Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Đọc “Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương”, ngẫm về sự mất màu trong mỗi chúng ta

Published

on

Haruki Murakami là cái tên đã quá đỗi quen thuộc với 15 tác phẩm tiểu thuyết nổi bật và hơn 50 truyện ngắn đã được xuất bản với nhiều thứ tiếng. Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương là cuốn tiểu thuyết thứ 14 của nhà văn, phát hành tại Nhật Bản năm 2013 và đến tay người đọc Việt Nam vào cuối năm 2014, dưới bản dịch của dịch giả Uyên Thiểm (Lương Việt Dũng), người đã từng tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với Haruki Murakami tại Nhật Bản.

Nếu các bạn đã từng yêu mến tiểu thuyết Rừng Nauy (1987), vậy thì thực sự không nên bỏ qua cuốn tiểu thuyết Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương. Dù tuổi đời cách nhau hơn 26 năm – một khoảng thời gian dài đủ để cho mọi thứ thay đổi, thế nhưng với tác phẩm sinh sau đẻ muộn này, Haruki Murakami đã chứng minh con đường văn chương của ông không nằm trong những thứ đó. Đọc từ Rừng Nauy cho đến Tazaki Tsukuru, chúng ta như được đi trên một chuyến tàu thời gian, nơi mà Haruki Murakami sống hai lần tuổi trẻ, trải nghiệm và kể lại cho người đọc hai thế giới khác nhau trong cùng một linh hồn thanh xuân bất biến. Ở đó, vẫn là những câu chuyện sâu thẳm về tình bạn, tình yêu, về những ám ảnh hành hạ cả một kiếp người, những khổ đau trầm uất và cả những hi vọng thanh tân lóe lên để cứu chuộc những kẻ hành khuất đoạ đày.

*

Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương là cuốn sách tương đối ảm đạm và u uẩn, có nhiều tình tiết mang tính chết chóc, thần bí và thực sự khó giải thích. Thế nên bản thân mình có lời khuyên đến các bạn đang mang ý định tìm đọc tác phẩm này, đó là nên đọc vào những lúc thực sự có thời gian để chiêm nghiệm. Điều này sẽ tránh việc bị ngắt quãng trong tư duy, dẫn đến khó hiểu và có những đánh giá sai lệch về giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

Câu chuyện kể về chuyến hành hương của một người đàn ông 36 tuổi tên là Tazaki Tsukuru. Dưới sự thúc đẩy của người bạn gái Sara, Tazaki đã bắt đầu chuyến đi kiếm tìm lời giải đáp cho những câu hỏi, những nỗi ám ảnh triền miên mà tuổi trẻ anh đã hèn nhát chôn sâu vào tận đáy lòng. Đó là lời giải cho việc Tazaki bị nhóm bạn thân thiết bỏ rơi một cách đầy hụt hẫng vào năm 20 tuổi. Vì không đủ can đảm để truy nguyên đến cùng sự thật, vì lòng tự trọng và cả sự tự ti đã khiến Tazaki của lúc ấy tự chấp nhận cái lý do mình bị bỏ rơi là vì bản thân không đủ quan trọng với những người bạn, vì đã bỏ quê hương để đến Tokyo học hành, vì không có màu sắc trong tên gọi… Sự chối bỏ của nhóm bạn như phát súng kết thúc quãng đời thiếu niên của Tazaki, khai sinh ra một bản thể Tazaki trưởng thành, u uẩn, mang trong tâm thức những vết thương sâu cho đến tận mãi 16 năm sau này.

Trong chuyến hành hương đi tìm lại bản thể, ngoài việc khám phá ra cái lý do kinh hoàng và vô lý đã khiến anh bị bỏ rơi ngày xưa, Tazaki còn được chứng kiến sự đổi thay, sự “mất màu” của những người bạn một thời thân thuộc. Rõ ràng rằng khi đã trưởng thành thì ai cũng phải khác đi, ai cũng có những nỗi đau và cả sự chối bỏ, trốn chạy khỏi chính bản tâm mình. Nhận ra điều đó, Tazaki trở lại hiện thực cùng với quyết tâm truy cầu hạnh phúc, níu giữ lấy Sara, người con gái mà anh đang yêu thương để không phải hối hận thêm một lần nào nữa.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương.

Về Tazaki Tsukuru và những người bạn

Nếu nói cuộc đời này là một món ăn thì tình bạn chính là một loại gia vị không thể thiếu. Chúng ta ai cũng đã từng có bạn, thậm chí có những người bạn thân thiết như cùng một gia đình. Đó là những người mà khi ở bên họ ta được là chính bản thân ta, được ngông cuồng tự tại, được vui cười không một chút tính toan. Tazaki Tsukuru cũng có những người bạn như vậy, đó là:

Akamatsu Kei: Đỏ (Ako) – Thông minh, nhạy bén và kiêu hãnh.
Oumi Yoshio: Xanh (O) – Thật thà, bộc trực và vững tâm.
Kurono Eri: Đen (Kuro) –  Mạnh mẽ, gần gũi và thấu đáo.
Shirane Yuzuki: Trắng (Shira) – Mỏng manh, cao quý và tinh khiết.

Mỗi người trong nhóm bạn của Tazaki Tsukuru đều mang một màu sắc riêng trong tên gọi, và họ cũng có những cá tính, sở thích nổi bật của mình. Điều này đã khiến Tazaki cảm thấy tự ti. Tazaki không có màu sắc trong cái tên và cũng tự đánh giá mình là “tầm thường”, không ước mơ, sở thích hay tính cách gì đáng nói. Trong một nhóm bạn đầy màu sắc, sự tồn tại của Tazaki đúng thật là đôi lúc kém nổi trội hơn nhiều, nhưng chính sự kém nổi trội và trầm lắng của Tazaki lại là một thứ chất xúc tác, dung hoà các màu sắc khác nhau ở cạnh bên nhau. Ở bên nhóm bạn, Tazaki cảm nhận được sự gần gũi, tự nhiên, và chính những người bạn của anh cũng cảm giác như vậy khi ở bên anh, giống như Xanh đã nói:

Không, không phải theo cách đó. Rất khó giải thích nhưng có cái gì như thể chỉ cần mày ở đó thì cả bọn sẽ được là chính mình một cách hết sức tự nhiên. Mày không nhiều lời, nhưng sống với hai bàn chân bám chắc trên mặt đất, điều đó tạo cho cả nhóm một cảm giác vững vàng thầm lặng, giống như cái neo tàu. Từ khi không còn mày, bọn tao mới thật sự cảm nhận được điều này. Có lẽ vì vậy mà từ khi không còn mày, bọn tao bỗng trở nên tản mác.”  

