời và sau đó là cả một thời đại xuống mồ. Những cỗ xe ngựa bị ô tô thay thế; đèn khí biến mất và đèn cao áp xuất hiện; những toà nhà lai tạp kiến trúc Pháp, Tây Ban Nha và Mỹ mọc lên trên khắp nẻo đường New Orleans.

Ma cà rồng trở thành những linh hồn già cỗi và thủ cựu, đầu óc chai sần vì phải nếm trải quá nhiều sự tàn độc từ chính mình lẫn loài người. Tình yêu nói riêng, cảm xúc nói chung đều chẳng có nghĩa lý gì cả. Con người không bất tử. Và cũng chẳng ma cà rồng nào chịu đựng được đồng loại cho đến ngày tàn của vũ trụ.

Tranh Vanitas Still Life with a Tulip, Skull and Hour-Glass của Champaigne, Philippe de

Tại sao phải hiểu cho nhau nếu ta còn hàng trăm ngàn năm để nhìn vào mâu thuẫn? Nếu không có sự chết thì lòng vị tha hay đạo đức đều chỉ là triết lý giẻ rách. Chẳng có gì là hiện sinh hay vị lai trong cuộc đời vô tận. Mọi giá trị vật chất chỉ là nắm đất mớ cát bởi không có khao khát hay dục vọng nào để trao đổi. Kiến thức tích lũy vài thế kỷ cũng là đồ bỏ khi mất đi mục đích sống. Ở đó, chỉ còn hư vô.

Có một tác giả cho rằng, mọi ma cà rồng đều tồn tại với tư tưởng của Friedrich Nietzsche, bởi vì họ bất tử và họ muốn trở nên bất bại. Nhưng tôi không đồng ý. Có thể ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice tồn tại với tư tưởng Nietzsche thật, nhưng đó là vì: “One has to take a somewhat bold and dangerous line with this existence: especially as, whatever happens, we are bound to lose it.” – (Nietzsche viết trong Untimely Meditations)

Sự sống đáng giá là bởi chúng ta có thể mất nó, bất cứ khi nào. Trong sự bất tử không có yếu tố then chốt này.

Vậy nên kết cục cho họ luôn luôn là như thế – như ma cà rồng Armand từ từ tiến về phía dòng sông và biến mất tựa phù du. Sự bất tử là hình phạt nặng nề nhất, bởi món quà đính kèm chính là trạng thái hữu tri vô giác, chỉ còn lại đúng một nỗi cô độc khủng khiếp như hố đen nuốt chửng những sinh vật này cho đến lúc lụi tàn.

Tôi đã lần hồi dò lại trong mỗi chương tiểu thuyết mình từng đi qua để chạm được vào tiềm thức của anh, Louis. Và chặng đường ấy diễn ra như thế này.

“Những người từng đến với New Orleans đều để lại nơi đây dấu ấn khó phai nhòa. Một số công trình kiến trúc bằng gạch, đá và cẩm thạch của thành phố xưa vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Ngay cả khi những ngọn đèn khí bị đèn điện thay thế, những chiếc máy bay xuất hiện và những tòa nhà chọc trời mọc lên chật kín đường Canal, vẻ đẹp một thời vang bóng của New Orleans vẫn còn đó. Tất nhiên, không phải con đường nào cũng còn dấu ấn cổ xưa. Nhưng đối với ta, mảnh đất đó luôn là New Orleans của trăm năm về trước. Mỗi lần dạo bước trên những con đường đêm đầy ánh sao của Quận Garden, ta lại thấy như thời gian chưa bao giờ trôi đi. Có lẽ đó là bản chất của cái gọi là di tích. Những dấu ấn để lại, bất kể chỉ là một ngôi nhà nhỏ hay một tòa lâu đài với những cột trụ Corinth khổng lồ và những mảng hoa văn tinh tế bằng sắt rèn, đều có thể khiến chúng ta có cảm giác như quá khứ vẫn đang tiếp tục chảy trôi trong thì hiện tại. Mặt trăng hôm nay vẫn rọi sáng bầu trời New Orleans như mặt trăng năm xưa. Chỉ cần những dấu tích đừng biến mất thì cảm xúc trong ta sẽ không thay đổi.”

