Book trailer

Đời sống xoắn quẩy của nấm

Hay hành trình khám phá những khả năng phi thường của họ nhà nấm.

Published

on

WHETHER YOU’RE MAKING A MEAL OR CLEANING AN OIL SPILL, THERE’S A FUNGUS FOR THAT
Jennifer Szalai

Hoàn thành bản thảo cho một cuốn sách mới thường là thành quả của nhiều năm làm việc, và khi tác giả đã thành công trong công cuộc hiện thực hóa ý tưởng đột phá, họ sẽ cố gắng kỷ niệm cái mốc này thật hân hoan. Trong cuốn sách mới của mình, Entangled Life: How Fungi Make Our Worlds, Change Our Minds, and Shape Our Futures, tạm dịch Đời sống xoắn quẩy của nấm: Cách họ nhà nấm tạo ra thế giới, thay đổi suy nghĩ và định hình tương lai của chúng ta, nhà sinh học trẻ chuyên trị mảng nấm, Merlin Sheldrake, đã thực hiện một nghi thức mà tôi chưa từng nghe đến và cũng hoàn toàn mờ tịt: Anh ấy thấm ẩm cuốn sách rồi gieo bào tử nấm vào đó, cuối cùng ăn số nấm bào ngư mọc ra từ những trang giấy. Với một bản sao khác, anh ấy xé các trang giấy ra, nghiền nát chúng để tạo đường và lên men cả hỗn hợp thành bia. Quên đi những cách thức tận hưởng văn chương tầm thường – một bữa yến tiệc sành sỏi hay chúc tụng cùng sâm-panh: Ngay đây, độc giả đang chứng kiến một tác giả đánh dấu việc hoàn thành cuốn sách của mình bằng việc ngấu nghiến nuốt chửng nó.

Nhà sinh vật học Merlin Sheldrake, tác giả của cuốn sách mới Đời sống xoắn quẩy của nấm: Cách họ nhà nấm tạo ra thế giới, thay đổi suy nghĩ và định hình tương lai của chúng ta.
Ảnh: merlinsheldrake.com

Đó là cái kết dị biệt nhưng lại phù hợp với Đời sống xoắn quẩy của nấm – hành trình khám phá hăng hái và đầy tham vọng của Sheldrake về sự vật bao quanh chúng ta nhưng lại quá ít người nghĩ đến. Cây cối luôn nhận được nhiều sự chú ý từ con người, nhưng Sheldrake lại muốn hướng ánh nhìn của ta tới họ nhà nấm, mà nếu không có chúng, rất nhiều loại thực vật được chúng ta sử dụng sẽ không thể tồn tại. Hầu hết khi nghĩ về họ nhà nấm, bạn chỉ hình dung tới những “cây nấm” mọc ra từ gốc cây hay đã được nấu chín trên đĩa. (Tên của Sheldrake – Merlin – khiến tôi nghĩ tới một vị phù thủy và cây nấm dù ma thuật của ông ấy.) Tuy nhiên, “cây nấm” thường chỉ là cái chóp bé tẹo so với thế giới rộng lớn của họ nhà nấm. Mạng lưới nấm lớn nhất thế giới được ghi nhận sống tại Oregon, một mạng lưới – hay một hệ nấm sợi – bao phủ bốn dặm vuông (tương đương 6,4 mét vuông) và đã có hàng ngàn năm tuổi.

Còn nữa, họ nhà nấm không chỉ hiện diện ở khắp mọi nơi, chúng còn làm việc. Mặc dù chúng thường bị gộp chung với những loại cây sử dụng nấm như hệ thống rễ trong hàng chục triệu năm trước khi cái cây đó tiến hóa đến độ có thể tự tồn tại, Sheldrake khẳng định rằng họ nhà nấm có mối liên quan chặt chẽ hơn với động vật. Khi nghĩ tới cây cối và hệ thống nấm giúp duy trì sự sống của cây, chúng ta hay bị lấn át bởi chủ nghĩa “lấy cây cối làm trung tâm” và làm cho chúng ta không nhận ra sự hiện diện của nấm – ta đã bị “mù nấm”.

Chứng “mù nấm” có thể khiến ta bỏ lỡ nhiều hiện tượng phi thường. Họ nhà nấm có thể phân phối chất dinh dưỡng và cả thông tin tới các thực vật khác. Ví dụ, khi một cái cây bị tấn công bởi rệp, nó phát ra một “tiếng thét hóa học” sẽ “tới tai” những cây khác trong mạng lưới nấm – điều này cho phép cây cối trong mạng lưới tự phòng ngự bằng cách tiết ra một hợp chất hóa học thu hút ong bắp cày, kẻ địch của loài rệp. Thậm chí, dù cái cây phát đi tín hiệu cảnh báo chẳng thu được hoặc thu được rất ít lợi lộc từ các cây xung quanh sau khi bản thân nó đã bị rệp tấn công, ích lợi từ mạng lưới nấm sẽ giúp giữ cho cây khỏe mạnh.

