Book trailer

V. – Khi người đọc lạc trong Hoang tưởng và Hoài nghi

“Một cuốn sách rực rỡ và hỗn loạn”, “tiểu thuyết độc đáo số một xuất bản năm 1963”, “không một độc giả nào hay một tiểu thuyết nào của Mỹ lại không bị biến đổi hay bị thách thức bởi tác phẩm đáng kinh ngạc này”… đó chỉ là một vài trong số rất nhiều lời thán phục dành cho V. – tác phẩm đầu tay của nhà văn Mỹ Thomas Pynchon.

Published

on

Ra đời khi nhà văn mới là chàng thanh niên 26 tuổi, V. – cuốn sách đồ sộ kiến thức và đa tầng biểu tượng của Pynchon cho đến lúc này vẫn được hàng triệu học giả và người đọc khắp thế giới nghiên cứu và giải nghĩa.

V. là tác phẩm giành giải thưởng William Faulkner Foundation Award cho tiểu thuyết ra mắt xuất sắc nhất và được đề cử cho Giải thưởng sách Mỹ National Book Award năm 1964. V. kể về Benny Profane, một thanh niên hậu đậu, nay đây mai đó, vừa xuất ngũ Hải quân Mỹ đang trong quá trình tái hòa nhập đời sống New York cùng một hội nghệ sĩ lông bông mất gốc; và Herbert Stencil, một nhà phiêu lưu hoang tưởng truy tìm nhân vật bí ẩn tên “V.” được nhắc tới trong nhật ký của người cha. Hai cốt truyện xoay quanh hai tình trạng đối lập tột cùng: tình trạng hỗn loạn ngẫu nhiên của hiện tại (Profane) và tình trạng trật tự hoang tưởng cưỡng ép của quá khứ (Stencil). Hai nhân vật lẫn chức năng của họ, tuy vậy, đều được Thomas Pynchon khắc hoạ một cách mỉa mai, tự trào, đầy tính châm biếm. Hai trạng thái đối lập này dần tịnh tiến về phía nhau và giao thoa tại cuối truyện, khi Stencil và Profane hội ngộ, rồi khởi sự hành trình cuối cùng tìm kiếm V.

Thomas Ruggles Pynchon Jr. là một trong những tiểu thuyết gia quan trọng nhất của Mỹ kể từ Chiến tranh thế giới thứ II. Tuy là một sinh viên ngành kỹ thuật xuất sắc tại trường đại học, năm thứ hai ông đã nghỉ học để gia nhập Hải quân Mỹ trong hai năm, một khoảng thời gian đã để lại dấu ấn sâu đậm cho các câu chuyện của ông sau này.

Năm 1957, ông quay lại học tại Đại học Cornell, có lẽ đây chính là thời điểm ông được tiếp nhận ảnh hưởng của Vladimir Nabokov. Có một điều chắc chắn là, những tưởng tượng có tính cách tân của ông, sử dụng các chủ đề về việc diễn giải những mấu chốt, những trò chơi, và mật mã có thể xuất phát từ Nabokov, còn giọng văn linh hoạt của Pynchon có thể được phát triển từ chứng hoang tưởng trong thi ca. 

Về đời tư, Thomas Pynchon là một người sống ẩn dật, tránh mọi tiếp xúc với công chúng lẫn giới truyền thông. Suốt bốn thập kỷ ông tránh né gần như mọi cuộc phỏng vấn, ảnh chụp ông chưa từng được phép in trên bìa sách, và chữ ký của ông có thể đáng giá tới hàng chục nghìn đô. Rất nhiều giả thuyết đã nổi lên về hành tung hay thậm chí nhân thân của ông. Có người nghĩ ông chính là nhà văn J. D. Salinger, có người đoán thực chất có một bút nhóm sáng tác dưới tên Thomas Pynchon, thậm chí có người còn cho ông chính là… tay sát nhân hàng loạt Unabomber (!).

Mọi thông tin cá nhân về ông dường như đã chấm dứt quanh năm 1963, tức là đúng khoảng thời gian ông sáng tác V. – tiểu thuyết đầu tay.

