Phía sau trang sách

451 độ F và khát khao tự do của con người

Như mọi tác phẩm dystopian (phản địa đàng) khác, Ray Bradbury vẽ ra một viễn cảnh nơi những nỗi sợ, khúc mắc, mâu thuẫn, bức bối của con người được đẩy đến cực điểm.

Published

on

Tự cổ chí kim, con người luôn trăn trở về hai từ TỰ-DO. Thế nào là tự do? Tự do từ đâu mà có? Ta có tự do hay không? Làm sao biết ta đang được tự do? Những nỗi đau đáu ấy dày vò chúng ta – loài homo sapien, với vị thế là loài thông minh nhất (hay chúng ta vẫn nghĩ như thế khi tự gọi mình là sapien), đến mức chúng ta mang nỗi niềm ấy vào thi ca nhạc họa, ở cả hình thức tường minh hay hàm ẩn. Nếu chọn ra một đại diện cho nhóm sau, 451 độ F (tựa gốc Fahrenheit 451) của Ray Bradbury là một lựa chọn tuyệt vời.

451 độ F lấy bối cảnh tại một thời điểm nào đó ở tương lai, khi những bức tường phòng khách trở thành bốn màn hình lớn chiếu đủ thứ trên đời, khi lính cứu hỏa từng đi dập lửa nay trở thành lính phóng hỏa triệu hồi thần lửa nhún nhảy trên đống tàng thư. Montag, một anh lính phóng hỏa, vẫn ngoan ngoãn thực hiện nhiệm vụ mà sếp mình, Beatty, giao phó: Thiêu rụi mọi cuốn sách. Sách giờ đây là man dã, là điên dại, là đồi trụy, là quá khứ lãng quên. Những thứ ướm mùi ô uế ấy phải bị tận diệt. Kẻ đọc sách là tội phạm, bởi “ai mà biết được những kẻ đọc nhiều sẽ nhắm đến ai cơ chứ?” Tuy nhiên, sống trong một xã hội nơi mọi thứ tự do ý chí và tư duy độc lập đều bị triệt tiêu, đặc biệt là sau cuộc nói chuyện đầy tính gợi mở với cô bé hàng xóm Clarisse, Montag dần hoài nghi về những việc mình làm, về đâu là chân giá trị của cuộc sống: Là sách, hay là lửa? Sau một lần đi phóng hỏa, anh đã chứng kiến cái chết huy hoàng của một người đọc sách. Cái chết rực rỡ ấy đã gieo vào đầu anh nhiều suy nghĩ. Anh đã bất chấp bí mật giấu một cuốn sách cho riêng mình. Và cuốn sách ấy đã đưa Montag đi xa hơn những gì anh có thể mường tượng.