Mạng lưới nấm sợi – thứ mà một vài nhà nấm học gọi là “wood wide webs” (mạng lưới toàn gỗ, chơi chữ từ “world wide webs – www”) – cũng có thể khuếch đại tương tác giữa họ nhà nấm, thực vật và vi khuẩn với những giả thuyết còn mơ hồ. Một mạng lưới có thể truyền dẫn độc tố và vi rút, cho phép một số thực vật nhanh chóng tiêu diệt một số khác trong khu vực gần đó.

Cuốn sách của Sheldrake hội tụ đầy đủ những câu chuyện ấn tượng như vậy, từng bước mở rộng nhận thức hạn hẹp của chúng ta. Anh đưa ra những trích dẫn nhiều màu sắc, tất cả đều rất bí ẩn nhưng lại cần thiết, từ những danh nhân đa dạng như Tom Waits và nhà nữ quyền Hélène Cixous. Một trong những chương đầu tiên viết về việc truy tìm nấm truffle (nấm cục) khởi đầu với một lời nhắn từ Hoàng tử trước khi đi sâu vào thế giới nấm bí ẩn mà quyến rũ. Kiểm tra rễ một loại cây dưới kính hiển vi giúp anh có cái nhìn thoáng qua về cái cây và những cây nấm đang cuốn lấy nhau trong một cái ôm thân mật. “Đây không phải là tình dục,” anh viết; không có thông tin gen nào được tổng hợp. “Nhưng điều này vẫn thật quyến rũ.”

Sự thật là, thứ hạng của thuyết nhân hóa (anthropomorphism) dẫn đến những hiểm nguy nhất định; nếu chúng ta từ bỏ chủ nghĩa lấy cây cối làm trung tâm mà phóng chiếu tính người lên họ nhà nấm, Sheldrake thừa nhận, chúng ta có nguy cơ không hiểu hết một sự vật theo cách riêng của nó. Nhưng vẫn có một số đặc điểm đang được ghi nhận về họ nhà nấm, rằng chúng không thể dự đoán trước, phản ứng nhanh và dễ bị kích thích. Anh ấy đề cập đến từ “đồi” trong tiếng Potawatomi (một thứ tiếng Mỹ bản địa – kiểu tiếng thổ dân) là một động từ: “Đồi ở đây là quá trình leo, chúng vận động để trở thành những ngọn đồi.” Sau đó, trong một cuộc thảo luận đột xuất say mê về rêu địa y – một tổ chức cộng sinh bao gồm tảo và họ nhà nấm – anh ấy giải thích cách rêu địa y lọc những khoáng chất từ đất đá và truyền chúng vào chu trình trao đổi chất của sự sống. Địa y, một cách nói khác, “không bao giờ ngừng địa y, chúng vừa là động từ mà cũng vừa là danh từ.”

Các nhà nghiên cứu tiên phong (táo bạo) đang cố gắng tìm ra tất cả những công dụng của họ nhà nấm. Từ những công dụng cơ bản nhất là cung cấp dinh dưỡng cho thực vật, giúp chúng phát triển và thay đổi, ví dụ như vị ngọt của dâu tây. Vậy họ nhà nấm có thể giúp chúng ta dọn dẹp mớ hỗn độn khủng khiếp mà chúng ta đã gây ra cho hành tinh này không? Họ nhà nấm có thể được “huấn luyện” để hấp thu tàn thuốc lá, tã đã qua sử dụng, dầu loang hay cả phóng xạ. Một lĩnh vực mới trong ngành chế tạo vi mô đã phát triển da giả và vật liệu xây dựng từ họ nhà nấm. Sheldrake tham quan một nhà máy đã biến mạng lưới nấm thành đồ nội thất – chân ghế từ nấm dù.

Nhưng nếu chúng ta chỉ chăm chăm khai thác tiềm năng ứng dụng của chúng, theo một cách nào đó, thì ta đang bỏ qua một số điểm trọng yếu. Sheldrake cho rằng việc chú ý tới họ nhà nấm có thể thay đổi những hiểu biết cơ bản về thế giới. Mạng lưới nấm sợi là một hệ thống phi tập trung, “sự phối hợp của chúng xuất hiện ở khắp nơi cùng một lúc và không có nơi nào riêng biệt.” Chúng tiêu hóa bằng cách đưa cơ thể mình vào trong thức ăn. Một loại nấm đầu nhỏ gọi là hyphae có thể gây áp lực đủ lớn để xuyên qua giáp Kevlar. Một loại nấm mọc lên sau cơn mưa có thể từ mặt đất lách qua đường nhựa. Sheldrake viết, “nếu tôi nghĩ về sự phát triển của nấm sợi trong vòng hơn một phút, tâm trí tôi bắt đầu bị kéo dãn.”

Anh mô tả việc nhận được sự hỗ trợ từ các chất gây ảo giác từ nấm như LSD (Lysergic Acid Diethylemide – một loại axit chiết xuất từ nấm gây ảo giác về hình ảnh, âm thanh) và psilocybin (hợp chất tự nhiên gây ảo giác từ hơn 200 loại nấm), đồng thời đưa ra phép so sánh với cái gọi là nấm xác sống điều khiển cơ thể vật chủ côn trùng. Một loại khác tự lây lan bằng cách lây nhiễm ve sầu, giữ cho chúng sống sót trong khi khiến cho phần đuôi ve sầu phân hủy và thải ra các bào tử, biến chúng thành “những kẻ rắc muối biết bay của thần chết.”