2

"Ta sẽ đặt cuốn sách xuống và nhìn ra ngoài cửa sổ, cảm nhận từng nhịp đẩy đưa của đại dương, ngắm muôn vì tinh tú sáng rõ hơn trên đất liền nhiều lần đang sà xuống để chạm lên những con sóng. Khi ta đang ngồi một mình trong cabin tăm tối, dường như bầu trời đã hạ xuống để gặp đại dương và những bí mật lớn đã được tiết lộ trong cuộc hội ngộ đó, những hố sâu thăm thẳm sẽ vĩnh viễn khép lại một cách diệu kỳ. Nhưng khi trời và biển vẫn chưa phân biệt rạch ròi, cũng như khi trần gian còn trong thuở hỗn mang, ai đã tiết lộ bí mật vĩ đại đó? Chúa ư? Hay là Satan? Ta bỗng nghĩ đến niềm an ủi vĩ đại khi được gặp Satan, được nhìn thẳng lên khuôn mặt ngài, không cần biết khuôn mặt đó kinh dị tới mức nào. Nếu được biết mình hoàn toàn thuộc về ngài, ta sẽ được an ủi và giải thoát khỏi nỗi thống khổ vì sự ngu dốt của bản thân. Rồi ta có thể vén lên những bức màn đã chia cắt ta vĩnh viễn với cái gọi là nhân loại.

Ta cảm thấy con tàu đang tiến đến ngày một gần với bí mật đó. Bầu trời dường như không có điểm kết thúc, nó bao trùm lấy ta bằng vẻ đẹp huy hoàng và sự tĩnh lặng không cùng. Nhưng từ giải thoát nhanh chóng biến thành cơn ác mộng trong ta. Bởi làm gì có sự giải thoát nào cho kẻ đã bị nguyền rủa vĩnh viễn, làm gì có sự giải thoát nào. Ta tự hỏi nỗi đau khổ này có thể so sánh với những ngọn lửa vĩnh cửu của địa ngục hay không? Những con sóng cuồn cuộn dưới muôn vì tinh tú vĩnh hằng kia thì liên quan gì tới Satan? Khi chúng ta còn thơ dại, cảnh tượng hùng vĩ ấy chẳng có nghĩa lý gì bởi chúng ta còn đang mải mê vật lộn với những khát vọng cuồng điên khác. Khi ấy, chúng ta hiếm khi coi sự bình yên là điều đáng mơ ước: những thiên thần tối cao vĩnh viễn ngước nhìn lên khuôn mặt Chúa Trời và vẻ mặt ngài vĩnh viễn thanh thản. Trong quyền năng của ngài, chiếc nôi đại dương dịu dàng này chẳng qua chỉ là một lời hứa nhỏ nhoi mà thôi.

Nhưng ngay cả trong giây phút này, khi con tàu đang ngủ và cả trần gian đều đang say ngủ, những nghĩ suy về thiên đàng và địa ngục không còn là nỗi đọa đày của ta nữa. Nó đã trở thành hiểu biết, thành niềm tin, cả hai điều đó hoặc chỉ một trong hai thôi… có lẽ là sự cứu chuộc duy nhất mà ta dám mơ ước."

3

“Tôi không biết là một đứa con lại có quyền giải phóng cho cha mẹ nó. Tôi không biết là mình có thể không gắn bó với cô bé nữa, cho đến chừng nào… Ta ngừng lời. Ta đã định nói: Cho đến chừng nào cô bé vẫn còn sống trên đời. Nhưng ta nhận ra đó là một tuyên bố phàm tục vô nghĩa. Cô bé sẽ sống vĩnh viễn, cũng như ta vậy. Nhưng chẳng phải bất kỳ người cha nào trên đời này cũng phải trải nghiệm điều đó sao? Con gái họ sẽ sống vĩnh viễn vì họ sẽ là người chết trước. Đột nhiên ta bị mất phương hướng."

“‘Claudia là cả một thời đại đối với anh, một thời đại của cuộc đời anh. Nếu anh rời xa cô bé, anh sẽ rời xa người duy nhất còn sống đã cùng anh bước qua thời đại đó. Anh sẽ hoảng sợ trước sự cô độc, gánh nặng và phạm vi không thể đo đếm được của cuộc sống vĩnh hằng.’

‘Đúng, đó là sự thật, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ của lý do mà thôi. Thời đại – điều này vốn không nghĩa lý gì lắm với tôi. Quả thực Claudia đã mang lại cho nó những ý nghĩa nhất định. Nhưng những ma cà rồng khác cũng đã trải nghiệm và sống sót qua quãng thời gian kéo dài hàng trăm thời đại đó rồi.

Nhưng họ không hề sống sót,’ Armand nói. ‘Thế giới này sẽ tràn ngập ma cà rồng nếu họ thực sự sống sót được. Anh nghĩ bằng cách nào mà tôi đã trở thành ma cà rồng già nhất ở đây cũng như trên khắp thế gian này?’

Ta ngẫm nghĩ về điều đó rồi đánh bạo nói, ‘Những ma cà rồng khác đã bị giết?’

