Phía sau trang sách

Cuộc chiến không dây – Cuộc chiến vô hình

Published

on

Cuộc bầu cử năm 2020 cho thấy sự chia rẽ dường như không thể hàn gắn của một nước Mỹ xáo trộn. Thế nhưng lẩn trong những trận đối đầu trên sóng truyền hình, người ta thấy rằng cả Trump và Biden đều muốn ghi điểm ở một mặt trận, và một trong số đó là thái độ của Mỹ với Trung Quốc. Nói rộng ra hơn, chưa khi nào lưỡng viện thống nhất một cách triệt để hơn thế, khi Trump dự định sẽ tiếp tục “kìm nén” Trung Quốc; còn Biden khi đó hứa sẽ “kềm giữ” sự trỗi dậy của một siêu cường đang lên.

Sự bành trướng của đất nước tỷ dân này không chỉ xuất hiện ở biển Đông với thứ “vật chất tối” không có thật là đường lưỡi bò, mà một cách vô hình, nó cũng trườn khắp toàn cầu trong bộ áo choàng phù thủy mong manh mà ta không thể thấy bằng mắt thường. Trong cuốn 2030 – Những xu hướng lớn sẽ định hình thế giới tương lai, nhà quan sát Mauro F. Guillén cũng cảnh báo thập kỉ sắp tới đây là sự vươn mình của Trung Quốc, cũng như mạng 6G – một khái niệm dường như vẫn còn trong phòng thí nghiệm, nhưng là có thật. Trở về thời điểm hiện tại, Trung Quốc dường như cũng đang “vi hành” trên khắp thế giới thông qua một cuộc chiến – cuộc chiến không dây.

Một lịch sử hùng mạnh

Năm 1980, khi Colin Golder – người sau này sẽ hỗ trợ triển khai mạng truyền thông số cho Trung Quốc đặt chân đến đất nước sau cuộc cách mạng nhân dân 30 năm mà Mao tạo ra, mức sống nơi này thậm chí còn thấp hơn cả Sudan và mọi thứ dường như đều được làm bằng tay. Đó là khi Mao vừa qua đời, Đặng Tiểu Bình lên nắm chính quyền và mọi thứ chỉ mới sơ khởi. Nhà ga hoành tráng nhất lúc đó có thể nói không lớn hơn một quầy bar giản dị ở phương Tây, trong khi người dân thì ủ ê trong những bộ Mao phục rộng thùng thình, được phân phát với số lượng ba bộ một năm.

Thế nhưng không ai tin rằng chỉ vài thập niên sau đó, Trung Quốc đã đứng một phía riêng với Thế giới, đối đầu, kình chống, và… còn gì nữa?

Tác giả Jonathan Pelson – nhà quan sát, người làm việc cho Lucent cũng như Bristish Telecom đã khắc họa một cách chi tiết thứ gì làm nên sức mạnh cho siêu cường ấy. Bằng những bài học của Lão Tử, Mao, Đặng Tiểu Bình… ông đã xây dựng một lịch sử song song giữa hai bến bờ Đông – Tây, giữa thời Bostrom mới câu móc dây đồng để dùng điện thoại trong xe, cho đến khi AT&T phát minh các thiết bị không dây, chiếc Motorola đầu tiên và sự trỗi dậy của Huawei – tập đoàn viễn thông mà bất cứ ai nghe đến cũng phải hoảng sợ.

Jonathan Pelson đã làm rõ những sai lầm của phương Tây, từ đó tạo điều kiện cho vị thế lớn mạnh của Trung Quốc. Rõ ràng là khi phương Tây đang bận đàm phán, sáp nhập, chia rẽ, đút lót cho nhau bằng các sân golf và những vật chất đắt tiền; thì Huawei đã kịp lan rộng sang Ấn. Từ nơi cần những kỹ sư Harvard để dạy cho họ bài học về mạng viễn thông, giờ đây với kỹ thuật “học đảo ngược”: Trung Quốc vươn lên vị thế bá chủ. Như chính cách ví von mà Jonathan nói, “chúng tôi [phương Tây] đưa cho họ nguyên liệu để nấu món ăn kiểu Tây, nhưng không ngờ họ đã dùng luôn cùng bàn ăn với chúng tôi”.