Sheldrake nói rằng những ảo giác từ họ nhà nấm thường lành tính với vật chủ là con người, nhưng đôi lúc cũng rất mạnh mẽ. Chúng khuyến khích con người nuôi dưỡng chúng, phát tán bào tử của chúng ra thế giới. Chúng xóa nhòa ranh giới của bản thân, mang lại cho con người cảm giác về sự hòa nhập vào một cái gì đó lớn hơn, mở rộng kỳ vọng về khả năng của họ. Thay vì mắc kẹt lại trong những cái tôi, chúng ta nên bắt đầu nghĩ rằng chúng ta nằm trong một mạng lưới năng động và được gắn liền với một chuỗi những mối quan hệ.

Trong vòng 24 giờ sau khi đọc xong Đời sống xoắn quẩy của nấm, tôi đã đặt mua một bộ dụng cụ trồng nấm bào ngư. Tôi bắt đầu rà soát những ụ địa y ôm lấy sàn bê tông ẩm ướt trong sân. Cuốn sách này có thể không phải một tác phẩm tâm lý – và không giống như Sheldrake, tôi không dám sử dụng sách để trồng nấm và lên men bia (chưa tới lúc) – nhưng việc đọc nó không chỉ lay động tôi mà còn khiến tôi thay đổi, nóng lòng muốn phổ biến thông điệp của cuốn sách về những khả năng của họ nhà nấm.

Hết.

Bún Cứng dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Jennifer Szalai, đăng tại The New York Times.

1 Comment

1 Bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giới thiệu sách

Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng – Ngọt ngào sao những thi vị này

Published

on

By

Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của tác giả Đặng Nguyễn Đông Vy, gồm 2 phần là tản văn và truyện ngắn. Xuất bản lần đầu năm 2012, tác phẩm ngay lập tức được đón nhận và đã tái bản rất nhiều lần. Ở lần tái bản này, cuốn sách được in ấn với hình thức bìa độc đáo.

Nhẹ nhàng mở những trang sách Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng giữa lòng phố thị xô bồ, bạn sẽ bước vào một khoảng trời chứa đầy ký ức của tác giả, dù rất riêng nhưng sao thật gần gũi với những ai từng có một quê nhà để nhớ, để thương. Giản dị, mộc mạc, từng lời văn như thấm vào trái tim độc giả, để lại những cảm xúc đầy luyến lưu, xao xuyến. Cuốn sách mang đến cảm giác dễ chịu, khiến người ta mỉm cười, thấy ấm áp giữa những ngày mưa lạnh ướt át.

Phần tản văn kể về thuở ấu thơ của tác giả, đan xen những bài học, chiêm nghiệm mà tác giả nhận ra khi nhìn lại các kỷ niệm sau ngần ấy năm. Phần truyện ngắn xoay quanh các nhân vật do tác giả sáng tạo, chứa đựng tình yêu chớm nở trong những năm tháng đầy hoa mộng. Chúng ta như nhìn thấy hai Đặng Nguyễn Đông Vy với những nét tính cách khác biệt. Cả hai đều trong sáng và bay bổng, nhưng một bên là hồn nhiên, nghịch ngợm, một bên lại phảng phất những nỗi niềm man mác. Tuy nhiên, cả hai phần này không tách biệt, mà là một mạch cảm xúc nối liền theo quá trình trưởng thành nơi tâm hồn tác giả.

Hồi ức yên bình tuổi thơ ngây qua những dòng tản văn

Phần tản văn gồm 22 câu chuyện, phần lớn đều đan xen những kỷ niệm thuở ấu thơ của tác giả. Những câu văn mượt mà, mộc mạc, đầy xúc cảm trong trẻo, hồn nhiên, đưa ta quay lại những ngày còn bé bỏng, khi cả gia đình – ông bà, cha mẹ, anh chị em vẫn quây quần trong căn nhà cửa gỗ sơn xanh, tường tróc sơn loang lổ. Qua đôi mắt của tác giả, ta như nhìn thấy người ông móm mém, yêu thích mãng cầu bơ, người bà phúc hậu, ngồi xỏ mành ốc gạo với cháu gái nhỏ, người mẹ chăm chỉ sắp xếp đá trang trí trong vườn nhà, người cha cặm cụi quấy bột sắn thành hồ dán cho con làm thủ công.

Ta như nhìn thấy những người bạn chơi cùng lúc bé nghịch ngợm, nô đùa cùng nhau, rồi xích mích, dỗi hờn. Ta như nhìn thấy góc trường tiểu học với lũ trẻ ồn ào nhốn nháo, tranh nhau xem phim cổ tích trong chiếc hộp gỗ của ông lão hàng rong. Ta như nhìn thấy những mùa thu hoạch khoai mì rộn rã cả miền quê, những mùa Giáng Sinh tưng bừng nơi xóm đạo. Đó là những ký ức rất riêng tư của tác giả, nhưng sao lại gần gũi với tất cả chúng ta đến lạ thường.

