Nối kết với chúng tôi

Book trailer

“Thất lạc cõi người” và Dazai Osamu: Là thiên tài chứ chẳng phải thánh

Tiểu thuyết tự truyện Thất lạc cõi người là tác phẩm cuối cùng của Dazai Osamu, trước khi ông tự sát bằng cách trầm mình cùng người tình Tomie tại kênh Tamagawa năm 1948.

Published

on

Những danh nhân có sức ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa Nhật Bản thường được khắc họa trên màn ảnh (và trong tâm thức độc giả) là một thiên tài thánh thiện, với số phận bị kịch hoặc hưởng phúc đời đời. Tuy nhiên, Dazai Osamu là biến số không hề nằm vừa vặn trong cái khuôn mẫu thánh nhân. Cuộc đời ông là một chuỗi những vòng lặp của sự tự hủy và níu kéo lấy sự sống, nơi cái bi và hài quấn quýt lẫn nhau, nơi tiếng cười vang lên tự trào trong bóng tối cô độc.

Sinh năm 1909 trong một gia đình đông đúc và giàu có tại tỉnh Aomori, người mẹ bệnh tật liên miên còn cha thì thường vắng nhà, Dazai trưởng thành trong sự bảo bọc cẩn thận của gia nhân và anh chị ruột. Đến tuổi vị thành niên, ông rời nhà đi học xa và sau đó trở thành sinh viên Đại học Tokyo. Chẳng mấy lâu sau, Dazai bỏ bê việc học, cưỡi ngựa xem hoa đường lối chính trị Mác-xít và dùng tiền trợ cấp để uống rượu và tán gái, làm gia đình vốn truyền thống nổi giận lôi đình.

Mắc kẹt trong cảm giác bản thân vô dụng và tuyệt vọng giữa dòng chảy cuộc đời, của nỗi đau tha hương nơi đất khách, ông đã hai lần cố gắng tự tử, lần thứ hai cùng một phụ nữ – nàng chết nhưng ông vẫn sống sót. Sau cú sốc trên, Dazai chôn vùi bản thân vào nghiệp viết. Với sự hỗ trợ của tác gia Masaji Ibuse, ông bắt đầu xuất bản nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết, thường với chút gia vị tự thuật. Mặc dù tài năng của ông sớm được công nhận, ông vẫn vật lộn với căn bệnh lao phổi mãn tính, chứng nghiện thuốc phiện, nghiện rượu, trầm cảm và ám ảnh với ý nghĩ tự tử.

Những tác phẩm của Dazai, đặc biệt là tiểu thuyết 斜陽 (Tà dương)人間失格 (Thất lạc cõi người), được đón nhận rộng khắp trong thời gian ông còn sống và thậm chí đến tận ngày nay, đặc biệt bởi những người trẻ tuổi.

*

Tiểu thuyết tự truyện Thất lạc cõi người là tác phẩm cuối cùng của Dazai Osamu, trước khi ông tự sát bằng cách trầm mình cùng người tình Tomie tại kênh Tamagawa năm 1948. Cuộc đời nhân vật chính Oba Yozo (hay Yochan) là tấm gương phản chiếu và mô phỏng chính cuộc đời Dazai. Chương một mở đầu với ba tấm ảnh của Yozo khi còn là một cậu bé, lúc đã thành học sinh và lúc trưởng thành. Ngay từ khởi điểm, người đọc đã tiếp nhận những lời phán xét về gương mặt cậu bé Yozo có cái gì đó không giống người, “một cảm giác khó chịu, hồi hộp bất an cứ khiến ta muốn đưa mắt đi nhìn ra chỗ khác”.

that-lac-coi-nguoi
Thất lạc cõi người

Yozo là người thông minh sáng dạ, nhưng thiếu những hiểu biết cơ bản về cách ứng xử trong xã hội và tâm lý con người, đồng thời cùng bản tính e ngại, nhút nhát mà sinh ra sự sợ hãi với nhân thế. Lớn lên, Yozo càng lúc càng trở nên bất an. Anh bỏ học, tiêu phí khoản tiền gia đình gửi vào rượu bia, thuốc lá, thuốc phiện, rồi sau cùng bám víu vào những người đàn bà cô đơn để ăn mày tiền của và tình thương của họ. Yozo liên tục trốn chạy đau thương bằng cách tự tử nhưng thất bại. Anh ta bạc nhược, u uất, thà tắm mình trong cái vũng lầy ôi thối còn hơn là bước chân lội ra để hít thở khí trời thơm tho. Cuộc đời của anh càng lúc càng trượt dài, biến thành một kẻ tự hủy bên lề xã hội, “làm một phạm nhân, một cuồng nhân và cuối cùng là một phế nhân” (dịch giả Hoàng Long).