Hẳn nhiên, Huawei xuất hiện và đối đầu không chỉ bởi sai lầm có phần tự tin của phương Tây, mà chính cá tính Trung Quốc cũng đóng một vai trò quan trọng. Trước tiên, họ quy định các doanh nghiệp nước ngoài không được tham gia đấu thầu quá 20% giá trị gói; cùng với tính hoài nghi và luôn luôn theo dõi, Trung Quốc biến chuyển từ một người không biết gì, chuyển sang “học đảo ngược” – từ sản phẩm mà phương Tây bán cho họ, họ tìm ra phương pháp và sáng tạo thành của riêng của mình. Huawei hay Trung Quốc luôn tồn tại ở đó như “cáo canh chuồng gà”, trong khi phương Tây còn đầy tự tin và ảo tưởng vào vị trí của mình.

Tại sao là Huawei?

Từ khoản đầu tư 5000 dollar vào năm 1987, đến nay nó đã trở thành công ty có trị giá hơn cả BMW, Boeing… với con số 120 triệu dollar. Huawei dường như là doanh nghiệp “bí ẩn” nhất trên thế giới, khi hầu như không ai chắc chắn và hiểu rõ được sơ đồ hoạt động của nó. Khi tờ New York Times lên bài về nghi vấn cơ cấu thực chất của nó, mọi thứ đã được tiết lộ dù cho Huawei nỗ lực chối từ. Nhậm Chính Phi – người đứng đầu Huawei chỉ chiếm 1% cổ phần, trong khi 99% còn lại đi vào một “ủy ban công đoàn” ảo, mà nói cách khác, là chảy về phía nhà nước.

Điều này lý giải vì sao lại tồn tại một kiểu đấu thầu “ngược ngạo” chưa từng có tiền lệ, thách thức bất cứ công ty viễn thông nào có thể giành chiến thắng. Theo đó trong các gói thầu nhằm tiến ra thế giới, Huawei giành lấy thị phần bằng cách chịu thua lỗ bằng các chi phí cận biên (thường được hiểu như là phá giá). Công ty giảm biên lợi nhuận đến mức thấp nhất, đập tan chi phí nghiên cứu cũng như phát triển của các bên khác, phá hủy sự cạnh tranh và độc nhất một mình một cõi. Điều đó dễ dàng giải thích cho việc đốt cháy 75 tỉ dollar nhanh chóng, khi không một ai phản đối vì thật sự không có cổ đông nào tồn tại, ngoài nhà nước Trung Quốc.

Hẳn nhiên phương Tây cũng không để yên cho những việc này. Khi chính quyền các nước hạn chế việc sử dụng sản phẩm viễn thông của Trung Quốc ở các nơi đắc địa, bộ sậu của Nhậm Chính Phi liền thông minh đẩy chúng sang những vùng hẻo lánh nông thôn. Nhưng đằng sau đó, những vùng này cũng chính là nơi đặt các cơ quan quan trọng, như các cơ sở quân sự, quốc phòng. Chính quyền Trung Quốc cũng khôn ngoan hơn khi thêm vào các gói thầu những chính sách cộng thêm, như hỗ trợ các khoản vay, các công trình hạ tầng cầu cảng, cao tốc, nước sạch… Và dễ thấy chính các nước nghèo ở châu Phi là đối tượng “màu mỡ” cho ván bài này, và bộ mặt không lâu sau đó đã được vạch trần.

Khi Liên minh châu Phi AU công bố các sự cố về lỗ hổng hệ thống, mạng lưới các micro nghe lén khắp nơi trong hệ thống viễn thông mà Huawei đầu tư và tiến hành lắp đặt, đó cũng là khi công ty viễn thông lớn nhất và thành công nhất của Canada, Nortel biết rằng thông tin của họ đang đi về một máy chủ ở Trung Quốc, và tòa nhà này liền sau đó trở thành trụ sở của một cơ quan Quốc phòng. Bây giờ cuộc chiến thương mại tồn tại ở hai mặt, nó vừa đem lợi về cho Trung Quốc (hiển nhiên trong phần lớn trường hợp), nhưng cũng đồng thời phụ giúp chính quyền độc tài châu Phi giữ vững quyền lợi của mình. Đó là khi Uganda kiểm soát biểu tình qua nền tảng Skype và Whatsapp, đó là khi Ethiopia phải nín nhịn lắp đặt gói thầu vì khoản vỡ nợ… và giờ đây chủ nghĩa đế quốc công nghệ cao đã được thiết lập.