Rất rõ ràng là Tazaki đã tự đánh giá bản thân mình quá thấp, sự choáng ngợp trước những người bạn mang cá tính mạnh và màu sắc nổi bật đã khiến Tazaki trở nên tự ti. Anh không nhận ra được rằng giá trị của mình trong nhóm bạn quan trọng đến nhường nào, để rồi mặc định buông xuôi khi cho rằng mình bị bỏ rơi. Nếu nói một cách trừu tượng, Tazaki không màu chính là trang giấy để vẽ nên một bức tranh, một trang giấy không màu sắc nhưng có thể đón nhận tất cả các màu, có thể trở thành nơi mà các màu sắc có không gian để giao thoa cùng nhau. Nếu thiếu đi trang giấy tưởng chừng như không quan trọng đó, những màu sắc sẽ chỉ còn là những mảng riêng biệt nằm vô nghĩa mãi hoài trên những khay màu đơn độc.

Về sự “mất màu” trong tác phẩm và trong mỗi chúng ta

“Ai rồi cũng phải khác đi.”

Từ sâu trong cơ thể sinh học của chúng ta, các tế bào vẫn đang thay đổi hàng ngày. Sự thay đổi của con người chậm rãi như luộc ếch sống bằng nước lạnh, điều này khiến chúng ta không nhận ra thực tế là bản thân mình đang dần thay đổi, đang dần trở nên hoàn toàn khác so với quá khứ. Những người bạn của Tazaki cũng vậy, họ chỉ là những chú ếch chịu thỏa hiệp với dòng nước đang nóng dần lên theo dòng chảy thời gian, đến khi nhận ra thì màu sắc trong họ đã chết dần đi – không còn kịp để giãy dụa hay phản kháng. Như mình đã nói ở phần tóm tắt, trong quá trình đi tìm hiểu lý do cho việc bị bỏ rơi của ngày xưa, Tazaki đã được chứng kiến sự đổi thay, sự “mất màu” đến không ngờ của những người bạn thân thuộc một thời, cụ thể là:

Akamatsu Kei: Đỏ – Trở nên gian trá, lạnh lùng và tuyệt vọng.
Oumi Yoshio: Xanh – Trở nên hoạt ngôn, cứng nhắc và mỏi mệt.
Kurono Eri: Đen – Trở nên yếu đuối, trốn chạy và an phận.
Shirane Yuzuki: Trắng – Trở thành một người chết đầy bí ẩn sau quá trình khổ đau, hoang tưởng.

Ảnh: The New York Times

Đỏ không còn kiêu hãnh. Xanh không còn kiên định. Đen không còn mạnh mẽ. Trắng không còn tinh khiết. Mất đi những cá tính đặc trưng của tuổi thiếu niên, nhóm bạn của Tazaki không còn là Đỏ, Xanh, Đen hay Trắng. Họ chỉ còn là Akamatsu, Oumi, Kurono, Shirane, chỉ còn là những cái tên tầm thường dùng để định danh, là những kẻ trưởng thành “mất màu” và cô độc, vận hành một cách vô vọng với những nỗi đau trong guồng quay tất bật của cuộc đời.

Có lẽ, Tazaki chính là người ít thay đổi nhất trong nhóm bạn, anh của năm 36 tuổi vẫn vậy, vẫn là một Tazaki hiền lành ít nói, vẫn giữ cho mình ước mơ với những nhà ga và đã thật sự làm việc đúng với ước mơ của mình. Vị trí của những ga tàu trong xã hội cũng phản ánh lên vị trí của Tazaki trong nhóm bạn. Những nhà ga như một điểm giao thoa nhỏ bé và yên bình giữa người đến và người đi, nó dung nhập được tất cả loại người với tất cả màu sắc. Những chuyến tàu nếu không có nhà ga sẽ giống như nhóm bạn thiếu đi Tazaki vậy – rời rạc và không thể vận hành.

Mình cũng đã từng có những người bạn rất thân từ lúc ấu thơ, thân như ruột thịt. Vào thời điểm ấy, không một ai trong số chúng mình nghĩ rằng sẽ có một ngày không còn bên nhau nữa. Rồi thời gian trôi qua, cuộc đời cứ thế đẩy chúng mình rời xa nhau về cả khoảng cách địa lý lẫn địa vị xã hội. Để rồi đến khi gặp lại, ánh mắt những người bạn thân thiết ngày nào nhìn nhau đều không còn trong trẻo, vô tư nữa. Ai cũng đã trở thành người lớn, một kiểu người lớn quy chuẩn và nhạt nhẽo.

Sự ngăn cách vô hình khiến chúng mình không thể trải lòng cùng nhau, cũng vì thế mà không còn hiểu nổi nhau. Đó cũng chính là lúc mình nhận ra, mình – và tất cả bọn họ đều đã chết đi một phần hồn nhiên, đánh mất đi một phần sắc màu của tuổi trẻ. Chúng mình sẽ mãi mãi không thể thân thiết trở lại như ngày ấu thơ, bởi vì không còn ai là chính bản thân của ngày xưa nữa. Cả mình, cả họ, và tất cả chúng ta đều sẽ phải đánh đổi sắc màu của riêng mình để có thể tồn tại trong xã hội này, một xã hội cô đơn không có chỗ cho màu sắc.

