Phía sau trang sách

Vòm rừng: Bản hùng ca Moby Dick trên cạn

Với Vòm rừng, Richard Powers đã tiến hành một khảo sát tương đối sâu rộng vào sự tương hỗ giữa con người và cây cỏ.

Published

on

Khi thế giới kết thúc lần đầu tiên, Noah đã đưa tất cả động vật, từng cặp mỗi loài, và đưa chúng lên con thuyền thoát hiểm của Ngài để đi sơ tán. Nhưng điều buồn cười là: Ngài để mặc cây cối chết.

Một điều thú vị là vào ngày The Overstory (hay tựa chuyển ngữ Vòm rừng) được xướng tên chiến thắng giải Pulitzer 2019, giới vận động hành lang – những người theo dõi tin tức văn chương thế giới – gọi đây là một trò đùa. Điều giễu nhại rằng tuy là cuốn sách viết về cây cối và các mối quan hệ tương hỗ, nhưng với bề dày (gần 600 trang sách khổ 24), điều này tương tự như việc mặc màu đỏ vào đám tang. Nhìn nhận một cách khách quan, dù nhà xuất bản có dán nhãn FSC (The Mark of Responsible Forestry(1)) hay không đi nữa, thì với chiều dày nguyên bản này, Vòm rừng ít nhiều gây được sự chú ý nhờ vẻ ngoài sử thi, mà như Margaret Atwood so sánh – như bản hùng ca Moby Dick trên cạn. 

The Overstory như đúng tên gọi của nó, vừa là bài hùng ca tầng tầng lớp lớp khoảng xanh (story đồng âm với storey = tầng), nhưng cũng đồng thời là câu chuyện dài dằng dặc những đời người (story = câu chuyện). Với Vòm rừng, Richard Powers đã tiến hành một khảo sát tương đối sâu rộng vào trong những loài sinh vật bất động này, ở đó ông phân tích mối tương quan giữa chúng, mà quan trọng hơn hết, là sự tương hỗ giữa con người và cây cỏ. Bằng sự nhạy cảm của văn chương và cái thực tế của những bằng chứng khoa học, Vòm rừng là tổng hòa của hiện trạng đi xuống kèm theo nỗ lực cuối cùng trong mối quan hệ hài hòa giữa Mẹ thiên nhiên với loài homo sapiens bé nhỏ. Như Ann Patchett nhận xét, đây thật sự là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất thời kì này.

*

Vòm rừng là câu chuyện của chín cá thể khác nhau, đều có liên kết với những loài thực vật nhất định trong tuổi thơ hay tuổi trưởng thành. Đó là dòng họ Hoel hơn mười đời chụp ảnh cây dẻ. Đó là gia đình nhà Ma người Hồi, di cư từ Trung Quốc sang Mỹ nhằm tránh những biến động chính trị. Đó còn là cậu bé Adam – đứa trẻ say mê học hỏi và những mánh lới của tuổi trưởng thành. Là cặp đôi Ray và Dorothy với những bất trắc tình yêu. Là Douglas – cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam. Là Neelay – người Ấn và cha đến thung lũng Sillicon nước Mỹ. Là Patricia Westerford – tiến sỹ thực vật học và Olivia, cô nàng vừa trải qua những biến động tuổi trưởng thành: ly hôn, chết lâm sàng cho đến giác ngộ. Thoạt tưởng mỗi một người họ không có sợi dây liên hệ nào với nhau; nhưng bằng độ dài sử thi và sự sắp đặt tình tiết khéo léo, Richard Powers đã tạo nên bản đồ những mối quan hệ với thiên nhiên thông qua những nhân vật này, như trình tự diễn biến của một cái cây: từ gốc rễ, thân, ngọn và cuối cùng hóa thân thành những hạt giống.

Nhưng tại sao là chín, liệu số lượng chín nhân vật ở đây có ý nghĩa gì? Theo thần thoại Bắc Âu, Yggdrasil (còn được gọi là Mímameiðr hay Lérað, trong tác phẩm này Richard Powers gọi là Mimas) là “Cây thế giới”, một cây thần khổng lồ nối liền chín thế giới trong vũ trụ. Cây Thế giới có mối liên hệ mật thiết với các giai đoạn sáng thế, thành trụ và hoại diệt của nhân loại. Cây Thần dạy chúng ta rằng cây cối gắn liền với số phận của nhân loại, và mỗi người nắm giữ trách nhiệm phải coi sóc quá khứ, ghi nhớ những gì đã mất, đồng thời trân trọng thế giới tươi đẹp phồn vinh này, khoảnh khắc hiện tại, trong khi hướng tới một viễn cảnh trong tương lai. Và như thế chín mảnh ghép được kết nối với nhau, như chín địa hạt riêng tụ chung vào một cây lớn, từ đó câu chuyện thành hình.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Vòm rừng.

1. Gốc rễ

Một cách tuần tự, Richard Powers khắc họa sự đối nghịch hay thân thuộc của thực vật với con người. Trong giai đoạn gốc rễ, ông đi tuyến tính vào từng nhân vật, vào từng ngóc ngách đời sống của khoảng thời gian kéo dài; những sợi dây liên kết mỏng manh nhất bắt đầu thành hình.