Tình cảnh của Yozo không hẳn đến từ xã hội mà đến từ chính bản thân cá tính anh ta. Anh ta căn bản là “mất tư cách làm người”. Cái vớt vát duy nhất của Yozo là sự chân thật chấp nhận những khuyết điểm của bản thân. Nực cười thay, sự chân thật của anh ta cũng bị đẩy đi quá xa. Chân thật ủ ê trong cái bạc nhược của mình. Chân thật phô bày sự bi lụy để cầu xin tình người từ những người phụ nữ còn khốn khó hơn anh ta. Chân thật phô bày sự ích kỷ và tàn nhẫn của anh ta.

Oba Yozo, hay Dazai Osamu, hơn ai hết hiểu được sự tuyệt vọng của loài người, vì chính ông không còn hi vọng trở lại làm người chính đáng. Nhưng ông vẫn cố. Mâu thuẫn thay khi ông từ bỏ hi vọng trong mình nhưng luôn chạy vạy vay mượn, ăn bám vào hi vọng từ người khác. Bi kịch của Yozo và của Dazai là thế. Nếu ông, giống như Akutagawa Ryunosuke, có thể dứt khoát quay lưng với thế gian để đi tìm cái đẹp nơi địa ngục, nơi ác tâm và ti tiện của loài người thống trị thì đã tốt. Yozo, hay Dazai cứ mãi hướng về ánh sáng, bằng chứng là thứ tiếng cười ngẫu hứng và không ràng buộc vang vọng trong từng trang viết, và bằng chứng cũng là sự vị tha kín đáo mà Dazai giấu sau những cay đắng, tự trách hiển hiện. Dazai kinh sợ, rồi lại yêu thương nhân thế không nỡ xa rời. Tôi nghĩ rằng, nếu Akutagawa chết đi với một nụ cười trên môi, hăm hở cắm đầu nhảy xuống xem thử tám tầng địa ngục có quay cuồng rực lửa như văn chương của ông không; thì Dazai chết đi mà vẫn hướng mắt về trần thế, vừa khổ đau, vừa hài lòng, vừa nuối tiếc.

*

Thất lạc cõi người, cũng như đa phần các tác phẩm khác của Dazai, không hề khó đọc. Cấu tứ thẳng đuột, không hề có những sắp đặt gợi mở lớp lang lắt léo, không có những hình ảnh ẩn dụ hoa mỹ sâu chín tầng nước. Nhịp điệu ổn định, tình tiết không lê thê khô cứng, lại có chấm phá kịch tính vừa đủ để níu chân các độc giả khẩu vị mặn mòi nhưng lại ngại phô phang. Mặt khác, văn chương của Dazai, giống hệt con người ông, rất ích kỷ. Ông không buồn đi sâu tìm tòi những thái cực lố lăng bạo liệt của loài người, hay thử mình vẽ nên những khung cảnh thiên nhiên trác tuyệt, đau đầu phân tích những đường hướng vĩ mô của thời đại. Văn chương của Dazai chỉ nói về Dazai: những gì Dazai thấy, Dazai trải qua, Dazai cảm nhận. Trong hình ảnh cô bé nữ sinh u buồn cũng thấp thoáng bóng hình Dazai, những nỗi niềm chông chênh của nhà văn trên tàu điện hẳn là của chính Dazai. Văn Dazai hẹp hòi như vậy, bị Kawabata Yasunari chê “phảng phất cái mùi của một cuộc sống hạ đẳng do đó khiến tôi thấy tiếc cho tài năng tác giả không được phát huy một cách đúng đắn” (nói trắng ra là bần) cũng đáng.