Tạm kết

Mình gấp lại những trang sách trong sự bối rối và nhiều dòng suy nghĩ. Trong tác phẩm này của Haruki Murakami, mình nhìn thấy được nhiều mặt phản chiếu khá trùng hợp với bản thân, nên có thể nói là tác phẩm đã ảnh hưởng đến con người mình rất nhiều. Nhân vật chính Tazaki khá may mắn, anh có một gia đình giàu có hậu thuẫn và cũng vì thế mà anh tự do theo đuổi đam mê, được giữ lại màu sắc bình phàm của mình. Cuộc sống của đa phần chúng ta thì không được may mắn như vậy, chúng ta đều phải gieo mình ra xã hội để sống với những mục tiêu thực tế hơn. Như những chú khỉ buộc phải bơi, những loài cá buộc phải leo trèo. Chúng ta đôi khi phải làm những công việc mà mình không yêu thích, gồng mình 8 tiếng, 10 tiếng trong công việc tù túng và những mối quan hệ xã giao. Có lẽ, ngoài một số ít những người may mắn thì đa phần chúng ta ai rồi cũng sẽ như Xanh, như Đỏ – dần dần mất đi những màu sắc của riêng mình.

Khi giới thiệu tác phẩm này đến những người bạn, mình nhận được nhiều phản hồi tiêu cực hơn là tích cực. Mình chỉ muốn nói rằng Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương là một cuốn tiểu thuyết khá nặng nề và sâu sắc, thế nên vẫn còn rất nhiều vấn đề mình chưa thể nêu lên hết trong bài viết như: Về cái chết kỳ bí của Trắng, về lý do cô buộc tội Tazaki, lý giải về nhân vật Xám, về nhân vật Xanh lục trong câu chuyện mà nhân vật Xám kể, về những giấc mơ của Tazaki, về cái kết… Những chủ đề mở này đều có tính u ám và huyền bí, mỗi người đọc sẽ có những cách lý giải của riêng mình, cho nên tác phẩm này hay hay là dở, sâu sắc hay nông cạn là tùy vào gu đọc cùng với khả năng cảm thụ riêng của mỗi người đọc chúng ta.

Hết.

Nguyễn Đình Duy Lộc

*

Muôn màu Haruki Murakami





Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Hồ sơ Rachel: Tiểu thuyết đầu tay và quan trọng nhất định hình nên Martin Amis

Hai mươi có thể chẳng phải là khởi đầu cho sự chín chắn, nhưng, chắc chắn, nó là kết thúc của tuổi thanh xuân.

Published

on

Khi nói về những cuốn sách táo bạo nhất tôi từng đọc qua, thì Trên đường, Chuyện nàng O và Hồ sơ Rachel không thể thiếu ở đầu danh sách. Nếu Trên đường kỳ lạ bởi cái hoang dã sống chết hết mình trong thời tuổi trẻ, Chuyện nàng O là bởi màu sắc huê tình đậm đặc dục tính; thì Hồ sơ Rachel như vùng giao chiếu của biểu đồ ấy – giữa cái hoang vu tuổi trẻ và tính bạt mạng thời khắc huê tình. Với cuốn tiểu thuyết đầu tay và vẫn còn "thô" như chính Martin Amis từng thừa nhận sau này – ông đã viết nên câu chuyện đầy ngạo nghễ, phớt đời, suồng sã mà không thiếu đi tính đa cảm trong mỗi nhân vật. Như dấu chỉ cho một sự nghiệp sừng sỏ của một trong những nhà văn quan trọng nhất nước Anh sau này, Hồ sơ Rachel là tấm gương phản ánh thời đại – nơi chú hề "đại lộ" tự soi chiếu mình để rồi bất chợt nụ cười vẽ sẵn đang tự khinh mình, cũng khinh khi đời; trong một kiểu thức phóng túng, trịch thượng đến độ bi kịch, éo le.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng của tác phẩm Hồ sơ Rachel.

*

Nếu có cuộc bình chọn đâu là nhân vật đặc sắc nhất trong những tác phẩm văn chương từ trước đến nay, thì Charles Highway có lẽ là người mình dành duy nhất mọi sự trông mong (xin lỗi Jack của Titanic, vì sự chung thủy của mình). Để họa được Charles chắc hẳn không có một tính từ nào cố định cho chàng trai này, giữa "cao ngạo", "tự luyến", "suồng sã", "khinh khi",… Charles là tổng hòa của những điều ấy, là người con trai với tuổi thiếu niên rực lửa mà như anh nói, Hai mươi có thể chẳng phải là khởi đầu cho sự chín chắn, nhưng, chắc chắn, nó là kết thúc của tuổi thanh xuân. Và do đó, Charles của tuổi 19 dạm ngõ 20 là cá tính duy nhất và độc đáo nhất ta được trải nghiệm ở nơi con ngựa bất kham, giữa những mối quan hệ gia đình, giữa sợi dây bó chặt xã hội và những khoái lạc rủa xả rất đáng để tâm.

Thành thực mà nói, Martin Amis đã xây dựng một Charles táo bạo không bằng phép màu nào cả. Người con trai đại lộ ấy cũng như những chàng thanh niên khác, người có đủ thứ mụn trứng cá, đổ đốn vào rượu chè rẻ tiền và cà phê, chơi pinball, săn tiệc, tìm gái và… xuất tinh. Thế nhưng bằng chính cái "thô" như Amis thừa nhận – nó không đặt ra giới hạn đạo đức hay mỹ học nào cho tiểu thuyết này cả. Là bầu trời của những cậu chàng, là cánh cửa mở vào xã hội của những năm xưa; ta thấy sự vận động của Hồ sơ Rachel chứa đầy chủ nghĩa tự nhiên dáng vẻ Zola. Nói thế để thấy rằng, Hồ sơ Rachel tuy là một tập sách đóng mà Charles giữ riêng cho mình, thế nhưng đồng thời cũng là cánh cửa dẫn vào quá khứ của ngày hôm nay, để biết rằng dù thời gian có trôi qua bao lâu đi nữa, con thác dữ dội mà gập gềnh tuổi trẻ vẫn thế, vừa đáng sống mà cũng đáng quên. Điều khác biệt duy nhất ta có thể nhận ra là liệu có còn giới hạn của đường biên quy hoạch tuyến tính, nơi đạo đức hay tính mỹ học như nhát cắt gọn vào trong hiện thực, khi con người bịt mắt sống tiếp những hôm nay?