1. Nhà tù tư tưởng

Như mọi tác phẩm dystopia (phản địa đàng) khác, Ray Bradbury vẽ ra một viễn cảnh nơi những nỗi sợ, khúc mắc, mâu thuẫn, bức bối của con người được đẩy đến cực điểm. Trong thế giới của 451 độ F, ta không biết rõ tên của xã hội mà nhân vật Montag đang phụng sự hay thời gian mà anh này sinh sống. Tất cả những gì mà ta biết chỉ mà một xã hội bị thống trị bởi truyền thông – biểu hiện bằng những chương trình truyền hình vô nghĩa chiếu trên bốn bức tường phòng ngủ, trên cửa phương tiện giao thông công cộng, trên radio mà Mildred – vợ Montag, vẫn nghe. Điều này càng được minh chứng khi thời điểm Ray Bradbury viết 451 độ F cũng là thời hoàng kim của radio và khởi đầu giai đoạn chuyển tiếp sang truyền hình. Tất cả những thứ này, cộng thêm việc thủ tiêu con chữ, là một hình thức mị dân, tận diệt tư duy độc lập. Nói cách khác, đó là cầm tù con người từ trong tư tưởng. Sách vở mang đậm tính cá biệt. Đó là tư tưởng của mỗi con người trong xã hội. Dù cho đó là sách tuyên truyền phục vụ mục đích chính trị, những quyển sách vẫn mang tư tưởng của một nhóm người nhất định. Như vậy, sách đại diện cho dòng tư tuởng chảy tự do và cũng chính là tư tưởng về TỰ DO nếu đặt trong bối cảnh của 451 độ F. Thiêu trụi sách và thủ tiêu người đọc sách cũng chính là dập tắt tự do và những người vun đắp khái niệm ấy. Những người lính phóng hỏa trở thành công cụ để thực hiện công cuộc đồng hóa của nhà cầm quyền. Một sự đồng hóa kinh tởm. Tởm hơn bất kỳ thứ gì chúng ta từng biết, vì sự đồng hóa này không hướng xã hội theo một hệ tư tưởng nào đó như người Trung Hoa khi thời Minh diệt Hồ đã áp lên dân Việt, không phải là Đức Quốc Xã bắt tất cả dân tộc khác phải tôn sùng tộc Aryan, không phải là những bộ phim ca ngợi tinh thần người hùng Mỹ cứu lấy nhân loại. Sự đồng hóa ở đây khiến cho xã hội đại đồng trong đôi mắt lạnh lẽo, trong trái tim thờ ơ, trong khối óc mông muội, không lấy một chút động lực được khai sáng. Sự đồng hóa như cơn hạn rút cạn dòng suối nguồn tư tưởng đổ ra biển lớn tự do. Nếu sự áp chế được Ray Bradbury rót vào gã sếp Beatty tàn nhẫn, thì sự tối tăm mà thứ tù túng ấy gây ra lại cô đặc thành cô vợ Mildred và những người bạn của ả (và nếu độc giả để ý, Mildred còn nghiện thuốc ngủ. Vâng, là thuốc ngủ). Tất cả tạo nên một bối cảnh không thể bức bối hơn, như “hơi kerosene phản phất” từng con chữ, từng chi tiết, từng nhân vật. Căng thẳng, ngột ngạt. Tất cả những gì mà độc giả cần chỉ là một que diêm thổi bùng tất cả.

2. Cánh cửa tự do

Tác phẩm mở đầu bằng một câu đơn giản mà hàm súc: “Đốt là một cái thú!” Thật vậy, bạn có thể là mọt sách, là người viết sách, nhưng bạn không thể chối bỏ bản chất bạo lực của con người1. Nhìn thấy “thứ này thứ nọ bị ngốn dần, thứ này thứ nọ bị đen đi và biến dạng” có làm bạn cảm thấy lâng lâng? Cảm giác vừa kinh tởm vừa phấn khích hẳn đã đến với Montag khi anh lấy về một quyển sách từ chỗ mình vừa thiêu trụi. Hóa ra, sự tò mò, nói cho bóng bẩy hơn là khát khao biết được sự thật, đã ăn sâu vào con người, đến mức dẫu có lúc ta nghĩ nó đã lụi tàn trong đêm đông dưới lớp tuyết khỏa lấp, khi được gửi cho vài hơi ấm, vẫn đủ sức nhen nhóm và chực bùng lên. Trong cuốn Walden, Henry David Thoreau từng viết: “Rather than love, than money, than fame, give me truth.” (“Thay vì tình yêu, tiền tài, danh vọng, hãy cho tôi sự thật.”) Trên tất cả mọi thứ tạm bợ, con người đi tìm sự thật, vì sự thật cho ta tự do. Như đã nói ở trên, dối trá không khác gì nhà tù của tư tưởng. Dối trá hiển hiện suốt 451 độ F. Rằng những căn nhà xưa nay đều chịu được lửa, rằng sách vở như súng đã nạp đạn, rằng người lính phóng hỏa đầu tiên không ai khác là Benjamin Franklin – người có công thành lập đội lính CỨU HỎA đầu tiên2, cũng thúc đẩy ngành in ấn ở nước Mỹ sơ khởi và cho mở một trong những thư viện quan trọng3 ở miền đất này (mỉa may và ghê tởm thay!). Đối với Montag, hơi ấm thổi bùng ngọn lửa chính là cô bé Clarisse. Cô bé nói gì? “Chẳng phải ngày xưa chỉ có lính chuyên ngăn lửa chứ không có lính chuyên phóng hỏa rồi mặc cho lửa cháy hay sao?” Đúng hay sai, anh chưa thể quyết ngay, nhưng ít nhất, cô bé đã gieo vào anh một chút ánh sáng dắt anh qua cánh cửa ra khỏi nhà lao u muội. Hoang mang lớn dần, sợ hãi lớn dần, kinh tởm lớn dần. Anh lấy một quyển sách từ hiện trường nơi anh đã chứng kiến một cái chết lộng lẫy. Anh đem về nhà quyển Kinh Thánh – một dấu hiệu của con đường đi tìm chân lý. Càng dấn thân qua cánh cửa sự thật, khi anh biết tin về cái chết của Clarisse, khi anh đến gặp Faber và đồng chí của ông, thì cũng là lúc anh nhìn xã hội mà mình đang sống – với Beatty và Mildred, với anh mắt khác, áp dụng một lối hành xử khác. Mâu thuẫn nội tại chồng chất trong Montag. Đỉnh điểm của mâu thuẫn này, theo thiển ý của người viết bài này, không thể hiện rõ nhất qua cuộc truy đuổi của Montag và Beatty cùng con chó máy, mà là ở lần anh lớn tiếng với Mildred. Cuộc đối thoại ấy như lần đối đầu trực tiếp giữa con người khai sáng và con người mông muội, giữa sự thật và dối trá, giữa khát khao và chịu đựng, giữa tự do và ngục tù.

