Trà chiều

Nỗi hổ thẹn trong văn học

Marina Endicott về lịch sử giáo dục cưỡng chế với những người Canada bản địa

Published

on

THE FUNCTION OF SHAME IN LITERATURE
Marina Endicott

Tại sao chúng ta nhớ mãi về một câu chuyện, hay một ký ức? Chúng ta thường ghi nhớ một cách tự nhiên những khung cảnh và hình ảnh ấn tượng bày ra ngay trước mắt, ghi dấu trên tảng băng nổi của ký ức. Tuy nhiên, một số khác lại ấn giấu sâu hơn trong những lớp nghĩa và sau đó, chúng mới từ từ trồi lên, như một miếng bạc cổ lấp lánh đang tự tìm cách bước ra ánh sáng. 

Đó là cái cách mà giáo viên piano thời thơ ấu của tôi kể câu chuyện của cô ấy. Những câu chuyện về tuổi thơ của mình, được chu du vòng quanh thế giới trên chiếc thuyền buồm của gia đình. Cảm giác hân hoan khi được nghe kể chuyện đến với tôi mỗi khi tôi được thưởng vì đã chơi tốt hay được dỗ dành sau mỗi lần cô giáo tức giận. Lúc tôi lười tập luyện (một việc xảy ra rất thường xuyên), việc đòi nghe kể chuyện về chiếc sừng kỳ lân biển đặt trên cây piano, hay về cây quạt Trăm Mặt1 nổi tiếng mà cha mẹ cô giáo được tặng trong chuyến hành trình trăng mật tới Trung Quốc là một cách hiệu quả để kéo dài thời gian tới lúc kết thúc buổi học.

Chân dung những con tàu được treo trên tường: con thuyền Belmont – Ánh rạng đông. Nhà của cô giáo giống như ngôi đền tôn thờ kỷ nguyên của những cánh buồm, được đong đầy những món đồ quý hiếm, những món đồ gốm sứ hay những vỏ sò vô giá, được mua hoặc thu thập trong suốt quãng thời gian phiêu lưu trên biển. Câu chuyện về đại dương của cô giáo tôi diễn ra chậm rãi theo từng nhịp tích tắc của thời gian trong căn phòng khách tối tăm, yên tĩnh.

Thế nhưng, cô giáo không kể với tôi chuyện mẹ cô đã mua một cậu bé tại vùng biển phía nam với giá 4 pao thuốc lá2. Tôi không biết về câu chuyện trên cho tới những năm 1990, khi mà (trong lúc đang mất tập trung vào công việc) tôi tra google tên cô giáo và trên màn hình máy tính hiện lên biểu tượng cái loa, vang lên ngắt quãng giọng nói quen thuộc của cô Ladd (tên của cô giáo) – một đoạn băng phỏng vấn trước khi cô mất tại Yarmouth, Nova Scotia.

Không biết bao nhiêu buổi chiều thứ ba tôi cùng cô luyện tập. Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy, người ta thường nói vậy; tuy nhiên với tôi, cô là một trong những giáo viên tuyệt vời nhất và giọng nói ấy của cô sao mà yêu thương, sao mà thân thuộc vậy.

Cho đến tôi được biết về câu chuyện của cô ấy, về chuyến hành trình trăng mật của cha mẹ cô:

“Trên hành trình cập cảng Trung Quốc… họ đã đi tới hòn đảo này và một chiếc xuồng tiến tới gần chiếc thuyền buồm. Những người trên xuồng là dân bản xứ với vẻ ngoài đáng thương và cha cho phép hai người trong số họ lên thuyền. Những thủy thủ đã thủ sẵn gậy gộc. Họ lên tàu, đi cùng họ có một cậu bé. Mẹ đã quá phấn khích và muốn cậu bé đó, bà nghĩ rằng sẽ có thêm nhiều điều thú vị cho chuyến đi. Và cha mẹ tôi đã mua cậu bé đó với 4 pao thuốc lá. Cậu bé không hiểu gì cả. Khi cậu thấy chiếc cầu thang, cậu ngồi cúi gằm đầu xuống và khoanh tay qua đầu gối. Và đương nhiên, cậu bé cũng không biết cách cư xử! Cậu cần được dạy dỗ.”