Đối với Charles, cảm giác về một cậu chàng Don Quixote đánh nhau với cối xây gió là mặt nổi bật không thể không thấy – cậu chàng với đủ thứ trò dối trá, cao ngạo, ngang tàng; người của hàng tá những lần làm làm tình trong trạng thái say ma túy và thức dậy vào chiều hôm sau. Hơn thế, để làm tăng vẻ ngoài đầy nổi bật ấy, anh ta phục sức chính bản thân mình bằng những tiểu luận – phê bình thơ ca, trong khi bản thân không cảm được một chút nào những bài thơ ấy. Thế nhưng ở tuổi 19, 20 thơ mộng tràn đầy tự tin cùng những cô gái mê đắm trong bầu không khí bung xõa của dân hippie, cơn sóng thanh xuân đã tràn vào người và dĩ nhiên không lâu sau đó, như một kết quả tất yếu của những lần làm tình bừa bãi, anh đã mắc lậu.

Dễ thấy Amis xây dựng hình tượng Charles vượt ngoài khuôn thước bằng những điều trên, thế nhưng một mặt nào đó, ông cũng xoay ngược cậu chàng vào bản thân mình bằng những bi kịch dường như lớn hơn. Đầu tiên là cái trăn trở về một gia đình ôn cố mờ nhạt – nơi cha mẹ đóng vai như những con rối giữ vững hạnh phúc gia đình trong khi bản thân đã chết trong nhau từ lâu. Đôi lần anh nói từ tuổi rất nhỏ về nỗi căm hận và sự đau đớn, Căm hận là phản ứng tâm lý duy nhất ta học được trước một bầu không khí gia đình cằn cỗi. Nó là một cảm xúc tàn phá và… đau đớn. Chính những cuốn sổ và sở thích viết một năm 7 cuốn nhật ký, việc viết chớp nhoáng bất cứ ai mà anh từng gặp, ghi chép những điều mình đã từng thấy – đã cung cấp cho anh một góc nhìn rộng về thế giới nghi hoặc này; cộng với tính cách suồng sã nơi bản thân mình; cả hai gặp nhau và nổ trong nhau thành một phản ứng châm biếm xã hội đầy rặt nụ cười trong cái đớn đau ta không thể thấu.

Và chính việc gặp Rachel đã cho anh một tiêu cự phù hợp trong câu chuyện ấy. Để nói một cách dễ hiểu, thông qua Hồ sơ Rachel, Diễn văn gửi bố hay Những cuộc chinh phục và kỹ thuật [những cuốn sổ tay của mình], anh ít nhất đã có một góc nhìn vào bức tranh xã hội đương thời. Thế nhưng nếu đó là bức tranh lớn với bối cảnh rộng; thì cuộc tình và những mơ ước cùng với Rachel cho anh trải nghiệm thực hơn cũng suy tư hơn về vị trí và vai trò của mình ở bờ bến 20. Nếu trước 20 tình dục là cái ta làm, là phận sự của bản thân ta; thì sau 20, chỉ qua một nhích của cây kim giây, lập tức trở thành cái ta phải làm cho xong và là phận sự đối với bạn tình. Chính đường biên mỏng manh về thời khắc này cho anh dũng khí để đến với Rachel, để sống cuộc đời riêng bản thân mình, để được ngập chìm trong bãi tha ma nơi bánh xe đỗ của thế hệ trước.

Việc tiếp thu và hành xử như những lớp người đi trước biến cuộc tình này thành một đường thẳng, như trong những ngày tan vỡ sau này, anh phải thừa nhận Mối quan hệ của bọn tôi cho đến phút đó chỉ toàn là thẳng tiến và lý tưởng hóa, không có tính thật thà đến nỗi khi trường hợp ủ dột thực tình, đáng ghét đầu tiên xuất hiện, tôi (và cả Rachel) nhận ra là bọn tôi chẳng có thứ máy móc nào để phá vỡ nó. Chính trong trạng thái thúc giục của thời quá độ, Charles không còn là anh. Từ người cao ngạo nay bị ra rìa ở Tea Centre, từ bị từ chối không biết bao lần nay lại nuôi mộng bám dính dằng dai; để đến cuối rồi thì, Rachel đến với anh chỉ như lựa chọn của cuộc may rủi, để một trong hai (giữa anh và DeForest) không ai phải đau khổ thêm. Và kết quả trước mắt là khuynh hướng tự suy ngẫm đời mình cho có thứ tự lớp lang đã đánh bại anh, làm nhục anh và phơi bày cái đa cảm của bản thân mình ra trước người đọc.

Thế nhưng chính cuộc chinh phục tưởng như mãi mãi bỗng chốc khép lại bằng những lý do không thể lạ hơn – vì Rachel nhơ nhớp, dơ bẩn; vì Rachel tè dầm hay kỳ quặc hơn nữa, vì Rachel nổi mụn trên mũi!? Trải qua thời kỳ mê đắm cho đến suy sụp, cuộc tình của hai người họ kết thúc một cách không thể lường trước. Thế nhưng đằng sau bề nổi của tảng băng chìm ấy, là dối trá, lọc lừa; là những mặt đối lập chưa thể nhìn thấy ở tít đằng xa, mà cú cua gấp ở phía sau cùng, là cuộc vụng trộm với người đàn bà khác dẫn đến Rachel mang thai trong một trường hợp không thể lường trước.

Vào đúng khoảnh khắc Charles nhận ra bao cao su bị thủng cũng là lúc trách nhiệm của việc có con len sâu vào anh, mà hai đại diện vô cùng tiêu biểu đã cho anh thấy con đường ấy không hề dễ dàng. Việc thù ghét cha mình vì một gia đình bình thường, vì sự xa cách, vì mối quan hệ nhợt nhạt vẫn không thể bằng việc ông không cần dối vợ, tự mình duy trì sức khỏe để có tình nhân và còn thật thà hơn nữa, dẫn hai chị em họ về nơi nhà mình trong bầu không khí bàn luận chính trị của giới tinh hoa. Gần hơn chỉ cách có một vách tường, việc cảm thông với Jenny trước những nhục hình Norman gây ra vì không muốn cô sinh con, không muốn bầu vú chảy xệ đậm đặc mùi sữa hay bánh pudding sẽ không còn khít khi anh ra vào; đã đánh động Charles một điều gì đó về sự khốn nạn của việc làm cha, của chính tình trạng khốn khổ mà bọn đàn ông gây ra cho người phụ nữ để rồi sau này Rachel đáp hoàn toàn ngược lại. Chắc anh sẽ nói chuyện này khá khá… nhảm, nhưng con cái là thứ duy nhất phụ nữ có thể có mà đàn ông thì không. Và họ nên tự hào về điều đó. Cái đó đã bù trừ mọi chuyện.