Nhưng chính vì văn Dazai hẹp như thế nên không phải ai cũng cảm nhận và cảm thông được. Điều khác biệt của văn chương Dazai với nhật ký của một đứa học sinh cấp ba than thở về cuộc đời khốn nạn của mình chính là cách ông truyền tải những nỗi niềm ấy. Câu kết của Thất lạc cõi người, rằng “Yochan mà chúng ta từng biết cực kỳ ngoan hiền và nhạy cảm, ngay cả rượu cũng không biết uống nữa. Không mà dù cho có uống rượu đi nữa thì anh ta vẫn là một người tốt, một thiên thần” chính là cảm nhận của tôi về Yozo, về Thất lạc cõi người. Và khiến một con người suy đồi và yếu hèn như Yozo biến thành một thiên thần trong mắt người đọc đâu có dễ!

*

Văn chương Dazai như một liều thuốc – một liều thuốc độc với những người hiện đang trầm cảm như ông bấy giờ, nhưng là một liều thuốc giảm đau cho những người đã qua giai đoạn tồi tệ nhất. Vì gặp Dazai là bắt gặp những suy nghĩ đau thương của bản thân mình, là được ông dịu dàng kể ra những điều bản thân mình không thể nói, là được an ủi rằng thì ra không chỉ có mình từng “mất tư cách làm người”. Dazai là văn hào duy nhất mà tôi hận mình không gặp được quá sớm, mà cũng thật may là mình không gặp quá sớm.

Hết.

Mèo Heo

*

Về Dazai Osamu



*

Tác phẩm Thất lạc cõi người đã được Phương Nam Book tái bản lần thứ 6, với phiên bản bìa cứng đặc biệt. Bạn đọc có thể đặt sách với mức giá giảm 10% tại:

1 Comment

1 Bình luận

  1. Hà Lan

    Tháng Một 23, 2021 at 12:32 chiều

    “Dazai là văn hào duy nhất mà tôi hận mình không gặp được quá sớm, mà cũng thật may là mình không gặp quá sớm.”

    Rất hay, cảm ơn tác giả bài viết.

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Book trailer

Cuộc thập tự chinh thứ nhất: Giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây

Published

on

Jerusalem lâu nay vốn vẫn được xem như là trung tâm của thế giới, là nơi giao nhau của ba lục địa Á Âu Phi, là nơi hành hương quan trọng của ba tôn giáo lớn bao gồm Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo. Trong hơn 3000 năm lịch sử của mình, Jerusalem đã trải qua nhiều thảm kịch khác nhau: bị thiêu rụi, tấn công và trao qua tay các chính quyền đô hộ. Trong cuốn du ký Con đường hồi giáo, tác giả Nguyễn Phương Mai đã viết rằng: Đằng sau những đường phố lát đá lộng lẫy của thành Jerusalem là cuộc sống tín ngưỡng cực điểm, là sự căng thẳng đến tột cùng của xung khắc tôn giáo như một quả bóng đầy hơi có thể bục tung bất cứ lúc nào. Ở Jerusalem, mỗi hòn đá là một câu chuyện kinh thánh, mỗi người dân là một tín đồ sẵn lòng tử vì đạo, mỗi ngọn gió tràn qua cũng có mùi thánh thần, một lời nói bâng quơ cũng có thể trở thành điều tiên tri chờ ngày ứng nghiệm.

Và do đó, Jerusalem thăng trầm như số kiếp của một đời người bị những bên thay nhau giằng xé. Vào quãng thời gian năm 1095 tại xứ Clermont miền Nam nước Pháp, Giáo hoàng đương nhiệm Urban II - bằng lời hiệu triệu đầy kích động thông qua tội ác của người Thổ, người Hồi đối với những Kitô Hữu xứ phương Đông - đã kêu gọi tầng lớp quý tộc đảm đương cuộc viễn chinh vào trong đất Thánh. Bằng lời hiệu triệu đầy tính cách mạng nhân danh Chúa mà mọi tầng lớp trong xã hội phương Tây đã đứng lên đi theo tiếng gọi của cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Thế nhưng nguyên nhân gốc rễ hình thành nên cuộc chiến này, cũng như những gì đã thực sự diễn ra để định hình nên thế giới ngày nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Mối tương quan giữa phương Đông và phương Tây trong những tư liệu để lại từ lâu vẫn đặt ra những câu hỏi về sự xác thực, liệu ta nên tin về phía bên nào khi ai cũng đang che giấu một điều gì đó?