‘Không, gần như là không bao giờ. Việc đó không cần thiết. Anh nghĩ có bao nhiêu ma cà rồng đủ sức chịu đựng sự bất tử? Không sớm thì muộn, họ sẽ bắt đầu có những ý niệm ảm đạm về cái giá phải trả cho cuộc sống vĩnh hằng. Trên con đường bất tử, họ muốn mọi thứ cũ trong đời họ vẫn phải được bảo toàn và không thể bị hủ hóa: những cỗ xe ngựa phải có thiết kế mà họ tin cậy, quần áo phải được cắt đo theo đúng tiêu chuẩn xưa cũ của họ, những người đàn ông phải ăn mặc cũng như trò chuyện theo đúng kiểu cách mà họ vẫn luôn hiểu và kính trọng. Khi mà, trên thực tế, mọi thứ đều thay đổi thì chỉ có ma cà rồng là vẫn như cũ. Mọi thứ đều thay đổi, chỉ có ma cà rồng là thực thể duy nhất vẫn mãi mục nát và méo mó. Chẳng mấy chốc, với một tâm trí không linh hoạt và kể cả với tâm trí linh hoạt nhất, sự bất tử này sẽ trở thành hình phạt ăn năn trong nhà thương điên của những hình hài vô cùng khó hiểu và vô giá trị. Trong đêm, một ma cà rồng sẽ thức dậy và nhận ra điều mình đã khiếp sợ có lẽ là trong hàng thập kỷ qua là gì. Hắn đơn giản là không cần cuộc sống này nữa, dù là với bất kỳ cái giá nào. Mọi nét đặc trưng, kiểu cách và dáng hình đã từng khiến sự bất tử hấp dẫn trong mắt hắn đều sẽ bị quét sạch khỏi mặt đất. Và không còn gì ở lại để giúp hắn thoát được khỏi cảm giác tuyệt vọng ngoài trừ việc giết chóc. Và ma cà rồng đó sẽ chết. Không ai sẽ đi tìm hài cốt của hắn. Không ai biết được hắn đã đi đâu. Và thường thì cũng không còn ai bên cạnh hắn – lẽ ra hắn vẫn nên tìm kiếm trong số các ma cà rồng khác một bạn đồng hành. Không ai biết được là hắn đang chìm trong tuyệt vọng. Hắn đã chấm dứt việc nói từ rất lâu rồi, cho dù là về bản thân hắn hay về bất cứ ai. Hắn sẽ biến mất.'”

Vậy mà sau câu chuyện rất dài, rất u tối, rất chi tiết (thậm chí quá chi tiết) của anh, khẩn cầu duy nhất của tay phóng viên vẫn là: “Xin hãy cho tôi một cơ hội trở thành ma cà rồng.”

Thật đáng buồn phải không, Louis?

Hải Âu

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đôi mắt trũng sâu và những tiên đoán kỳ lạ

Published

on

By

Trước khi Stephen King được khai thác bản quyền ồ ạt như hiện nay, thì một trong những “tiểu thuyết gia ly kỳ nổi tiếng” nổi tiếng nhất ở Việt Nam không ai khác ngoài Dean Koontz. Với hàng loạt tựa sách từ trinh thám đến kinh dị, dù là phái sinh từ cốt truyện có sẵn như Frankenstein hay tác phẩm hư cấu hoàn toàn mới, Koontz đều tạo nên dấu ấn bởi cốt truyện mới lạ, thu hút. Trong đó Đôi mắt trũng sâu gần đây được giới đọc sách quan tâm trở lại bởi có tính tiên tri kỳ lạ. 

Tiểu thuyết là câu chuyện xoay quanh hành trình tìm con của Tina Evans khi cô nhận được những dấu hiệu kì lạ. Đó là tấm bảng đề hai chữ CHƯA CHẾT, những giấc mơ bí ẩn, hay sự chuyển động đột ngột của các luồng khí… mà tất cả đều quy về Danny – con trai cô – vốn đã qua đời với thể xác biến dạng đến nỗi không còn nhận diện được trong lần thực hiện chuyến điền dã nơi vùng núi sâu. Đứng trước những hiện tượng có phần “siêu nhiên”, Tina tin vào bản năng người mẹ và tìm cách giải cứu cậu bé, nhưng cô không bao giờ ngờ tới việc đang vướng vào một hệ thống rộng lớn hơn với các âm mưu quyền lực quốc tế.