Nếu cây dẻ nhà Hoel đứng đó như chứng nhân cho cuộc tình đời đầu giữa Jørgen với Vi – ông bà cụ kỵ của Nick; thì Patricia và cha cô là những người lắng nghe thực vật từ sớm: học hỏi, thí nghiệm và đọc Aldo Leopold để hiểu cách thức cây cối giao tiếp. Nếu nhà Adam chọn bốn loài cây đại diện cho từng đứa con của gia đình họ; thì cũng từ cây sồi già to lớn một buổi tan học, Neelay vì nỗi sợ vô cùng trẻ con đã gắn đời mình với chiếc xe lăn không thể đi lại. Những nhân vật này gắn bó với loài cây từ thuở ấu thời; từ sâu trong họ một sợi dây liên kết hình thành. Cây cối như điềm báo, như là phúc lành đối với trẻ con. Chúng đứng đó, rực rỡ hay tàn lụi cũng đồng thời dự báo số phận của những đứa trẻ. Chúng trở thành máu mủ, mao mạch; chúng ẩn hiện trong số phận và định mệnh của mỗi một người. Thế mới có chuyện khi cây du chết, Leigh – chị cả của Adam – mất liên lạc và không bao giờ trở lại một tối mùa xuân; hay khi Jørgen gieo sáu hạt cây dẻ chỉ có năm hạt nảy mầm, và người con đầu tiên chết.

Liệu đây có phải là cách mà Richard Powers khẳng định cây cối có một linh hồn bất diệt, và chúng gắn bó với thực thể con người – loài homo sapiens – bằng sợi dây vô hình nhưng mạnh mẽ? Không dừng ở đó, ông tiếp tục nêu bật sợi dây này ở các nhân vật không gắn bó với cây cối từ đầu. Chẳng phải nhờ một cây đa to lớn mà Douglas thoát nạn từ chiếc máy bay? Cũng chẳng phải cây sồi trong vở Macbeth là dấu mốc cho cuộc hôn nhân nhiều sóng gió của Dorothy và Ray? Hay với Olivia, tiếng nói của những hiện thân chẳng phải là yếu tố khiến đời cô rẽ một bước ngoặt vô cùng to lớn, khiến cô từ một cá thể mất dấu giữa dòng, bỗng trở nên có lý tưởng và sống có trách nhiệm? Richard Powers sử dụng các yếu tố văn chương một cách tài tình để cho ta thấy cây cối – bằng cách nào đó – gắn bó với con người hơn cách ta vẫn thường nghĩ. Thực vật gắn bó mật thiết, một kiểu tâm linh thần giao cách cảm với loài người, bí ẩn nhưng kỳ diệu, lạ lẫm nhưng thẫm sâu.

2. Thân

Với Vòm rừng, Richard Powers đã đi một vòng rất lớn trong lịch sử: từ nội chiến Nam – Bắc Mỹ 1864 đến Thế chiến thứ hai, từ công cuộc khai thác thuộc địa, Cách mạng 1911, thảm sát 1927, chiến tranh Việt Nam đến khủng bố 11/9 ; cây cối đứng đó như hiện thân chứng kiến con người qua bao biến đổi. Cây cối đứng đó vẫy chào cảm thông vào ngày Nick phát hiện ra cả gia đình chết do ngộ độc khí gas. Cây ăn sáng – loài dâu tằm không nhả tơ – là điểm tựa cho phát súng tự kết liễu của Ma thì Adam cũng từng khóc lóc khi cha cậu cho trồng cái cây còn giữ nguyên vải bọc rễ. Cây tương tác với các nhân vật, cây đóng vai trò quan trọng như những mạch nguồn nuôi dưỡng sự sống. Nhưng thực tế, con người đang làm gì với ngôi nhà nguyên thủy của tổ tiên?

Richard Powers phân ra hai thế đối đầu: nếu một bên là những cá thể riêng lẻ góp chút sức tàn vào công cuộc bảo vệ tổ tiên – thì phía bên kia là hệ thống công chính, là luật pháp chặt chẽ nhưng phục vụ chỉ những điều trước mắt, quên cả gốc rễ, quên cả tổ tiên. Ở đây, dễ thấy nguồn gốc phần lớn các nhân vật đều là dân nhập cư: Nick – Hà Lan, Ma – đạo Hồi, Neelay – Ấn Độ. Họ là những người dễ bị trục xuất, luôn phải cúi đầu, lắng nghe và đồng thuận. Thế nhưng đứng trước sự phá hủy ấy, họ bật dậy như không còn gì để mất.

Từ đấu tranh bất bạo động đến phá hủy máy móc (thiết bị của chính quyền công chính), từ đóng giả thú rừng giương biểu ngữ thu hút báo chí đến xây dựng trại Cascadia ngăn cản bước tiến của đoàn giết cây; tất cả bọn họ đứng đó như hiện thân của lẽ phải. Họ yêu và cảm nhận tình cảm của cây một cách thiêng liêng. Họ vận động và không ngừng đấu tranh cho mục tiêu phía trước, như lời trăn trối của Olivia trong những phút cuối cùng: Những thứ chúng ta có sẽ không bao giờ kết thúc. Phải không? Richard, lại một lần nữa, rất lý trí khi cho thấy vai trò của từng nhân vật trong cách giải thích vai trò của những tổ tiên nguyên thủy này. Nếu Ray – một luật sự về quyền sở hữu – mang cho người đọc những phân vân về việc liệu cây có quyền sở hữu những thứ nó sản sinh ra cho loài người; thì Patricia lại là một nhân vật đưa ra rất nhiều những phát kiến khoa học khiến ta bất ngờ như trong những cuốn sách thường thức khoa học. Nếu Adam – một tiến sỹ khoa học thống kê, đưa ra những nhận xét thức thời về tính bầy đàn, về hiệu ứng bàng quan; thì Neelay như cách cho thấy những khát vọng của con người đã quá mục ruỗng, khi phải nhìn thấy thiên nhiên từ những pixel nhân tạo.