Và với Cuộc thập tự chinh thứ nhất - Tiếng gọi từ phương Đông của tác giả Peter Frankopan, ta đã phần nào hiểu được những điều cốt lõi nhất của cuộc chiến này. Với một sự kiện có phần quan trọng nhằm định hình nên thời Trung cổ, Frankopan đã đứng trung dung giữa hai góc nhìn phương Đông và phương Tây. Ông dựa trên những tư liệu để lại của cuốn Alexiad (do Anna Komnene - con gái của Hoàng đế xứ Byzantium viết) và những dữ liệu phương Tây từ những hiệp sỹ, tu sỹ - những người châu Âu tham gia cuộc thập tự chinh để lại. Điều thành công nhất của tác phẩm này là bởi những suy đoán dựa trên cơ sở của những phân tích vô cùng hợp lý, khi có sự kết hợp giữa các sử liệu khác nhau của Frankopan. Ông có quan điểm cởi mở và rất khách quan; không phô trương, bợ đỡ hay coi phương Tây là phe đúng đắn trong sự kiện này; từ đó chính tính khách quan làm nên được sự cuốn hút cho tác phẩm.

Như thể đầu tiên là những gốc rễ sâu xa bắt nguồn nên cuộc Thập tự chinh. Nếu các sử gia phương Tây vẫn luôn khắc họa hình ảnh một lòng kính Chúa và nhân danh Chúa của những người lính Kito đặc biệt sùng tín; thì Frankopan đã cho ta thấy một điều ngược lại. Thay vì tin vào những điều có sẵn từ lâu, nay ông chứng minh gốc rễ của cuộc Thánh chiến đã được bắt nguồn từ phía phương Đông, từ kinh đô Constantinople xứ Byzantine, từ Hoàng đế Alexios I chứ không phải từ phía Giáo hoàng hay những ca ngợi thiêng liêng khác. Ông cũng cho rằng động cơ một phần nằm ở Giáo hoàng Urban II khi vị này muốn giành lại thế ưu tiên từ phía giáo hội thành Rome, trong một nỗ lực nhằm thống nhất Kito giáo phương Đông và phương Tây. Trong khi những người tham gia cuộc Thánh chiến này với mục đích cứu chuộc tội lỗi và hy vọng nhận được “món quà tinh thần” nhiều hơn là lòng nhiệt thành được phận sự Chúa.

Những sự thật này có thể gây shock cho những luận điểm ta vốn quen nghe. Còn hơn thế nữa, Frankopan cũng giành công lý về lại cho Hoàng đế Alexios I trước những điều tiếng vốn vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Theo đó một chân dung Hoàng đế hiện lên xuyên suốt cuộc Thập tự chinh đầy tính toán nhưng cũng tuân thủ những lời hứa từ phía phe mình. Khi người Thổ lần lượt chiếm được những cứ điểm quan trọng như Nicea, Antioch hay thậm chí là thành Jerusalem, Hoàng đế Alexios đã phát đi lời kêu gọi giúp đỡ từ phía Giáo hoàng. Một mặt ông muốn đánh đuổi quân Thổ ra khỏi mảnh đất thiêng liêng, nhưng mặt khác ông lại e ngại chính sự phản trắc từ phía kinh thành đã từng xảy ra ở trong quá khứ. Đứng trước cuộc hành quân đầy gian khó này, công tác hậu cần được ông chuẩn bị một cách hoàn hảo. Nhưng khi đội quân phương Tây tiến vào, một nỗi lo khác bắt đầu xuất hiện, khi họ liệu có nối gót người Thổ chiếm lại chính những vùng đất ở vùng Tiểu Á họ vừa giải phóng? Chính sự chân trong chân ngoài này đã khắc họa chân dung một Hoàng đế đầy e ngại và có phần chần chừ, khiến không ít những nhà quý tộc như Bohemond xứ Taranto một mực cho rằng ông đã bội ước và đòi chiếm lại vùng Antioch.