Và Charles có thật đáng trách khi đổ mọi thứ lên đầu Rachel? Bởi lẽ nguồn cơn của việc bao thủng cũng chính là cuộc vụng trộm của anh với Gloria, việc cho rằng Rachel nói dối về gia thế mình, về ba lý do không đâu như đã dẫn trên… tất cả dẫn về một sự ích kỷ ở phía Charles. Ngao ngán hơn, là lời biện hộ không thể nuốt trôi Tôi cũng đã nói dối và tưởng tượng và lừa bịp; sự tồn tại của tôi cũng là một cái mạng nhện dối trá sắc màu sặc sỡ – nhưng với tôi việc đó […] mang đậm tính giải trí, văn chương, để đáp lại một nhu cầu trí tuệ hay cảm xúc. Thế nhưng nhìn nhận ở một mặt khác, việc còn quá trẻ và phải chứng kiến những sự phụ bạc, những lần bạo hành chỉ vì vấn đề con cái nơi người đàn ông trong gia đình mình đã dẫn Charles đến phán quyết ấy; tuy rằng bất công nhưng vẫn có thể cảm thông cho một tuổi trẻ đã quá hư hao. Đến cuối rồi thì không ai vui vẻ, không ai được gì; chỉ toàn mất mát bởi con tàu nhanh cuối cùng cũng đã vào ga, cuốn phăng mọi thứ cản trở trên đường.

*

Với Hồ sơ Rachel, Martin Amis đã viết nên một tiểu thuyết thách thức thời đại, nơi ông phá bỏ mọi định kiến đạo đức để biến cái thô vụn thành niềm chân thật không một vết xước; để từ đó ta thấy một tuổi trẻ vội vã, những đứt gãy gia đình, những dằn vặt tự thân trở thành nguyên liệu cho điệu jive linh hoạt của những bàn chân suồng sã, trịch thượng, phóng túng lướt trên sàn nhảy cứng đanh mang vẻ giả tạo của xã hội Anh một thời quá khứ và cả sau này. Hồ sơ Rachel ngạo nghễ, linh hoạt mà đa cảm một cách không ngờ. Tiểu thuyết đầu tay và quan trọng nhất định hình nên Amis của ngày hiện tại. Vô cùng hay ho.

Hết.

minh.

Ảnh đầu bài: Nhã Nam

*

Hồ sơ mật: Danh sách xếp hạng văn học 2020


Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đời sống bí ẩn của cây: Để suy ngẫm lại những điều hiển nhiên

“Khi bạn biết rằng cây cũng biết đau, cũng có ký ức, và cây ba mẹ sống cùng con cái, thì bạn không còn có thể chặt chúng và phá vỡ cuộc sống của chúng bằng những cỗ máy to lớn nữa”

Published

on

By

Peter Wohlleben viết cuốn sách Đời sống bí ẩn của cây dựa trên những kết luận đáng kinh ngạc của nghiên cứu khoa học gần đây và đề xuất chúng ta thay đổi thế giới quan cố hữu của mình: coi xét và đối xử với cỏ cây như là những sinh vật sống nhưng “chậm chạp” hơn nhiều so với thế giới động vật thay vì là những “cỗ máy” hữu cơ đơn giản.

Wohlleben bắt đầu sự nghiệp của mình với công việc quản lý rừng, nhưng ông thú nhận, lúc đó, ông “biết về đời sống bí ẩn của cây chẳng nhiều hơn bao nhiêu những gì mà một người bán thịt hiểu về đời sống cảm xúc của động vật”, bởi nhiệm vụ của ông là đánh giá xem cây rừng nào đã đủ tiêu chuẩn để thu hoạch.

Một bước ngoặt xảy đến vào khoảng 20 năm về trước: Wohlleben bỏ việc, chuyển sang nhận tổ chức huấn luyện sinh tồn và xây dựng các tour du lịch nhà gỗ trong rừng. Chính những cuộc gặp gỡ với du khách đã thay đổi cách nghĩ của ông về thực vật và thiên nhiên. “Du khách bị hút hồn bởi những thân cây cong vẹo, xương xẩu mà trước đây tôi sẽ loại bỏ vì chúng có giá trị thương mại thấp. Đi cùng với những du khách của mình, tôi biết lưu tâm đến nhiều thứ khác hơn ngoài giá trị của thân cây.”

Những trải nghiệm trực tiếp quý giá đã giúp ông tích lũy những câu chuyện “vụn vặt” hằng ngày của cỏ cây hoa lá mà sau này ông tìm cách kể lại trong cuốn sách Đời sống bí ẩn của cây, được nhiều ý kiến đánh giá là đã tiết lộ những khám phá tuyệt vời về đời sống tưởng chừng tĩnh lặng của rừng.

Những ý kiến trái chiều thường “tấn công” ngôn ngữ sử dụng trong tác phẩm: ông dùng trường từ vựng dành để mô tả đời sống xã hội của con người để biểu đạt những nét vẻ trong thế giới cỏ cây. Nhiều người cho rằng Wohlleben đã quá “cảm tính”, cố tình bỏ qua việc phân ranh rành rẽ giữa thực vật và động vật.

Nhưng độc giả có thể thấy ở phần cuối cuốn sách 76 mục tài liệu tham khảo chỉ dẫn tới các ấn phẩm khoa học uy tín cũng như các báo cáo nổi tiếng gần đây chứng minh rằng, tác giả cuốn sách đơn giản chỉ truyền đạt những phát hiện thực tế của khoa học bằng ngôn ngữ mà độc giả dễ tiếp cận.

