Nối kết với chúng tôi

Book trailer

V. – Khi người đọc lạc trong Hoang tưởng và Hoài nghi

“Một cuốn sách rực rỡ và hỗn loạn”, “tiểu thuyết độc đáo số một xuất bản năm 1963”, “không một độc giả nào hay một tiểu thuyết nào của Mỹ lại không bị biến đổi hay bị thách thức bởi tác phẩm đáng kinh ngạc này”… đó chỉ là một vài trong số rất nhiều lời thán phục dành cho V. – tác phẩm đầu tay của nhà văn Mỹ Thomas Pynchon.

Published

on

Ra đời khi nhà văn mới là chàng thanh niên 26 tuổi, V. – cuốn sách đồ sộ kiến thức và đa tầng biểu tượng của Pynchon cho đến lúc này vẫn được hàng triệu học giả và người đọc khắp thế giới nghiên cứu và giải nghĩa.

V. là tác phẩm giành giải thưởng William Faulkner Foundation Award cho tiểu thuyết ra mắt xuất sắc nhất và được đề cử cho Giải thưởng sách Mỹ National Book Award năm 1964. V. kể về Benny Profane, một thanh niên hậu đậu, nay đây mai đó, vừa xuất ngũ Hải quân Mỹ đang trong quá trình tái hòa nhập đời sống New York cùng một hội nghệ sĩ lông bông mất gốc; và Herbert Stencil, một nhà phiêu lưu hoang tưởng truy tìm nhân vật bí ẩn tên “V.” được nhắc tới trong nhật ký của người cha. Hai cốt truyện xoay quanh hai tình trạng đối lập tột cùng: tình trạng hỗn loạn ngẫu nhiên của hiện tại (Profane) và tình trạng trật tự hoang tưởng cưỡng ép của quá khứ (Stencil). Hai nhân vật lẫn chức năng của họ, tuy vậy, đều được Thomas Pynchon khắc hoạ một cách mỉa mai, tự trào, đầy tính châm biếm. Hai trạng thái đối lập này dần tịnh tiến về phía nhau và giao thoa tại cuối truyện, khi Stencil và Profane hội ngộ, rồi khởi sự hành trình cuối cùng tìm kiếm V.

Thomas Ruggles Pynchon Jr. là một trong những tiểu thuyết gia quan trọng nhất của Mỹ kể từ Chiến tranh thế giới thứ II. Tuy là một sinh viên ngành kỹ thuật xuất sắc tại trường đại học, năm thứ hai ông đã nghỉ học để gia nhập Hải quân Mỹ trong hai năm, một khoảng thời gian đã để lại dấu ấn sâu đậm cho các câu chuyện của ông sau này.

Năm 1957, ông quay lại học tại Đại học Cornell, có lẽ đây chính là thời điểm ông được tiếp nhận ảnh hưởng của Vladimir Nabokov. Có một điều chắc chắn là, những tưởng tượng có tính cách tân của ông, sử dụng các chủ đề về việc diễn giải những mấu chốt, những trò chơi, và mật mã có thể xuất phát từ Nabokov, còn giọng văn linh hoạt của Pynchon có thể được phát triển từ chứng hoang tưởng trong thi ca. 

Về đời tư, Thomas Pynchon là một người sống ẩn dật, tránh mọi tiếp xúc với công chúng lẫn giới truyền thông. Suốt bốn thập kỷ ông tránh né gần như mọi cuộc phỏng vấn, ảnh chụp ông chưa từng được phép in trên bìa sách, và chữ ký của ông có thể đáng giá tới hàng chục nghìn đô. Rất nhiều giả thuyết đã nổi lên về hành tung hay thậm chí nhân thân của ông. Có người nghĩ ông chính là nhà văn J. D. Salinger, có người đoán thực chất có một bút nhóm sáng tác dưới tên Thomas Pynchon, thậm chí có người còn cho ông chính là… tay sát nhân hàng loạt Unabomber (!).

Mọi thông tin cá nhân về ông dường như đã chấm dứt quanh năm 1963, tức là đúng khoảng thời gian ông sáng tác V. – tiểu thuyết đầu tay.