Tác giả Peter Frankopan. Nguồn: The Guardian

Song song cùng những sự thật vừa được chứng minh, sự hùng vĩ của cuộc Thập tự chinh đầu tiên cũng được Frankopan khắc họa một cách hoàn hảo. Trước một quy mô hơn 70 nghìn người từ lúc bắt đầu đến khi đến được thành Thánh thì chỉ còn lại vỏn vẹn có 1/3, những cuộc chiến ác liệt xua đuổi quân Thổ ở Antioch, ở Jerusalem, những mưu chước của Hoàng đế Alexios hiện lên sinh động mà đầy hoành tráng. Ở đó chính trong cuộc chiến chống lại người Thổ hay dân du mục Pecheneg, ta thấy hiện lên một lý tưởng lớn với những mong muốn chống lại ly giáo, thấy được bản sắc vùng miền cũng như những tranh cãi thế tục và phân chia giữa hai giáo hội thành Rome và Constatinople. Với cuốn sách thứ hai tiếp theo Những con đường tơ lụa, Peter Frankopan bằng sự trung dung và tính khách quan đã khái quát nên Cuộc thập tự chinh đầu tiên đầy hoành tráng và được giải thích cặn kẽ dưới một góc nhìn Đông phương. Mới lạ, mạnh mẽ và đầy thuyết phục; đây là cuốn sách giúp ta hiểu thêm về thời Trung cổ, về tiêu chuẩn hóa cho các cuộc Thập tự chinh tiếp sau và hơn hết chính là hành trình giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây.

Hết.

Sa Nguyên

Đọc bài viết

Book trailer

Đặt ống nghe nơi trái tim của tự nhiên để lắng nghe ‘khúc hát của cây’

Hãy chạm chiếc ống nghe vào làn da phong cảnh, để nhận ra bên đưới ấy có gì chuyển động. Hãy lắng nghe để nhận ra những gì tồn tại. Hãy lắng nghe để nhận ra giọng nói và thành viên của gia đình mình.

Published

on

By

khuc hat cua cay david haskell

Tất cả chúng ta – cây cối, con người, côn trùng, chim chóc… là một mạng lưới sự sống. Không có chuyện “tự nhiên” tách rời và chia cắt khỏi con người.

Vì vậy, hãy chạm chiếc ống nghe vào làn da phong cảnh, để nhận ra bên đưới ấy có gì chuyển động.

Trong tác phẩm Khúc hát của cây của David Haskell, thiên nhiên được chọn là nhân vật trung tâm, tác giả đã để các loài cây cất lên tiếng nói của mình về trái đất, con người và cả mối quan hệ phụ thuộc của đôi bên. Mà ở đó, con người chỉ đóng vai trò lắng nghe, nghe thật chân thành, những bản nhạc du dương réo rắt và cả những rung động nhỏ nhẹ nhất trong không khí mang nhịp điệu về một cuộc đời.

Khúc hát của cây gồm 3 chương, mỗi chương là những âm thanh cây cối khác biệt:

  • Chương 1 gồm Ceibo, Linh sam nhựa thơm, Cọ Sabal, Tần bì xanh, Cây mitsumata. Đây là những loài cây hiện sống tách biệt với đời sống con người, song vẫn luôn lặng lẽ giữ sợi dây liên kết với chúng ta suốt chiều dài lịch sử.
  • Chương 2 gồm Cây phỉ, Hồng sam và thông ponderosa, Cây phong lá đỏ. Đây là những cây mà tàn tích của nó là tương lai của con người. Chẳng hạn như khi gỗ phong được dùng làm đàn vĩ cầm, nó được chuyển hóa sang cuộc đời thứ hai cũng lâu dài và phong phú như cuộc đời thứ nhất.
  • Chương 3 gồm Cây dương, Lê Callery, Ô liu, Thông trắng Nhật Bản. Đây là những cây sống trong đô thị, nơi mối quan hệ con người – công nghệ tưởng chừng nổi bật hơn hẳn so với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.
    Đúng là mối thâm giao giữa chúng ta và cây cối không trội nổi lên trên bề mặt đô thị, song chúng vẫn âm thầm quấn chặt những dây leo vào từng ngõ ngách của đời sống văn hóa, tinh thần chúng ta, bền bỉ và không thể cắt đứt.