Mẹ của cô giáo dạy cho cậu bé đọc và viết tiếng Anh cùng một chút tiếng Latin; đầu bếp trên thuyền dạy cậu chữ tượng hình Trung Quốc. Cậu bé hẳn là một học sinh tiếp thu nhanh. Thật khó để nhớ chính xác cậu đã ở trên con tàu bao lâu – khoảng một năm; đoạn ghi âm chỉ nói rằng ở Thượng Hải, cậu bị cảm lạnh và bệnh tình trở nên nghiêm trọng hơn khi đi qua Horn. Khi họ tới New York, cậu bé đã nhiễm bệnh lao.

“Cậu bé ao ước có một quả dừa. Cha tôi cập cảng ở New York và tìm thấy một quả. Cậu bé chết vì bệnh lao, khi vẫn ôm chặt lấy quả dừa của cậu.”

Lắng nghe câu chuyện buồn này qua lời kể của cô Ladd thật sự là một cú sốc, hay là không: giọng đọc bình thản của cô dường như không cho rằng hành động của cha mẹ cô là sai trái, không có bi kịch nào ở đây – như thể cô chỉ kể câu chuyện về một con thú cưng mà họ từng nuôi.

Tài năng, quyết đoán nhưng mù quáng và ngạo mạn3, cô Ladd là sản phẩm của quá trình giáo dục và trưởng thành; mẹ cô ấy cũng thế, không có gì phải bàn cãi. Tôi cũng vậy. Câu chuyện đó khiến tôi cảm thấy xấu hổ, ẩn trong đó là mối tương đồng giữa tôi và những người đã bắt cóc cậu bé và để mặc cậu ấy chết.

Điều này thật sự quá quen thuộc. Nó khiến tôi cảm thấy hổ thẹn khi tôi sống với tư cách là một người Canada da trắng, hổ thẹn với những sai lầm mà lịch sử đã gây ra cho các em bé người bản địa.

*

Ở Canada, chúng tôi phải vật lộn nhiều năm để phơi bày và chấp nhận lịch sử của những trường học nội trú. Trong những hiệp ước ban đầu giữa người Canada bản địa và Hoàng gia (Chính phủ, hầu hết là người của Nữ hoàng Elizabeth), những lời lẽ được ghi ra thật ấm áp, pha trộn giữa niềm tin và tình yêu thương; các tù trưởng ký tên đã bị thuyết phục bởi niềm tin về sự quan tâm như từ mẫu của Nữ hoàng dành cho họ, bởi những hiểu biết và sự kính trọng mà các vị sĩ quan đàm phán dành cho Nữ hoàng. Thật khó để diễn tả chính xác nội dung hiệp ước, vì những chủ trương thể hiện qua ngôn ngữ yêu thương ấy bị xem thường bởi chính phủ Canada, cả khi đó tới tận bây giờ.

Một trong những thỏa thuận bị phá vỡ là trẻ em sẽ được hưởng sự giáo dục “bất cứ khi nào người da đỏ trong khu vực mong muốn được đi học”4 tại bất cứ trường học nào trong khu vực đó. Nhưng thay vì để họ được quyền lựa chọn, chính phủ Canada đã tập trung các em bé bản địa và giam giữ ép buộc tất cả trong những ngôi trường nội trú cách rất xa khu vực bộ lạc của bọn trẻ.

Đây là sự thực, theo ngài John A. Macdonald (nói trước Nghị viện năm 1883), việc phá vỡ nguồn gốc văn hóa và bản sắc của những đứa trẻ sẽ khiến chúng có những thói quen và phương thức suy nghĩ của người da trắng. Hệ thống trường học nội trú tại Canada đã tồn tại hơn 100 năm, và sự ảnh hưởng của nó đã tàn phá nhiều thế hệ.

Câu chuyện của cô Ladd ám ảnh tôi, như một vết sẹo bên dưới da. Tôi cố kiềm nén nó, rất thận trọng khi đối mặt với một câu chuyện nhiều đau buồn mà cũng quá nhiều sai trái. Và tôi không tin tưởng vào cái kết với “quả dừa” như thế.