3. Vài bàn luận ngoài lề

Tác phẩm 451 độ F được Ray Bradbury cho xuất bản năm 1953, tức đỉnh cao của Chiến tranh Lạnh. Thanh gươm Damocles đang lơ lửng trên đầu nhân loại. Các nhà cầm quyền, đầu óc chìm đắm trong nghi kỵ và hoang mang. Tại Mỹ, những tác phẩm bị cho là thân Xô, thân Trung, thân Cộng đều sẽ bị tiêu diệt, chủ của chúng cũng sẽ khó mà sống yên. Con người sống trong sợ hãi, ngột ngạt, hệt như bối cảnh trong truyện. Vì vậy, khao khát vươn ra khỏi tù túng càng rõ hơn hết. Những điều ấy vẫn còn thiết thực ở thời đại chúng ta, dẫu những ngày tháng Chiến tranh Lạnh đã qua đi. Có lẽ Ray Bradbury không thể ngờ giá tác phẩm của mình lại có giá trị tiên đoán và phổ quát đối với mọi thời kỳ đến như vậy. Trong tác phẩm, cuốn sách mà Montag lấy về là Kinh Thánh – chính xác hơn là một trong những phiên bản cuối cùng của Kinh Thánh. Điều này phần nào hợp với tiến trình nhận thức của con người trong lịch sử. Con người từ khi có những nhận thức đầu tiên đã tôn thờ thiên nhiên. Về sau, khi nhu cầu tinh thần tăng lên, con người bắt đầu tìm đến đức tin, đến tín ngưỡng, và khi những niềm tin có tôn ti trật tự, ta có tôn giáo. Tư tưởng Montag vừa được giải phóng, nếu thứ cởi trói cho anh là sự thật, thì tư tưởng cho anh niềm tin đi tiếp là tôn giáo.