Điểm đặc trưng về kết cấu trong các tiểu thuyết của Thomas Pynchon là vô cùng nhập nhằng chồng chéo. Thông thường Pynchon để cốt truyện của mình tự trương nở thành hình xuyên suốt tiểu thuyết thay vì vạch ra một cốt truyện mạch lạc ngay từ đầu. Đường đi diễn tiến của câu chuyện dường như có sự sống riêng, chúng ẩn hay hiện, chúng tẽ nhánh hay tụ hội, chúng bị triệt tiêu hay được tô đậm lên hoàn toàn một cách tình cờ và ngẫu nhiên, buộc người đọc từ bỏ thói quen thông thường khi đọc sách là “cố gắng liên kết dữ kiện để hiểu, thay vào đó hãy thả lỏng cơ quan thần kinh, ngồi vào ghế sau và tận hưởng chuyến tàu lượn siêu tốc mà tác giả cầm lái” (lời khuyên từ Cẩm nang đọc sách của Thomas Pynchon).

Về mặt nội dung, các tiểu thuyết của Thomas Pynchon là hỗn độn những chỉ dấu kì bí, những hình ảnh biểu tượng, những văn bản đa nghĩa khó lý giải. Nhân vật chính trong tiểu thuyết của ông thường mắc chứng “hoang tưởng xã hội” – tức ý thức về “một mạng lưới âm mưu siêu phàm, mờ ám và rộng lớn, tiếp tay cho hành động của một nhân vật quái ác xấu xa nhất.” (định nghĩa của học giả Richard Hofstadter trong The Paranoid Style in American Politics). Có thể thấy thời kỳ đầu sáng tác, Thomas Pynchon tận dụng cốt truyện hoang tưởng này khá thường xuyên. Trong Gravity Rainbow (1973), nhân vật Tyrone Slothrop tin rằng tên lửa V-2 và toán điệp viên có ý định trực tiếp tấn công mình. Với The Crying of Lot 49 (1966), nhân vật Oedipa Mass bắt đầu nhìn thấy chỉ dấu của tổ chức bí mật Tristero khắp mọi nơi. Tương tự với V., Herbert Stencil cũng liên tưởng, xâu chuỗi bất kì bằng chứng nào dù ngẫu nhiên nhất về V. mà ông ta có thể tìm thấy để trả lời câu hỏi V. là ai… Đó là cách Thomas Pynchon xây dựng thế giới riêng trong các tiểu thuyết của ông và cũng là cách ông thâu nhận thế giới thực tế bên ngoài: một thế giới nhìn từ góc độ này thì ngập tràn ẩn ý và chỉ dấu đến những âm mưu mờ ám, nhưng từ góc độ khác cũng là một thế giới vô tri chẳng mang ý nghĩa to lớn nào; tại đó, con người ưa tìm kiếm một thứ logic hoang tưởng hơn là chấp nhận một trạng thái trống rỗng.

V. là ai? V. mang ý nghĩa gì? Đó là những câu hỏi sẽ không có hai độc giả nào trả lời giống nhau. Theo hành trình hoang tưởng của Herbert Stencil, đó có thể là người đẹp Victoria Wren sống ở Ai Cập thế kỷ 19; đó có thể là người phụ nữ đồng tính ấu dâm xuất hiện ở Paris năm 1919; đó có thể là Vera Meroving với con mắt hình đồng hồ xuất hiện ở Nam Phi năm 1922… Mỗi lần xuất hiện cô ta lại được gắn thêm một bộ phận giả, mỗi lần xuất hiện cô ta lại trở nên lạnh lùng hơn, nhiệt tình chính trị hơn, thiếu nữ tính hơn, trừu tượng hơn, vô danh hơn, nói tóm lại, trở thành V. Nhìn theo cơn hoang tưởng hủy diệt của thời đại khát khao bạo lực, V. có lẽ chính là biểu tượng cho sự suy đồi từ hữu tri xuống vô tri của con người: giống loài ngày càng hành động/bị đối xử như một thứ hình nhân vô hồn. Trong hóa thân cuối cùng, V. mang tên Linh Mục Xấu Xa là một người phụ nữ với tất cả các bộ phận trên cơ thể được thay thế bằng đồ vật. Hình ảnh một hình nhân giống hệt con người bị mắc kẹt tại khu vực bị trúng bom gợi ta nhớ đến những hình nộm mà Mỹ cho sản xuất để đánh giá mức độ công phá của bom nguyên tử vào thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Thông điệp này từng xuất hiện ở chương trước khi Thomas Pynchon cũng giới chiệu cho ta hai nhật vật người máy SHOCK và SHROUD trong phòng thí nghiệm mà Benny Profane làm việc, các hình nộm được chế tạo “giống hệt như con người” để sử dụng trong các bài kiểm tra chống chịu va đập và đo mức độ phóng xạ nguyên tử. Trong một cuộc trò chuyện hoang tưởng giữa Profane và SHROUD, tên người máy nói rằng: “Tôi và SHOCK chính là cậu và mọi người một ngày nào đó.” Con người có thể là gì trong đời này ngoài việc liên tiếp đóng vai những đối tượng thí nghiệm vô hồn cho bạo lực?