Nhưng nếu mỗi một người họ có thể từ bỏ danh tiếng, địa vị, tài sản như Neelay, Mimi, Adam hay thậm chí mạng sống như Olivia, Patricia; thì phía bên kia – những người mang danh đại diện cho chính quyền liên bang, cho sự đoàn kết của tộc người cư xử ra sao? Họ đứng đó và xịt hơi cay hay đổ chất cay vào mắt người biểu tình ôn hòa, họ đánh và giam giữ trái phép, họ đàn áp và tra tấn trong mức độ ghê rợn nhất. Một điểm phải nhìn nhận ở Richard Powers trong cuốn sách này rằng, ông không nhắm hay phê phán bất cứ một cá nhân riêng lẻ nào. Dễ thấy ông cho những người đốn rừng một lý do hợp lý để đối đầu với phản ứng của giới cấp tiến vì môi trường – để nuôi vợ con họ, để kiếm tiền và đóng thuế cho nền công chính. Nhưng giới lãnh đạo pháp luật, tòa án, chính quyền bang và đầy đủ những cơ quan mang danh liêm chính khác cư xử ra sao? Họ không làm gì khác ngoài tra tấn và áp đặt, bóc lột và trừng phạt để không cần hiểu.

3. Ngọn

Cuối cùng, sau những cố gắng của họ: của việc ngồi 200 feet trên cao Mimas để giữ không cho bọn đốn rừng chặt cây, của việc đi khắp thế giới làm lạnh hạt giống trên chiếc thuyền ark, của việc đốt cháy máy móc, thiết bị như cách cuối cùng thu hút sự chú ý của báo giới; họ được gì? Có chăng là bản án hai lần 70 năm cho Adam vì tội khủng bố trong nước, có chăng là cái chết tự kết liễu của Paricia giữa hội nghị Sửa nhà khi đã quá căm phẫn vì tội ác loài người và sự ra đi của chồng bà – Denis. Hay có chăng là Neelay, khi nhận thức đã quá trễ với trò chơi giờ đây người ta không quan tâm gì hơn doanh thu của nó.

Loài người bị bệnh rồi” – câu nói của Ma với chú gấu trong lần cắm trại khi chúng đến tấn công, hay cậu bé Adam, bằng những suy nghĩ trẻ con, cũng thốt lên: “Loài người bị bệnh nặng rồi. Giống loài này sẽ không còn tồn tại lâu. Đó là một thí nghiệm sai lầm. Chẳng bao lâu nữa thế giới sẽ quay trở lại với những trí thông minh lành mạnh, những trí thông minh tập thể. Bầy đoàn và nhóm đông. Bằng một con mắt chỉ chăm chăm đời sống ngoại vi, Douglas trả thù Adam vì đứng trước Olivia sắp chết nhưng không làm gì; cũng tương tự thế, cái chết của Patricia như tiếng thét câm lặng để từ đó Neelay tỉnh thức, làm một cái gì khác hơn trò chơi chính ông tạo ra, nơi không gì hơn những pixel ảo. Như Patricia hay Mimi nói: “Chẳng có sinh vật nào tẩy chay nhanh hơn Homo sapiens. Loài người là giống du côn. Luật pháp là công cụ bắt nạt, và đúng như thế, cuối cùng trong cuốn sách này, những người phản đối vì môi trường mệt dần, họ tan hoang và rã rời, họ bất động và không niềm tin chống đối. Tất cả đã rệu rã, tất cả đã quá muộn; vì hiệu ứng bàng quan, vì nhận thức kế thừa? Không ai biết được, chỉ biết thêm một cái cây đốn hạ, tổ tiên ngã xuống, và loài người đang triệt đi chính cội nguồn mình từ một tỉ rưỡi năm trước.

4. Những hạt giống

Những hy vọng được nhen nhóm trong phần cuối này, dẫu không nhiều nhặn gì mấy, nhưng Richard Powers ít nhiều mang một niềm tin vào cuối cuốn sách. Đó có thể là những công trình dựng nên từ thân cây chết của Nick với sự cộng tác của những người mới, được ghi nhận từ những vệ tinh trên cao – một trong những cảm biến do Neelay làm giúp đo lường bất cứ thông tin nào mới từ môi trường; là sự buông bỏ của Mimi trước quá khứ sai lầm trong sự hy sinh của Adam, Douglas; là cặp vợ chồng già Ray – Dorothy trong những ngày cuối lần mò học cách nhận biết phân loại cây cối. Không đơn thuần Richard Powers để chính những hy vọng nhen nhóm dần tàn này vào cuối, vào phần những hạt giống; vì rõ ràng hạt giống là thứ bắt nguồn, chúng mang bộ gene, bay cao bay xa; nhằm đến một ngày nào đó, chính những cố gắng riêng lẻ nhỏ nhoi ấy, sẽ làm nhận thức một lần thức dậy, thay đổi và đúng đắn hơn.