Mỗi loài cây được trao cơ hội để giãi bày. David Haskell đặt ống nghe nơi trái tim của tự nhiên, đưa người đọc đến khắp các vùng đất trên thế giới để cùng thấu cảm những giãi bày đó. Đó có thể là tiếng rên chia cắt của cây ô liu ở vùng tranh chấp Trung Đông, là nhịp đập gỗ phong vang lên từ cây đàn vĩ cầm, hay lời kể của cọ Sabal về một câu chuyện cuộc đời không ngừng vận động để tồn tại.

Theo Haskell, cây xanh đại diện cho linh hồn của rừng, cho thấy cái quy luật nhân quả vể sự phát triển của các sinh vật trong vũ trụ. Tự thân cây xanh đã mang vẻ đẹp thuần túy nhờ vào cấu trúc bên trong, cơ chế vận hành và sự liên kết của nó với các sinh thể tự nhiên khác. Vẻ đẹp ấy còn ẩn chứa cả bề dày lịch sử và văn hóa, mang nặng ký ức của một thời đại, một bộ tộc hay đơn giản là lưu giữ truyền thống tốt đẹp của một gia đình.

Hãy lắng nghe để nhận ra những gì tồn tại.

Hãy lắng nghe để nhận ra giọng nói và thành viên của gia đình mình.

Xuyên suốt quyển sách, David Haskell khuyên người đọc lắng nghe tự nhiên. Vì chỉ có như thế, ta mới đủ rung động để nghe được những thanh âm đẹp đẽ khác của cuộc sống. Lắng nghe cây cối, những kết nối tuyệt diệu, giúp chúng ta hiểu làm thế nào sống trong các mối quan hệ mang lại nguồn gốc, bản chất và vẻ đẹp cuộc sống.

Mỗi loài cây được chú thích địa điểm, tọa độ cụ thể, tác giả xem thế giới tự nhiên như những thực thể sống.

“Tôi áp vành tai vào thân cây, tìm kiếm hào quang của miền sinh thái. Tôi không nghe thấy anh hùng nào, cá nhân nào làm nên tiêu điểm của lịch sử. Thay vào đó, từ trong tiếng hát, là bao ký ức sống động về cây cối, kể về cuộc sống cộng đồng, về mạng lưới những mối quan hệ.

Con người chúng ta thuộc về vòng hội thoại này, với tư cách cùng huyết thống và là thành viên bằng xương bằng thịt.”

David George Haskell là một nhà văn, cũng là một nhà quan sát tự nhiên sắc sảo. Quyển sách Khúc hát của cây thành hình từ đôi tai của một nhà thơ và con mắt của một nhà tự nhiên học. Quyển sách bao hàm nhiều kiến thức từ sinh học, lịch sử đến văn hóa… trong khi vẫn giữ được sợi dây văn chương và nhạc tính xuyên suốt.

Khoa học, trữ tình và đầy suy tư. Khúc hát của cây được xem là bản tình ca về cây xanh, là cuộc thám hiểm vể đời sống sinh học của chúng, đồng thời cũng là bản phân tích mang tính triết học tuyệt vời về vai trò của cây xanh trong lịch sử loài người và văn hóa hiện đại". - Science Friday, The Best Science Books of 2017

Nhận xét về sách:

"Đây là cuốn sách cho việc nuôi dưỡng tinh thần. Khúc hát của cây là lời biện luận mạnh mẽ chống lại cách thức mà con người làm đứt gãy chính những mối liên kết sinh học đem lại môi trường sống cho họ trên thế giới. Hãy lắng nghe như cách mà David Haskell đặt ống nghe nơi trái tim của tự nhiên - và khám phá những vần thơ lẫn âm nhạc tồn tại bên trong nó." - Peter Wohlleben, tác giả Đời sống bí ẩn của cây

"Khúc hát của cây lãng mạn và đầy tri thức, chứa đựng cả vẻ đẹp lẫn cảm giác mất mát." - Elizabeth Kolbert, người thắng giải Pulitzer, tác giả Đợt tuyệt chủng thứ 6