Không dừng ở đó, Huawei còn bổ sung cho mình một đường lối thu hút nhân tài, những người từ phương Tây mà khi bong bóng dotcom vỡ tan, nhiều người khăn gói sang miền đất hứa để rồi sớm sẽ nhận ra việc họ cần làm là bán thông tin đã biết trước. Từ những nhân viên từng làm ở thung lũng Silicon cho đến các nguyên thủ quốc gia, những người đại diện cho lưỡng viện có mối quan hệ và ảnh hưởng nhất định; Huawei thu hút của cựu thủ tướng Anh David Cameron và điều đó làm cho bong bóng bao trùm của thương hiệu này ngày càng bao trùm và lớn mạnh.

Kềm giữ sức mạnh

Thế liệu phương Tây kiểm soát những vấn đề này bằng cách nào? Dể thấy những gì Trump làm đối với Trung Quốc trong nhiệm kì của mình là sự cứng rắn cần thiết cho những gì mà chiếc áo tàng hình đang cố gắng làm. Chính quyền Mỹ có thể không cản được Huawei sản xuất chip, nhưng còn hơn thế, họ đã nghiêm cấm các nhà máy fab – nơi cung cấp thiết bị làm chip cho Huawei, và Mỹ là nơi duy nhất sở hữu các nhà máy này. Canada dẫn độ “công chúa Huawei”, bà Mạnh Vãn Chu do vi phạm chính sách trừng phạt đối với Iraq.

Ở châu Âu, Thụy Điển cấm các công ty viễn thông Trung Quốc tham gia đấu thầu, trong khi Phần Lan giảm thiểu doanh số bán ra của Huawei. Pháp từ chối thiết bị của Huawei, cũng tương tự với Úc, Nhật và New Zealand. Tuy nhiên sự đồng lòng này cũng vấp phải không ít chỉ trích từ phía Trung Quốc, và các nhà lãnh đạo cũng đang hết sức cẩn trọng với bất kì quyết định nào của mình. Cựu thủ tướng Đức Angela Merkel đã tạo nên một cuộc tranh luận vì sự chậm trễ trong việc giới hạn Huawei ở đất nước này, nhưng cũng khó trách bà, khi thị trường tỷ dân đã đe dọa cắt giảm và giải trừ dần dần thương hiệu xe hơi của Đức Volkswagen, và rõ ràng là một thị trường quan trọng của đất nước này.

*

Giờ đây với những chính sách kềm giữ của phương Tây, tương lai của Huawei có thể nói là khá… bất định. Tuy bị bắt chẹt ở lục địa già, thế nhưng dường như ở phần lớn châu Á và châu Phi, đây vẫn là một thị trường tiềm năng của dịch vụ cung cấp mạng viễn thông. Huawei hay Trung Quốc rõ ràng cho thấy tham vọng của mình, mà quan trọng hơn, đã được chuẩn bị sâu xa từ trước chứ không hẳn chỉ trong ngày hiện tại. Cũng như sự kiên định trong các kế hoạch nhảy vọt 5 năm, 10 năm mà ta hay nghe; Cuộc chiến không dây vẫn còn ở đó dưới nhiều hình hài, mà quan ngại hơn là khi khó để phát hiện trong một thời đại số và công nghệ phát triển từng ngày. Một cuốn sách hay, nhiều thông tin và đầy cảnh báo.

Tác giả, nhà quan sát Jonathan Pelson

Hết.

minh.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Lịch sử ra đời Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records) ít người biết

Published

on

By

Nguồn gốc của cuốn sách Kỷ lục thế giới Guinness (Guinness Word Records) được lấy cảm hứng từ ông Hugh Beaver trong một cuộc đi săn ở County Wexford, Ireland năm 1951.