Hơn nữa, điều thú vị của cuốn sách không chỉ giới hạn trong những kết quả nghiên cứu khoa học, Wohlleben còn dành nhiều trang mô tả những biến chuyển tâm lý và tinh thần của chính mình sau quãng đời làm việc trong rừng.

Wohlleben chỉ cho người đọc thấy, từ quan điểm sinh thái, chúng ta cần xem cây rừng không phải là những cá thể cô lập mà là các cộng đồng bị ràng buộc trong một tập hợp các mối quan hệ sinh thái phức tạp với các sinh vật cùng loài cũng như khác loài và đặc biệt là với các loại nấm trong lòng đất giúp truyền chất dinh dưỡng cho rễ cây. Đây là những điều mà từ lâu các nhà sinh vật học đã nhắc đến, nhưng được tác giả cuốn sách diễn tả rất sống động và cuốn hút.

Đời sống bí ẩn của cây

Cây rừng, không như phần lớn chúng ta nghĩ, vốn có một đời sống tình cảm và xã hội phong phú, thậm chí chúng dường như có khả năng lập kế hoạch trước để tạo ra một môi trường tối ưu, đảm bảo tuổi thọ của chúng. Cây rừng không chỉ tương tác với nhau một cách tình cờ, mà còn có thể hình thành nên những mối quan hệ tựa như “tình bạn” trong những khoảng rừng sâu, và trong lúc đó, những cá thể “cô đơn” sẽ phải chịu bao khó khăn vì bị tách biệt khỏi cộng đồng.

Vậy tại sao cây rừng là những sinh vật xã hội như vậy? Wohlleben trả lời: “Lý do cũng giống như trong cộng đồng loài người chúng ta: hợp tác sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn”. Trường hợp một nhóm bạch dương nuôi dưỡng một cá thể bị bệnh khiến ông nhớ về chuyện một đàn voi chăm nom con bị ốm: “Cũng giống như đàn voi, chúng coi sóc lẫn nhau, giúp đỡ kẻ ốm yếu cho đến khi nó khỏe lại. Thậm chí, đàn voi còn miễn cưỡng không nỡ bỏ lại con voi chẳng may chết”.

Mùi hương chính là thứ ngôn ngữ bí mật mà cây rừng sử dụng để giao tiếp với nhau. Wohlleben so sánh điều này với cách thức động vật giao tiếp bằng cách sử dụng pheromone hay những tín hiệu hóa học giữa các cá thể cùng loài. Tác giả đưa ra một ví dụ: ở thảo nguyên châu Phi, hươu cao cổ thường ăn lá cây keo gai dù. Khi điều đó xảy ra, trong vài phút cây bắt đầu sản xuất một chất độc biến lá cây thành đắng, khiến hươu cao cổ phải chùn bước. Đồng thời, cây keo gai dù đó còn tạo ra một mùi hương cảnh báo để những cây keo khác xung quanh ngay lập tức nhận ra – và vì thế, chúng có thể chuẩn bị trước cho cuộc tấn công hươu cao cổ.

Vì không thể di chuyển và chạy trốn, cây rừng đã phát triển các hệ thống thay thế để tự bảo vệ mình trước các mối đe dọa khác nhau. Mạng kết nối được hình thành khi rễ của cây rừng kết nối với nhau qua một hệ thống nấm trong lòng đất “giao tiếp” bằng cách truyền các xung điện. Điều này rất hữu ích, đặc biệt trong trường hợp cần cảnh báo các cây khác về sự xâm nhập của sâu bệnh hoặc hạn hán. Hơn nữa, cây rừng còn có khả năng chia sẻ chất dinh dưỡng qua rễ, đặc biệt khi một cá thể cây không quang hợp đủ hay bị côn trùng tấn công.

Trong một chương về sinh sản có tựa đề Tình yêu, Wohlleben kể rằng, một số cây rừng đã giao tiếp với nhau và ngầm đồng thuận về việc không nở hoa hàng năm, để lũ thú rừng không thể dựa dẫm vào chúng. “Cây sẽ trì hoãn việc ‘yêu đương’ tạo ra thế hệ kế tiếp, vì vậy suốt mùa đông lũ động vật mang thai phải căng mình chịu đựng một thời gian dài với rất ít thức ăn, và nhiều con sẽ không sống sót nổi. Khi tất cả dẻ gai và sồi đồng loạt nở hoa vào cùng thời điểm rồi kết trái, số thú ăn thực vật ít ỏi còn lại sẽ không thể nào phá hủy được mọi thứ…” Chương này đặc biệt cho thấy Wohlleben tài tình như thế nào trong việc chuyển thông tin khoa học sang các phỏng đoán, các tưởng tượng về đời sống kỳ thú của cây.

Wohlleben còn cho rằng mỗi cây rừng có một “tính cách” riêng, theo nghĩa chúng có sự kết hợp độc đáo những kinh nghiệm và đặc điểm riêng biệt. Hầu hết chúng ta đều cho rằng bất cứ điều gì được mã hóa trong gen của một loài thực vật sẽ quyết định toàn bộ đời sống của nó.

Wohlleben qua quan sát từng cây riêng lẻ trong nhiều năm đã chứng minh rằng cây rừng có thể ghi nhớ những kinh nghiệm và rút ra những bài học, theo thời gian; những “trải nghiệm sống” này hình thành nên tính cách độc đáo của chúng. Càng ngày càng có nhiều chuyên gia đồng thuận với ý kiến của tác giả: cây cối vốn là sinh vật xã hội, chúng biết chăm lo cho con cái, cho hàng xóm láng giềng; chúng biết ghi nhớ, học hỏi, tính toán, thậm chí có cảm xúc và cảm nhận được đau đớn.