Năm 2018, kênh HBO cho chuyển thể cuốn sách của Ray Bradbury lên màn ảnh nhỏ. Phim không thực sự xuất sắc, cốt truyện cũng được dẫn dắt khác nguyên tác, nhưng có một chi tiết được cải thiện rõ rệt so với những gì ray Bradbury viết. Cụ thể, cuốn sách mà Montag trên phim lấy về không phải là Kinh Thánh, mà là Ghi chép dưới hầm (Notes from Underground) của văn hào Nga Fyodor Dostoyevsky. Dù nhỏ bé hơn rất nhiều so với Kinh Thánh, tác phẩm này của Dostoyevsky lại đặt ra hàng loạt vấn đề mang tính hiện sinh, đánh thức lương tri con người: Con người ở đâu trong thế giới này? Con người hành động ra sao? Liệu con người có thể đạt đến cảnh giới cao nhất của tự do – tự do ý chí? Đâu là lý luận? Đâu là lý trí? Tại sao con người phải trải qua bao khổ đau?  Nếu Kinh Thánh là nơi gửi gắm đức tin của con người, thì những suy tư hiện sinh chính là bờ bến tiếp theo để con người định nghĩa bản thân mình. Đó cũng chính là con đường Montag, hay bất kỳ ai muốn sống vì tự do, sống trong tự do, chết trong tự do, phải đi qua. Nhưng để đến được đích đến ấy, ắt anh phải phản kháng, biết vươn lên, biết đặt niềm tin vào sự thật, vào tự do. Bởi Thoreau cũng từng viết trong cuốn Civil Disobedience: “Disobedience is the true foundation of liberty. The obedient must be slaves.” (“Phản kháng là nền tảng thực sự của tự do. Những kẻ dễ bảo hẳn phải là nô lệ.”).

Et par le pouvoir d’un mot
Je recommence ma vie
Je suis né pour te connaître
Pour te nommer
Liberté.
(Paul Éluard – Liberté)

Và do phép màu một tiếng – Ta làm lại cuộc đời
Ta sinh ra để biết em – Để gọi tên em
TỰ DO
(Paul Éluard  – Tự do, Tế Hanh dịch)

            

Hết.

Miên Túc

Chú thích:

  1. Gómez, J. M., Verdú, M., González-Megías, A., & Méndez, M. (2016). The phylogenetic roots of human lethal violence. Nature, 538(7624), 233.
  2. Union Fire Company, còn được gọi là Bucket Brigade, được Benjamin Franklin đồng thành lập năm 1736, trở thành cơ quan cứu hỏa tình nguyện tại các bang thuộc địa của Anh tại châu Mỹ (sau Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ 1775-1783 thì trở thành nước Mỹ sơ khởi).
  3. Library Company of Philadelphia, do Benjamin Franklin thành lập năm 1731.

Phía sau trang sách

Giải mã hạnh phúc: Khám phá nguồn gốc của niềm vui và sự hài lòng

Liệu có bí mật nào cho hạnh phúc? Đây là câu hỏi đã xuất hiện từ hàng thập kỷ trước, và nhiều triết gia, lãnh tụ tôn giáo cũng như nhà khoa học đã đưa ra câu trả lời của riêng họ. Nhưng liệu có thể dùng khoa học để giải mã sự mưu cầu hạnh phúc được không?

Published

on

Hãy cùng đến với “Giải mã hạnh phúc”. Đây là một giả thuyết được đưa ra bởi chuyên gia tâm lý Jonathan Haidt, cho rằng hạnh phúc đến từ những khao khát nội tâm và đồng thời cũng đến từ các yếu tố bên ngoài. Nói cách khác thì hạnh phúc vừa là “bẩm sinh”, vừa là “nuôi dưỡng”.

Cụ thể thì như vậy nghĩa là gì? Hãy cùng phân tích các thành phần tạo nên “Giải mã hạnh phúc”, cũng như cách ứng dụng chúng vào cuộc sống để tìm kiếm niềm vui và sự hài lòng.

Bẩm sinh

Yếu tố di truyền đóng một vai trò nhất định trong cảm nhận chung về hạnh phúc của chúng ta. Một số người sinh ra đã có cái nhìn lạc quan, trong khi những người khác có thể phải vật lộn với lo âu và trầm cảm. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là mặc dù di truyền có thể ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc cơ bản, nhưng chúng không phải là yếu tố quyết định duy nhất.

Nuôi dưỡng

Môi trường và trải nghiệm cũng định hình hạnh phúc, điều này  bao gồm các mối quan hệ, công việc và thậm chí cả cộng đồng nơi chúng ta sống. Bằng cách tạo ra một môi trường hỗ trợ và trọn vẹn, chúng ta có thể nuôi dưỡng hạnh phúc lớn hơn trong cuộc sống.