"Với đôi tai của một nhà thơ và con mắt của một nhà tự nhiên học, Haskell đã tìm lại bản thân chúng ta trong cuộc đấu tranh sáng tạo vĩ đại của cuộc sống và kêu gọi chúng ta tránh xa những con người vô cảm. Khúc hát của cây muốn nhắc nhở rằng chúng ta không cô độc và chưa bao giờ cô độc." - Neil Shea, nhà văn, National Geographic

Về tác giả:

David Haskell là nhà nghiên cứu khoa học, văn chương và tư tưởng về thế giới tự nhiên, ông là Giáo sư sinh vật học và môi trường tại Đại học miền Nam và Guggenheim. Cuốn sách đầu tiên của ông, tác phẩm The Forest Unseen (2012) đã lọt vào chung khảo giải Pulitzer (2013), đoạt giải thưởng Sách hay nhất của Viện Hàn lâm Quốc gia (2013), giải Văn chương viết về Môi trường Reed (2013), giải Sách ngoài trời Quốc gia (2012) đồng thời đoạt Á quân giải Văn chương Khoa học PEN E.O. Wilson (2013)...

Cùng với những nghiên cứu mang tính học thuật của mình, David Haskell cũng xuất bản các bài tiểu luận, xã luận và thơ ca.

“Khoa học và Nghệ thuật” của chúng ta là tự nhiên và hoang dại như chúng đã từng. Chúng ta không thể đứng ngoài lề bản nhạc cuộc sống. Âm nhạc này làm nên chúng ta; đó là bản chất của chúng ta”. – trích David Haskell

Đọc bài viết

Book trailer

Chuyến bay tháng ba – Sự hiểm nguy của ký ức

Ở 12 truyện ngắn có dung lượng vừa phải trong Chuyến bay tháng ba, có một điều dễ nhận thấy đó chính là mối bận tâm của tác giả hay cũng có thể nói là những ám ảnh với lịch sử, những nhân vật dù mang nhân dạng nào cũng như đang rì rầm kể lại từ bờ bên kia thực tại. – Huỳnh Trọng Khang

Published

on

By

chuyen bay thang ba le khai viet

Được ra mắt vào những ngày cuối tháng Tư vừa rồi, Chuyến bay tháng ba là một tuyển tập những lát cắt nhỏ hướng về con người và xoáy sâu vào môi trường sống nơi chủ thể ấy – trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai. Có thể thấy phần lớn những câu chuyện này được xây dựng dựa trên bối cảnh chiến tranh Việt Nam những ngày miền Nam chuẩn bị hoàn toàn giải phóng; nhưng song song đó cũng ẩn chứa những mẫu nhỏ được rút ra từ đời sống hiện đại, của những con người đầy âu lo, khoắc khoải với cuộc sống đương thời.

Trong tâm trí họ, đó là những ám ảnh, bất định, phân tranh của các miền ký ức. Ở đó, có ám ảnh chiến tranh, có thù hằn tiếm quyền, có tình yêu đổi thay, có ký ức bất tín… Đọc Lê Khải Việt ta hiểu con tàu thời gian từ quá khứ đến tương lai có thể vút nhanh đến mức độ nào, nhưng chủ thể và những giá trị họ mang theo đó dường như còn nguyên và mãi bất biến.

Với tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, Lê Khải Việt ít nhiều đã cho người đọc thấy được sự kiềm nén tự trong bản thân mình. Xuyên suốt tập truyện này có thể thấy rõ là đang viết về chiến tranh, nhưng trên hết những điều ấy, ta thấy chiến tranh chỉ là cái vỏ đang chứa đầy nước - thứ nước tinh khiết trong vắt của sự hồn nhiên, ngây thơ nay đã loang màu, nhúng chàm bởi những động chạm của con người, rất con người.

Có thể nói đây là chuỗi những văn bản sắp xếp cạnh nhau, chồng chéo lên nhau bởi lẽ Lê Khải Việt không hề giấu giếm những sợi dây kết nối các câu chuyện của mình. So với các tuyển truyện khác có điểm chung trong phong cách viết hay mặt nội dung, thì ở đây anh đã xây dựng được sự linh hoạt trong cách truyền tải: khi rõ ràng, chi tiết, rành mạch và nhiều ám ảnh của chuyện thật, người thật; khi thì cả một không gian nhuốm màu Kafka hiện lên với hóa thân, chuyển dời, siêu thực.