V. là một tác phẩm oai vệ, xuyên vượt những hang cùng ngõ hẻm bất khả thấu đối với người thường. Không có nhiều tác phẩm có khả năng ám ảnh tâm trí tỉnh thức hay mê mộng, nhưng đây là một tác phẩm như vậy (Báo Time).

Hết.

Tao Đàn

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Book trailer

Thanh tịnh mâm cỗ Việt: Học cách làm những món chay tinh khiết, lành mạnh của đất Việt

Published

on

By

Thanh tịnh mâm cỗ Việt không chỉ giới thiệu đến độc giả công thức làm 30 món chay lành của người Việt từ cổ chí kim, mà còn lồng ghép những câu chuyện văn hóa thú vị, cung cấp cho người đọc góc nhìn đa chiều về nền ẩm thực Việt.

Xưa nay, kỵ giỗ là truyền thống rất được coi trọng của mọi gia đình người Việt, bất luận là y quan vọng tộc hay bá tánh dân dã. Vào những dịp này, bao bộn bề đời thường của mỗi người đều tạm thời gác lại để thành tâm hướng về nguồn cội, cùng nhau hào soạn mâm cỗ cúng bình an dâng lên ông bà tiên tổ.

Xuất phát từ nếp sống ghi cội nhớ nguồn ấy, bên cạnh việc giới thiệu các món chay theo phong cách ẩm thực cung đình hay những món chay mang hương vị thanh tân mới mẻ, Thanh tịnh mâm cỗ Việt còn gói ghém bao kỷ niệm quyến luyến của tác giả bên cha mẹ anh em, cùng những bài học vỡ lòng về cách đơm cơm rót nước, cách sắp xếp chỉnh trang mâm cỗ cúng theo lối “quân-thần-tả-sứ” sao cho thật nghiêm ngắn, trang trọng…

Ý nghĩa sâu sắc ẩn đằng sau mâm cỗ chay của người Việt

Nếu như người Tây phương đề cao sinh nhật, thì người Á đông lại xem trọng ngày mất, hay còn gọi là ngày húy kỵ. Trong những dịp này, các thành viên gia đình thường tề tựu lại và nấu những món ăn đặc biệt làm thành mâm cỗ cúng dâng lên tổ tiên. Mâm cỗ cúng dù chay hay mặn đều là nhằm thể hiện tấm lòng tưởng nhớ của con cháu đến các bậc tiên hiền và cũng là cách nhắc nhở các thế hệ đời sau không quên cội nguồn.

Mâm cỗ mặn của người Việt xưa mang ý nghĩa văn hóa làng xã, còn mâm cỗ chay có từ bao giờ thì không thấy tài liệu nào nói rõ, chỉ biết là từ khi đạo Phật du nhập vào xứ ta thì cũng là lúc người nước ta biết ăn chay. Theo sử sách ghi lại thì thế kỷ XII - XIII là thời kỳ Phật giáo cực thịnh, các vua nhà Trần cũng thường có lệ ăn chay. Hay như theo lời kể của các cựu thần thì trước khi làm lễ tế Giao, các vua nhà Nguyễn phải vào trai cung tĩnh thân ba ngày, xa rời tửu sắc và ăn chay để thân tâm thanh sạch, cầu cho quốc thái dân an. Hai nguồn tài liệu Đại Nam Thực Lục Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ còn cho biết, trong yến tiệc cung đình Huế xưa ngoài cỗ tế lớn gồm 161 phẩm vị, cỗ trân tu 50 phẩm vị, cỗ ngọc soạn 30 phẩm vị, còn có mâm cỗ chay hạng nhất 25 món và mâm cỗ chay hạng nhì 20 món.

Cỗ chay hay cỗ mặn là tùy quan niệm, truyền thống của mỗi gia đình. Tuy nhiên, ngoài mâm cỗ chay tại chùa thì hầu hết các gia đình Phật tử cũng thường thể hiện tấm lòng thành kính đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ qua những món cúng chay. Theo nhận định của tác giả, làm cỗ cúng trước là để tưởng nhớ và cầu cho các bậc tiên hiền quá vãng được an tịnh nơi cõi lành, sau là để nhắc nhở con cháu trong nhà đừng quên cội quên nguồn. Tổ tiên của chúng ta đâu thể thọ thực như người còn sống mà chỉ cảm thọ sự thành tâm từ lòng hiếu kính của con cháu qua mâm cỗ chay, vậy thì không nên đánh đổi sự sống của sinh vật mà làm cỗ cúng để tránh nghiệp sát sanh và cũng để tạo phước đức cho người thân quá cố.