Tác giả thổ lộ những điều thoạt đầu nghe hết sức lạ lùng, chẳng hạn như ngày bé tác giả thích nhất chính là… đi chăn bò. Tuy nhiên, khi theo từng câu chữ của cô, đặt chân lên hành trình mơ mộng đầy ắp niềm vui khi lùa bò đi ăn, ta dần ngộ ra thích đi chăn bò là điều vô cùng hợp lý. Làm sao không thích cho được khi bao bọc xung quanh là một thiên nhiên phong phú, đầy chất thơ: dế cồ than nấp dưới hòn đá, chuồn chuồn kim đậu trên ngọn cây, châu chấu hối hả nhảy khỏi mõm của lũ bò, lũ cá rô lượn lờ dưới dòng nước trong… Những ngọn gió thổi qua lớp cỏ xanh mơn mởn trên bờ đê mấp mô, những đồng lúa chín vàng trĩu hạt, những đám mạ non mướt mát… mang theo hơi thở của rơm rạ, hương sen và bùn đất. Linh hồn ta chợt như thoát khỏi thực tại, đến với đồng cỏ điểm xuyết hoa dại nhỏ xinh, hạnh phúc lao nhanh giữa đất trời với đôi bàn chân trần nóng bỏng.

Giữa những kỷ niệm ấm áp, bình yên bên gia đình, bạn bè, và những khung cảnh hồi ức vừa chân thực, vừa mơ mộng, tác giả lồng ghép vào những bài học nhân văn một cách rất tự nhiên. Đó là trận đòn đau vào mùa khoai mì năm ấy, khi ba tác giả tức giận quất roi con vì tội giễu nhại người tàn tật. Đó là chiều ba mươi tết bà nội cùng tác giả dắt nhau ghé thăm từng hộ gia đình khó khăn nằm sâu trong phía núi, tặng cả người lớn lẫn trẻ con những đòn bánh tét xinh xinh. Đó là tinh thần làm ăn chăm chỉ, sáng tạo, cần cù của ông nội, thứ giúp ông từng gây dựng được cả cơ đồ. Đó là ánh mắt buồn bã đến xót lòng của người mẹ khi nghe tác giả thốt lên rằng “Mẹ đúng là chẳng có gì để ngưỡng mộ cả.”

Có những bài học mà mãi đến lớn, sau bao nhiêu thăng trầm, tác giả mới đột nhiên nhận ra. Chiếc hộp con đựng bản di chúc cùng những gì quý giá nhất năm tám tuổi, vốn chỉ là một trò chơi, nhưng giờ nhìn lại, tác giả bỗng hiểu ra rằng nên “làm cho những người khác biết mình yêu thương họ ngay lúc này tốt hơn là ấp ủ tình yêu đó cho tới khi ta không còn cơ hội để trao nó cho họ nữa.” Ngôi nhà ông nội hì hục một mình đào móng, trộn vữa, đặt từng viên gạch… trên mảnh đất tự ông khai phá luôn mở rộng cửa và đầy ắp yêu thương. Nó đón nhận bao lượt khách lỡ đường mà chẳng hề tính phí, giúp đỡ một người đàn bà xa lạ suýt đẻ rớt bình yên hạ sinh con mình, rộng mở vòng tay để một ông lão hành khất xa lạ tá túc. Tác giả nhận ra, qua bao năm, từng lượt người cứ đến rồi đi, ngôi nhà năm xưa vẫn cứ y như cũ, chỉ có những câu chuyện về lòng hào hiệp và nhân hậu mãi chất đầy…

Những bản tình ca dang dở nhưng thi vị trong phần truyện ngắn

Nếu phần tản văn toát lên tình thân, tình bạn và tình người, thì tinh thần chính trong phần truyện ngắn lại là tình yêu đôi lứa. 11 câu chuyện là 11 sắc màu tình yêu, có khi là những rung động mông lung tuổi học trò, có khi là nỗi khắc khoải của người bị bỏ lại nơi dương thế, có khi là giọt nước mắt của mối tình chưa nở đã tàn phai. Đơn giản, không hoa mỹ, nhưng từng câu văn lại thấm vào lòng người đến lạ thường. Ta thấy mình như hóa thân thành nhân vật, cũng cảm nhận được “một nỗi thất vọng đau đớn đến khó tả” khi nhìn thấy hoa tường vi ố vàng trong bụi bặm của đời thực, cũng thấy “quay quắt nhớ” về ai đó với câu tỏ tình dễ thương.

Lồng trong những câu chuyện là đủ sắc màu, đủ âm thanh, đủ mùi vị. Một vườn pensée khoe sắc thắm khẽ lay động trong làn gió nhẹ tựa như tình yêu chân thành ở tuổi sắp xế chiều của một góa phụ mất chồng từ lâu. Một ly tonic “đăng đắng, mằn mặn, lạnh ngắt, và vị ngọt đọng đâu đó, không phải trên môi, không phải trên đầu lưỡi mơ hồ” khiến ta nhận ra tình yêu có thể bắt đầu từ nỗi nhớ, không phải chính con người ấy, mà là khoảng không gian, những cảm xúc bao quanh mỗi khi ta ở bên người ấy. Tiếng chuông nhà thờ đổ vang vang đêm giao thừa nơi Đà Lạt đầy sương lạnh, tràn ngập nỗi lạc lõng của một cô bé mười sáu tuổi lần đầu lang thang giữa nơi xa lạ vào đêm ba mươi. Chúng được miêu tả sống động, như thể ta đang ở ngay đó, nhìn tận mắt, nếm tận miệng, nghe tận tai vậy.