*

Với Vòm rừng, Richard Powers đã viết nên một biên niên sử về cây cối trong mối quan hệ đầy biến động với xã hội loài người, với loài homo sapiens nhỏ nhoi nhưng tham vọng. Bằng sự tinh tế của văn chương kết hợp với lý trí rành mạch của những ngành khác, ông viết nên Vòm rừng bằng cả trái tim và lý trí mình. Như Thoreau dạo bước trong khu rừng của những ngày này, Richard Powers kết cấu tiểu thuyết trong bốn giai đoạn phát triển của cây, để từ đó cho thấy hy vọng vẫn còn, dẫu nhỏ nhoi nhưng nhen nhóm. Dẫu còn đó những khai thác tâm lý chưa sâu, sự kiểm soát nhân vật chưa quá chặt chẽ đôi khi dẫn đến trạng thái mỏi mệt của những chi tiết thừa thãi trong các tiểu thuyết đoạt giải Pulitzer (nhược điểm mà đa số người đọc từ chối theo dõi); Vòm rừng rõ ràng là cuốn sách mà mỗi chúng ta nên đọc một lần, dẫu là người yêu quý hay cảm thấy bình thường trước tự nhiên, bởi lẽ, từ một tỉ rưỡi năm trước, chúng ta và cây cối là một. Hùng vĩ, nhạy cảm và bao quát; Vòm rừng lồng lộng mà đầy ý nghĩa.

Hết.

Ảnh đầu bài: I Love Books

Chú thích:

  1. FSC (The Mark of Responsible Forestry): Nhãn chứng nhận và cung cấp thông tin nguồn gốc, chất liệu bao bì và sản phẩm, chứng minh sản phẩm đã đóng góp vào công cuộc bảo vệ rừng.

Đọc tất cả bài viết của bí


Những bài viết có cùng chủ đề môi trường & thiên nhiên




Phía sau trang sách

Trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình với Metahuman – Siêu nhân loại

Published

on

By

Những khi nhìn lại chính bản thân mình, những điều đã hoàn thành lẫn những điều còn dở dang, nếu đâu đó trong bạn xuất hiện những suy nghĩ tiêu cực về chính mình, có lẽ tác phẩm Metahuman – Siêu nhân loại của bác sĩ Deepak Chopra sẽ giúp bạn điều chỉnh lại suy nghĩ ấy, để thấy rằng tiềm năng của con người là vô hạn.

Có bao giờ bạn tự hỏi, tại sao những phim hài lãng mạn dù lặp lại các kiểu mô típ quen thuộc về câu chuyện, nhân vật thường vẫn dễ dàng thu phục được công chúng? Trong Metahuman – Siêu nhân loại, Deepak Chopra – tác giả người Ấn Độ từng được tạp chí Time vinh danh là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất ở thế kỉ 20 – đã có cách lí giải vô cùng thuyết phục dựa trên cơ chế tâm lí, ý thức về hiện thực của con người.

Dòng phim hài lãng mạn thường kể câu chuyện về một anh chàng hay cãi nhau với một cô nàng, để rồi cuối phim anh mới nhận ra cô chính là tình yêu đích thực của đời mình. Chopra cho rằng tất cả chúng ta đều yêu thích khoảnh khắc giác ngộ của nhân vật trong phim: “Giờ tôi đã hiểu rồi. Đó là người tôi yêu.”

Chính vì thực tại ta đang sống là một thứ khó hiểu, khó nắm bắt nên ta lại càng tìm được nhiều niềm vui khi chứng kiến nhân vật có thể hiểu được một vấn đề nan giải, thấy được sự thật bấy lâu nay cứ chìm khuất trong lớp sương mờ trước mắt anh hay cô ta. Và tác phẩm Metahuman – Siêu nhân loại cũng có thể mang đến cho người đọc niềm vui tương tự khi lần lượt giải mã nhiều vấn đề về hiện thực ta đang sống.

Những giới hạn của bản thân không phải là điều tiêu cực như bạn nghĩ

Deepak Chopra

Chúng ta vẫn thường quen thuộc với quan niệm thế giới chia làm hai phần gồm: vật chất và ý thức. Từ đây, hình thành hai trường phái triết học chủ đạo là duy vật và duy lí. Nhưng trong Metahuman – Siêu nhân loại, Deepak Chopra đã định nghĩa lại về thế giới. Ông cho rằng thế giới chỉ có duy nhất một thứ là ý thức, và vật chất cũng là do ý thức tạo nên. Vật chất, hay những gì chúng ta nghĩ là rắn chắc, bền vững, khó thay đổi – bao gồm cả cơ thể, tâm trí và những tiềm năng của chúng ta – kì thực đều là do ý thức quyết định. Vì thế, chừng nào ý thức còn muốn tiếp tục điều chỉnh, chừng đó tiềm năng của con người còn vô hạn và có thể mở rộng đến khôn cùng.