Nét văn hóa độc đáo của cố đô chính là mâm cỗ chay phong vị cung đình Huế

Việt Nam xưa nay vốn vẫn là mảnh đất trù phú, có nguồn nguyên liệu tự nhiên đa dạng và những bàn tay lao động cần cù, chính điều đó đã góp phần phát huy tinh hoa văn hóa ẩm thực của người dân nơi đây. Cũng vì thế, các bà các mẹ của chúng ta có thể thỏa sức thử nghiệm với đủ loại rau củ hoa quả tươi ngon trên khắp mọi miền để tạo nên những món ăn hoặc đơn giản hoặc cầu kỳ, giàu tính y lý trên mâm cỗ chay mang phong vị cổ truyền để lưu giữ, phát triển và bảo tồn nét tinh hoa văn hóa ẩm thực chay truyền thống.

Huế vốn là kinh đô ẩm thực và được mệnh danh là vùng đất Phật với rất nhiều chùa chiền lớn nhỏ nên món chay nơi đây vô cùng phong phú và đa dạng. Từ xa xưa, Phật giáo đã đằm sâu trong đời sống của người dân xứ Huế, không những sư sãi ăn chay, Phật tử ăn chay mà cả vua chúa cũng ăn chay để giữ đức hiếu sinh trong các đại lễ tế tự của triều đình và cầu cho quốc thái dân an.

Mâm cỗ chay tế lễ, cúng chùa hay cúng dường chư tăng vào cung khuyến giáo không bao gồm các món ăn đạm bạc của giới tu hành mà thường được Đội Thượng Thiện và phi tần trong cung chế biến từ những loại nguyên liệu thượng phẩm, bổ dưỡng không thua kém sơn hào hải vị. Để rồi từ đó, mâm cỗ chay cung đình lại lan tỏa đến các phủ đệ quan lại và trở thành một nét văn hóa ẩm thực độc đáo của chốn đế đô.

Sách ẩm thực đưa ra những gợi ý hữu ích về mâm cỗ cúng thanh lành

Từ phương Nam, qua miền Trung rồi ra phương Bắc, mỗi miền đất nước lại có một phong vị ẩm thực riêng, trong đó bao gồm cả mâm cỗ chay. Và từ những món chay truyền thống, tư duy tiếp biến làm mới cách chế biến, trang trí, phong vị sao cho phù hợp với thị hiếu, khẩu vị của mọi giới, mọi lứa tuổi và mọi thành phần thực khách là một yêu cầu thiết yếu trong thời điểm đất nước hội nhập và phát triển ngày nay.

Thanh tịnh mâm cỗ Việt là một thể nghiệm độc đáo của hai tác giả Hồ Đắc Thiếu Anh và Nguyễn Hồ Tiếu Anh khi thực hiện lại các mâm cỗ chay theo phong vị cung đình xưa, phong vị cổ truyền và phong vị mới trên nền nguyên liệu có sẵn nơi quê nhà. Mục đích đầu tiên của hai nghệ nhân là để giới thiệu với thực khách gần xa di sản văn hóa vật chất của một dân tộc, một địa phương mà ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đã thấm sâu trong đời sống của người cố đô; đồng thời, đây cũng là một cách báo ân với tiền nhân dòng tộc vì đã để lại cho hậu sinh một di sản văn hóa ẩm thực chay vô cùng giá trị.

Thanh tịnh mâm cỗ Việt là một gợi ý thiết thực dành cho độc giả về mâm cỗ cúng thanh lành trong những dịp lễ trọng của gia đình, đồng thời khởi duyên bồi đắp thêm cho nền ẩm thực chay tinh khiết, lành mạnh của đất Việt.

Trích đoạn

Xuất thân từ một gia đình có truyền thống nấu ngon ăn lành của chốn cố đô, và là một Phật tử thuần thành, mẹ tôi rất chú trọng đến việc cúng kiếng thờ phụng. Bà thường hướng dẫn cho con cháu chế biến những món chay vừa tinh tấn vừa đẹp mắt, ẩn chứa hương sắc cung đình cùng những kinh nghiệm quý giá được trao truyền để tỏ lòng hiếu kính đến các bậc tiên hiền quá vãng. Từ những lá phù chúc được làm từ váng đậu nành trắng tươi thơm mịn, gói ghém các loại rau củ tươi ngon với màu xanh của đậu cô ve, màu cam của cà rốt, màu vàng của khoai tây, màu đen của mộc nhĩ để làm nên món ăn đa sắc, bổ dưỡng. Thế mới hay mâm cỗ chay của cha ông ta chú trọng đến tính thẩm mỹ và tinh tế biết bao!