Một vài năm sau, tôi tới New Zealand cùng với Tổ chức Thịnh vượng chung dành cho các nhà văn để phát biểu và làm hội thảo tại Tonga. Trong chuyến thăm, tôi đã gặp hàng trăm học sinh và làm quen với một vài em. Câu chuyện của cô Ladd một lần nữa hiện ra trong tâm trí tôi và lần này sẽ thật là hèn nhát nếu tiếp tục không nghĩ về nó.

Tháng trước, tôi có đọc câu chuyện về sáu cậu bé người Tonga bị bỏ mặc trên đảo ‘Ata trong 15 tháng vào năm 1965 – những đứa trẻ hoàn toàn không phải là “những Chúa ruồi trong đời thật”, như cái cách tờ báo The Guardian đã đặt tiêu đề. Những cậu bé Tonga này biết cách tồn tại ngay cả trong môi trường khắc nghiệt nhất, không có nước như đảo ‘Ata. Không giống Piggy và những người bạn, chúng hiện thực hóa định nghĩa về nền văn minh của Margaret Mead5 bằng cách cố định xương và băng bó thành công cho một cậu bạn bị gãy chân.

Sự sụp đổ của nền văn minh được xây dựng trong Chúa ruồi không hề xuất hiện trong cuộc sinh tồn của các cậu bé Tonga – điều này vốn là một giả định sai lầm. Bất cứ ai kể lại một câu truyện đều dựa trên những trải nghiệm của cá nhân, và đây là lý do quan trọng tại sao bạn không nên độc chiếm cái micro, không nên cố chiếm hữu mạch truyện: câu chuyện sẽ hay hơn nếu được tự kể bởi chủ nhân của chúng.

Thế mà, ôi thế mà, tôi lại bị thúc đẩy để kể về câu chuyện của Kay (chị gái của cậu bé người bản địa được mua với giá 4 pao thuốc bởi gia đình cô Ladd) và người em trai đã bị mua hay bị chiếm đoạt của cô, để kiểm chứng thông qua thực tế hoang đường về lý do một người phụ nữ tốt bụng (theo định nghĩa truyền thống) quyết định cướp đoạt cậu bé ấy khỏi gia đình, khỏi ngôi nhà của cậu; phải chăng những chuẩn mực đạo đức trong Kinh thánh hay niềm khát khao làm mẹ đột ngột thúc đẩy bà cướp đoạt một đứa trẻ với niềm tin mù quáng rằng bà đang thực hiện một hành động nhân từ. Với chủng tộc, giới tính, niềm tin và bổn phận làm mẹ của mình, có thể tôi sẽ làm một điều giống hệt nếu được sinh ra vào một thời điểm khác.

Tôi chọn nhìn vào đôi mắt của hai người phụ nữ, một già, một trẻ; một người phấn khích vì sự ngộ nhận đúng đắn trong hành động của mình, người còn lại bối rối vô định với những cảm giác về sự sai trái, tủi hổ. Tôi muốn phản bác lại những luận điểm của trường học nội trú – luận điểm vì tương lai tốt đẹp của lũ trẻ, vì những ý định tốt đẹp và nhân từ, và bởi giáo dục là cần thiết – để kiểm chứng những lý lẽ của người da trắng, những người tự nhận mình nhân từ và để bác bỏ chúng.

Đó là sai lầm nghiêm trọng, không thể tha thứ khi mang một đứa trẻ ra khỏi gia đình và đưa chúng tới những trường nội trú. Để tới được kết luận này, như tôi đã cố gắng, không thể có sự bao dung. Chỉ có sự bù đắp và hòa giải.

Sự hòa giải là như thế nào? Đối với Kay, hòa giải có nghĩa là đặt mọi thứ trở lại nơi chúng được tìm thấy. Thật cẩn thận sửa chữa lại những điều bị vi phạm. Cô ấy nghĩ vậy vì hai lý do: cô ấy hiểu được cô ấy cần phải hành động và cô ấy còn trẻ, còn ngây thơ. Có thể tôi cũng thế: nhưng tôi chắc chắn rằng chúng ta phải làm gì đó. Nó sẽ không bao giờ đủ nếu chúng ta chỉ ngồi im trong sự xấu hổ mà không hành động vì một điều tốt đẹp hơn.