Các mẫu chuyện của anh dễ thấy không đầu không cuối, không rõ nguyên do, không một căn cước xác định nhân dạng; và dĩ nhiên, vì lẽ đó, nó tuồng như những lát cắt ngẫu nhiên vào trong thời đại tưởng còn đỏ hỏn nay ngã màu đời sống đô thị. Những thành tố này thường có cái kết không được chú trọng: khi thì lơ lửng như một suy tư chực chờ ghép nối, nhưng cũng có khi đột ngột bẻ ngoặt như cú xuống hàng cuối cùng của một trang sách gần chót.

Đó có thể là chiến tranh với những ám ảnh quá khứ mù sương về ánh mắt bình thản như của một tay chơi bạc có thần kinh thép của đứa trẻ nọ hay hình ảnh cô gái trôi ngửa trên vùng sông nước với bộ đồ trắng… Các nhân vật của anh như mắc một di chứng chiến tranh, họ kẹt mãi trong vùng ký ức để rồi lần mò tìm về những kho lưu trữ, những viện bảo tàng hay những trang sách vàng úa hàng cây. Lịch sử sắp sang trang, nhưng nhà thờ hay bảo tàng vẫn đứng vững; nhưng trên trang giấy ấy, đôi khi cũng chỉ tồn tại điều giả dối nhất mà con người có thể nghĩ ra.

Lê Khải Việt không tin và chẳng bám víu vào điều gì cả. Anh cho người đọc cảm giác của sự bất định và việc chuyển dời. Dù không thoát khỏi sự quyến rũ của “trò con trẻ” - ham muốn quyền lực, chém giết lẫn nhau; nhưng sâu thẳm một mặt nào đó, “người em bé” với thứ văn chương tựa như oxy nuôi dưỡng cơ thể là thứ anh hằng khao khát. Cũng tương tự thế, anh nghi ngại vai trò xác tín của ký ức - của dối trá được in trên giấy, nhưng rõ ràng rằng mỗi thời đều có một “trang sử” riêng mà ta không thể chối bỏ

Vượt thoát ra khỏi chiến tranh, Chuyến bay tháng ba còn là một cõi nhân tình thế thái với hệ giá trị đạo đức vô phương đoán định. Đó có thể là trò chơi quyền lực của San và Rô trong Đấu tranh hay cũng có thể là những ám ảnh sâu sắc trong Căn phòng, nơi chỗ trũng là điểm tụ phối cảnh mà dễ gợi nhớ tới George Saunders. Ngoài ra, đó còn là những dằn vặt, tự vấn về sự mông lung trong nền tảng đạo đức của một con người, rằng khi không thể tự quyết định được ý nghĩa cuộc sống, thì có còn là người hay không, hay đơn giản ngay bản thân họ cũng chỉ là những ảo tượng của những thứ không hề tồn tại?

Đi sâu vào trong ký ức để đón nhận sự bạo tàn và cái chối từ của một lòng sông cạn cô độc trong một cõi lòng đã bê tông hóa; Lê Khải Việt với cách viết lý trí, mới lạ và nhiều thể nghiệm đã đưa người đọc vượt thoát từ những ngày tháng Tư xa xôi để đến với thời đại Trump, với biến đổi khí hậu và đô thị hóa của những ngày hiện tại. Ở đó, những con số, dặm đường, mạng sống liệu có quan trọng không khi nó chỉ là những khoảng đục lỗ bởi kết thúc vẫn bị bỏ dở, đứt quãng và nhiều ngáng trở? Với cuốn sách đầu tay dự báo một cây viết độc đáo, Lê Khải Việt đã phác họa sự hiểm nguy của ký ức, cái bạo tàn của quyền lực và hơn hết là có hay không sự hiện hữu của tính người? Lạnh lùng và đầy sắc sảo.

--
“Tôi viết những truyện ngắn trong cuốn sách này hoàn toàn dựa vào cảm hứng muốn kể lại cái gì đó, bằng cách nào đó, về một cuộc chiến và một thực tại mà tôi hình dung được."
Lê Khải Việt
--

Hết.

bí.

Đọc bài viết

Cafe sáng