Vào thời điểm ấy, ông Hugh Beaver đang là giám đốc Nhà máy bia Guinness. Sau khi bắn hụt một con chim choi choi vàng (Pluvialis squatarola), Beaver và các thành viên trong nhóm săn của mình đã tranh luận liệu sinh vật này có phải là loài chim nhanh nhất Châu Âu hay không. Thậm chí, họ đã tra cứu rất nhiều loại Bách khoa toàn thư nhưng họ chẳng thể tìm ra một cuốn sách có chứa câu trả lời.

Sau cuộc tranh luận, Hugh Beaver Nghĩ nhận ra những khách quen của các quán rượu tại Anh sẽ cần một phương án để giải quyết kiểu bất đồng này. Nếu có thể xuất bản một cuốn sách phân định được những cuộc tranh luận như thế thì nhất định cuốn sách sẽ được chào đón.

Chân dung ông Hugh Beaver, cha đẻ của cuốn Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records)

Qua sự giới thiệu của vận động viên từng lập kỷ lục thế giới Chris Chataway người đang làm việc ở Nhà máy bia Park Royal tại London (thuộc Công ty Guinness), ông Hugo Beaver đã mời hai anh em Ross và Norris McWhirter cộng tác để biến ý tưởng đó thành hiện thực. Họ bắt tay vào biên tập một cuốn gồm 198 trang và đặt tên là The Guinness book of records.

Hai anh em Ross và Norris McWhirter

Vào ngày 27/8/1955 ấn bản đầu tiên của sách Kỷ lục Guinness đã được xuất bản tại Vương quốc Anh. Họ dự định tặng miễn phí cuốn sách tại các quán rượu nhằm quảng bá thương hiệu cho Guinness. Đúng như suy nghĩ của Hugh Beaver, cuốn sách ngay lần xuất bản đầu tiên đã lọt vào danh sách ấn phẩm bán chạy nhất nước Anh lúc đó, bán được bán được 50.000 bản trong 3 tháng đầu tiên.

Vào giữa những năm 1970 bắt đầu có một phong trào danh tiếng như “Làm thế nào để được ghi danh vào Sách kỷ lục Guinness”. Nắm bắt trào lưu đó, năm 1975, Norrison Macverter đã đưa thêm chương “Những kỷ lục của con người”. Chính vì thế mà từ đó đến nay có nhiều người không những mong muốn mình không chỉ là độc giả, mà còn khao khát được là nhân vật của cuốn sách best seller này.

Đến nay, Sách Kỷ Lục Guinness đã có mặt ở 100 quốc gia trên thế giới và được dịch sang 23 ngôn ngữ, trở thành một trong những loạt sách có bản quyền bán chạy nhất thế giới. Trong nhiều năm, cuốn sách đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người, khiến người đọc không ít lần ngạc nhiên, thích thú với kiến thức rộng lớn về thế giới xung quanh.

Mặc dù đã lâu trong các quán rượu nước Anh, những cuộc thi tài trên Sách kỷ lục Guinness cũng không còn là mốt nữa, nhưng cuốn sách cho đến bây giờ vẫn là một trong số những loại sách tra cứu được phổ biến nhất trên khắp thế giới. 

Guinness World Records 2023 được Nhà Sách Phương Nam làm đại diện ở Việt Nam phát hành cùng lúc với thế giới vào ngày 15.9.2022. 

Nhân dịp mới phát hành, Nhà Sách Phương Nam đang có ưu đãi đặc biệt cho những bạn đọc đầu tiên:

Sách hiện đang có mặt trên website: www.nhasachphuongnam.com và hệ thống nhà sách Phương Nam toàn quốc.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Thánh đường của những lầm lỗi

Published

on

By

“Một lỗi lầm nếu như được lặp đi lặp lại nhiều lần, đó không phải là lỗi lầm nữa. Đó là sự lựa chọn.”
(Relationship Rules)

Từ lúc vô tình đọc được câu nói này trên Facebook của trang Relationship Rules, thỉnh thoảng tôi lại nghe chính tiếng nói của mình lặp lại những từ ngữ đó trong đầu. Có lẽ vì tôi thường gặp phải những vấn đề về cái gọi là sự lựa chọn, lỗi lầm và thói quen. Dù như thế, tôi vẫn không lường trước được, hay không tin mình đang ở trong những nỗi buồn do thói quen tạo ra. Cho đến khi tôi đọc Thánh đường của Raymond Carver vào năm vừa rồi, tôi mới chợt nhận ra thói quen có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng như thế nào đến những tổn thương tâm lí mà mỗi người chúng ta phải gánh chịu trong cuộc sống hằng ngày.