Phần lớn tình yêu trong phần truyện ngắn này đều bỏ ngõ, dở dang. Mỗi câu chuyện đều có gì đó man mác buồn, chứa nhiều nỗi niềm da diết, khắc khoải. Nhưng dù mối tình trong truyện đã vĩnh viễn khép lại, hay vẫn còn lấp lánh chút hy vọng cho ngày sau, thì mối tình ấy vẫn đi vào lòng người đọc, vẫn khiến ta thấy tình yêu, tuy muôn hình vạn trạng, tuy hạnh phúc lẫn đau đớn, vẫn thật đẹp làm sao.

Hình thức bìa sách độc đáo như một bức bình phong

Lần tái bản này, sách ra mắt ở cả hai hình thức bìa mềm lẫn bìa cứng, đều có kích thước nhỏ xinh tựa một quyển sổ tay, dễ dàng bỏ túi mang theo đến bất kỳ nơi đâu. Bản bìa mềm tiện dụng, được in đổi chiều hai nửa nội dung – một tản văn, một truyện ngắn. Trong khi đó, bản bìa cứng là hai quyển sách có bìa nối liền nhau, khi bung mở toàn bộ sẽ tạo cảm giác như đang kéo ra bức bình phong tuyệt đẹp.

Trong mùa dịch vừa rồi, họa sĩ t. hờ đã dành rất nhiều thời gian tâm huyết để thiết kế bìa sách đầy tính đột phá, sáng tạo này. Khi đọc tác phẩm, anh cảm giác như có hai chị Vy khác nhau, một chị Vy nhỏ và một chị Vy lớn. Vì vậy, anh đã suy nghĩ làm sao vừa phân biệt hai phần tản văn và truyện ngắn, vừa ghép được chúng dính liền với nhau để không làm mất mối liên kết giữa hai chị Vy trong sách. Kết quả là thiết kế phá cách, ngộ nghĩnh dành cho cả hai phiên bản bìa cứng và bìa mềm đã ra đời. 

Có lẽ chất trong trẻo, êm dịu trong từng câu văn của Đặng Nguyễn Đông Vy đã thấm vào lòng của họa sĩ t. hờ, nên từng hình vẽ trong sách, từ ảnh bìa đến ảnh mình họa, đều toát lên vẻ đẹp bay bổng, đầy nghệ thuật. Nếu phần bìa tản văn có màu chủ đạo là xanh lá, với hình ảnh “chị Vy nhỏ” nằm giữa cánh đồng hoa bướm vờn quanh, thì phần bìa truyện ngắn lại mang màu xanh đen huyền bí của bầu trời đêm, điểm xuyết những ngôi sao vàng trên dải ngân hà lam biếc.

Về tác giả

Đặng Nguyễn Đông Vy, sinh năm 1979 tại Khánh Hòa, là một cây bút quen thuộc trên các tờ báo hướng đến độ tuổi mới lớn như Hoa Học Trò, Báo Sinh viên Việt Nam... Chị vừa làm báo, vừa viết văn, và đã xuất bản rất nhiều tác phẩm sâu lắng, thú vị như Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng, Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn, Những Lối Về Ấu Thơ…

Đọc bài viết

Book trailer

‘Đũa – Chuyện linh dị’ khám phá những truyền thuyết rùng rợn về đôi đũa

Published

on

By

Nỗi ám ảnh từ đôi đũa

Đũa là một vật dụng rất đỗi thường mọn trong đời sống hằng ngày nhưng với văn hóa Á Đông, đũa lại mang một sức mạnh tâm linh bí ẩn, hàm chứa vô số những điều cấm kỵ truyền miệng suốt ngàn đời nay.

Lấy cảm hứng từ điều đó, năm tác giả đến từ Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan đã cùng nhau phỏng tác những tục lệ dân gian huyền bí cũng như những truyền thuyết về bùa ngải, ma thuật xoay quanh vật phẩm bé nhỏ này qua một loạt vụ án liên tiếp trải dài từ quá khứ đến hiện đại trong tác phẩm.

Những vụ án này có thể bắt đầu từ hàng loạt cái chết bi thảm khó lý giải, hình ảnh oan hồn cô dâu ma bên đầm Tân Nương, hay sự xuất hiện bí ẩn của những kẻ mang ấn ký hình cá đỏ…

Tất cả mọi manh mối đều dẫn đến một vật hết sức mơ hồ – đũa. Và cũng từ đó những lời đồn thổi về nghi lễ cổ quái xa xưa lại một lần nữa trỗi dậy, rằng chỉ cần qua tám mươi tư ngày tham gia nghi lễ ấy, mọi ước vọng của nhân gian dẫu ngông cuồng đến đâu cũng đều có thể xoay chuyển càn khôn trở thành hiện thực. Nhưng trong cơn cuồng say dục vọng, không ai có thể ngờ rằng một khi dấn bước vào nghi lễ kỳ bí ấy tức là họ đã tự trói buộc mình vào lời nguyền truyền kiếp và cái giá phải trả sẽ tột cùng kinh hoàng.