(trích Chả cuốn ngũ sắc)

Miền Trung nắng nóng mưa dày, thế nên các bà nội trợ nơi đây thường hào soạn những món chay bổ trợ sức khỏe mang vị quế chi cay ngọt cho cho cụ lớn tuổi trong nhà như Đậu khuôn rim quế chi, Phù chúc nướng bột quế, Mì căn rô ti quế chi... Và những món chay ấy cũng thường xuất hiện trên mâm cỗ cúng như một ký ức ấm áp đong đầy yêu thương, bởi dẫu cho các bậc sinh thành đã về miền cực lạc nhưng những hình ảnh thân yêu ngày nào vẫn mãi luôn hiện hữu trong tâm thức của con cháu đời sau.

(trích Đậu khuôn rim quế chi)

Sen là sản vật quý giá của ẩm thực Việt Nam vì hầu như bộ phận nào của nó cũng đều có thể sử dụng được, nhất là sen hồ Tịnh Tâm nổi tiếng thơm ngon. Xưa kia người ta gọi sen hồ Tịnh là sen ngự bởi Đội Thượng Thiện thường dùng loại sen này để chế biến các món ngự thiện và cỗ cúng cung đình. Muốn nấu hạt sen ngon thì chỉ cần chọn đúng loại già hạt, có màu trắng ngà, căng mẩy no tròn, khi nấu sẽ nở mềm và tỏa mùi hương đặc trưng. Còn nếu dùng hạt sen khô thì nên chọn loại hạt sáng màu, ngâm rửa bằng nước nóng trước khi nấu sen sẽ mau mềm và không bị sượng.

(trích Tiềm ngọc bảo tịnh tâm)

Về tác giả

Hồ Đắc Thiếu Anh

Quê quán: Thừa Thiên Huế
Nghệ nhân Văn hóa Ẩm thực Việt Nam
Kỷ Lục Gia tôn vinh Nghệ nhân Văn hóa Ẩm thực Việt Nam
Hội viên chuyên ngành Văn hóa Ẩm thực Liên hiệp các Hiệp hội UNESCO Việt Nam
Thành viên Ban cố vấn Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam
Giáo viên gia chánh các trung tâm đào tạo kỹ năng cuộc sống và các đài truyền hình

Nguyễn Hồ Tiếu Anh

Quê quán: Thừa Thiên Huế
Giám đốc Công ty Ẩm thực Ngon và Lành
Hội viên chuyên ngành Văn hóa Ẩm thực Liên hiệp các Hiệp hội UNESCO Việt Nam
Hội viên Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam
Giáo viên gia chánh các trung tâm đào tạo kỹ năng cuộc sống trong nước và nước ngoài

Đọc bài viết

Book trailer

Thành phố những lục địa bay: Tự sự của sương mù và những phận đời trôi nổi

Published

on

By

Mỗi nhà văn đều có một thành phố hư cấu hoặc phi hư cấu thân thuộc, xuất hiện thường xuyên trong tác phẩm của mình: với William Faulkner là tỉnh Yoknapatawpha, với Paul Auster là thành phố New York, với Phạm Công Luận là Sài Gòn… và với nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên thì đó là Đà Lạt. Thông qua tác phẩm mới nhất – Thành phố những lục địa bay – Nguyễn Vĩnh Nguyên một lần nữa tái khám phá Đà Lạt dưới những góc độ mới.

Một thành phố ẩn hiện giữa hư cấu và phi hư cấu

Trong Thành phố những lục địa bay, Nguyễn Vĩnh Nguyên đã trình hiện một thành phố vừa là Đà Lạt, vừa không phải là Đà Lạt như chúng ta từng biết. Đó là Đà Lạt của riêng nhà văn – một thành phố nằm giữa hư cấu và phi hư cấu, ẩn sau những lớp sương mù là muôn ngàn tâm tư lắng đọng – thành phố của những lục địa bay.

Nguyễn Vĩnh Nguyên đã thực hành phương thức dùng cả chữ xen kẽ với hình để thay phiên nhau kể chuyện. Nếu xem Thành phố những lục địa bay là bản giao hòa giữa thực và ảo, thì ở đây, văn bản như một đại diện cho thế giới hư cấu, còn hình ảnh thì lại là đại diện cho thế giới thực. Chính việc tường thuật về thành phố theo lối này đã tạo cho người đọc cảm giác tác phẩm như một bộ phim giả tài liệu (mockumentary), mà ở đây – trong địa phận văn chương – nhà văn đã sáng tạo nên thể loại có thể tạm gọi là giả phi hư cấu.