Một hành động mà tôi cho rằng sẽ hữu ích là xem xét các sự kiện được cho là lịch sử. Một trong những giả định sai lầm của tôi, khi bắt đầu viết cuốn sách này, đó là cho rằng những ghi chép lịch sử này có cơ sở vững chắc. Đó quả là một cú sốc cần thiết để tôi nhận ra, dù muộn màng, rằng “ghi chép lịch sử” chẳng có gì hơn những ý kiến cá nhân của hai hoặc ba người, và chẳng có cơ sở nào cả.

Ngay cả khi chúng ta nhìn lại thời điểm khi mà cậu bé bị đem ra trao đổi với thuốc lá, chẳng có ai giải thích được làm sao người dân bản địa họ hiểu và diễn dịch giao dịch đó, làm sao họ có thể giải thích nó bởi rào cản ngôn ngữ và phong tục địa phương – và cả những khái niệm cơ bản về một cuộc trao đổi.

Ký ức là một nguyên liệu quan trọng cho những câu chuyện hư cấu, nhưng nó có thể bị thay đổi. Ký ức của tôi về phòng khách của cô Ladd, về hai cây đàn piano được bao quanh bởi những di vật vô giá và hào nhoáng, bởi sự im lặng và âm nhạc, đã bị ghi đè lên bởi vẻ đẹp nguyên thủy của vùng Thái Bình Dương và bởi những cậu bé Tonga mà tôi được gặp, được chào hỏi và được cười đùa cùng. Khi viết những tiểu thuyết lịch sử, nếu không được trải nghiệm thực tế, chúng ta có thể tạo ra ký ức không chỉ bằng những văn bản (nhật ký, ghi chú, thư từ, danh sách hay hải trình của thuyền) mà còn bằng cách lắp ráp những chi tiết nhỏ có ý nghĩa: những bức ảnh hay bức vẽ, bản thiết kế, quần áo, các mảnh vụn từ thân cây, tủ chén hay gác mái của các căn nhà cổ.

Ở một khía cạnh nào đó, câu chuyện của cô Ladd đã thật sự thuộc về tôi, vì tôi biết rõ những món hiện vật của cô ấy, nhờ bảy năm thời gian ngồi trong phòng khách của cô, hay nhìn chằm chằm vào chiếc sừng kỳ lân biển trong khi cô Ladd đang say mê với câu chuyện mà tôi đã cố gắng kéo dài hết mức có thể, để tránh phải học nhạc Barcarolle6, thể loại mà tôi chưa từng tập luyện bao giờ.

Cuốn sách của tác giả: Hành trình trên chiếc thuyền Ánh Rạng Đông

Hết.

Bún Cứng dịch

Bài viết gốc được thực hiện bởi Marina Endicott, đăng tại Literary Hub

Chú thích:

  1. Nguyên văn “Hundred Faces” – Nhăc tới nghệ thuật Biến diện/thay mặt nạ vốn rất nổi tiếng của Trung Quốc.
  2. Khoảng 2kg.
  3. Nguyên văn “superior” – Dịch giả hiểu là sự tự cho mình là bề trên, là đẳng cấp cao hơn bình thường.
  4. Nguyên văn “whenever the Indians of the reserve shall desire it” – trích trong quy tắc số 6 trong hiệp ước giữa người bản địa Canada, bao gồm người da đỏ Anh điêng, và Hoàng gia năm 1876; quy định về quyền được đi học của người dân bản xứ
  5. Margaret Mead (1901-1978) – nhà nhân chủng học nổi tiếng người Mỹ, nổi tiếng với nhiều nghiên cứu, nhiều học thuyết về nhân chủng học, văn hóa.
  6. Một phong cách nhạc dân ca hay được hát bởi những người chèo thuyền đáy bằng tại Venice, Ý.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Một đốm diêm tàn

Ngày tuyển U22 giành huy chương vàng SEA Games và phủ kín sóng truyền thông, có một chuyện quan trọng khác xảy ra – Công ty Diêm Thống Nhất chính thức thông báo dừng sản xuất.