Nhưng trong cuộc sống hằng ngày, giới hạn an toàn lại là thứ khiến chúng ta thấy thoải mái, đồng thời đây cũng là cơ chế để bảo vệ con người. Chopra lấy ví dụ nếu một người muốn trở thành họa sĩ, anh tham dự một lớp học mĩ thuật. Giả sử lớp học đó có thể cho anh xem hết tất thảy mọi bức tranh đã được vẽ trong lịch sử nhân loại, cảm thấu được vẻ đẹp của từng bức thì khả năng cao là sau khi học xong, anh sẽ không thể vẽ được nữa. Ở đây, chính giới hạn về hiểu biết mĩ thuật có thể lại là động lực khiến người họa sĩ muốn sáng tạo.

Như vậy, bản thân sự giới hạn không phải là một điều tiêu cực. Nó chỉ tiêu cực khi bị cố định trong một cái khuôn. Ngược lại, nếu ta biết được giới hạn nhưng vẫn có nhận thức rằng biên độ của giới hạn có thể thay đổi thì tiềm năng của con người sẽ không ngừng mở rộng.

Không chỉ quá khứ, tương lai; hiện tại cũng là thứ không thể nắm bắt

Phần lớn chúng ta có một quan niệm phổ biến rằng: “Tương lai, quá khứ là thứ chúng ta không thể nắm bắt. Tương lai thì chưa đến. Quá khứ thì đã qua. Chỉ có hiện tại là thứ duy nhất ta có thể nắm bắt được.” Quan niệm này có lẽ hợp lí đến nỗi không nhiều người trong chúng ta đặt nghi vấn về tính đúng đắn của nó, hay thử tự một lần phản biện lại.

Tuy nhiên, Deepak Chopra lại có suy nghĩ hoàn toàn khác biệt về vấn đề này. Ông cho rằng không chỉ tương lai và quá khứ, ngay cả hiện tại – mà ta nghĩ là mình đang sống trong nó – cũng là thứ khó nắm bắt. Bởi lẽ, hiện tại cũng giống như sự im lặng. Khi bạn cất lời, sự im lặng biến mất; tương tự, khi bạn có nhận thức về hiện tại dù là dưới dạng hình ảnh, cảm xúc, hay suy nghĩ, nó cũng đã biến mất ở khoảnh khắc ấy, nhường chỗ cho một hiện tại khác ở ngay sau đó. Vì vậy, nếu nói rằng thực tại là thứ có thể nắm bắt thì chẳng khác nào nói là bạn có thể biết trước suy nghĩ tiếp theo của mình.

Phản biện này có lẽ cũng là tư duy nền tảng cho khái niệm về thực tế ảo được trình bày trong sách. Thực tế mà chúng ta đang sống, ta nghĩ rằng đó là một thực tế vững chắc, được kết cấu dựa trên những nhu cầu đầu tiên về vật chất, sau đó là tinh thần – thực tế ấy, hóa ra lại không vững chắc như ta nghĩ. Rất có thể, đó chỉ là một thực tế do ý thức, nhu cầu của chúng ta tạo ra, thứ mà Chopra gọi rằng đó là thực tế ảo. Để vươn đến tầm vóc siêu nhân loại, ta phải học cách vượt qua thực tế ảo ấy, hướng đến một thực tế thật – đó chính là thứ thực tế mà tác giả gọi là siêu hiện thực.

Trong Metahuman – Siêu nhân loại, Deepak Chopra không cố gắng áp đặt độc giả phải đồng thuận quan điểm của mình. Ông luôn đưa ra nhiều ý kiến, quan điểm đối lập từ những học giả, các nguồn kiến thức khác nhau về cùng một vấn đề để người đọc có thể rộng đường tư duy, tiếp nhận nhiều luồng tư tưởng, tự lựa chọn đáp án cho những câu hỏi cá nhân của chính mình. Thông qua đó, Deepak Chopra cung cấp một cách nhìn khác về hiện thực, giúp mỗi người chúng ta xua tan lớp sương ảo ảnh do tự thân tạo ra từ những định kiến, trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình.

Nguồn: L'Officiel

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Thành phố những lục địa bay: Khi Đà Lạt không là Đà Lạt

Published

on

By

Đà Lạt luôn là điểm dừng chân lí tưởng cho những tâm hồn yêu cái lạnh. Nếu không thể đến Đà Lạt ngay lúc này, quyển sách Thành phố những lục địa bay – tác phẩm viết về Đà Lạt mới nhất của nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên sẽ là sự lựa chọn hoàn hảo để người đọc tận hưởng không khí Đà Lạt ngay tại nhà.

Dù tuổi thơ gắn liền với quê hương Ninh Thuận và chỉ đến Đà Lạt khi trở thành sinh viên Văn khoa Đại học Đà Lạt, Nguyễn Vĩnh Nguyên đã dành cho Đà Lạt một tình yêu tha thiết với nhiều tác phẩm ghi dấu trong lòng bạn đọc như: Đà Lạt, một thời hương xa; Đà Lạt, bên dưới sương mù; Với Đà Lạt, ai cũng là lữ khách Lần này trở lại với Thành phố những lục địa bay, anh tiếp tục viết về Đà Lạt với nhiều khám phá, tìm tòi mới trong nghệ thuật kể chuyện.