Điểm đặc trưng về kết cấu trong các tiểu thuyết của Thomas Pynchon là vô cùng nhập nhằng chồng chéo. Thông thường Pynchon để cốt truyện của mình tự trương nở thành hình xuyên suốt tiểu thuyết thay vì vạch ra một cốt truyện mạch lạc ngay từ đầu. Đường đi diễn tiến của câu chuyện dường như có sự sống riêng, chúng ẩn hay hiện, chúng tẽ nhánh hay tụ hội, chúng bị triệt tiêu hay được tô đậm lên hoàn toàn một cách tình cờ và ngẫu nhiên, buộc người đọc từ bỏ thói quen thông thường khi đọc sách là “cố gắng liên kết dữ kiện để hiểu, thay vào đó hãy thả lỏng cơ quan thần kinh, ngồi vào ghế sau và tận hưởng chuyến tàu lượn siêu tốc mà tác giả cầm lái” (lời khuyên từ Cẩm nang đọc sách của Thomas Pynchon).

Về mặt nội dung, các tiểu thuyết của Thomas Pynchon là hỗn độn những chỉ dấu kì bí, những hình ảnh biểu tượng, những văn bản đa nghĩa khó lý giải. Nhân vật chính trong tiểu thuyết của ông thường mắc chứng “hoang tưởng xã hội” – tức ý thức về “một mạng lưới âm mưu siêu phàm, mờ ám và rộng lớn, tiếp tay cho hành động của một nhân vật quái ác xấu xa nhất.” (định nghĩa của học giả Richard Hofstadter trong The Paranoid Style in American Politics). Có thể thấy thời kỳ đầu sáng tác, Thomas Pynchon tận dụng cốt truyện hoang tưởng này khá thường xuyên. Trong Gravity Rainbow (1973), nhân vật Tyrone Slothrop tin rằng tên lửa V-2 và toán điệp viên có ý định trực tiếp tấn công mình. Với The Crying of Lot 49 (1966), nhân vật Oedipa Mass bắt đầu nhìn thấy chỉ dấu của tổ chức bí mật Tristero khắp mọi nơi. Tương tự với V., Herbert Stencil cũng liên tưởng, xâu chuỗi bất kì bằng chứng nào dù ngẫu nhiên nhất về V. mà ông ta có thể tìm thấy để trả lời câu hỏi V. là ai… Đó là cách Thomas Pynchon xây dựng thế giới riêng trong các tiểu thuyết của ông và cũng là cách ông thâu nhận thế giới thực tế bên ngoài: một thế giới nhìn từ góc độ này thì ngập tràn ẩn ý và chỉ dấu đến những âm mưu mờ ám, nhưng từ góc độ khác cũng là một thế giới vô tri chẳng mang ý nghĩa to lớn nào; tại đó, con người ưa tìm kiếm một thứ logic hoang tưởng hơn là chấp nhận một trạng thái trống rỗng.

V. là ai? V. mang ý nghĩa gì? Đó là những câu hỏi sẽ không có hai độc giả nào trả lời giống nhau. Theo hành trình hoang tưởng của Herbert Stencil, đó có thể là người đẹp Victoria Wren sống ở Ai Cập thế kỷ 19; đó có thể là người phụ nữ đồng tính ấu dâm xuất hiện ở Paris năm 1919; đó có thể là Vera Meroving với con mắt hình đồng hồ xuất hiện ở Nam Phi năm 1922… Mỗi lần xuất hiện cô ta lại được gắn thêm một bộ phận giả, mỗi lần xuất hiện cô ta lại trở nên lạnh lùng hơn, nhiệt tình chính trị hơn, thiếu nữ tính hơn, trừu tượng hơn, vô danh hơn, nói tóm lại, trở thành V. Nhìn theo cơn hoang tưởng hủy diệt của thời đại khát khao bạo lực, V. có lẽ chính là biểu tượng cho sự suy đồi từ hữu tri xuống vô tri của con người: giống loài ngày càng hành động/bị đối xử như một thứ hình nhân vô hồn. Trong hóa thân cuối cùng, V. mang tên Linh Mục Xấu Xa là một người phụ nữ với tất cả các bộ phận trên cơ thể được thay thế bằng đồ vật. Hình ảnh một hình nhân giống hệt con người bị mắc kẹt tại khu vực bị trúng bom gợi ta nhớ đến những hình nộm mà Mỹ cho sản xuất để đánh giá mức độ công phá của bom nguyên tử vào thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Thông điệp này từng xuất hiện ở chương trước khi Thomas Pynchon cũng giới chiệu cho ta hai nhật vật người máy SHOCK và SHROUD trong phòng thí nghiệm mà Benny Profane làm việc, các hình nộm được chế tạo “giống hệt như con người” để sử dụng trong các bài kiểm tra chống chịu va đập và đo mức độ phóng xạ nguyên tử. Trong một cuộc trò chuyện hoang tưởng giữa Profane và SHROUD, tên người máy nói rằng: “Tôi và SHOCK chính là cậu và mọi người một ngày nào đó.” Con người có thể là gì trong đời này ngoài việc liên tiếp đóng vai những đối tượng thí nghiệm vô hồn cho bạo lực?