Điều khiến tôi ngưỡng mộ Raymond Carver nhất khi đọc Thánh đường nằm ở việc ông không tập trung vào hành động tức thời của nhân vật trước những sự cố để thúc đẩy tiến trình câu chuyện, thứ ông tập trung là hành vi của họ-những hành vi bắt nguồn từ việc lặp đi lặp lại một hành động nào đó và hành động đó trở thành thói quen. Để một câu chuyện hài hòa, hấp dẫn, thông thường hành động và hành vi phải xen kẽ nhau đều đặn. Hành động là thứ thúc đẩy câu chuyện; trong khi đó, hành vi là thứ tạo nên nét tính cách đặc trưng của nhân vật. Trước đây, tôi cứ nghĩ hành vi chỉ có một vai trò là khắc họa chân dung nhân vật qua những thói quen: điển hình là trong truyện của Murakami Haruki, ông xây dựng cho nhận vật nhiều hành vi đặc trưng như thích nghe nhạc jazz, thích nấu ăn, thích mì spaghetti… Có thể thấy, trong tác phẩm của Haruki, những hành vi ấy không hề là thứ thúc đẩy câu chuyện. Tôi đã khó mà tưởng tượng hành vi có thể làm một nhiệm vụ nào đó khác ngoài việc khắc họa nhân vật. Và Raymond Carver đã khiến tôi phải thay đổi suy nghĩ vì đa phần những truyện trong Thánh đường đều được xây dựng bởi hành vi của nhân vật hơn là hành động.

Trong Thánh đường, đa phần những truyện của Carver được mở đầu rất đơn giản, ông đi trực tiếp vào cảnh sinh hoạt thường ngày hay một vấn đề khó khăn chính mà nhân vật đang phải đối đầu. Ông ít khi nào viết những đoạn mở đầu mang tính chất dẫn nhập từ từ để người đọc có thời gian đi vào thế giới của nhân vật. Ngay khi đọc những dòng đầu tiên một truyện ngắn của ông, lát cắt về mảnh đời nào đó của nhân vật ngay lập tức đập vào người đọc. Ta không kịp có thời gian để chuẩn bị, ta chỉ có thể tiếp tục đọc để dần dần hiểu ra những vấn đề mà nhân vật đang đối đầu; điều này cũng giống như việc không phải lúc nào chúng ta cũng có thể phòng bị được trước những bất ngờ trong cuộc sống.

Sau màn dạo đầu trực tiếp, đột ngột ấy, chúng ta dần nhận ra những nhân vật của Carver đều đang sống trong những chiếc lồng của các hành vi lặp đi lặp lại. Ban đầu, tất cả dường như chỉ là một hành động bình thường như việc chồng của Sandy từ sau khi mất việc luôn ngồi trước ghế sofa xem tivi (Bảo quản), việc Carlyle bất đồng với ý kiến của vợ qua điện thoại (Cơn sốt), việc Lloyd nằm nghiêng một bên khi ngủ (Cẩn thận)… Carver không thay đổi những hành vi đó của nhân vật trong suốt câu chuyện. Nhưng ông thay đổi tình huống diễn ra hành vi, ông tạo ra các xung đột khiến người ta nghĩ nhân vật phải thay đổi hành vi. Tuy nhiên, cuối cùng các nhân vật của ông thường chỉ thay đổi suy nghĩ về hành vi của mình mà vẫn chưa thay đổi được chính bản thân hành vi ấy. Điều đó khiến cho các nhân vật xa rời nhau, khiến cho thế giới của họ vỡ vụn và khiến cho chính chúng ta đau lòng bởi một khi lỗi lầm đã thành thói quen, mấy ai có thể thay đổi được thói quen của mình? Và phải chăng, chính những lỗi lầm ấy cũng là sự lựa chọn của chúng ta?