Một “nghi lễ” vượt biên giới của các nhà văn

Đũa – Chuyện linh dị là dự án đánh dấu sự hợp tác của 5 cây bút đến từ Đài Loan, Hồng Kông và Nhật Bản, nhưng đây hoàn toàn không phải một tập truyện ngắn theo cách hiểu thông thường.

Với đề tài chính là “đũa”, các nhà văn có thể tự do sáng tạo mạch truyện theo cách riêng, nhưng để giữ cho tập sách có sự thống nhất, ba tác giả đầu tiên sẽ xây dựng những tình tiết nền móng, hai tác giả cuối cùng dựa trên manh mối từ ba truyện trước để khép lại câu chuyện theo cách diễn giải của mình.

Đũa – Chuyện linh dị thuộc thể loại tiểu thuyết hợp tác (collaborative fiction), thường gồm hai hoặc một số nhà văn thay phiên nhau viết từng phần câu chuyện và chuyển cho người tiếp theo, nhưng vẫn chú ý đến nhân vật, tình tiết của đối tác để triển khai mạch truyện sao cho logic, chặt chẽ.  

Thể loại này đặc biệt phù hợp với đề tài tác phẩm, vốn xoay quanh các nghi lễ ma quái nhằm triệu hồi một thế lực thần bí, tương tự như quá trình sáng tác Đũa – Chuyện Linh Dị đã kết nối năm cây bút độc lập đến từ những vùng đất khác nhau, đưa họ đến một mục đích chung.

Chính vì thế, tác giả Tiêu Tương Thần cho rằng những yếu tố bất ngờ, nằm ngoài sự mong đợi của các tác giả chính là điểm hấp dẫn của dòng tiểu thuyết hợp tác. Người này nhận xét:

“Như thể có một bàn tay lớn hơn ẩn đằng sau các tác giả, âm thầm thêu dệt truyện. Câu chuyện rời khỏi tay tác giả, lần lượt phản bội tác giả, khiến tác giả trở thành một phần của câu chuyện, phải chăng có một thế lực nào lớn hơn đang ở phía sau chúng tôi?”.

Sức hấp dẫn không thể chối từ của dòng truyện “linh dị”

Dòng truyện linh dị là những tác phẩm xoay quanh tập tục dân gian cổ xưa, tà đạo, thuật phong thủy, hoặc những thế lực siêu nhiên như vong hồn, oán chú,… đặc trưng trong văn hóa Á Đông.

Truyện linh dị thường khiến người đọc rợn tóc gáy vì khả năng truyền tải nỗi sợ qua những vật dụng gần gũi trong đời sống thường ngày; hay như những câu chuyện truyền miệng qua lời kể của ông bà, cha mẹ; những lời đồn đại của bạn bè trong lớp học; hoặc đôi khi chỉ đơn giản là những phỏng đoán xung quanh một địa điểm hay một vụ án bí ẩn không lời giải.

Khác với dòng truyện nặng tính kinh dị (horror) đến từ phương Tây, tiểu thuyết linh dị Á Đông dễ dàng hớp hồn độc giả Việt Nam nhờ sự tương cận, gần gũi về văn hóa. Nhiều độc giả có lẽ đã dần biết đến dòng tiểu thuyết linh dị thông qua văn học mạng hay các tác phẩm của Quỷ Cổ Nữ.

Đến với Đũa – Chuyện linh dị, người đọc không những được trải nghiệm một câu chuyện hấp dẫn, rùng rợn xoay quanh đũa và những tập tục cổ xưa, mà còn có dịp làm quen với dạng thức tiểu thuyết hợp tác – một thể loại vẫn còn mới mẻ với nhiều độc giả Việt Nam.

Bìa sách Đũa bản nước ngoài

Trích đoạn

Dưới ánh trăng, tôi cắm một chiếc đũa vào hũ gạo, chiếc kia xếp ngang phía trên thành hình chữ T. Tôi quỳ xuống thắp một nén nhang, đầu nhang đỏ rực như đom đóm, hương thơm quyện vào trong gió.

Sau đó tôi lầm rầm câu chú.

Lần cuối cùng tôi đọc câu chú này là hơn bốn mươi năm trước, nhưng lòng tôi bây giờ so với khi đó đã hoàn toàn khác.