V. là một tác phẩm oai vệ, xuyên vượt những hang cùng ngõ hẻm bất khả thấu đối với người thường. Không có nhiều tác phẩm có khả năng ám ảnh tâm trí tỉnh thức hay mê mộng, nhưng đây là một tác phẩm như vậy (Báo Time).

Hết.

Tao Đàn

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Book trailer

Chú bé Thất Sơn: Tấm postcard gửi cho những ước mơ bị chôn vùi

Chú bé Thất Sơn được tác giả, nhà báo Phạm Công Luận viết năm 1991, lần tái bản này đánh dấu 30 năm kể từ khi quyển sách ra đời.

Published

on

By

chu be that son featured

Quyển sách 30 tuổi trong sự sống mới

Chú bé Thất Sơn xuất bản lần đầu năm 1993, đoạt giải C cuộc vận động sáng tác Văn học thiếu nhi Vì tương lai đất nước lần thứ nhất. Phương Nam Book tái bản sách với bìa mới, 88 trang in màu và hình minh họa sinh động, dễ thương.

Sách kể về chuyến nghỉ "hè sớm" về thăm quê ngoại đã cho hai chị em Nam gặp Siêng - "thổ địa" nhỏ của vùng Thất Sơn.

Theo bước chân Siêng, Nam được khám phá một thế giới mới thú vị. Nơi ấy có đồng ruộng bao la, có dòng kinh Vĩnh Tế mát lành, có vị cá nướng trui thơm lừng, có món khoai mì rẫy ngọt bùi,... Và còn biết bao nhiêu chuyện ly kỳ của vùng Bảy Núi.

Chú bé Siêng ấy, gia cảnh mồ côi, tối ngủ nhờ chòi vịt, ngày chăn trâu kiếm từng bữa cơm. Nhưng Siêng vẫn cố bám trường bám lớp, theo đuổi lớp học bổ túc hàng đêm. Ngay cả khi số phận tiếp tục thử thách, Siêng làm mất trâu, bị đánh đập, bị chèn ép và cả bị bắt, chú bé vẫn cố gắng từng chút nhích về tương lai.

"Nó mơ trở thành một chuyên viên về nông nghiệp như chú Thành, anh Tân ở trạm thực vật huyện. Nó sẽ hướng dẫn bà con trồng loại lúa nào chống được rầy nâu, loại lúa nào trồng ngắn ngày, loại nào ngon cơm. Nó sẽ giới thiệu với mọi người về các loại máy gặt, đập, gieo hạt, tuốt lúa, đánh bóng gạo,... Không còn ai phải vất vả khom lưng ngoài đồng dưới trời nắng, chân ngâm dưới sình mà sẽ ngồi trong buồng kín của chiếc xe chuyên dùng trên đồng ruộng."

Chú bé Thất Sơn - Phạm Công Luận

Thông điệp vượt thời gian

Tròn 30 tuổi, quyển sách Chú bé Thất Sơn truyền đi thông điệp chưa bao giờ cũ: đừng bao giờ ngừng ước mơ chỉ vì hoàn cảnh.“Nông thôn, vùng đất mộc mạc buộc chặt gói trọn cuộc đời những chú bé khoai củ”. Nhưng chẳng thể buộc chặt những giấc mơ.