Vẻ đẹp thành phố sương mù hiện ra trong sự mơ hồ của chữ “và”

Trong lối tường thuật của Thành phố những lục địa bay, Nguyễn Vĩnh Nguyên đặt rất nhiều ý nghĩa trong chữ “và”. “Và” không chỉ là sự bao hàm giữa cái này và cái kia. “Và” còn có thể vừa mang ý nghĩa liệt kê, vừa mang ý nghĩa đồng thời. Chính vì vậy, những chi tiết nối liền bằng “và” theo cách Nguyễn Vĩnh Nguyên sử dụng cho người đọc cảm giác chúng có thể lần lượt xuất hiện, hoặc song song tồn tại. Sương mù hay chính bản thân Đà Lạt dường như đã trở thành một câu văn có cấu trúc gắn kết bởi chữ “và”. Ngay từ lời ghi chú ngắn ở đầu truyện, tác giả đã dụng công viết những câu văn có sự xuất hiện của nhiều chữ “và” để tạo ra cảm giác mơ hồ về ranh giới. Ta hãy thử khảo sát một vài trường hợp.

Có khi “và” đảm nhận nhiệm vụ liệt kê hai chức năng đồng thời tồn tại:
“Mặt nước cất giữ trong nó những bí mật bị vùi chôn và trang sức cho thành phố một vẻ mơ màng hư ảo. 

Có khi “và” là một trạng thái ở giữa như cách tác giả mô tả tầm nhìn của một người khi quan sát hồ nước chìm trong sương mù.
“Hồ, vì thế nằm giữa cái thấy và không thấy.”

Đôi khi, “và” còn mang nghĩa không hẳn là “cái này”, cũng không hẳn là “cái kia” như trong câu văn sau đây:
“Còn thi sĩ, anh là kẻ đã đến đây vào Thời đại Buồn nôn với sự thơ mộng và giả thơ mộng được vẽ vời và phóng đại.”

Như vậy ở đây, Đà Lạt hiện ra là một thành phố vừa thơ mộng, vừa không hẳn thơ mộng. Chính vì không có tính chất nào vẹn toàn thuộc về chủ thể – chủ thể ở đây có thể hiểu là cả một thành phố –  nên mới cần có nhiều chữ “và”. “Và” như một phương thức để khẳng định thành phố luôn mang trong mình từng tính chất đã được liệt kê, nhưng đồng thời cũng không hoàn toàn nắm giữ trọn vẹn bất kì tính chất nào. Chính vì lẽ đó, tác giả đã đưa ra nhận định chung về hình ảnh Đà Lạt được tái hiện trong Thành phố những lục địa bay là: “Đà Lạt chính là Đà Lạt. Nhưng Đà Lạt cũng không là Đà Lạt.”  

Trò chơi giữa có và không khiến người đọc say mê

Những chuỗi truyện trong Thành phố những lục địa bay cho người đọc thấy một điều rằng: Sự thật và giai thoại luôn đan xen lẫn nhau về cùng một đối tượng. Ở tác phẩm này, hồ nước chính là khởi nguồn cho mọi sự nhòa lẫn, bất phân định về ranh giới.

Có lẽ, tác giả chọn hồ làm đối tượng để khởi đầu tác phẩm cũng vì hồ là thứ có thể phản chiếu như gương, tạo ra phiên bản thứ hai của thế giới, tạo ra lằn ranh giữa thực và ảo. Hiểu theo cách đó, ta có thể thấy rằng hồ cũng có nhiệm vụ tương tự như chức năng ngữ pháp của chữ “và” trong cấu trúc câu. Nếu “và” là cầu nối trên câu chữ thì “hồ” chính là một phóng chiếu sang hình ảnh của “và”, là sự gắn kết giữa những miền “thực” và “ảo” trong tác phẩm. Và vì vậy, với tác giả, hồ là: “Một thứ nước đôi, không chắc hư cấu, cũng chẳng hiện thực.” 

Hầu hết những con người xuất hiện trong tác phẩm đều vô danh, họ chỉ được gọi bằng các chức danh nghề nghiệp như: thi sĩ, nhà nhân học, quy hoạch gia, chàng nhạc sĩ, nhà thám hiểm, ngài khâm sứ, đan sĩ, hoàng đế, nhà biên khảo, nhà văn… Bằng cách đó, con người hòa vào những địa danh vốn cũng không được đặt tên riêng trong tác phẩm như: Hồ, Suối, Thác, Đồi, con đập…

Giữa những mơ hồ về thân phận của con người và nơi chốn, nước – một “nhân vật” vô danh khác trong tác phẩm – lại nổi lên như một đối tượng dẫn lối cho tất cả mọi thứ. “Nước đã xuyên qua vách ngăn của da thịt, để con người trở nên trong suốt và tự do.” Có lẽ vì thẩm thấu được mọi thứ nên nước dường như là phương tiện duy nhất có thể xuyên qua vách ngăn phân định giữa thực và ảo được tạo ra bởi những lớp sương mù – vốn cũng là thứ thoát thai từ nước mà thành.