Với kinh nghiệm nhiều năm làm báo, Nguyễn Vĩnh Nguyên đã sử dụng không chỉ văn phong sáng tác mà còn lồng ghép song song với văn phong báo chí trong Thành phố những lục địa bay. Ở nhiều phân đoạn, nhà văn thực hiện lựa chọn lối viết ngắn gọn, chỉ đơn thuần tả lại sự kiện, gợi nhớ đến phong cách điểm tin của báo chí nhưng không tạo cảm giác tin tưởng tuyệt đối cho người đọc mà đem lại nỗi mơ hồ, hoài nghi, tựa như khi ta nghe thông tin từ những lời đồn.

Nỗ lực vượt thoát ranh giới thể loại của nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên

Không chỉ chơi đùa giữa hư cấu và phi hư cấu, Nguyễn Vĩnh Nguyên còn chơi đùa giữa hai phân khúc nhỏ hơn trong phân nhánh hư cấu là truyện ngắn và tiểu thuyết.

Tác phẩm chia làm ba phần chính được đánh số La Mã và không đặt tiêu đề, ba phần này đóng vai trò tương tự như cấu trúc ba hồi trong điện ảnh, cách trình bày cũng gợi nhớ đến thể loại tiểu thuyết. Ở mỗi phần đều có rất nhiều truyện ngắn. Có thể gọi những truyện ngắn này là những mảnh vụn rơi ra từ lục địa kí ức; cũng có thể hiểu nó là những trường đoạn hay phân cảnh trong một hồi của cấu trúc kể chuyện.

Các truyện ngắn được dàn trải đều ở cả ba phần. Phần I có 25 truyện ngắn, phần II có 19 truyện ngắn, phần III có 22 truyện ngắn. Từng truyện ngắn này đều thực sự ngắn với dung lượng từ hai đến ba trang, tiện lợi cho cả những người đọc bận rộn theo dõi câu chuyện.

Hòa vào thiên nhiên để chiêm nghiệm thân phận con người

Thông thường, con người hiện đại đã quen thuộc với khái niệm “trở về thiên nhiên” sau những bộn bề trong cuộc sống đô thị – nơi không gian sinh hoạt bị những tòa nhà cao chọc trời xâm lấn, vây cùng siết tận. Nhưng trong Thành phố những lục địa bay, có vẻ như với nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên, thiên nhiên không phải là nơi để quay về – vì “quay về” đồng nghĩa với việc thiên nhiên và con người vẫn còn là hai cá thể tách biệt, là đối tượng và chủ thể.

Tuy nhiên, ở tác phẩm này thì thiên nhiên vừa là đối tượng vừa là chủ thể, cả con người cũng đóng cùng lúc hai vai trò ấy. Con người hiểu chính mình thông qua việc hòa vào thiên nhiên; đồng thời, thiên nhiên cũng như một chủ thể có cảm xúc, thầm lặng quan sát tâm tư của con người và trình hiện lại những ghi nhận đó bằng dáng vẻ bên ngoài thông qua cây cối, gió sương, hồ mây… Quan điểm này thể hiện rõ trong truyện Thác – phần truyện mà tác giả dành để miêu tả cái chết của những người tuyệt vọng rồi tìm đến thác để nhanh chóng đặt dấu chấm hết cho cuộc đời. Ở đây, có một phép chơi chữ thông minh khi thác vừa là danh từ chỉ nơi chốn, vừa là động từ chỉ cái chết. Như thế, thác-danh-từ đại diện cho thiên nhiên, thác-động-từ đại diện cho con người. Những cái chết trong Thác cho người đọc một cảm thức rằng: cái chết của con người không phải là sự ra đi mà là trở về, để “chuyển hóa vào giới tự nhiên”.

Như vậy là, con người không chỉ sinh ra từ thiên nhiên, chết đi trở về với thiên nhiên, mà thực ra trong lúc ta còn sống, trong lúc trái tim còn bồi hồi nhịp đập, thiên nhiên vẫn luôn song hành cùng con người, thu hết vào lòng mọi tâm tư của con người, không phán xét, không gạn lọc, không chối bỏ – giống như cách mặt hồ thu hết hình ảnh từ những sinh thể xung quanh rồi dịu dàng phản chiếu lại rõ nét, sắc trong, trung thực; giống như chính tình yêu của tác giả dành cho Đà Lạt được thể hiện rất tỏ tường trong Thành phố những lục địa bay.         

Trích đoạn

Sương khói đặt cảnh vật vào một trạng thái mông lung mơ màng. Mọi khung cảnh đều có thể đánh lừa thị giác con người khi chúng lùi ra, giãn cách, ẩn hiện phía sau một lớp voan trắng, nhẹ và mỏng, nhạt mờ mọi đường nét.

(trích Hồ)

Một cây thông già mọc không thẳng thớm. Thân nó đổ ra phía mặt hồ như một trò đùa thăng bằng nhạt nhẽo. Những cành nhánh quằn quại mở rộng tán trên mặt nước vuốt ve chính chiếc bóng méo mó của mình.

(trích Thi sĩ)

Các hồ nước giống nhau ở một điểm, đó là những chiếc gương phẳng lặng dệt thêu mơ tưởng. Nhưng có thể chúng chỉ là những mảnh vỡ rời rạc của một chiếc gương mà thôi. Chiếc gương làm lật trái mọi sự việc mà nó soi bóng.

(trích Chuỗi hồ)

Về tác giả

Nguyễn Vĩnh Nguyên sinh năm 1979 tại Khánh Hòa, lớn lên tại Ninh Thuận, tốt nghiệp Sư phạm Ngữ văn Đại học Đà Lạt khóa 1997 - 2001. Anh sống và làm việc tại Sài Gòn. Ngoài các tập truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết, anh còn chuyên tâm thực hiện loạt sách về Đà Lạt, với nhiều ấn phẩm như: Đà Lạt một thời hương xa; Với Đà Lạt ai cũng là lữ khách; Đà Lạt, bên dưới sương mù; Thành phố những lục địa bay... Anh còn lập một fanpage chuyên về Đà Lạt, là nơi trao đổi những thông tin văn hóa, lịch sử, những câu chuyện về thành phố.

Đọc bài viết

Giới thiệu sách

THÁI CÔNG – A PASSION FOR AESTHETICS: Dấu ấn thẩm mỹ của Nhà Thiết kế Nội thất Thái Công

Published

on

By

Nhà thiết kế Quách Thái Công vừa được nhà xuất bản TeNeues - một nhà xuất bản sách danh tiếng của Đức chuyên về các dòng sách kiến trúc, nội thất, đời sống và nghệ thuật biên tập và xuất bản quyển sách nghệ thuật có tên Thái Công - A Passion For Aesthetics. Quách Thái Công là Nhà Thiết Kế Việt Nam đầu tiên được đơn vị xuất bản này thực hiện một tác phẩm. Quyển sách được in tại Florence (Ý), dự kiến chính thức phát hành trên 70 quốc gia gồm Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha,… Tại Việt Nam, Công ty Cổ phần Văn hoá Phương Nam là đơn vị phân phối sách độc quyền, thông qua hệ thống hơn 50 nhà sách Phương Nam trên toàn quốc.

Một tác phẩm Nghệ thuật về Thiết kế

Thái Công – A Passion for Aesthetics là cuốn sách thể hiện sự độc đáo của Thái Công trong lĩnh vực thiết kế nội thất, tổng hợp 18 công trình thiết kế nội thất tại Đức và Việt Nam được thể hiện trong quyển sách, trong đó có 15 công trình tại Việt Nam. Đây cũng là thành tựu của Nhà thiết kế Nội thất người Đức gốc Việt Quách Thái Công, đã tạo ra trong hơn 20 năm qua. Đặc biệt, tác giả Ute Laatz cũng đã dành nhiều trang để chia sẻ về thẩm mỹ mà Thái Công muốn đem đến trong mỗi công trình.

Quyển sách được đầu tư công phu, với tổng cộng 350 trang, có phần bìa bọc nhung, gáy mạ vàng cho thấy sự duy mỹ, tỉ mẩn và tâm huyết của anh dành cho đứa con tinh thần này.

Sự kết nối tinh hoa Nghệ thuật phương Tây và nét đẹp văn hoá phương Đông

Quách Thái Công là một nhà thiết kế nội thất người Đức gốc Việt. Sang Đức từ năm 10 tuổi, Thái Công được gia đình giáo dục theo truyền thống Việt Nam nhưng song song đó, anh cũng cảm thụ, thấu hiểu sâu sắc văn hoá, phong cách, thẩm mỹ phương Tây. Quá trình đến với thiết kế nội thất hoàn toàn ngẫu nhiên khi Thái Công trưng bày các bức hình mình chụp trong 1 không gian nội thất và nhận được sự ủng hộ của rất nhiều khách hàng. Kể từ đó, anh bắt đầu theo đuổi lĩnh vực thiết kế và trang trí nội thất.

Ngay từ khi bắt đầu, Quách Thái Công đã hướng tới kiến tạo những không gian sống sang trọng, lộng lẫy và ấm cúng dành cho những khách hàng yêu thích vẻ đẹp độc bản bởi phong cách riêng của anh. Từ đó tạo nên thương hiệu Thái Công gắn liền với những món đồ nội thất sang trọng đẳng cấp Châu Âu, những dự án thiết kế - trang trí nội thất và cung cấp nội thất cho các biệt thự, căn hộ cá nhân và các dự án nhà hàng, khách sạn, bất động sản cao cấp.

Trong thiết kế, Thái Công khéo léo kết hợp tinh hoa Nghệ thuật phương Tây với nét đẹp văn hoá phương Đông, nhưng đồng thời không tập trung vào sự sang trọng của nội thất mà luôn lấy con người làm yếu tố trung tâm. Điều đó nâng sự thẩm mỹ của nhà thiết kế triệu đô vượt ngoài giá trị vật chất, thổi vào không gian sống sự tinh tế và tinh thần của văn hóa Đông Tây. Hơn cả một quyển sách chuyên ngành Thiết kế Nội thất, quyển sách như hé mở một cánh cửa cho độc giả về Thế giới Thượng lưu. A Passion for Aesthetics – là quyển sách đầu tiên thể hiện được gout thẩm mỹ và tài năng thiết kế độc đáo của Thái Công.

Sau 20 năm hoạt động, Thái Công đạt được nhiều giải thưởng cao quý như Infinity Award do Hội đồng ICP ở New York – Hoa Kỳ trao tặng, Sư Tử Vàng ở Cannes – Pháp và giải Đồng do Hội đồng ADC ở Đức vinh danh. Những công trình của anh luôn mang đậm dấu ấn thẩm mỹ cá nhân với một phong cách không thể nhầm lẫn.

Dấu ấn thẩm mỹ của nhà Thiết kế Nội thất hàng đầu

Với lối viết sắc sảo, hình ảnh lôi cuốn, quyển sách giới thiệu với độc giả những không gian nội thất đã hoàn thiện và câu chuyện cảm hứng tạo nên các công trình này của Nhà thiết kế triệu đô. Đặc biệt là những cuộc thảo luận hấp dẫn giữa Thái Công và các chuyên gia về đề tài “Thế nào mới là thẩm mỹ?” đối với Thái Công.

Tự nhận mình là nô lệ của thẩm mỹ thông qua các chia sẻ trong sách, Quách Thái Công muốn khẳng định với người đọc rằng thẩm mỹ là đa dạng phong cách, không có sự tranh cãi. Qua đó, anh đã truyền cảm hứng đến độc giả về thẩm mỹ với thông điệp: cuộc sống sẽ tốt đẹp và tích cực hơn khi mọi người cùng quan tâm đến thẩm mỹ.

Khi độc quyền phát hành cuốn sách Thái Công - A Passion For Aesthetics tại Việt Nam, bà Ngô Kim Thủy - Giám đốc Kinh Doanh Sách Quốc Văn, đại diện Phương Nam chia sẻ:

“Phương Nam Book rất hân hạnh được phát hành quyển sách này cũng như góp phần mang quyển sách về Việt Nam. Đây là cuốn sách có đối tượng độc giả riêng. Hiện nay, càng ngày càng nhiều người yêu thích mỹ thuật hơn, không chỉ riêng người trong ngành, còn có những người ngoài ngành nhưng yêu thích mỹ thuật họ cũng chọn mua rất nhiều sách thiết kế, kiến trúc. Lô sách đầu tiên Thái Công – A Passion for Aesthetic sẽ nhập khẩu chính thức sẽ về ngày 16/12/2022, dự kiến trong tháng 12/2022 sẽ phát hành ở Việt Nam. Quyển sách sẽ được trưng bày trang trọng trong tất cả các Nhà sách Phương Nam ở Sài Gòn Center, Crescent Mall, …Đây là quyển sách trang trọng, hiếm có ở Việt Nam.”

Thái Công - A Passion For Aesthetics là cuốn sách không thể bỏ lỡ của những tín đồ yêu thiết kế nói riêng và những ai muốn tìm hiểu về ngành thiết kế nội thất nói chung. Sách đang được bày bán tại hệ thống Nhà sách Phương Nam và website nhasachphuongnam.

Đọc bài viết

Cafe sáng