Siêng có cha mẹ là thầy cô giáo bị giặc Pôn Pốt giết, mồ côi. Nhưng với lòng quyết tâm học tập, đêm đêm Siêng vẫn đi đò qua sông học bổ túc văn hóa. Trong cảnh khốn cùng, Siêng phải tham gia vô đoàn người "đai" thuốc lá lậu qua biên giới và bị bắt. Được tha về, Siêng lấy vé số ra chợ bán nhưng rồi nó cũng không được yên thân....

Cậu bé Siêng ham học, không đầu hàng nghịch cảnh, vượt qua mọi nghịch cảnh để vươn lên, chạm đến ước mơ.

Ngôn ngữ mộc mạc

Những món ăn dân dã hay câu ca dao - dân ca xuất hiện nhiều trong Chú bé Thất Sơn. Những tư liệu làng quê được tác giả Phạm Công Luận sử dụng nhuần nhuyễn, chân thực. Qua ngòi bút tác giả, người đọc theo bước chân 2 chị em Thảo – Nam và cậu bé Siêng, được đến khám phá vùng đồng quê miền Nam bạt ngàn, tươi đẹp.

Nguồn cảm hứng được tác giả Phạm Công Luận lấy từ những chất liệu thực. “Cách đây đúng 30 năm, tôi lần đầu đặt chân đến thị xã Châu Đốc và được nghe kể về một em bé bị đuối nước dưới dòng kinh xanh. Về TP.HCM, hình bóng những em bé lội bộ trên cánh đồng xanh khiến tôi không khỏi ngẫm nghĩ. Trong vòng một tháng sau chuyến đi, tôi ngồi vào bàn và viết cuốn truyện nhỏ Chú bé Thất Sơn”, tác giả Phạm Công Luận chia sẻ.

"Không rành về vùng đất này, tôi phải đọc sách về Châu Đốc, vùng Thất Sơn và vẽ cả bản đồ có thị xã, ngôi trường, cánh đồng Vĩnh Ngươn, con kinh có các nhân vật qua lại trong truyện.

Sách được ra năm 1993, với một giải thưởng. Đây là cuốn sách hư cấu duy nhất tôi viết. Và chắc có những vụng về của cuốn sách đầu tay."

Chú bé Thất Sơn mang đậm vẻ mộc mạc, giản dị của làng quê Việt Nam. Bên cạnh đó, truyện có cô bé Thảo với bài tập nghiên cứu và tìm hiểu về những câu ca dao – dân ca xưa, thể hiện niềm mong mỏi gìn giữ văn hóa của tác giả Phạm Công Luận.

Năm 2021, Chú bé Thất Sơn “tái ngộ” bạn đọc với 88 trang in màu cùng hình minh họa đặc sắc. Sách tặng kèm tấm postcard với ý nghĩa: gửi đi cho chính đứa trẻ trong bạn với những ước mơ đã bị chôn vùi vì hoàn cảnh.

Quyển sách chắc chắn sẽ trở thành món quà tặng ý nghĩa dành cho các bé và cả quý phụ huynh trong dịp hè này.

Hết.

Đọc bài viết

Book trailer

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam: Ghi lại lịch sử qua ảnh chụp

Published

on

By

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam là quyển sách đầu tiên về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đầu viết bằng Anh ngữ. Từ khối tư liệu khổng lồ nhưng phân tán trong các kho lưu trữ, bảo tàng, bộ sưu tập tư nhân, trong đó có bộ sưu tập của riêng mình, Terry Bennett đã dựng lại con đường ra đời và phát triển của nhiếp ảnh tại Việt Nam kể từ khi những bức ảnh đầu tiên được chụp vào giữa thế kỷ XIX cho đến giữa những năm 1950.

Quyển sách là tác phẩm tiếp theo của Terry Bennett trong công trình nghiên cứu của ông về nền nhiếp ảnh Đông Á. Cũng như các tác phẩm trước, Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam được nghiên cứu và tham khảo một cách cẩn thận bởi tác giả.

Trong hơn 500 bức ảnh được sưu tầm, nhiều tư liệu hiếm và lần đầu tiên được xuất bản. Quyển sách đi theo dòng thời gian, ghi lại những mốc sử từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa Pháp, cuộc kháng chiến của dân tộc, từ đó dẫn đến độc lập và sự tái khẳng định bản sắc chính mình. “Để hiểu được lịch sử đương đại Việt Nam và can thiệp của Pháp trong quá trình dựng nước, những bức hình chụp đóng vai trò lịch sử quan trọng.”, Terry Bennett chia sẻ.