Published

on

Thật khó diễn đạt cảm xúc của tôi trong buổi sáng ấy. Làn sóng ký ức ập tới, ồ ạt vỗ vào từng góc não, lớp sau xô lớp trước. Mùi diêm sinh ngắn ngủi và mong manh đã góp phần định hình tuổi thơ. Từ ngọn nến sinh nhật đến câu đố vui trên báo Thiếu Niên Tiền Phong, từ tủ hàng của mẹ đến nơi bố ngồi xem thời sự, từ lúc ngây ngô đến khi nổi loạn.

Biểu tượng con chim bồ câu ngậm bông hồng, sải cánh bay trên nền trời xanh đã ăn sâu vào tâm khảm tôi, tưởng chừng không thể tan biến. Chúng đáng lẽ phải luôn hiện hữu trong thực tế, dù tôi mỗi năm lại già đi và cuộc sống vốn luôn đổi thay.

Đợt sóng ký ức dừng lại ở tuổi 20, nơi bức ảnh này ra đời. Đó là một ngày Hà Nội mùa Đông tại cà phê Cộng. Hộp diêm Thống Nhất trên bàn, ba ly nước, hai chiếc gạt tàn.

Và tôi sực nhớ ra nhiều điều khác, những mảnh rời rạc được chắp vá, tạo thành bức tranh quá vãng hoàn chỉnh. 20 tuổi, tôi từng coi Anything but Ordinary của Avril Lavigne là ca khúc phản thân.

“Sometimes I get so weird
I even freak myself out
I laugh myself to sleep
It’s my lullaby

Sometimes I drive so fast
Just to feel the danger
I want to scream
It makes me feel alive…”

Bị khùng bị điên là đặc quyền của tuổi 20 phải không? Chặng đường nào đã dẫn tôi rời khỏi Anything but Ordinary, những cuộc trò chuyện bất tận về truyện của Haruki Murakami, tình yêu và tình bạn trong năm tháng ấy?

https://www.youtube.com/watch?v=0pdOTyk5azQ

Gần đây, tôi có cuộc nói chuyện dài sau nhiều năm với một trong những người bạn thân ở tuổi 20. Haruki Murakami thật sự có biệt tài đưa mọi viễn cảnh mờ nhạt và tế vi nhất phô diễn trên câu chữ. Tôi đã quên gần hết nội dung cuốn Tazaki Tsukuru Không Màu, nhưng màn tái ngộ đập vào mặt tôi ký ức về một cuộc hội thoại trong sách. Chính là khi Tsukuru gặp lại Xanh, thành viên thuộc nhóm bạn tâm giao thời niên thiếu của anh, nay đã thành sales xịn trong hãng xe Lexus. Xanh phệ bụng, mỗi tuần đi đánh golf một lần để tiếp khách. Xanh chỉ làm việc với giới thượng lưu. Kết thúc của chương sách như sau:

“Khoảng thời gian ba mươi phút có thể là ngắn ngủi đối với hai người bạn cũ sau mười sáu năm hội ngộ. Chắc chắn còn nhiều chuyện chưa nói hết. Nhưng đồng thời, Tsukuru cũng cảm thấy giữa hai người đã gần như chẳng còn gì quan trọng để nói với nhau hơn nữa”.

Cái cách diêm Thống Nhất có thể khơi dậy tất cả những điều này mới thật sống động và kỳ quặc. Trong đêm, khi ngoài phố là tiếng reo hò và chiêng trống của đoàn xe đi bão, tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất: “Những người bạn năm 20 của tôi, các bạn có khỏe không?”.

P/S: Và sau đó, trước những than van và nuối tiếc của cộng đồng, Công ty Diêm Thống Nhất đã quyết định tiếp tục sản xuất diêm!