Cân bằng giữa mong muốn và hoàn cảnh: “Giải mã hạnh phúc” cho rằng chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc bằng cách cân bằng giữa mong muốn bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Ví dụ, nếu bạn có mong muốn mạnh mẽ về an ninh tài chính, có thể bạn cần tìm một công việc mang đến nguồn thu nhập ổn định. Mặt khác, nếu bạn có niềm đam mê sâu sắc với sự sáng tạo, việc theo đuổi một sự nghiệp cho phép niềm đam mê đó phát triển có thể quan trọng hơn.

Vậy, làm cách nào để áp dụng “Giải mã hạnh phúc” vào thực tiễn? Dưới đây là một vài mẹo giúp bạn tìm thấy niềm vui và sự hài lòng trong cuộc sống:

1. Xác định các giá trị của bản thân: Hiểu được điều gì thực sự quan trọng với bạn có thể giúp định hướng các quyết định và tạo ra một cuộc sống viên mãn hơn.

2. Nuôi dưỡng các mối quan hệ: Mối quan hệ bền chặt với gia đình và bạn bè có thể mang lại tình yêu thương, sự hỗ trợ và cảm giác được thuộc về.

3. Theo đuổi đam mê: Tham gia vào các hoạt động và sở thích mang lại niềm vui có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc và hài lòng.

4. Thực hành lòng biết ơn: Dành thời gian để trân trọng những điều tốt đẹp trong cuộc sống, dù nhỏ bé, có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc tổng thể của bạn.

5. Cho đi: Giúp đỡ người khác có thể mang lại ý nghĩa và sự trọn vẹn cho cuộc sống của chúng ta.

Jonathan Haidt là một nhà tâm lý học và nhà tâm lý học xã hội, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về tâm lý học đạo đức và tâm lý học tư tưởng chính trị. Ông là giáo sư ngành Lãnh đạo Đạo đức tại Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, và đã xuất bản một số cuốn sách và nhiều bài báo nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học.

Các công trình của Haidt thường tập trung vào ý tưởng rằng niềm tin và giá trị đạo đức của chúng ta được hình thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm văn hóa, sự nuôi dạy và kinh nghiệm cá nhân. Ông lập luận rằng đạo đức không chỉ là vấn đề lý trí mà còn bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và trực giác của chúng ta.

Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của Haidt cho lĩnh vực tâm lý học là mô hình “trực giác xã hội” về phán đoán đạo đức. Mô hình này cho rằng các phán đoán đạo đức thường dựa trên những đánh giá tự động, vô thức về các tình huống, thay vì lý luận có ý thức và có chủ ý. Công trình này thách thức quan điểm truyền thống cho rằng việc ra quyết định đạo đức là một quá trình hoàn toàn lý trí, và nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm xúc và trực giác trong việc hình thành niềm tin đạo đức của chúng ta.

Nghiên cứu của Haidt cũng đã khám phá vai trò của đạo đức trong hệ tư tưởng chính trị, và ông đã chỉ ra rằng những người theo chủ nghĩa bảo thủ và tự do thường có nền tảng đạo đức khác nhau. Ví dụ, những người theo chủ nghĩa bảo thủ có xu hướng coi trọng các giá trị như lòng trung thành, quyền lực và sự thiêng liêng, trong khi những người theo chủ nghĩa tự do có xu hướng coi trọng sự công bằng và chăm sóc. Haidt lập luận rằng những khác biệt về đạo đức này đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình thái độ và hành vi chính trị.

Các công trình của Haidt đã được trích dẫn rộng rãi và nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải thưởng William James Fellow từ Hiệp hội Khoa học Tâm lý. Các cuốn sách của ông được ca ngợi vì dễ tiếp cận và chứa đựng những hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người.

Nhìn chung, những đóng góp của Jonathan Haidt cho lĩnh vực tâm lý học đã làm sáng tỏ vai trò của đạo đức và cảm xúc trong việc định hình niềm tin và hành vi, đồng thời giúp mở rộng hiểu biết về sự phức tạp của tâm trí con người.