Quyển sách khắc họa văn hóa rộng lớn của Việt Nam với nhiều dân tộc khác nhau, đồng thời giới thiệu hơn 240 nhiếp ảnh gia và studio trong cùng thời kỳ bên cạnh các phụ lục tập trung vào bưu thiếp, ảnh chân dung hoàng gia.

Phần lớn nội dung Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam nói về sự nghiệp của các nhiếp ảnh gia người Pháp và các nước khác, những hình chụp và tiệm ảnh của họ tại Việt Nam. Dù vậy, quyển sách cũng liệt kê rất nhiều hình chụp cùng danh tính của các nhiếp ảnh gia người Việt và tiệm ảnh của họ.

“Nhiếp ảnh thế kỷ XIX không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật. Nhiếp ảnh gia thời kỳ này quan tâm đến nghệ thuật và tự thân họ cũng là những nghệ sĩ.

Việc chụp chân dung thời kỳ đầu khó lòng diễn ra nếu người chụp không có đôi chút thấu nhạy nghệ thuật cũng như khả năng đồng cảm với chủ thể. Khác với thời đại kỹ thuật số ngày nay, việc cho ra đời một tấm hình duy nhất vào thế kỷ XIX đòi hỏi công sức và tiền bạc đáng kể.” – tác giả chia sẻ.

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam - Terry Bennett

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam là một công trình nghiên cứu dày công của tác giả và là bước khởi đầu cho những nghiên cứu đồ sộ hơn sau này. Như Terry Bennett chia sẻ, cuốn sách của ông chỉ nhằm mục đích giới thiệu chủ đề, cung cấp thông tin và tư liệu nghiên cứu.

Các nguồn tài liệu tham khảo cũng chủ yếu là của phương Tây, đặc biệt là Pháp, nên cuốn sách chưa là một pho sử đầy đủ về nhiếp ảnh ở Việt Nam. Dù vậy, nó ít nhất có thể cung cấp một phác thảo ban đầu, một tấm bản đồ sơ khởi ghi chép lại các cung đường nơi nhiều dấu chân đã đi qua.

Công cuộc nghiên cứu vẫn còn dài và sẽ được các nghiên cứu sau này bồi đắp thêm, nhất là từ các nhà nghiên cứu người Việt – những người có thể dễ dàng tiếp cận các bộ lưu trữ địa phương và quốc gia.

“Mặc dù hiện nay ở Việt Nam chưa có một bảo tàng nhiếp ảnh tầm cỡ quốc gia, hay bất kỳ bộ sưu tập nào cho ảnh chụp thời kỳ đầu, tôi cảm nhận rằng người Việt đang ngày một quan tâm hơn đến lịch sử nghệ thuật thị giác (phim ảnh và mỹ thuật) của đất nước. Mối quan tâm này chắc chắn sẽ dẫn đến việc khai phá các nguồn tư liệu chưa từng thấy trước đây ở Việt Nam. Việc kết nối lại các bức ảnh vô danh với tác giả ban đầu của chúng là điều rất đáng làm.” - tác giả cho hay.

Dựa trên kinh nghiệm tích lũy từ những quyển viết về nhiếp ảnh Nhật Bản và Trung Quốc thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam của Terry Bennett phác họa nên bức tranh đầy đủ, chi tiết của nền nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đầu đến năm 1954. Đây hứa hẹn là cẩm nang hỗ trợ quý báu cho những ai quan tâm đến lịch sử nhiếp ảnh hoặc những nhà sưu tầm tư liệu, cũng như cung cấp những khung sườn đầu tiên cho các nghiên cứu tiếp theo cùng lĩnh vực.

Về tác giả:

Terry Bennett là người Anh sống tại London, đã sưu tầm và nghiên cứu nhiếp ảnh Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc thế kỷ XIX trong nhiều năm.

Ông là một chuyên gia về nhiếp ảnh thời kỳ đầu của vùng Viễn Đông, với kiến thức chuyên môn về những người tiên phong trong lĩnh vực nhiếp ảnh, đã từng xuất bản các quyển sách Early Japanese Images, Korea: Caught in Time và là đồng tác giả của Japan: Caught in Time.