Như Dean Koontz thừa nhận, Đôi mắt trũng sâu là một phép thử khi ông pha trộn nhiều thể loại trong tiểu thuyết: hành động, hồi hộp, lãng mạn và đôi chút huyền bí. Do đó, phần lớn nội dung tác phẩm không có tính dữ dội bùng phát, cũng không đủ thời lượng khắc họa chiều sâu; thêm nữa là sự phức tạp trong chủ đề đã được tối giản cũng như độ căng đã được nới lỏng. Tuy nhiên, chính những yếu tố đó lại khiến cuốn sách này không chỉ là một tác phẩm trinh thám – kinh dị thông thường khi khai thác được rất nhiều góc khuất, từ sự mất mát cá nhân cho đến lớn hơn là các vấn đề địa chính trị thế giới.

Tác phẩm có kết cấu như tàu lượn siêu tốc khi Koontz rất tập trung khai thác hạ tầng cơ sở. Thay vì viết theo kiểu “dọa ma” thông thường, ông cố gắng làm rõ chi tiết để tác phẩm có giá trị, không rẻ tiền, mà ngược lại vô cùng hợp lý. Đó là cách khai thác tâm lý tế vi, qua những mô tả về cơn sang chấn hậu tang lễ mà Tina gặp phải, song song với mặc cảm tội lỗi là nỗi cay đắng cùng quyết tâm dứt khoát muốn quên đi quá khứ đau buồn. Thế nhưng, cái chấp niệm Danny còn sống luôn dày vò cô, một biểu hiện cụ thể là việc thường xuyên nhìn thấy hình ảnh cậu bé trong những khuôn mặt khác. Koontz cũng đồng thời khắc họa bi kịch gia đình – vốn là nguồn cơn cũng như áp lực đổ hết lên đầu phụ nữ.      

Dean Koontz | Ảnh: Rick Loomis

Tính lãng mạn cũng được tác giả khai thác khéo léo, khi xây dựng thân phận cựu điệp viên cho Elliot, hình tượng này gợi nhớ nhiều đến loạt truyện James Bond của Ian Fleming. Vẫn là motif người đàn ông hào hoa và mối tình cùng những giai nhân; kèm theo đó là các pha hành động kịch tích kích thích adrenaline – để làm được điều này, Koontz tạo ra một thế lực đối đầu có phần “biến thái” cùng hai con người đấu tranh cho chính nghĩa.

Trên hành trình cứu thoát Danny, hai người phát hiện ra Thảm kịch Sierra mà Danny vướng vào thực ra có nguồn cơn từ một dự án tên là Pandora – chính tên gọi này đã cho thấy tính bí mật của dự án với mạng lưới bảo vệ vô hình, các lực lượng ẩn danh được mô tả như những tổ chức nguy hiểm, quyền lực, vô pháp vô thiên. Từ thực tế này, Koontz đã xây dựng các thuyết âm mưu có tính tiên đoán, nhưng lạ thay lại trùng khớp với những vấn đề hiện nay.

Đó là vấn nạn tham nhũng trong bộ máy quyền lực khi chính phủ nuôi sống mạng lưới có phần “vô hình” chỉ để tư lợi. Việc này được thực hiện thông qua các cuộc dàn xếp bầu cử địa phương, với tài chính và các thế lực chính trị ủng hộ đằng sau. Hiện thực này không quá xa lạ, khi gần đây ta chứng kiến một nước Mỹ chia rẽ trong hai cuộc bầu cử liên tiếp. Đặc biệt hơn là những vấn đề chạy đua quyền lực cùng phát triển vũ khí sinh học. Loại virus cuối cùng mà Elliot cũng như Tina tìm được trùng hợp thay lại tên là Wuhan-400, có phần tương đồng với virus Corona.

Thế nhưng chính trong những giấc mơ hoang đường của tiến sĩ Tamaguchi, Koontz cũng gửi gắm một vài thông điệp nhân văn qua hình ảnh những kẻ hoang tưởng vĩ đại sản sinh ra sự bất tử và những công trình vĩ đại. Trong tập truyện Ngày mười tháng mười hai, George Saunders cũng có truyện ngắn Thoát khỏi đầu nhện, viết về chất hóa học VerbaluceTM có tác dụng chiếm hữu tâm trí – từ đó gây ra những tội ác không thể dung thứ. Hay Frank Herbert trong Xứ Cát cũng có Hương dược, và chẳng phải chính vì những thứ đó mà con người quay ra đối đầu với nhau?

*

Đôi mắt trũng sâu có thể nói là một tác phẩm mới lạ, thú vị. Do được kết cấu theo kiểu “tàu lượn siêu tốc” nên phần khởi đầu có đôi chút chậm chạp, thế nhưng khi vượt qua được đỉnh dốc ấy thì những pha hành động sẽ làm ta thót tim. Một lần nữa, tác phẩm này lại củng cố vị trí của một trong những nhà văn viết truyện ly kỳ nổi tiếng nhất nước Mỹ.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Cafe sáng