Tóm lại, “Giải mã hạnh phúc” nhắc nhở chúng ta rằng hạnh phúc là sự kết hợp của cả bẩm sinh và nuôi dưỡng. Bằng cách cân bằng những mong muốn bên trong với hoàn cảnh bên ngoài, chúng ta có thể tạo ra một cuộc sống viên mãn và vui vẻ hơn. Vậy nên, hãy thử kiểm chứng “Giải mã hạnh phúc” và xem liệu nó có khiến bạn hạnh phúc hơn không nhé!

Lam dịch từ MindfulMac

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trách nhiệm thuộc về ai khi thiên nhiên hoang dã trở thành “tội phạm”?

Gấu đen đột nhập nhà dân, cây cối bị tình nghi gây ra án mạng, con nai băng qua đường không đúng luật. Nếu thiên nhiên phạm luật thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Published

on

Trong thế giới ngày càng đô thị hóa, ranh giới giữa lãnh địa con người và thiên nhiên hoang dã trở nên mong manh hơn bao giờ hết, dẫn đến những cuộc "chạm trán" dở khóc dở cười. Mary Roach đã khám phá thế giới kỳ thú nơi luật pháp - con người giao thoa, xung đột với bản năng tự nhiên trong Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật.

Giải mã "tội ác" của thiên nhiên

Mary Roach mở đầu Fuzz bằng cách đặt ra một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng lại khơi gợi vô số vấn đề phức tạp: Điều gì xảy ra khi thiên nhiên "phạm luật"? Không chỉ là những con thú lớn như gấu hay báo sư tử gây rắc rối ở vùng ngoại ô, danh sách "tội phạm tự nhiên" của Roach còn bao gồm cả những loài chim ăn trộm nông sản, những con khỉ tinh ranh ở Ấn Độ, những hạt đậu độc gây chết người hay thậm chí là những cái cây vô tri bị xem là mối nguy hiểm tiềm tàng.

Roach không ngồi yên trong phòng viết mà xông pha thực địa. Bà tham dự một khóa học về an toàn khi gặp thú dữ, theo chân các nhà khoa học điều tra hiện trường các vụ tấn công của động vật hoang dã, thậm chí nếm thử các loại thực vật bị xem là "có vấn đề".

Sách Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật (trái) và tác giả Mary Roach.

Khi tìm hiểu về những con voi ở Bắc Bengal thích chè chén, say xỉn, bà cho biết voi uống thứ mà dân làng thường uống: haaria, loại rượu pha chế tại nhà được lên men và dự trữ với số lượng đủ để làm say một con voi. "Theo Sĩ quan Raj, có hai điều xảy ra khi voi say xỉn. Hầu hết chỉ lạc đàn và ngủ quên. Nhưng dường như mọi đàn đều có một kẻ say xỉn hung hăng, thường là con đầu đàn hoặc voi đực đang trong kỳ musth. Trên đời, dù bạn có muốn mạo hiểm thế nào chăng nữa thì cũng phải tránh xa một con voi đực say xỉn", Roach viết.

Trọng tâm của Fuzz không phải là việc kết tội thiên nhiên mà là nỗ lực giải mã những hành vi bị xem là "phạm luật" ấy dưới góc độ khoa học. Tác giả đưa độc giả đi sâu vào thế giới của sinh thái học hành vi, di truyền học bảo tồn, khoa học pháp y động thực vật và quản lý động vật hoang dã.

Cụ thể như việc tìm hiểu các nghiên cứu tập tính nhằm hiểu rõ hơn về cách động vật di chuyển, kiếm ăn, và phản ứng với sự hiện diện của con người, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, như thiết kế hàng rào chống gấu, tạo hành lang di chuyển an toàn cho động vật hoang dã...

Con người nằm ở đâu trong "tội ác" này?