  • Sách được phát hành với các phiên bản: bìa mềm, bìa cứng và bìa cứng đặc biệt. Đối với phiên bản bìa cứng, bạn đọc được tặng kèm postcard
  • 100 bản bìa cứng đặc biệt được đánh số ngẫu nhiên dành cho bạn đọc thích sưu tầm
  • 504 trang giấy couche in tạp chí và in màu
Đọc bài viết

Book trailer

Cuộc thập tự chinh thứ nhất: Giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây

Published

on

Jerusalem lâu nay vốn vẫn được xem như là trung tâm của thế giới, là nơi giao nhau của ba lục địa Á Âu Phi, là nơi hành hương quan trọng của ba tôn giáo lớn bao gồm Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo. Trong hơn 3000 năm lịch sử của mình, Jerusalem đã trải qua nhiều thảm kịch khác nhau: bị thiêu rụi, tấn công và trao qua tay các chính quyền đô hộ. Trong cuốn du ký Con đường hồi giáo, tác giả Nguyễn Phương Mai đã viết rằng: Đằng sau những đường phố lát đá lộng lẫy của thành Jerusalem là cuộc sống tín ngưỡng cực điểm, là sự căng thẳng đến tột cùng của xung khắc tôn giáo như một quả bóng đầy hơi có thể bục tung bất cứ lúc nào. Ở Jerusalem, mỗi hòn đá là một câu chuyện kinh thánh, mỗi người dân là một tín đồ sẵn lòng tử vì đạo, mỗi ngọn gió tràn qua cũng có mùi thánh thần, một lời nói bâng quơ cũng có thể trở thành điều tiên tri chờ ngày ứng nghiệm.

Và do đó, Jerusalem thăng trầm như số kiếp của một đời người bị những bên thay nhau giằng xé. Vào quãng thời gian năm 1095 tại xứ Clermont miền Nam nước Pháp, Giáo hoàng đương nhiệm Urban II - bằng lời hiệu triệu đầy kích động thông qua tội ác của người Thổ, người Hồi đối với những Kitô Hữu xứ phương Đông - đã kêu gọi tầng lớp quý tộc đảm đương cuộc viễn chinh vào trong đất Thánh. Bằng lời hiệu triệu đầy tính cách mạng nhân danh Chúa mà mọi tầng lớp trong xã hội phương Tây đã đứng lên đi theo tiếng gọi của cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Thế nhưng nguyên nhân gốc rễ hình thành nên cuộc chiến này, cũng như những gì đã thực sự diễn ra để định hình nên thế giới ngày nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Mối tương quan giữa phương Đông và phương Tây trong những tư liệu để lại từ lâu vẫn đặt ra những câu hỏi về sự xác thực, liệu ta nên tin về phía bên nào khi ai cũng đang che giấu một điều gì đó?

Và với Cuộc thập tự chinh thứ nhất - Tiếng gọi từ phương Đông của tác giả Peter Frankopan, ta đã phần nào hiểu được những điều cốt lõi nhất của cuộc chiến này. Với một sự kiện có phần quan trọng nhằm định hình nên thời Trung cổ, Frankopan đã đứng trung dung giữa hai góc nhìn phương Đông và phương Tây. Ông dựa trên những tư liệu để lại của cuốn Alexiad (do Anna Komnene - con gái của Hoàng đế xứ Byzantium viết) và những dữ liệu phương Tây từ những hiệp sỹ, tu sỹ - những người châu Âu tham gia cuộc thập tự chinh để lại. Điều thành công nhất của tác phẩm này là bởi những suy đoán dựa trên cơ sở của những phân tích vô cùng hợp lý, khi có sự kết hợp giữa các sử liệu khác nhau của Frankopan. Ông có quan điểm cởi mở và rất khách quan; không phô trương, bợ đỡ hay coi phương Tây là phe đúng đắn trong sự kiện này; từ đó chính tính khách quan làm nên được sự cuốn hút cho tác phẩm.