Và theo dòng chảy của nước, trò chơi giữa có và không trong Thành phố những lục địa bay cứ thế diễn ra khoan thai, chậm rãi, nhưng nhiều day dứt. Tuy nhiên, dẫu có nhiều màn sương mơ hồ được giăng ra, người đọc cũng sẽ khó mà hoặc thậm chí là không muốn thoát ra khỏi thứ khiến mình đang băn khoăn ấy. Bởi lẽ, bằng chính việc không chối bỏ sự mơ hồ, dần dần ta sẽ nhìn rõ được mọi thứ. Thành phố những lục địa bay chính là một cái nhìn thấu suốt về Đà Lạt giống như thế.

Nguồn: L'Officiel

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tiếng Kiều đồng vọng: Thế giới như một khoảng không chật hẹp

Published

on

By

Sự tổn thương sẽ mang lại những tia lấp lánh cho con người trưởng thành dường như chưa bao giờ là bài học cũ kĩ. Tiểu thuyết Tiếng Kiều đồng vọng (tên cũ Mưa ở kiếp sau) của Đoàn Minh Phượng chính là tiếng vọng đến từ một cuộc đời như thế.

Tiếng Kiều đồng vọng kể về cuộc đời của Mai. Mai sinh ra và lớn lên với mẹ Liên ở Hà Nội. Từ nhỏ, cô không biết cha mình là ai và luôn mong muốn được gặp cha. Cơ hội cuối cùng cũng đến khi dì Lan – em gái của Liên từ Huế vào Hà Nội thăm hai mẹ con đã tiết lộ cho Mai địa chỉ của cha Mai ở Sài Gòn. Từ đây, Mai phải lựa chọn rời xa tổ ấm để lên nơi phồn hoa đô thị nhiều cạm bẫy dối trá với ước vọng được đón nhận tình yêu thương từ cha mà bấy lâu cô thiếu thốn.

Trưởng thành từ sự tổn thương

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Thông qua hành trình tìm cha của Mai, ta còn thấy xuất hiện một hành trình khác, cũng quan trọng không kém: hành trình tìm lại bản ngã của chính cô - một người luôn bị mắc kẹt trong những câu hỏi thuộc về quá khứ. Có lẽ, khi người ta bắt đầu học cách đưa ra câu trả lời cho những nghi vấn trớ trêu mà số phận đặt ra, dù tiếng vọng cuối cùng chưa hẳn là một đáp án tiệm cận nhất với sự thật thì rốt cuộc, ta cũng dần tiến đến sự trưởng thành bản ngã - thời khắc cái tôi cá nhân phải tự phá vỡ vỏ trứng bảo bọc an toàn tưởng chừng vững chắc như một thành trì nhưng hóa ra lại chỉ mong manh như một làn sương dệt từ những mơ hồ bất quyết. Chỉ khi thành trì ấy sụp đổ, làn sương ấy lùi lại phía sau con người vừa bước ra từ sự tổn thương, chính khi ấy ta mới có thể nhìn rõ hơn thế giới với trọn vẹn hương sắc của nó. Tiếng Kiều đồng vọng chính là tiếng vọng đến từ một cuộc đời như thế. Sự tổn thương sẽ mang lại những tia lấp lánh cho con người trưởng thành dường như chưa bao giờ là bài học cũ kĩ.

Nội dung cơ bản của Tiếng Kiều đồng vọng có nhiều yếu tố tương tự với bộ phim Hạt mưa rơi bao lâu do Đoàn Minh Phượng làm đạo diễn và biên kịch, sản xuất năm 2005. Cả hai người con trong tác phẩm này đều không rõ cha mình là ai, đều tự thân tìm hiểu câu chuyện quá khứ vì cùng có người mẹ trung thành tuyệt đối với sự im lặng. “Những kỷ niệm khác nằm trong niềm im lặng của mẹ tôi, niềm im lặng dài hai mươi hai năm, dài bằng đời tôi và nửa đời của mẹ.” Mai đã từng cảm thán như thế về sự im lặng của mẹ. Im lặng là một từ khóa quan trọng, được lặp lại nhiều lần trong Tiếng Kiều đồng vọng. Bản thân Hạt mưa rơi bao lâu cũng có tên phim trong tiếng Anh là Bride of Silence. Như vậy, có thể thấy rằng, sự im lặng hay thân phận của người phụ nữ bị mất tiếng nói trong xã hội là chủ đề có sức ám ảnh lớn với tác giả Đoàn Minh Phượng. Khi những người con sống dưới cái bóng im lặng của người mẹ, họ càng có thôi thúc mạnh mẽ hơn trong việc đi tìm câu trả lời cho một quá khứ bất minh. Thoát khỏi sự im lặng, tự cất lên tiếng nói cho chính mình – đó là một trong những bước đầu tiên để trưởng thành, như cách Mai đã dứt khoát nói với mẹ vào ngày cô rời đi rằng: "Con hai mươi hai tuổi, con trưởng thành đã bốn năm rồi mẹ."

Nước bao bọc kí ức để tiếng nói được cất lên

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Mưa ở kiếp sau (tên cũ của Tiếng Kiều đồng vọng) là một tiêu đề gợi hình; trong khi đó, Tiếng Kiều đồng vọng lại là một tiêu đề gợi âm. Thử tìm cách lí giải sự thay đổi này, ta sẽ nhận ra một số điều thú vị.

Ở phần mở đầu tác phẩm, Đoàn Minh Phượng có trích dẫn lời bài hát Within you, Without you của nhóm The Beatles do George Harrison sáng tác với phần lời như sau:

“Ngày sẽ đến khi em nhận ra chúng ta đều là nước.
Cuộc đời trôi bên trong em và bên ngoài em...”