Kodaki

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi việc đọc gần với ái ân

Published

on

By

Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu tự nhận mình là người mê say văn chương của Italo Calvino (nhà văn Ý, 1923-1985). Ông có thể dành hàng giờ để chia sẻ cảm nhận qua việc đọc từng tác phẩm của nhà văn này. Dưới đây là những nhận định của ông về tiểu thuyết Nếu một đêm đông có người lữ khách của Italo Calvino (Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học).

Salman Rushdie nói về Italo Calvino: “Nếu như tôi cần một tác giả bên cạnh mình khi mà Ý nổ tung, Anh bốc cháy và thế giới này đã tận thì không tác giả nào tuyệt hơn Italo Calvino.” Có thể nói rằng tôi gần như đồng ý với ông. Vì Italo Calvino đem lại cho tôi biết bao niềm vui từ Nếu một đêm đông có người lữ khách, Palomar, Nam tước trên cây đến Những thành phố vô hình, Tiếu ngạo càn khôn… Cái đáng nói ở Italo Calvino là ông luôn luôn tìm tòi, thể nghiệm cách viết. Mỗi tác phẩm của ông có thể nói là một khám phá. Từ tân hiện thực, truyện cổ, truyện ngụ ngôn, truyện kì ảo, truyện viễn tưởng khoa học, truyện viết theo cỗ bài Tarot, siêu tiểu thuyết…

Đặc biệt ở Nếu một đêm đông có người lữ khách, ta có thể thấy rõ sự đa dạng đó. Những chương có tiêu đề trong tiểu thuyết này được xem như là 10 tiểu thuyết dang dở dang hay 10 chương mở đầu của 10 cuốn tiểu thuyết khác nhau mà mỗi tiểu thuyết xảy ra ở những thời điểm, không gian khác nhau. Từ truyện trinh thám kiểu phương Tây mang màu sắc gián điệp, đến chuyện tình erotic kiểu Nhật… Thể loại nào ông cũng viết ra được cái chất của nó. Ông làm ta nhớ đến Picasso trong hội họa. Ông là người khổng lồ của văn học thế kỉ XX.

Tôi thích tác phẩm này ở mặt cấu trúc. Trước tiên, nó là một siêu tiểu thuyết. Đây là loại tiểu thuyết có khuynh hướng hậu hiện đại, là tiểu thuyết viết về tiểu thuyết. Có nghĩa là, tiểu thuyết về việc đọc và viết tiểu thuyết. Đọc và viết ở đây trở thành chủ đề. Cho nên, ta không đọc một tiểu thuyết bình thường có cấu trúc theo kiểu mở đầu, phát triển, đỉnh điểm, tháo gỡ và kết thúc. Do đó, câu chuyện dường như giẫm chân tại chỗ. Tác giả đưa người đọc trở thành nhân vật trung tâm và có thể nói người viết cũng trở thành nhân vật trung tâm với tên họ thật: Italo Calvino. Nhưng “khái niệm trung tâm” ở đây cũng chẳng phải là trung tâm, mà nó gần như là giải trung tâm.

Như vậy, văn chương ở đây là một cái gì đó tự qui chiếu. Cho nên, cũng có thể gọi tác phẩm này là tiểu thuyết tự qui chiếu. Tức là văn chương tự hướng về chính nó, tiểu thuyết thay vì hướng ra ngoài lại quay vào trong, như một vòng tròn trong lễ hội nguyên thủy.

Cái mà tôi tâm đắc ở Italo Calvino cũng như ở triết gia tân thực dụng Richard Rorty đó là ngôn ngữ tiểu thuyết như những hiện hữu sống động nhất. Do đó, nó là một tiếng nói không hề thứ yếu bên cạnh triết học. Thậm chí, dường như tiểu thuyết có nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn, bao dung hơn cũng giống như “vầng trăng truyện” trong Haroun và Biển truyện của Salman Rushdie thì truyện – nó không đưa ra một chân lí tối hậu nào, nó mãi mãi là dang dở, là câu hỏi và nó dạy cho chúng ta biết hỏi, biết rằng không có gì bất biến.

Chỉ có tiểu thuyết mới gợi cho ta sống với niềm vui, một niềm hoan lạc tràn trề và việc đọc gần với ái ân hơn cả.

Theo một cuộc trò chuyện với nhà văn Nhật Chiêu
Kodaki ghi

Đọc bài viết

Cafe sáng