Như thể đầu tiên là những gốc rễ sâu xa bắt nguồn nên cuộc Thập tự chinh. Nếu các sử gia phương Tây vẫn luôn khắc họa hình ảnh một lòng kính Chúa và nhân danh Chúa của những người lính Kito đặc biệt sùng tín; thì Frankopan đã cho ta thấy một điều ngược lại. Thay vì tin vào những điều có sẵn từ lâu, nay ông chứng minh gốc rễ của cuộc Thánh chiến đã được bắt nguồn từ phía phương Đông, từ kinh đô Constantinople xứ Byzantine, từ Hoàng đế Alexios I chứ không phải từ phía Giáo hoàng hay những ca ngợi thiêng liêng khác. Ông cũng cho rằng động cơ một phần nằm ở Giáo hoàng Urban II khi vị này muốn giành lại thế ưu tiên từ phía giáo hội thành Rome, trong một nỗ lực nhằm thống nhất Kito giáo phương Đông và phương Tây. Trong khi những người tham gia cuộc Thánh chiến này với mục đích cứu chuộc tội lỗi và hy vọng nhận được “món quà tinh thần” nhiều hơn là lòng nhiệt thành được phận sự Chúa.

Những sự thật này có thể gây shock cho những luận điểm ta vốn quen nghe. Còn hơn thế nữa, Frankopan cũng giành công lý về lại cho Hoàng đế Alexios I trước những điều tiếng vốn vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Theo đó một chân dung Hoàng đế hiện lên xuyên suốt cuộc Thập tự chinh đầy tính toán nhưng cũng tuân thủ những lời hứa từ phía phe mình. Khi người Thổ lần lượt chiếm được những cứ điểm quan trọng như Nicea, Antioch hay thậm chí là thành Jerusalem, Hoàng đế Alexios đã phát đi lời kêu gọi giúp đỡ từ phía Giáo hoàng. Một mặt ông muốn đánh đuổi quân Thổ ra khỏi mảnh đất thiêng liêng, nhưng mặt khác ông lại e ngại chính sự phản trắc từ phía kinh thành đã từng xảy ra ở trong quá khứ. Đứng trước cuộc hành quân đầy gian khó này, công tác hậu cần được ông chuẩn bị một cách hoàn hảo. Nhưng khi đội quân phương Tây tiến vào, một nỗi lo khác bắt đầu xuất hiện, khi họ liệu có nối gót người Thổ chiếm lại chính những vùng đất ở vùng Tiểu Á họ vừa giải phóng? Chính sự chân trong chân ngoài này đã khắc họa chân dung một Hoàng đế đầy e ngại và có phần chần chừ, khiến không ít những nhà quý tộc như Bohemond xứ Taranto một mực cho rằng ông đã bội ước và đòi chiếm lại vùng Antioch.

Tác giả Peter Frankopan. Nguồn: The Guardian

Song song cùng những sự thật vừa được chứng minh, sự hùng vĩ của cuộc Thập tự chinh đầu tiên cũng được Frankopan khắc họa một cách hoàn hảo. Trước một quy mô hơn 70 nghìn người từ lúc bắt đầu đến khi đến được thành Thánh thì chỉ còn lại vỏn vẹn có 1/3, những cuộc chiến ác liệt xua đuổi quân Thổ ở Antioch, ở Jerusalem, những mưu chước của Hoàng đế Alexios hiện lên sinh động mà đầy hoành tráng. Ở đó chính trong cuộc chiến chống lại người Thổ hay dân du mục Pecheneg, ta thấy hiện lên một lý tưởng lớn với những mong muốn chống lại ly giáo, thấy được bản sắc vùng miền cũng như những tranh cãi thế tục và phân chia giữa hai giáo hội thành Rome và Constatinople. Với cuốn sách thứ hai tiếp theo Những con đường tơ lụa, Peter Frankopan bằng sự trung dung và tính khách quan đã khái quát nên Cuộc thập tự chinh đầu tiên đầy hoành tráng và được giải thích cặn kẽ dưới một góc nhìn Đông phương. Mới lạ, mạnh mẽ và đầy thuyết phục; đây là cuốn sách giúp ta hiểu thêm về thời Trung cổ, về tiêu chuẩn hóa cho các cuộc Thập tự chinh tiếp sau và hơn hết chính là hành trình giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây.

Hết.

Sa Nguyên

Đọc bài viết

Cafe sáng