“Một khu rừng khỏe mạnh hơn – bạn thậm chí có thể nói rằng hạnh phúc hơn – có năng suất tăng đáng kể, nghĩa là mang lại nhiều lợi nhuận hơn.” Cuối cùng, ngôi làng Hümmel ở vùng núi Eifel quê nhà của Wohlleben đã thuê ông quản lý rừng theo những nguyên tắc sinh thái mà ông coi trọng. Ông mô tả lại trải nghiệm này trong Đời sống bí ẩn của cây, nhấn mạnh việc giảm thiểu các tác động đến sự phát triển tự nhiên của rừng, thúc đẩy sự đa dạng sinh thái, dùng động vật để loại bỏ cây không cần thiết thay vì dùng máy móc nặng đốn chặt và vận chuyển.

Ông khuyên chúng ta không nên áp dụng trồng rừng độc canh mà nên cố gắng đáp ứng “nhu cầu xã hội” của cây. Như những gì Wohlleben kết luận, nếu hiểu các khả năng vô tận của cỏ cây và học cách cảm biết được đời sống và nhu cầu cảm xúc của chúng thì chúng ta sẽ bắt đầu đối xử với chúng khác đi, không coi rừng thuần túy là nhà máy sản xuất gỗ nữa, mà coi rừng như “lá phổi xanh” của nhân loại, một ốc đảo để con người nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe.

“Nhưng chúng ta không nên quan tâm đến cây chỉ đơn thuần vì nguyên nhân vật chất, chúng ta cũng nên quan tâm đến chúng vì những câu đố và những điều kỳ diệu nho nhỏ mà chúng cho chúng ta thấy. Dưới tán cây xanh, những sự việc kịch tính hàng ngày và những câu chuyện tình yêu cảm động đang diễn ra.”

Đời sống bí ẩn của cây là một cuốn sách vừa lãng mạn, vừa giàu tính khoa học. Rất nhiều người có thể học hỏi từ cuốn sách này, từ những người ham du thám muốn có cảm thức kết nối sâu sắc hơn với thiên nhiên đến những nhà quản lý muốn xây dựng một chính sách ưu việt hay những nhà hoạt động vì môi trường. Cuốn sách thôi thúc chúng ta suy ngẫm lại những gì đã được coi là hiển nhiên, khuyến khích chúng ta dùng tri kiến mỗi lần tiếp xúc với thiên nhiên, dùng sự tử tế để đối đãi với cây cối, xây dựng một mối quan hệ mà trong đó, các bên đều có lợi.

“Cho đến lúc ấy, khi lần tới bạn đi dạo trong rừng, hãy để trí tưởng tượng của bạn bay cao.”

Hết.

Số ít 20% thông minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Con đường phản bội: Nỗi băn khoăn của tình thế làm người

Published

on

Trong dòng chảy văn chương đương đại, có thể nói văn học di dân luôn chiếm vị thế vô cùng quan trọng mỗi lần xuất hiện. Lần ngược trở về những giải thưởng lớn được trao hàng năm mang tính quốc tế - như Booker chẳng hạn, cả giải Quốc tế lẫn Chính thức dành cho khối Thịnh vượng chung đều ít nhất mỗi năm có một tác phẩm thuộc dòng văn này.

Nếu thống kê nền văn chương di dân nào quen thuộc với độc giả Việt Nam nhất, thì các tác giả Trung Quốc có thể nói là không quá xa lạ với giới xuất bản nước nhà trong những năm qua. Từ Amy Tan đến Anchee Min, từ Lý Dực Vân đến Lư Tân Hoa… những nhà văn di dân này luôn đưa được tiếng nói tự do của bản thân mình ra với thế giới, để cho thấy được một điều gì đó vốn từ lâu vẫn bị kiềm tỏa.

Trong những tên tuổi kể trên, để nhắc đến những nhà văn di dân để lại dấu ấn đậm nét trên văn đàn thế giới, thì hai cái tên không thể không nhắc đến là Yiyun Li (Lý Dực Vân) và Ha Jin (Cáp Kim). Nếu Yiyun Li luôn viết về những tác động của vết thương quá khứ vốn vẫn chưa lành nay va chạm với cuộc sống hiện tại, thì Ha Jin chỉ viết về hiện thực quá khứ – tức những năm tháng ông đã hoặc phải trải qua nếu từng có mặt ở quê nhà bản xứ; mà ta có thể thấy thông qua Đợi chờ – tác phẩm đoạt giải Sách Quốc gia năm 1999 của Mỹ hay Con đường phản bội gần đây đã được giới thiệu và tiến hành chuyển ngữ.

Điều đặc biệt cuốn hút của dòng văn học di dân có thể nói - nếu ta tóm gọn nó chỉ trong một cụm - thì đó chắc hẳn là "sự mở mắt". Với người trong cuộc – đó là tiếng nói tự do để họ thoát xác và đi đến được với những trăn trở vốn vẫn chất chứa từ lâu. Ở một mặt khác với người ngoài cuộc, thì đó là cơ hội để vén bức màn vốn vẫn phong kín từ lâu bởi một thế lực tập trung nào đó. Và Con đường phản bội của Ha Jin cũng không nằm ngoài hai điểm chủ chốt ấy: vừa là tiếng nói tự do, vừa là ngòi bút vạch trần hiện thực một thời đen tối.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng của tác phẩm Con đường phản bội.

*

Tiểu thuyết là câu chuyện kể về Gary Trương – một điệp viên nhị trùng làm việc cho Đảng Cộng Sản dưới thời nội chiến với Quốc Dân Đảng những năm 1950. Từ cuộc Nội chiến Quốc – Cộng đến bối cảnh của chiến tranh Triều Tiên hay sự đối đầu của hai nước lớn Liên Xô và Mỹ… Gary ở đó và bị cuốn vào vòng xoáy của những đấu tranh trong cơn bất ổn về mặt chính trị. Vốn dĩ là một điệp viên của phía Trung Quốc, nay ông đâm ra ngày càng yêu mến và muốn ở lại nước Mỹ vĩ đại với phong cảnh đẹp, những tiến bộ xã hội hay hơn hết là nền dân chủ.