Một trong những thông điệp ngầm nhưng mạnh mẽ xuyên suốt Fuzz là sự tự vấn về vai trò của con người trong các cuộc xung đột với thiên nhiên. Mary Roach đặt câu hỏi: Liệu việc phá hủy môi trường tự nhiên, thay đổi cảnh quan, để thức ăn ngoài trời, vứt rác không đúng cách đã vô tình "mời gọi" động vật hoang dã vào những tình huống rắc rối?

Theo tìm hiểu của Roach, một con gấu vào khu dân cư tìm thức ăn không phải vì nó "xấu tính". Mà có thể vì nguồn thức ăn tự nhiên của nó bị suy giảm hoặc vì thùng rác của con người quá hấp dẫn, dễ tiếp cận. Bà không đổ lỗi cực đoan nhưng chỉ ra nhiều "tội ác" của thiên nhiên thực chất là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành động của con người.

Cuốn sách cũng nhắc đến những tình huống tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, thực tiễn trong việc quản lý xung đột. Từ những người ủng hộ biện pháp cứng rắn để bảo vệ tài sản và tính mạng con người, đến những nhà bảo tồn nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhân đạo hơn, tác giả để độc giả tự suy ngẫm về sự phức tạp của việc tìm kiếm điểm cân bằng. Làm thế nào để vừa bảo vệ lợi ích của con người, vừa tôn trọng quyền sống và không gian sinh tồn của các loài khác?

Theo Nguyệt Dạ | ZNews

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Nếu từng khóc khi xem phim “Mưu cầu hạnh phúc”, thì đây là cuốn sách bạn nên đọc

Published

on

Trong bộ phim Mưu Cầu Hạnh Phúc (The Pursuit of Happyness) ra mắt vào năm 2006 của đạo diễn Gabriele Muccino, diễn viên Will Smith vào vai Chris Gardner - một người cha đơn thân thất nghiệp, vô gia cư, phải vật lộn giữa cuộc sống bấp bênh, những đêm ngủ ở nhà ga, và giấc mơ đổi đời từ một chương trình thực tập không lương. Đó là một hành trình đầy khổ đau, nước mắt, nhưng cũng là bản hùng ca của lòng kiên cường và khát khao vươn lên.

Cùng năm 2006, chuyên gia tâm lý học Jonathan Haidt cho ra đời Giải Mã Hạnh Phúc, một công trình kết nối những minh triết cổ đại với khoa học hiện đại để trả lời câu hỏi muôn thuở: Hạnh phúc là gì, và làm sao để có được nó?

Khi đặt nhân vật Chris Gardner bên cạnh các giả thuyết về hạnh phúc của Haidt, ta nhận ra: Có những chân lý không bị mài mòn bởi thời gian hay hoàn cảnh, chẳng hạn như việc hạnh phúc không đến từ việc trốn tránh khổ đau, mà từ cách ta bước xuyên qua nó.

Will Smith và con trai Jaden Smith trong Mưu Cầu Hạnh Phúc.

"Con voi" và "người cưỡi voi": Cảm xúc và lý trí trong hành trình sinh tồn

Tác giả Jonathan Haidt dùng hình ảnh “con voi và người cưỡi voi” để ví von mối quan hệ giữa cảm xúc (con voi) và lý trí (người cưỡi). Trong phim, Chris Gardner nhiều lần bị cảm xúc dồn vào chân tường: Khi bị đuổi khỏi nhà, khi mất chỗ ngủ, khi con trai hỏi “Chúng ta có nhà không?”. Nhưng chính trong những khoảnh khắc ấy, “người cưỡi voi” - lý trí, bản lĩnh, lòng tin của Chris - vẫn kiên định dẫn đường.

Anh không để cảm xúc giận dữ, tuyệt vọng kiểm soát mình. Anh chọn hành động, kiên trì học hỏi, giữ vững phẩm giá ngay cả khi lau dọn toilet công cộng để có thêm chút tiền. Dù cảm xúc có lúc muốn gục ngã, anh vẫn tiếp tục hành động có lý trí, không để cơn tuyệt vọng làm tê liệt mình. Những lúc phải ngủ ở ga tàu với con trai, Chris vẫn giữ lòng tự trọng và tiếp tục cố gắng, giống như một người cưỡi đang cố gắng điều khiển một con voi đầy hoảng loạn.