Câu gốc bài này trong tiếng Anh là:

“And the time will come when you see we're all one.
And life flows on within you and without you.”

Thông qua đó, có thể thấy tác giả đã có dụng ý khi thay “one” bằng “nước”. Nước rõ ràng là một hình ảnh rất quan trọng với Đoàn Minh Phượng trong tác phẩm này vì bản thân “mưa” ở tiêu đề cũ cũng là một yếu tố thuộc nước. Vậy dưới ngòi bút của tác giả, nước mang ý nghĩa gì?

“Một câu chuyện không có lời giống như một cơn mưa không có giọt nước từ trời. Tôi sẽ đi tìm lời cho những gì tôi biết.”

Như vậy, nước trong tác phẩm này tượng trưng cho “lời,” cho kí ức – là điều Mai luôn tìm kiếm, đồng thời cũng là điều bao bọc Mai như cách cô ví von: “Tôi còn là loài cá đầu to nằm còng queo trong lòng đại dương chật hẹp, trong bụng của người mẹ chửa hoang.” Vì “sự im lặng” của mẹ Mai là nguồn cơn khởi phát cho hành trình của Mai nên có thể xem như “nước” – một  hiện thân của “lời” – chính là đích đến, đồng thời là phương tiện để Mai hiện thực hóa mục tiêu của mình.

Do đó, so với Mưa ở kiếp sau, Tiếng Kiều đồng vọng là một tiêu đề thể hiện sự chuyển biến tích cực. Mai không còn chờ “mưa”/ “lời giải đáp” ở kiếp sau nữa, cô tìm nó ngay trong kiếp này để cất lên thành một tiếng vọng, phá tan sự im lặng của mẹ cô, của những phận nữ nhi bị mất đi tiếng nói ở thế hệ trước.

Một giọng văn mềm mại nhưng ngầm cuộn sóng bên trong

Tiếng Kiều đồng vọng vẫn kể chuyện theo lối tuyến tính, nhưng khi trình bày các sự kiện diễn ra trong cái khuôn đó, Đoàn Minh Phượng vẫn cho phép dòng tự sự của nhân vật chảy miên man tự do, đi đi về về giữa quá khứ và hiện tại. Chính vì thế, dòng chảy tâm thức của nhân vật tuy được giọng văn mềm mại dẫn dắt nhưng vẫn ngầm cuộn sóng bên trong bởi lẽ chỉ cần rẽ qua một bước ngoặt nhỏ, sự kiện đau lòng nào đó trong quá khứ lại đột ngột ập đến; hoặc ngược lại, khi đang đắm chìm trong hồi tưởng êm đềm, bất thình lình hiện thực phũ phàng xâm chiếm và hủy hoại ta. Người đọc như bước đi trong mê cung, chỉ có thể tri nhận thế giới như một khoảng không chật hẹp trước mắt, không thể biết điều gì sẽ chờ đợi mình trong ngã rẽ kế tiếp.

Ở một thế giới mơ hồ thì những cái tên - vốn dĩ là phép định danh chống lại sự mơ hồ - càng được Đoàn Minh Phượng dụng công để có thể hòa quyện trong bầu không khí hư ảo. Ta có thể thấy tác giả không vội vàng giới thiệu tên họ, lai lịch đầy đủ của nhân vật ngay từ đầu theo lối kể chuyện tiểu sử quen thuộc. Nhân vật hiện lên thoạt tiên với những tâm tư, cuộc sống ập ngay trước mắt độc giả. Những thông tin bên lề sẽ đến sau. Mãi đến chương bốn, trong đoạn đối thoại với mẹ, người đọc mới biết nhân vật chính tên Mai. Nếu để ý kĩ, ta sẽ thấy hầu như những nhân vật trong truyện đều có tên gắn với một loài hoa: Mai, Liên, Lan, Quỳnh... Và Chi - một nhân vật đặc biệt trong tác phẩm này thì tên cô lại có nghĩa là “cành”, không phải là loài hoa đích thực mà có thể là cành cho bất cứ loài hoa nào.  

Những giấc mơ cũng là một yếu tố quan trọng trong Tiếng Kiều đồng vọng. Thông qua đó, Đoàn Minh Phượng xây dựng một thế giới tổn thương, quái lạ với những buổi tiệc kì dị của giới nhà giàu, có phần nào đó mang không khí tương đồng buổi tiệc của hội kín quí tộc mà Stanley Kubrick đã đặc tả rất kĩ lưỡng trong phim Eye Wide Shut (1999).

Sống trong thế giới hiện đại, những cô Kiều dưới ánh sáng thị thành dường như không còn giữ nổi tâm trí tỉnh táo. Họ hồ như đều có chung một dòng máu điên loạn và chỉ biết lặng nhìn dòng chảy ấy trôi qua nhiều kiếp người. Vì vậy, tiếng kêu của họ có thể không đứt ruột như người xưa do nỗ lực chôn vùi cảm xúc, nhưng lại trở thành những tiếng vọng được cộng hưởng vào nhau nên còn mãi ngân nga rất lâu sau khi Tiếng Kiều đồng vọng đã kết thúc.

Đọc bài viết

Cafe sáng