Có thể nói bằng việc xây dựng một điệp viên hai mang, Ha Jin đã khéo léo dẫn dắt người đọc vào trong vòng xoáy đối đầu của những mặt trái ở phía ngoại vi hay là nội hàm. Ở người đàn ông ấy luôn chứa đựng những nỗi trăn trở và cô độc không thể nào nguôi. Tuy trở thành một huyền thoại sống của ngành tình báo nước nhà mà không cần đến bất cứ tài lực hay tiền lực nào, thế nhưng ông vẫn là một linh hồn thực quá cô độc. Từ một chàng trai chỉ luôn khát khao giải phóng đất nước ra khỏi bóng tối của chủ nghĩa thực dân, chế độ thuộc địa; nay bỗng chốc anh đã trở thành anh hùng vô danh trong mặt trận vô hình. Anh yêu thích Jazz như cũng yêu thích chính sự bất định nơi mình, như một gián điệp chiến lược có cuộc sống hỗn loạn, dẫn đến cô độc bén rễ vào sâu trong anh.

Từ việc bỏ mặc người vợ đầu tiên với hai đứa con ở nơi quê nhà mà anh không thể làm được gì khác ngoài việc chu cấp những khoảng tiền lương, đến cuộc hôn nhân với nàng Nellie và tình nhân là cô phát thanh viên trẻ; một mặt nào đó, Gary luôn hiện ra với người đọc một sự bất lực trong vẻ bạc nhược. Một mặt nào đó, anh hiểu tình trạng của mình – khao khát được yêu và được đáp lại nhưng biết sẽ không gì khác có thể xảy ra, từ đó một sự cô độc bén rễ trong anh, khiến ta cảm giác như một mảnh bèo gió dập sóng đưa.

Một điểm đặc biệt trong các sáng tác của Ha Jin là hình tượng người đàn ông trong các tác phẩm của ông luôn đứng chông chênh giữa hai bến bờ, hoặc đương đầu với số phận khó khăn, hoặc bạc nhược nằm im để rồi chịu chết. Nếu trong Đợi chờ là Khổng Lâm với cuộc tình tay ba không thể vượt thoát giữa Mạn Na, Thục Ngọc và ông; thì ở Con đường phản bội, đó là quê hương, đó là nước Mỹ – một cuộc dằn vặt cả ở bên ngoài lẫn ở bên trong. Với cuốn sách này, Ha Jin không giấu sự thật nào một lần xảy ra. Cũng tương tự như Viet Thanh Nguyen viết về viễn kiến của điện ảnh Hollywood hay cuộc sống của những di dân trên đất Mỹ sau ngày tháng Tư đỏ lửa trong The Sympathizer, ở Con đường phản bội, Ha Jin nhìn cuộc đời qua hai lăng kính cuộc sống ông đã trải qua, dẫn đến câu nói sau cuối ở phiên tòa xử như một nhát chém vào những ngây ngô ông một lần tin “Hai nước giống như người cha và người mẹ, cho nên là người con, tôi không thể chia rẽ hai bên và tôi yêu cả hai. Tôi không thể gây tổn thương cho người này để kết thúc đẩy hạnh phúc cho người kia”.

Đó là Trung Quốc của thực dụng mù quáng, của không quan tâm đến một nguyên tắc nào mà ưu tiên trước nhất là việc tồn tại. Đó là đất nước của bốn mối quan tâm chính chỉ có bao gồm thức ăn, quần áo, nhà ở, phương tiện đi lại. Hay như Diêm Liên Khoa một lần viết trong Tứ thưngười phương Tây thường bảo Trung Quốc có ba thứ đã trở thành đặc sản: đó là thuốc súng, giấy, và sự dối trá. Cái dối trá ấy ta cũng được thấy ở phía sau này khi Gary bị tước đoạt hết tất cả giá trị, còn phía nước nhà chỉ kịp phủi tay không làm gì khác.

Một mặt nào đó, Con đường phản bội cũng có thể nói là một bán tự truyện của chính Ha Jin khi ông hướng về quê nhà bản xứ, trong hình tượng của nhân vật chính, mà ta dễ dàng nhận ra ở những chi tiết cụ thể, chẳng hạn Gary có thể nói được tiếng Anh với thứ ngữ pháp đến độ hoàn hảo nhưng lại thiếu đi nhiều sự thoải mái. Ở Gary cũng có những vọng hoài cố, về biến cố Thiên An Môn 1989 khiến ông không trở về nước, về những thảm họa cuộc Đại nhảy vọt của những nạn đói thiếu ăn trầm trọng, về Cách mạng ruộng đất, Bè lũ bốn bên…

Trong khi đó, Mỹ – một đất nước ngăn nắp, trật tự, sung túc, riêng tư, liên tục và đề cao giá trị con người. Khi Nixon nhúng chân vào bãi lầy chiến tranh Việt Nam, người dân của họ vẫn có đủ quyền đứng lên biểu tình cho một đất nước hướng đến hòa bình. Cũng chính điều này xoay chuyển hoàn toàn con người Gary, khiến ông từ một điệp viên chuyển thành con người gắn kết giữa hai nước lớn, khẳng định thêm một lần nữa Không con cá nào có thể sống mà không bị ảnh hưởng bởi dòng nước nó bơi trong đó. Theo cách nào đấy, tất cả chúng ta đều bị định hình bởi những thế lực to lớn hơn bản thân chúng ta.

*

Với Con đường phản bộiHa Jin lại một lần nữa dồn ép nhân vật của tác phẩm mình vào thế chông chênh của tình thế làm người. Không như Đợi chờ là cuộc chiến tâm tính của ba con người ràng buộc vào nhau; Con đường phản bội là thế gọng kìm của nỗi hoài nhớ quê hương và cái khao khát tinh thần tự do, hướng đến dân chủ. Tác phẩm này chứa đựng rất nhiều cảm xúc trong cách dẫn dắt tuyến tính, trung tính nhưng đầy mê hoặc, với Con đường phản bội nỗi nhớ quê hương đã phát triển thành nỗi đau âm ỉ trong tim, làm cho con người ta trở nên mụ mẫm không thể thoát ra, một thiên đường mù sương dang tay chờ đón.

Có gì còn lại sau phía màn sương?

Hết.

Ngô Thuận Phát

*

Những tác phẩm văn học Trung Quốc đã được review tại Bookish

Đọc bài viết

Cafe sáng