Điều kiện ngoại cảnh và “ngưỡng hạnh phúc”

Sách Giải Mã Hạnh Phúc chỉ ra rằng con người có “mức độ hạnh phúc” nhất định. Ta có thể vui hoặc buồn nhất thời vì sự kiện bên ngoài, nhưng sau đó sẽ quay về mức hạnh phúc trung bình của mình. Thế nhưng, Haidt cũng lưu ý rằng có những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lâu dài đến hạnh phúc: nghèo đói, cô lập, hoặc bị sỉ nhục kéo dài.

Chris Gardner trải qua gần như tất cả những điều này, nhưng thay vì cam chịu, anh đã cố gắng tìm nhiều cách khác nhau để xoay chuyển số phận của bản thân, dẫu có những lúc rơi vào cảnh nghèo túng đến mức chỉ còn vỏn vẹn 30 đô la trong ví. Vì đã nỗ lực tự mình thay đổi hoàn cảnh nên khi thành công đến, anh không chỉ nhận được phần thưởng vật chất mà kèm theo đó còn là cảm giác xứng đáng, sự gắn kết với con trai, và lòng tự tôn được củng cố.

Ý nghĩa và mục đích sống: Cội nguồn của hạnh phúc bền vững

Haidt cho rằng hạnh phúc bền vững không đến từ việc theo đuổi khoái lạc (pleasure), mà đến từ việc sống có mục tiêu, có giá trị. Chris Gardner không chỉ muốn giàu mà hơn thế nữa, anh muốn trở thành một người cha xứng đáng, một con người có giá trị. Tình yêu dành cho con trai là kim chỉ nam dẫn lối, khiến anh không bỏ cuộc dù bị cả thế giới quay lưng.

Điều này khớp với một câu nói của triết gia Friedrich Nietzsche: "Nếu bạn có một lý do đủ lớn để sống, bạn có thể chịu đựng hầu hết mọi nỗi đau." (He who has a why to live for can bear almost any how).

Hạnh phúc không phải đích đến, mà là hành trình

Cuối phim, khi Chris được nhận vào làm chính thức, anh rưng rưng cố không bật khóc giữa đám đông, chạy vội đến nhà trẻ của con trai và ôm lấy con. Đó không chỉ là giây phút hạnh phúc đơn thuần, mà còn là sự giải phóng sau bao tháng ngày chịu đựng và không từ bỏ. Từ một nhân viên chào bán thiết bị y tế, cuộc đời Chris đã thay đổi. Đó là minh chứng cho giả thuyết cuối cùng của Haidt: “Hạnh phúc không phải là thứ mà bạn có thể tìm thấy, có được hoặc đạt được một cách trực tiếp. Bạn phải có được các điều kiện phù hợp và sau đó chờ đợi. Một số điều kiện đó nằm trong bạn, chẳng hạn như sự gắn kết thống nhất giữa các phần và cấp độ trong tính cách của bạn. Các điều kiện khác yêu cầu mối quan hệ với những thứ bên ngoài bạn: giống như cây cối cần mặt trời, nước và đất tốt để phát triển, con người cũng cần tình yêu, công việc và sự kết nối với một điều gì đó lớn lao hơn.”

Mưu Cầu Hạnh Phúc không kể lại con đường đạt đến thành công của một người đàn ông, mà đã khắc họa lại lòng kiên trì bền bỉ và ý chí quyết tâm vượt lên số phận. Giải Mã Hạnh Phúc không dạy ta cách để luôn hạnh phúc, mà cho ta công cụ để hiểu hạnh phúc thật sự là gì. Một bên là nhân vật trong phim, một bên là những giả thuyết được đúc kết từ hàng ngàn năm trí tuệ của nhân loại, giao nhau tại điểm giữa: sự gắn kết với cuộc sống, niềm tin vào một điều tốt đẹp và cao cả hơn chính bản thân mình.

Lam

Đọc bài viết

Cafe sáng