Hải Âu

Đọc bài viết

Trà chiều

Tình yêu không ai bán, nhưng chúng ta lại đang mua (rất nhiều)

Published

on

Nếu bạn tình cờ có người yêu và xài mạng Viettel vào những năm 2010, tình yêu lúc đó là 3k/100 tin nhắn/ngày, giới hạn 80 kí tự một tin nhắn có dấu hoặc 160 kí tự tin nhắn không dấu. 10 năm sau, tình yêu là khung chat mạng xã hội, online 15 phút trước nhưng không đọc, seen 3 giờ trước nhưng không trả lời.

Thời gian thay đổi phương tiện biểu đạt tình cảm, nhưng đồng thời cũng thay đổi cách thức diễn giải tình yêu.

Thời cổ đại, triết gia Hy Lạp Plato tin rằng dạng thức tình yêu cao nhất là không-lãng mạn, không-sex; như tình gia đình hay tình huynh đệ. Người ta không cưới vì yêu, vì yêu làm quái gì khi kiếm cái ăn nhét vào mồm và sinh con đẻ cái mới là vấn đề sống còn. Nhiều nền văn hóa xem tình yêu như một căn bệnh không may mà tất cả chúng ta đều phải trải qua để bước vào đời, như bệnh sởi (Mark Manson).

Mãi đến thế kỉ 19, khi chủ nghĩa Lãng mạn bước ra sân khấu thế giới, cảm xúc con người mới đột nhiên có giá trị. Những cặp đôi bắt đầu mơ màng về tình yêu thiêng liêng, hạnh phúc cùng nhau đến suốt kiếp. Tình yêu kiểu đại gia Gatsby: đốt tiền hàng tuần tổ chức tiệc tùng với hy vọng người trong mộng vô tình đặt chân đến nhà. Tình yêu kiểu bà Bovary: “Tình yêu, cô tin, phải đến, bất thần, với tiếng sét đinh tai và tia chớp chói lòa, một cơn bão từ trên trời giáng xuống đời mình, như một cuộc tàn phá, tước nát lý tưởng như chiếc lá và ném linh hồn của mình xuống đáy vực sâu.”

Các nhà sinh hóa thế kỉ 20 giải thiêng tình yêu là nồi lẩu hormone của serotonin, dopamine, oxcytoxin và một nhúm các chất hóa học khác. Mọi người kêu lên: Nếu tình yêu là kết quả của hormone thì đó cũng là hormone của tôi. Việc tôi tiết hormone với người này mà không tiết hormone với người kia chứng tỏ tình yêu vẫn là định mệnh viết trong sách trời.

Mọi người chắc chưa?

Chúng ta tin tình yêu không ai bán nhưng kì thực lại đang mua một tá định nghĩa về tình yêu. Từ những nhà làm phim, nhà buôn bán, nhà marketing. Phim ảnh và mạng xã hội bán cho chúng ta tình yêu là kim cương và danh vọng, là ba vòng và sáu múi, là người sẵn sàng chết trong lòng một ít hay bán trong nhà một mớ vì ta. Dạng người khiến ta thổn thức bồi hồi, dạng người khiến ta tiết hormone tình yêu ào ạt là dạng người mà ta xem qua phim, đọc trong sách, lướt trên mạng ngày này qua tháng nọ. Chẳng có tình yêu thiên định, chỉ có tình yêu được đóng gói đẹp đẽ và bán cho ta với giá hời.

Mua những gói tình yêu có sẵn, khi yêu, chúng ta yêu ai đó không vì chính bản thân họ, mà yêu những ảo tưởng về họ mà ta dựng lên trong đầu mình. Tình yêu thăng hoa khi đối phương hành xử y hệt định nghĩa của mình về tình yêu. Nhưng ảo tưởng thì không có thật và tình yêu dựa trên ảo tưởng cũng vậy. Ngay lúc chàng soái ca bắt đầu ngoáy mũi, ngay lúc nàng kẹo ngọt bất ngờ chửi thề, tình yêu văng mảnh.