Trong những mảnh vỡ của cuộc đời tôi, luôn lấp lóa tia sáng đỏ rực của cái đêm kinh hoàng bên bờ suối, khiến tôi thấy mình vẫn như đang đắm mình trong làn nước lạnh giá để khâu lại những tấm da mỏng manh, những đứa trẻ bị đẩy vào bóng tối với cặp mắt mở trừng trừng…

(trích đoạn Đũa – Chuyện linh dị)

Về tác giả

Mitsuda Shinzo: tiểu thuyết gia dòng kinh dị kỳ ảo người Nhật Bản, nổi tiếng với series truyện Tojio GenyaLike a Sinking Water Demon (giải thưởng Honkaku Mystery Award)…

Tiết Tây Ti (Xerxes): tiểu thuyết gia dòng võ thuật, kỳ ảo người Đài Loan, nổi tiếng với các tác phẩm tiêu biểu: H.A, Phoenix, Lotus Reborn (giải thưởng Kadokawa Fiction năm 2013)…

Tiêu Tương Thần: tiểu thuyết gia kiêm nhà sản xuất game nổi tiếng người Đài Loan, tác phẩm đầu tay của anh - Taipei Scrolls - đoạt giải thưởng Kadokawa Fiction năm 2012 và King Car Fantasy Fiction Prize năm 2014.

Je Tau Zi: tiểu thuyết gia trinh thám kiêm nhà sản xuất truyền hình nổi tiếng người Hồng Kông, tác phẩm tiêu biểu The Spirit of the Word của cô từng đoạt giải thưởng Kadokawa Fiction năm 2013.

Chan Ho Kei: tiểu thuyết gia kiêm kỹ sư phần mềm, nhà thiết kế trò chơi và biên tập viên tạp chí truyện tranh người Hồng Kông. Các tác phẩm tiêu biểu của anh gồm có: The Case of Jack and the Beanstalk, The Locked Room of Bluebeard, The Man Who Sold the World (Soji Shimada Mystery Award 2011)... Tại Việt Nam, tác phẩm trinh thám Người trong lưới13.67 của anh cũng được độc giả nhiệt liệt đón nhận.

Hết.

Đọc bài viết

Book trailer

Bức thư tình gửi đến Việt Nam từ một nhà thơ người Mỹ

Published

on

By

Dưới Tán Chò Nâu Sài Gòn là tuyển tập bút ký điền dã của một nhà thơ, nhà báo người Mỹ viết về Sài Gòn, được xuất bản dưới dạng sách song ngữ. Tuyển tập gồm 8 đoản khúc, xoay quanh những điều bình dị như cây chò nâu, tiệm tạp hóa, lục bình, sở thú… cho đến những chủ đề “khó nhằn” như tục thờ cá Ông, đồn điền cao su, nghề nấu rượu… Tất cả được viết bằng giọng văn vừa dí dỏm, khoa học nhưng không kém phần thơ mộng.

Việt Nam qua góc nhìn của thi sĩ Mỹ

Nhà thơ Paul Christiansen sinh năm 1986, quốc tịch Mỹ, tốt nghiệp cử nhân Đại học St Olaf và có bằng thạc sĩ nghệ thuật Đại học Quốc tế Florida (Mỹ).

Nhận học bổng chương trình Fulbright, anh sang Quy Nhơn năm 2015 rồi sau đó chuyển hẳn đến Việt Nam làm việc. Anh hiện là Giám đốc Nội dung của tạp chí Saigoneer và đang miệt mài chuyển ngữ nhiều tác phẩm văn học Việt Nam để giới thiệu với bạn bè quốc tế.

Thơ của Paul Christiansen đã xuất hiện trên các tạp chí văn học nghệ thuật uy tín như Atlanta Review, Pleiades, Quarter After Eight, Threepenny Review, Zone Three và đã đoạt hai giải thưởng thi ca của Viện Hàn Lâm Thi Ca Mỹ.

Tài năng của Trần Thị NgH trong vai trò dịch giả

Chịu trách nhiệm chuyển ngữ tập bút ký của Christiansen là Trần Thị NgH - nữ văn sĩ từng gây tiếng vang với những truyện ngắn được viết trước 1975. Năm 2012, nhiều truyện ngắn của Trần Thị NgH được tập hợp lại thành sách và giới thiệu với độc giả trong nước, như Nhà có cửa khóa trái, Lạc đạn, Nhăn Rúm và các truyện ngắn khác. Vào năm 2018, tác phẩm gần đây nhất của bà là Ác tính được xuất bản, gây xôn xao văn đàn. 

Vắng bóng một thời gian trong tư cách người cầm bút, Trần Thị NgH bất ngờ trở lại với cuốn sách Dưới Tán Chò Nâu, nhưng trong một vai trò mới: dịch giả.

Đọc qua phần mục lục, ta có thể thấy tài năng của Trần Thị NgH qua việc chuyển ngữ những tiêu đề tiếng Anh sang tiếng Việt rất mượt mà:

  • SỞ THÚ SÀI GÒN – Vẫn yêu dù có thế nào (On Loving the Saigon Zoo Despite Its Flaws)
  • LỤC BÌNH: Người đẹp thủy sinh, kẻ phá hoại đáng ghét, quân xâm lược xấu xa (An Invasive, Destructive, Beautiful Aquatic Villain)

Bà cũng là người biên dịch nhiều tác phẩm của John Steinbeck, Anton Chekhov, Paolo Giordano, Franck Thilliez, Guillaume Musso,...