Nhưng chính thời điểm người ta vỡ mộng về nhau cũng chính là lúc tình yêu thật sự bắt đầu. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta trả lời tin nhắn sau 30 giây, và lúc họ không nhắn được một cái tin tử tế trong vài ngày. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta khiến mình tiết hormone hạnh phúc, và lúc họ gây cho mình những ức chế của hormone. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta nói yêu mình, và lúc họ nói không còn yêu mình nữa. Vì có thể loại tình yêu nào có thể bất thần chuyển thành ghét bỏ khi người ta từ chối yêu mình?

Chẳng mấy ai chịu ở lại để dọn những mảnh tình ảo tưởng vỡ và để sự thật trần trụi của yêu đương cứa vào tay. Chúng ta bỏ chạy ngay khi tình yêu vừa kịp đến, chọn mua tình yêu ăn liền thay vì bỏ công cực nhọc nấu nướng, để Bích Phương cứ phải hát đi hát lại: “Tại sao anh yêu biết bao người mà vẫn không hiểu tình yêu?”

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Trà chiều

Điều gì quan trọng hơn?

Vài ý nghĩ sau khi đọc Cỗ Máy Thời Gian của H. G. Wells.

Published

on

Cỗ máy thời gian đưa nhà du hành tới năm 802.701 sau Công Nguyên. Ở đó, con người đã chia thành hai chủng. Một chủng lao động quần quật dưới lòng đất lạnh, tăm tối và hôi thối; một chủng sống đời nhàn hạ, lụa là, biếng nhác trong ánh mặt trời. Một chủng vượt trội về ưu thế tiến hoá do phải đấu tranh, giành giật thực phẩm; một chủng ngày càng suy thoái, tàn nhược do được sống trong nền công nghiệp hoá tối ưu đến mức sức lao động của con người trở nên thừa thãi.

Năm 1895, H. G. Wells hẳn không thể hình dung nổi cái gọi là AI hay ASI. Trí tuệ nhân tạo mà Stephen Hawking và Elon Musk luôn nhắc đến như quỷ dữ đang được triệu hồi là khái niệm quá trừu tượng trong thế kỷ 19. Thậm chí vẫn chưa thật quen trong hiện tại này, thời điểm này.

H. G. Wells có thể mường tượng đến cảnh Trái Đất nóng lên nhiều lần, độ nghiêng trục quay Trái Đất thay đổi dẫn đến những biến đổi về khí hậu và hệ sinh thái. Tuy nhiên trong những tưởng tượng xa nhất của ông, con người vẫn sống và chỉ bị tuyệt diệt bởi điều kiện tự nhiên như mặt trời hết năng lượng và tàn lụi. Ông không thể hình dung ra cảnh một con robot vô tri bỗng dưng hoá thành đấng sáng tạo với IQ cao hơn con người 12.000 lần và có thể thổi bay cả hành tinh chỉ trong vài giờ.

Học thuyết Kurzweil dựa trên Luật tăng tốc theo cấp số nhân nói rằng, chỉ trong 14 năm từ 2000 tới 2014, con người đã tạo ra khối lượng phát triển tương đương với khối lượng của toàn thế kỷ 20 dồn lại. Một người ở thế kỷ 19 nếu có thể du hành đến hôm nay, anh ta sẽ chết điếng chỉ vì Siri của Apple chứ chưa nói đến những AI cao cấp và đắt đỏ hơn cả ngàn lần khác.

Chỉ cần nhắm mắt lại và suy nghĩ về tất cả những điều này, tôi lại thấy số phận con người thật quá nhạt nhẽo và bé nhỏ trong vũ trụ. Và tôi không hiểu tại sao lại phải mất thời gian hằn học một ai đó. Không phải vì tôi nhân ái, mà vì tôi còn bận ngước cổ lên tìm sao trăng và phân tích bộ gân của một cái lá cây. Tôi quan tâm tới chuyện chòm Đại Hùng Tinh đang ở đâu trên trời hơn chuyện bị ai đó nghĩ sai, thật sự.

Rảnh quá thì coi hành trình tới ngày tàn của thời gian còn hơn.

https://www.youtube.com/watch?v=uD4izuDMUQA

Hải Âu

Đọc bài viết

Cafe sáng