Về việc dịch tác phẩm này, bà cho biết: “Thách thức trong khi dịch Paul Christiansen không chỉ đòi hỏi nỗ lực Việt hóa tác phẩm sao cho không còn là văn dịch đồng thời đảm bảo trung thực ý nghĩa từng câu chữ so với bản gốc, mà còn phải làm thế nào để giữ cho được cái giọng châm biếm ở nhiều ngữ cảnh của tác phẩm, đặc biệt giọng văn rất thơ của tác giả”.

Tập bút ký điền dã với nhiều suy tư sâu sắc

Vốn là người yêu thiên nhiên và thơ ca, dễ thấy rằng Paul Christiansen đặc biệt quan tâm đến những điều tạo nên nét đẹp mộc mạc, bình dị của mảnh đất hình chữ S. Tác giả tìm thấy cảm hứng từ việc đi dạo dưới bóng cây râm mát của sở thú, trăn trở về cá voi ngoài đại dương lẫn những con thú bị nhốt trong chuồng, thích thú ngắm nhìn lục bình trôi và những quả chò nâu xoay vòng trong gió…

Những bài viết của Paul Christiansen độc đáo ở chỗ có sự đan xen giữa óc quan sát tinh tế của một nhà thơ và góc nhìn chuyên sâu của một nhà nghiên cứu về những cảnh quan, nghi lễ, sự thật lịch sử vẫn còn bị dân bản địa thờ ơ.

Hai bài viết đầu tiên, Sở thú Sài Gòn, Tạp hóa và cửa hàng tiện lợi, đưa người đọc tái khám phá những địa điểm quen thuộc dưới một lăng kính mới. Trong mắt nhà thơ người Mỹ, ngay cả những dây dầu gội, sữa tắm treo trước các tiệm tạp hóa trông thật lạ lẫm, được anh ví như “rêu bằng nhôm mọc trên cây hay những tấm màn bằng xâu chuỗi để che hậu cảnh”.

Nhưng Paul Christiansen không chỉ khám phá Việt Nam qua những điều mà ai cũng dễ dàng nhìn thấy. Nghề nấu rượu, Tục thờ cá Ông, Đồn điền cao su Việt Nam… khai thác những chủ đề tưởng chừng khô khan, khó nhằn thậm chí đối với người bản địa.

Nghề nấu rượu xoay quanh món rượu gạo truyền thống của Việt Nam và những thăng trầm mà người làm rượu theo cách thủ công phải trải qua trong suốt thời kỳ Pháp đô hộ.

Tục thờ cá Ông viết về tín ngưỡng thờ cúng cá voi ở các làng chài Việt Nam, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đồng thời cũng là nỗi băn khoăn của tác giả trước thực tế cá voi đang dần tuyệt chủng.

Đồn điền cao su điểm lại một trang sử bi thương của người Việt Nam, nhìn thẳng vào hệ quả hậu thuộc địa mà các nước thực dân gây ra.

Bảo tàng Địa chất, Lục bình, Chò nâu Sài Gòn viết về những vật, những người vẫn luôn ở đó nhưng dễ bị lãng quên giữa guồng quay cuộc sống: một bảo tàng khiêm tốn nằm ở góc quận 1, thảm xanh lục bình trôi trên sông, hay vẻ đẹp của cây chò nâu mọc ven đường…

Dưới Tán Chò Nâu Sài Gòn là tập bút ký dành cho người yêu Sài Gòn, yêu Việt Nam, và cả những người muốn yêu lại từ đầu với thành phố, với mảnh đất này…

Trích đoạn

“Trong khi tản bộ xuống đường Nguyễn Đình Chiểu, tôi chợt thấy một thác chò đổ tuôn sau cơn gió hè. Những quả khô bay vòng vèo xuống rồi đáp bất lực trên nền bê tông. Vô phương bám rễ, những đôi cánh xụi lơ, giống như vây cá voi sát thủ yếu quặt vì bị giam cầm. Có một thứ gì đó trong tôi cũng tả tơi như thế.”

(trích Chò nâu Sài Gòn)

“… tôi đến viếng bàn thờ cá Ông và thắp một nén nhang cầu xin cho cá voi được trường tồn, cho làng chài được sung túc và cho những ao ước riêng tư của mình thành hiện thực – những khát vọng này không nhất thiết phải loại trừ lẫn nhau. Khói nhang bay tỏa lên không trung, giống như tiếng hát cá voi vang vọng vào cõi tĩnh lặng lúc nó ngoi lên từ vực nước thẳm sâu”.

(trích Tục thờ cá Ông)

Nhận xét

Paul Christiansen thích đi bộ để thấy và nghe. Anh lắng nghe tâm tình của động vật và cây cỏ trong Thảo Cầm Viên, ngồi ngắm lục bình trôi trên sông Sài Gòn, mua nhu yếu phẩm từ tiệm tạp hóa góc phố, uống rượu gạo với dân làng chài, thắp nhang vái lạy trước bàn thờ cá Ông làng Phước Hải, băn khoăn về những dòng máu trắng chảy trong rừng cao su thời thuộc địa, ray rứt với từng viên thạch anh trưng bày ở Bảo tàng Địa chất, ngắm nhìn cánh chò xoay xoay trong gió…

– Dịch giả Trần Thị NgH

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng