Phía sau trang sách

Như núi như mây: Nỗi đau đồng sàng dị mộng

“Sống trong cảnh đồng sàng dị mộng thật khổ tâm vô cùng, không chỉ cho mình mà còn cho người phải ở với mình nữa”.

Published

on

Thoáng qua

Những cơn gió cứ liên tục thổi bay mây, nhưng dẫu mây có bay đi ngàn năm rồi thì cũng về lại với núi.” – đó là câu nói mở đầu cho chuyện dài tưởng như bất tận của Như núi như mây. Khởi đầu bằng tình cảm thiếu thời của hai cô cậu học trò đương lúc Saigon vươn mình yên ả để rồi sau đó là những biến động năm 75, tiếp tục là sức ảnh hưởng to lớn của bóng ma tư tưởng ngộp thở,… tất cả khiến họ trở thành những đường mải miết không hề giao cắt. Bẵng một thời gian, số kiếp băng qua ngã rẽ của từng người một, đâm vào nghi hoặc, cuối cùng cũng gặp nhau, hàn gắn và rồi mất mát,… tất cả xoay vòng như một thân thế phù du trôi nổi giữa kiếp người này. Với một kết cấu rất dễ bắt gặp ở những tiểu thuyết thiên về tình cảm hiện đại, Nguyễn Đông Thức lầm lì nhấn phanh bơm đầy thứ hơi số phận tréo ngoe vào trong lớp vỏ tưởng như thường tình và phổ biến ấy, thổi chúng căng phồng, căng mãi, căng mãi, để rồi vỡ tung ra từng mảnh nhỏ. Soi chiếu từng mảnh đau thương bằng con mắt nhân quần sau những mỏi mệt đi dọc câu chuyện, dễ dàng ta thấy chìm ẩn đâu đó là những thân phận, là một thời đoạn đầy những bấp bênh dễ chừng lật nhào sau cơn bão lớn.

1. Cơn mộng thứ nhất – Vỏ bọc đẹp đẽ

Một cách trực quan và chiếm đa số thời lượng, Như núi như mây được Nguyễn Đông Thức xây dựng như cuộc rượt đuổi thân phận theo đúng tiến trình của một mô tuýp quen thuộc: mở đầu là những trùng hợp khó tin, tiếp sau là những cao trào nút thắt đi đến đỉnh điểm và cuối cùng là những thoái trào của cơn đè nén suốt chặng đường dài. Nguyễn Đông Thức biết cách giữ nhịp tiểu thuyết, khi luôn đưa ra những khúc quanh mới, để rồi phân chúng thành từng ngã nhỏ, đưa nhiều lựa chọn và hướng nhân vật vào khúc cua nghiệt ngã nhất. Ông dùng những diễn biến ngoại cảnh cùng tâm lí nhân vật như mạch nguồn nuôi sống những đường dây này. Đọc Như núi như mây, ta dễ bắt gặp những nét tương đồng với đầy rẫy tác phẩm ngoài kia: chuyện tình ngang trái một phần nào đó hình dáng Shakespeare, chênh lệch giai cấp cổ hủ gọi mời nhân ảnh Hồ Biểu Chánh, những gian khổ đấu tranh lại đầy rẫy hình bóng Enrique Maria Remarque,… tất cả tựu hình chung nổi bật lên tính phổ biến, một phần tạo nên sự tiếp cận ban đầu dễ chừng thân quen để rồi tăng đều lũy tiến; nhưng cũng đồng thời gây ra một sự nhàm chán đối với những ai yêu thích cái lạ. Thế nhưng một điểm nổi bật dễ nhận ra trong tiểu thuyết này là Nguyễn Đông Thức đã mang tất cả những cái chung chung ấy vào cùng một chỗ, để rồi đưa vào phông nền vô cùng địa phương, hay nói cách khác, gắn mác địa danh lên chính thành phẩm. Và chính yếu tố made in Vietnam này lại làm cho tác phẩm vượt lên theo một mặt khác.

Đọc Như núi như mây, ta thấy hiện lên một Saigon vẫn là nó nhất vào những ngày cuối cùng của một phế tích tráng lệ. Chưa khi nào người ta miêu tả Saigon bằng những lần xem phim ở tầng 2 rạp Eden hay vào La Pagode uống cà phê và nghe nhạc máy jukebox như Nguyễn Đông Thức; cũng chưa bao giờ thấy nhắc đến những vũ trường Catinat, những cục xà bông Cô Ba, thuốc lá Samit hay kem UB trong một tác phẩm văn chương của thời hiện đại. Nói một cách khác, Saigon vẫn luôn sống động trong mỗi câu chuyện của ông, nó là linh hồn chứa đựng những nét riêng biệt cho toàn tác phẩm, nhưng cũng đồng thời, tồn tại song song trong ký ức những người xưa cũ hay tạo lập lát cắt héo úa cho lớp người sau. Và bằng việc tạo cho Saigon một chỗ đứng riêng, Nguyễn Đông Thức cũng đồng thời tạo riêng cho câu chuyện mình một sự cuốn hút khó thể tách rời.

Một thuộc tính khác làm cho Như núi như mây trở nên riêng biệt trong khu rừng đầy những tương đồng đó là thời đoạn. Việc chọn Saigon những năm 70 đầy những đổi thay chính trị khi cao trào giữa quân Giải phóng và phía miền Nam đang lên cao trào một phần làm nên tính chất địa phương cho toàn tác phẩm, đồng thời như là đường dây vận động xuyên suốt của những diễn biến sau này. Việc đôi lứa lìa xa cũng từ chiến tranh loạn lạc, việc cả gia đình chạy về miền Tây cũng từ công cuộc thanh lọc toàn diện chế độ cũ, cho đến chi tiết vượt biên, gặp cướp biển, di cư sang Mỹ, Pol Pot… tất cả xảy ra trong một thời đoạn ắt hẳn phải thế. Việc tính toán chi ly suốt một quãng dài để rồi gặp nhau khi đất nước mở cửa được Nguyễn Đông Thức tính toán kỹ càng, một phần cho thấy câu chuyện đương thời phải thế nhưng cũng đồng thời phản ánh lịch sử một thời đoạn dài.

Điều đáng nói thứ hai là Nguyễn Đông Thức đã một lần nữa không làm người đọc thất vọng bằng những điểm mạnh vốn có của mình. Nếu từng thân quen những chuyện học đường vô cùng ngờ nghệch trong Vĩnh biệt mùa hè hay khoảng thời gian thanh niên sôi nổi của Ngọc trong đá; thì với Như núi như mây ta lại như được sống dậy trong không khí ấy thêm một lần nữa. Nguyễn Đông Thức hiểu và biết cách xoay chuyển tình thế vô cùng nhịp nhàng khi lái câu chuyện vào vùng địa phận thân quen của mình. Ông từ tốn ở đó, từ tốn kể chuyện bằng những câu chữ chắc nịch, để đọc rồi lại thấm thía, rồi lại ước mơ. Từ những thân quen, ông chuyển câu chuyện theo một khía cạnh hoàn toàn khác lạ, dưới một góc nhìn không thể không có trong những tiểu thuyết tình yêu – những dục vọng thể xác. Những sự tiếp xúc về mặt thể xác trong văn ông không đóng một vai chủ chốt như Murakami hay Tanizaki (tuy về mức độ bạo dạn và dữ dội có thể đong đếm ngang ngửa) mà được thêm vào như cách biểu đạt tình yêu không hề che giấu, mà xét ở thời điểm tác phẩm ra đời, đã là một thay đổi đi sâu vào bản chất sự việc rất đáng ghi nhận. Cùng với Ma Văn Kháng ở mảng truyện ngắn; Nguyễn Đông Thức đã góp tên tuổi mình cùng Thuận, Đỗ Hoàng Diệu,… đi sâu khám phá bản thể con người.

2. Cơn mộng thứ hai – Nhát dao rách toạc

Như núi như mây hẳn nhiên như đã nói trên, mang trong mình một sự sóng đôi gần giống tựa đề của nó, khi vừa là một tiểu thuyết tình yêu, vừa là nỗi đau thân phận. Nếu Nguyễn Đông Thức chọn lớp vỏ tình yêu để làm phần nổi đẩy ra trước mắt người đọc, thì cái thấm thía về thân phận từ phía đằng sau như những nhát dao đâm lên lổm chổm. Cái hay là Nguyễn Đông Thức vừa không che giấu hoàn toàn phía sau để người đọc tự mình nhận ra, cũng không để nó lồ lộ trước mắt như những bài ca lịch sử; mà bằng lối viết xen kẽ, ông để hai yếu tố đan cài bổ sung cho nhau đầy tính hợp lí. Như núi như mây là bản trường ca dài từ số phận của người phụ nữ, mở rộng ra hơn là số phận của người di cư và rồi cuối cùng to lớn hơn, là số phận cả thời đoạn dông dài đầy đủ bất trắc.

Lấy hình ảnh những người phụ nữ làm nhân vật chính đi suốt câu chuyện, Nguyễn Đông Thức như muốn khởi đầu từ cái nhỏ nhất, từ sinh thể từ xưa đến nay vẫn luôn được coi là thành tố phụ. Những người phụ nữ trong tác phẩm này chịu nhiều đau thương, họ cùng có vẻ duy mĩ về sắc vóc nhưng cuộc đời lại bi thương đến không ngờ. Vân từ một thiếu nữ cái gì cũng có, muốn gì cũng được như bước ra từ trang viết của Hồ Biểu Chánh; lại sớm dằn vặt đau khổ trước những ngang trái yêu đương khi vẫn lại là vấn đề muôn thuở – giai cấp. Đến khi vùng mình thoát dậy, thời đoạn lịch sử lại nện cho cô những đòn đau điếng. Cuối cùng sau bao khó khăn tìm được bến đỗ, đời sống lại làm teo tóp dần đi khoảng thởi gian ấy. Hình ảnh Liên – một cô gái thanh niên xung phong bám víu vào tình yêu như một bản ngã, để rồi bị phản bội trong tâm tưởng, dằn vặt, học thích nghi và rồi tự mình phản bội. Khác với Dạ Ngân là một phụ nữ viết về phụ nữ vô cùng thành công trong Gia đình bé mọn, Nguyễn Đông Thức viết về những người phụ nữ trong đây với vẻ nâng niu cho một thân phận đã quá mỏi mệt. Tuy đôi khi những trúc trắc hay cách sắp xếp làm nên diễn tiến khiên cưỡng nhô mình vươn ra góc cạnh xù xì chưa được gọt giũa, nhưng nếu nhìn nhận dưới góc độ của một tâm hồn văn chương, thì đó là lời cứu vớt cho những thân phận quá ư chìm nổi. Để rồi sau này mượn một câu nói của Vân, ông viết như cách ta đồng thuận ngầm đầy vẻ cam chịu: “Cuộc sống là vậy, ai cũng phải gạt nước mắt đi tới chứ không thể cứ ngồi than khóc mãi chuyện quá khứ”.

Từ hành trình những người phụ nữ đi tìm tình yêu, Nguyễn Đông Thức hòa cơn bão nhỏ thành những trái ngang của một thời đoạn đầy những con người trong cơn bão lớn. Miền Nam thất thủ năm 75 như một cú sốc lớn cho phe Cộng hòa khi chỉ sau một đêm, từ một người có tất cả đã trở thành không có gì, báo hiệu cho một số phận bấp bênh hiện ra trước mặt. Để chạy trốn cuộc sống kham khổ trước khi Cách mạng ào vào Saigon, lớp tiểu tư sản chỉ còn duy cách vượt biên để rồi trở thành cánh buồm ngoài xa heo hút tâm hồn. Họ bỗng trở thành những người xa lạ, những người không có quê hương, những người chạy trốn vì chính lựa chọn đã gây ra kết cục cho họ thế này. Bị xếp vào hạng người tị nạn, họ vật vờ hiu hắt dáng hình phản chiếu dưới những cơn sóng, phía Tây là tổ quốc trước mặt nhưng không sao về được, rồi cướp biển, trấn lột, cưỡng hiếp… từ một ước mơ ban đầu khiến họ hóa điên. “Nhiều người trong số họ chấp nhận liều mạng đơn giản chỉ vì mong được đổi đời, có một cuộc sống khá hơn trên vùng đất hứa. Nhưng cũng có những người ra đi vì lý do khác. Họ có thể chấp nhận đói khổ, nhưng phải được đối xử công bằng. Họ vất vả cả đời, nhưng ít nhất họ phải còn niềm tin rằng con cái mình sẽ có cơ hội để được vươn lên bằng con người khác… Không có những điều đó, thì có chết họ cũng ra đi.” Thiếu nước ngọt làm họ hóa điên, chứng kiến gia đình tàn sát khiến họ hóa rồ, thần kinh của những người con thời đại này thật quá mong manh khi ánh chớp số phận vừa lóe lên chào.

Nguyễn Đông Thức miêu tả cuộc sống trên trại tị nạn Pulau Bidong thuộc Indonesia chân thực đến từng mảnh đời, tương tự như những trang viết ta từng bắt gặp trong những câu chuyện tị nạn của Pachinko (Min Jin Lee) hay Thoát đến phương Tây (Mohsin Hamid). Ở đó con người vật vờ tựa những ngọn cỏ đắm mình trong ánh hoàng hôn. Những người điên, người lờ đờ dở dở ương ương có mặt ở khắp mọi nơi. Những căn bệnh tâm lý trầm kha lại làm tăng thêm cái vẻ ảm đạm bọc ngoài tác phẩm. Nguyễn Đông Thức khoét sâu vào lòng vết thương, phơi ra hiện thực tưởng như đau đớn và cho ta thấy tâm lý con người có thể mỏng manh đến mức độ nào.

Từ những bước ngoặt lịch sử đó, Nguyễn Đông Thức lẳng lặng phác họa những nét chìm nổi về tính cách nhân quần dẫu cho có quá tiêu cực hay không, khi vào những dịp đặc biệt luôn được phơi bày một cách rõ ràng. Trước tin thắng trận năm 75 ông viết: “Những người lính thua trận vẫn còn lầm lũi đi về như những bóng ma, bên cạnh đoàn quân hôi của đang mệt lử đẩy về nhà những chuyến hàng cuối cùng”. Con người vẫn luôn là thể đa bào lạ lẫm với thâm tâm trong suốt, dường như tùy vào thời đoạn mà được nhuộm thứ màu nào vào trong những ô lưới nhỏ. Những câu chuyện vượt biên đi xa, chạy loạn về miền Tây khi Biên Hòa đang dần thất thủ… tất cả phản ánh nên một thế hệ con người sống động trong những ghì ép thời đoạn. Bên cạnh đó, thế hệ người-trong-bao sau độc lập tin tưởng quá mù quáng vào một lý tưởng hay những người Việt sau khi vượt biên thành công đến Mỹ định cư, dùng thủ đoạn phá giá để tự giết nhau, khiến người Mỹ vì không chịu được bầu không khí trở nên rẻ mạt ấy, đã nhường hết cho họ một phố quận Cam để rồi lẳng lặng ra đi, bước khỏi ngôi nhà của mình… tất cả được khắc họa rõ nét trong tác phẩm này thành một cõi nhân quần rất nhiều xáo trộn.

3. Tỉnh giấc

Như một tấm gương phản xạ những thứ song ánh, Như núi như mây của Nguyễn Đông Thức mang trong mình bộ mặt của một tiểu thuyết thân phận. Xuyên suốt chiều dài của cả tiểu thuyết là những cuộc rượt đuổi tưởng chừng mệt lử của số phận áp lên con người, khi nhu cầu cơ bản nhất của họ lâm vào ngõ cụt. Trong sáng, mưu mô, phản kháng, cam chịu,… đầy đủ các mặt sắc của đời sống tinh thần được thứ dịch xót xa của trúc trắc nuôi dưỡng và một kết cục dễ thấy biểu hiện thành hình. Có thể nói đây là một tiểu thuyết lãng mạn được gia công bởi một tay bút chắc tay, mang đậm dấu ấn thế hệ, dấu ấn Saigon. Nếu bỏ qua sự tham lam vài lần về những sắp xếp bố cục hay ôm đồm quá nhiều chi tiết vào trong, thì Như núi như mây là một tác phẩm vạch tung số phận con người, từ những phụ nữ đến người chạy loạn; từ người tị nạn đến cả nhân quần, tất cả xuất hiện và đứng vào hàng ngũ tiến hóa trên từng nấc thang nhân loại được Nguyễn Đông Thức sắp đặt và đưa vào canh gác từng vị trí trong mạch truyện mình.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Đọc tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát.


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Người mắt kép: Những con người kết nối, những câu chuyện lồng vào nhau

Published

on

“Cô ơi, hai mắt màu khác nhau thì thế giới mà nó nhìn thấy có giống nhau không?”

Nếu bạn thắc mắc về nhan đề của sách thì câu thoại trên đã phần nào hé mở cho ta biết thế nào là người mắt kép. Và để biết vai trò của người mắt kép trong câu chuyện, tôi nghĩ bạn hãy cầm sách lên và khám phá vai trò của người ấy.

Nội dung bài viết dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Người mắt kép.

*

Mỗi cuốn sách đều chứa đựng một kho tàng - một thế giới chờ người đọc, người nghe khám phá nó. Tiểu thuyết Người mắt kép kể về những con người với số phận riêng biệt, những vùng đất với số phận đặc thù. Ở một tầng sâu hơn, cuốn sách còn đề cập đến vấn đề khí hậu, vấn đề sinh thái trong văn học và sự trả thù của tự nhiên.

Mỗi người có một cuộc đời riêng biệt nhưng kết nối

Cuộc sống vốn dĩ không có kịch bản, không có đạo diễn, cũng chẳng có nhà sản xuất, chỉ có những kẻ tự quyết định lấy cuộc đời của mình. Trong cuộc trú chân vô cùng ngắn ngủi của chúng ta trên mẫu hành tinh bé nhỏ, chuyện gì cũng có thể xảy ra được cả. Mỗi người có một cuộc đời riêng và để ta gặp được nhau, phải có một “sự tình cờ” nào đó liên kết chúng ta lại.

Người mắt kép kể câu chuyện của Atile’i - một thanh niên 15 tuổi sống ở đảo Wayo Wayo, cậu trai với hành trình dong buồm ra biển lớn vì truyền thống lâu đời của nơi này. Sự tăng trưởng dân số trên đảo dẫn đến sự tăng trưởng sản lượng tiêu thụ và thiếu đất sinh sống. Người con trai thứ, sau 180 lần trăng tròn, phải tự chèo thuyền ra biển, như một lời hứa với Kabang và chưa một ai ra khơi trở về được cả. Anh em sinh đôi ra đời chỉ cách nhau vài giây thôi; nhưng với Atile’i, người ta vẫn phân biệt con trai đầu, con trai thứ. Đứa con trai thứ là người phải lên thuyền ra khơi - sự khác nhau vài giây đó đã tạo nên một vận mệnh khác.

Song hành với đó, sự chối bỏ thực tại luôn ẩn chứa trong mỗi người khi ta không tìm được hạnh phúc, khi hiện tại là sự sống hẫng hụt. Sự thất vọng với thế giới hiện tại khiến con người muốn tìm một thế giới riêng. Alice là một nữ giáo sư sống cùng gia đình nhỏ trong căn nhà xinh đẹp bên bờ biển. Chồng và con trai cô mất tích trong một chuyến leo núi, cô khát khao được kết liễu mạng sống của mình, cô cho đi toàn bộ tài sản vật chất để ra đi mà không phải nghĩ ngợi gì. Ý định chưa kịp thực hiện thì cô gặp Ohiyo, một con mèo cho cô cảm giác cô cần phải chăm sóc nó vì biết đâu đứa con trai bé bỏng của cô ngoài kia chưa chết và đang có người chăm sóc nó như vậy. Một kẻ chỉ vài ngày trước đem cho đi toàn bộ tài sản của mình, vài ngày sau lại đi sắm sửa “gia tài” cho “kẻ khác”.

Hai con người ở hai thế giới, tưởng chừng chẳng bao giờ gặp nhau, bằng một sự tình cờ do đại dương mang đến, Alice gặp Atile’i, hai người dù chẳng biết ngôn ngữ của nhau nhưng họ dần hiểu được lời nói của đối phương. Từ đây, những câu chuyện về cuộc đời họ dần được kể rõ hơn, họ cho nhau niềm tin để sống tiếp cuộc đời của mình.

Sự giận dữ của mẹ thiên nhiên

Ngay cả nếu chúng ta vẫn tiếp tục chạy đủ nhanh và trì hoãn được sự suy sụp của hệ sinh thái thì bản thân cuộc đua cũng tạo nên những vấn đề cực kì lớn. Sau nhiều thế kỉ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học, đáng ra cuộc sống phải yên ổn và thanh bình hơn - ít nhất là ở các nước tiên tiến. Nhưng bất chấp những thành tựu, chúng ta vẫn lắm lúc thấy áp lực và không tìm được sự hài lòng.

Trong quá trình đọc Người mắt kép, tôi đã nghĩ thật nhiều đến những bộ phim hoạt hình của Ghibli Studio: Laputa Castle In The Sky Laputa (1989), Mononoke Hime (1997), Ponyo (2008),… vấn đề môi trường và cuộc sống con người, những câu hỏi ám ảnh tôi, trên rừng xuống biển. “Có một đảo rác từ ngoài biển trôi vào nơi này”, có một vực xoáy rác, cuốn mọi thứ con người thải ra biển, đem vào lại đất liền để trả lại toàn bộ cho con người.

Cuộc mưu cầu quyền năng thời hiện đại được thúc đẩy bởi liên minh khoa học và tiến bộ kinh tế. Những kí ức của Alice về năm tháng sống cùng ngoại, lúc chưa có nhà máy hóa dầu, mùa đông có rất nhiều người tập trung đến đấy để ngắm chim, rút đầu lại đứng phía sau của ống nhòm như đang kì vọng cuộc sống của mình sẽ có gì đổi khác. Nhưng khi nhà máy ấy hoàn thành, từ đó hầu như không còn nhà nào để mở cửa. “Những ống khói hì hục bốc lên làn khói đen”. Khi một thảm hoạ sinh thái ập đến, người nghèo luôn chịu tác động nhiều hơn người giàu, ngay cả khi thảm kịch ấy do chính người giàu gây ra.

“Chuyện gì thế này? Những thứ này từ đâu đến?”

Toàn bộ những gì con người gây ra cho trái đất, con người phải nhận lại hết. Vực xoáy rác là minh chứng, thiên nhiên đã trả lại cho con người tất cả, vốn lẫn lãi. Con người cần trái đất, con người cần tự nhiên; không có con người trái đất vẫn có thể sống, nhưng không có trái đất, con người sẽ không thể tồn tại được.

Hành trình thiên nhiên đáp trả đó không phải đột ngột theo cách bất ngờ, đó là một quá trình. Tự nhiên đã nhiều lần nhắc nhở, cảnh báo, con người không nghe nên tự nhiên mới dùng hành động để cho con người thấy: “Con người - các ngươi đã thật sự làm ta giận dữ”. Vực xoáy rác khổng lồ cũng chỉ là lời nhắc nhở thôi, như lúc nhà máy hóa dầu quê ngoại của Alice vậy. Cũng giống như những con người ở đảo Wayo Wayo vậy, họ đã thay đổi bằng cách “hiến tế” người con trai thứ như lời hứa giảm số người dân, đảm bảo số người dân ít hơn số cây trong đảo. Và những con người sống ở đất liền, nếu không giảm lượng rác thải tạo ra, rồi cũng chẳng còn nơi để sống đâu. Sự hủy diệt sẽ làm biến mất tất cả. Khi chẳng còn khỏe mạnh, mẹ thiên nhiên sẽ thật sự nổi giận và trả lại con người cơn thịnh nộ của mình.

Chuộc tội như thế nào cho đúng?

Ngày xửa ngày xưa, tất cả mọi vật đều bắt chước lẫn nhau, hòn đảo bắt chước rùa biển, cây cối bắt chước đám mây, cái chết bắt chước sự sống. Thiên nhiên đã tồn tại trước, sau đó rất lâu, con người mới xuất hiện trên trái đất.

Một câu hỏi lớn buộc chúng ta phải tự đặt ra cho chính mình và mọi người. Liệu con người và thiên nhiên có thể chung sống hòa bình? Rốt cục nguyên tắc phân loại là thực sự theo quy luật của tự nhiên hay theo quy tắc của con người? Loài người nhận thức được sự căm phẫn của thiên nhiên, nhưng có khả năng nào để chúng ta chuộc lại lỗi lầm hay không? Khả năng cao là không.

Chẳng ai muốn đón nhận cơn cuồng nộ của thiên nhiên đâu nhỉ? Mèo nhỏ Ohiyo là sự dịu dàng xua tan nỗi đau với Alice. Tôi nghĩ rằng chính sự dịu dàng trong cách con người đối xử với nhau, đối xử với thiên nhiên sẽ làm nguôi ngoai phần nào cơn giận dữ.

Kết.

“Vậy thứ khiến chúng ta sợ hơn đó là con người. Bất luận là người đó nói bảo vệ chúng ta hay người muốn dỡ nhà chúng ta đều đáng sợ cả, vì họ sẽ không nói với chúng ta tại sao, vì cái tại sao của những người dân bản địa chúng ta không giống nhau đúng không?” Mỗi người chúng ta thuộc về một thể loại riêng. Một số sống đời bi kịch, số khác sống đời hài kịch, số tiếp trú ngụ trong những vở kịch của tôn giáo, có kẻ chọn tiếp cận nó như phim hành động, nhưng xét cho cùng, tất cả đều là câu chuyện

Những thất vọng và niềm tin, mỗi người, ai cũng có câu chuyện cho riêng mình, không ai giống ai, có người mải mê tạo nên những câu chuyện, có người mải mê đi tìm những câu chuyện, có người lắng nghe những câu chuyện của những người khác. Và cuối cùng mỗi chúng ta, khi đặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình, chúng ta sẽ có một câu chuyện để người khác nhớ về chúng ta.

“Rồi sẽ có một ngày
Em muốn rời bỏ thành phố phồn hoa
Rồi sẽ có một ngày
Em sẽ muốn trông thấy
Một nơi như thiên đường mà thuở ấu thơ mẹ kể”.

Hết.

Hoàng Anh

Ảnh đầu bài: Elle Việt Nam

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH Siêu Đẳng: Một góc nhìn khác về động vật

Published

on

Em có muốn trở lại sống trong ống cống không? Và ăn rác rưởi của con người? Vì loài chuột vẫn sống như thế. Nhưng thực tế là chúng ta không còn là chuột nữa. Chúng ta là thứ được bác sĩ Schultz tạo ra. Một thứ hoàn toàn mới.

Hình thức nhân hóa các loài vật để tạo nên một câu chuyện, một huyền thoại giống như con người không phải là hiếm; và dĩ nhiên, không thiếu những tác phẩm thành công. Đồi thỏ của Richard Adams từng bị e ngại về độ dày quá lớn cho một tác phẩm thiếu nhi; thế nhưng không thể phủ nhận sức ảnh hưởng của nó cho đến ngày nay. Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng – tác phẩm đoạt Huân chương Newberry năm 1972 thì ngược lại, không cần quá dày cũng đủ làm nên một huyền thoại.

Tác phẩm kể về nhà chuột Frisby và những khó khăn họ gặp phải khi đối mặt với chuyến chuyển nhà mùa hè. Góa chồng, bà Frisby một mình nuôi nấng bốn người con, trong đó Timothy, đứa nhỏ nhất, lại đang viêm phổi và có thể trở nặng bất cứ lúc nào, nếu họ đánh liều di chuyển sang căn nhà mùa hè. Thế nhưng băng đã tan, nhà Fitzgibbon đã bắt đầu cày bừa, đâu là giải pháp cho bà mẹ này?

Bài viết dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng.

Thiên nhiên đa dạng

Cũng như những tác phẩm khác, nhà văn Robert C.O’Brien dồn ép câu chuyện đến bước đường cùng, để ta thấy sức khám phá và hành trình chứng minh bản thân của những loài vật tuy nhỏ kích thước nhưng can đảm là có thừa. Thiên nhiên trong tác phẩm của ông điển hình nhưng cũng tuyệt đẹp, với những giúp đỡ, sẻ chia cũng như sự đồng cảm của những loài vật dành cho nhau.

Có thể thấy được sự tương đồng với Đồi thỏ khi cả hai tác phẩm đều bắt nguồn từ việc nơi ở của mình bị con người đe dọa. Mối quan hệ giữa con người và động vật trong tác phẩm của O’Brien không quá cay đắng. Ông cho mỗi tuyến nhân vật một ý nghĩa để hành động, không phản chiếu hay đánh giá phiến diện bất kì ai. Rốt cuộc thì nhà chuột Frisby hay gia đình ông Fitzgibbon cũng cần sống, và điều này càng làm tăng thêm vị thế của gia đình chuột, khi không cầu xin sự thương cảm từ phía người đọc, mà trong tác phẩm này, họ có chỗ đứng cũng như tầm nhìn vô cùng độc lập.

Một trong những yếu điểm của truyện thiếu nhi là nó quá… phi thực. Nếu chỉ dành cho trẻ con, thì không có gì để nói. Nhưng để lưu danh và dành cho nhiều độ tuổi khác nhau, mà mỗi một người có thể nhìn nó theo thế giới quan của mình, như Hoàng tử bé, như Totto-chan bên cửa sổ… thì không phải là dễ. Và tác giả O’Brien giải quyết điều này vô cùng logic. Tác phẩm của ông không chứa đựng sự ngẫu nhiên hay phép thần thông quảng đại nào, mà như nói trên, mọi thứ đều có lý do, và ông cho độc giả một lý do mang tính dự báo, và rất có thể trở thành hiện thực trong những ngày này.

Phân chia cốt truyện thành hai tuyến song song, bên cạnh việc tìm giải pháp cho lần chuyển nhà trong khi Timothy thì đang bệnh nặng; O’Brien cũng khéo léo lồng ghép quá trình Chuột cống, Chuột đồng trốn khỏi phòng thí nghiệm NIMH, và cũng từ đây lí giải vì sao những tình tiết sau đó vô cùng logic. Từng là những loài chuột thí nghiệm, quần thể Chuột cống và Chuột đồng sở hữu bộ gen đặc biệt, trong thử nghiệm giúp học và tiếp thu nhanh. Từ đó, một thế hệ Chuột mới ra đời, toàn năng và không thể phá hủy.

Điều đó cũng lý giải vì sao có một cộng đồng chuột với đủ thứ thiết bị, từ hành lang, sách vở, đèn đóm, máy phát điện, kho hạt… cho đến những bài thuốc gây mê con mèo lởn vởn xung quanh. Các nhân vật này trong tác phẩm của O’Brien nhiều cá tính và đậm dấu ấn, khiến bất cứ lúc nào người đọc cũng tìm thấy được một nhân vật đặc biệt, như Cây Phỉ của Đồi Thỏ, thì tác phẩm này có Chuột Nicodemus, Justin, Arthur, Brutus, quạ Jeremy, bác cú, thầy Ages… những cá tính nổi bật và đậm nét.

Tính nhân văn

Sự đẹp đẽ trong quần thể nhỏ nhắn của các loài vật đã được truyền tải một cách trọn vẹn, từ tình mẹ con ấm áp thiêng liêng của cô chuột Frisby tần tảo nuôi con thơ dại trong mùa đông khắc nghiệt và khan hiếm thức ăn; cho đến việc cứu quạ Jeremy mà không màng đến tính mạng. Bất cứ một việc thiện nào trong tác phẩm này cũng đều dẫn đến một việc tốt khác, cứ thế cái tốt đẹp và lòng tốt nhân đôi, càng lan tỏa thêm sự đồng cảm và tình yêu thương.

Cũng chính sự cứu mạng đó mà bác cú đã mách chị Frisby dời nhà sang mé bế phong – hay vùng tam giác đổ bóng của ngọn đá lớn ông Fitzgibbon bỏ qua khi cày. Cũng chính nhờ sự giúp đỡ của chồng mình chống lại Rồng, mà cộng đồng Chuột cống mới có một thế giới riêng, và những dự án bí mật sau này.

Thế nhưng, nỗi bật nhất vẫn là thế cân bằng giữa các loài vật trong tiểu thuyết này. Chuột Cống không ngại sử dụng thân thể to lớn của mình để cứu Chuột Đồng, Chuột Chù tuy nhiều chuyện nhưng không ngại đứng ra bảo vệ những đứa con của chị Frisby; và dĩ nhiên, những chú chuột ấy cũng có thể diện, cảm xúc, cũng như những nhận thức rất con người.

Khi đã trở thành một giống loài được chọn, 20 chú chuột ấy biết rõ mình không còn thuộc về phường đầu trộm đuôi cướp hay ưa phá hoại của cải của con người nữa. Họ từ bỏ chợ nông sản và những cống rãnh hôi thối của đường phố, mà quây mình ở điền trang Boniface tự trau dồi học hỏi đương lúc gia chủ đi vắng. Từ chiếc xe bỏ hoang của Ông Đồ chơi rong mà họ xây dựng nơi an cư cho riêng mình, và chỉ mình mình.

Thế cân bằng ấy còn nằm ở việc họ không tự bằng lòng với việc ăn ấm mặc êm, trở nên sung túc với điện và nước lấy trộm của con người, hay những hạt giống, ngũ cốc sẵn có từ nhà Fitzgibbon. Trong sự phát triển ngang tầm cỡ con người, họ đã nuôi lớn kế hoạch tự xây dựng Thung lũng Gai, để gieo hạt, trồng trọt dù biết trước là sẽ gian khổ. Họ cũng như con người, tự mình phá hủy cái cung điện nguy ngoa khoét vào đá để bản thân không quay trở lại hưởng thụ được, khi tương lai phía trước là bất định.

Tác phẩm này của O’Brien đạt đến hàng kinh điển bởi nhẽ, nó khai thác một góc nhìn rất mới và đầy biến động về con người và tự nhiên. Loài chuột biết suy nghĩ, biết tự nuôi sống bản thân; chúng độc lập đứng trước con người, chứng minh và thể hiện mình. Con người hay Homo Sapiens từ trước đến nay vẫn tự nhủ bản thân là giống loài riêng biệt duy nhất thông minh; thì ở tác phẩm này, có đôi khi ta phải nhìn lại, rốt cuộc rồi thì con người cũng là động vật, cũng được tạo thành từ các nguyên tử, phân tử từ thủa sơ khai. Họ không có đặc quyền gì đặc biệt, bởi nhẽ, họ đã quen với sự thống trị của bản thân trong thế giới vô tri. Và O’Brien đã bắt một cái bập bênh, để chính họ nhìn lại vị thế của mình.

*

Bằng câu chuyện phiêu lưu đậm màu cổ tích nhưng không thiếu logic và những suy tư rất sâu và xa của con người, Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng không chỉ thể hiện tình cảm thân ái giữa các loài vật hay thế giới nhân hóa kì diệu; mà đồng thời, cũng giúp con người ngộ ra được vị trí và vai trò của chính họ, trong tự nhiên và những giống loài tồn tại trên Trái Đất này. Một tác phẩm hay và chứa đựng nhiều bài học đáng quý.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Chuyện đời Sương: Một góc nhìn về xã hội Hàn Quốc

Published

on

Bạn có bao giờ tự hỏi, mọi quyết định xảy ra với mình là kết quả của định mệnh hay là những lựa chọn của chính bản thân? Liệu định mệnh sẽ/đã đưa bạn gặp nửa kia của đời mình hay do những lựa chọn của bạn? Là do định mệnh hay lựa chọn mà bạn chọn đọc cuốn sách/bài viết này này?

Chuyện đời Sương (Suh Song Nan) kể câu chuyện của cô gái người Việt với cái tên bình thường Nguyễn Thị Sương, xinh đẹp, khỏe mạnh, sinh ra và lớn lên ở miền Tây sông nước, chọn lựa rời bỏ quê hương để làm dâu xứ Hàn. Ngoài ra, câu chuyện còn đan cài số phận của những con người ở làng Gail, những người ở thành thị Jang và Lee Ryeong là đại diện chính, Sương là một mắt xích tình cờ trong câu chuyện. Một câu chuyện với những tình tiết bình thường, không thật sự có cao trào nhưng bên trong những con chữ là sự cuộn sóng và những âm ỉ trong tâm tưởng của nhân vật. Mộng và thực, quá khứ và hiện tại, suy nghĩ và hành động. Cứ bình thường, bình thường như vậy thôi, trên con thuyền chở đầy chữ lênh đênh cùng dòng suy tưởng của các nhân vật, bạn đọc lật giở từng trang sách cho đến cuối cùng, mọi chuyện được sáng tỏ… nhưng vẫn để lại những nuối tiếc.

Những dòng tiếp theo sẽ tiết lộ kha khá nội dung truyện.

Số phận của phụ nữ bị cái gì quyết định thế?

Theo thống kê từ một nghiên cứu của tạp chí Newsweek được xuất bản năm 2011, Việt Nam xếp thứ 45, Hàn Quốc xếp thứ 80 trên tổng số 165 quốc gia tham gia khảo sát về quyền và chất lượng cuộc sống của phụ nữ. Người phụ nữ gần như không có tiếng nói ở các nước Á Đông nói chung và Hàn Quốc nói riêng.

Lấy chồng, kết hôn, sinh con, chẳng phải cuộc đời một người phụ nữ bình thường nào cũng vậy sao? Người phụ nữ khi lấy chồng sẽ thuộc về nhà chồng, họ sống vì bổn phận chứ không còn vì cá nhân mình nữa. Ta có thể thấy qua người mẹ trong Hãy chăm sóc mẹ, Kim Ji Young trong Kim Ji Young, Sinh năm 1982 và Sương hay Jeong Ha trong tác phẩm này, họ trở nên kiệm lời, ít nói và dần vô cảm. Chúng ta vẫn thường nghe các chị kháo nhau lấy chồng như đánh một canh bạc, ai may mắn thì trúng lớn, ai xui thì thua hết vốn liếng.

Không ai có quyền quyết định quê hương, cha mẹ hay giới tính của mình. Điều họ có thể làm là nỗ lực để cuộc sống tốt hơn.

Sương bỏ quê đến miền đất hứa, những mong tương lai tươi sáng hơn; cô mơ về một gia đình hạnh phúc, với ngôi nhà khang trang, có chồng yêu thương, có những đứa con nhỏ, một mảnh vườn để trồng vài loại cây. Khát khao đó có chính đáng không? Có chứ. Nhưng Sương quên mất rằng, hạnh phúc của bản thân đâu thể nào đặt vào tay kẻ khác, đâu thể nào để kẻ khác quyết định thay mình được.

Sương mơ về chốn thị thành xa hoa, cô thất vọng vì Quốc, người thầm yêu cô nhưng không bao giờ dám thổ lộ, xem thường khi anh không lên thành phố mà mãi quẩn quanh ở vùng sông nước nghèo. Sương có tham vọng, có ước mơ, có chính kiến. Cô dám đi, dám làm và dám gánh hậu quả do quyết định của mình mà không một lời kêu ca. “Nhập gia tùy tục”, khác nhau về ngôn ngữ, cách sinh hoạt, khí hậu… nhưng cô đã thích nghi rất tốt, sau bảy năm làm dâu, cô đã nói tiếng Hàn chuẩn như người bản xứ, nấu món Hàn như một người phụ nữ Hàn thực thụ, đến người làng cũng tấm tắc khen.

Khi không còn hy vọng, Sương làm các công việc hằng ngày như một cái máy, chỉ dám mơ những điều mình thích trong tâm tưởng. Sương hoàn toàn có cơ hội chạy trốn khỏi làng quê nghèo khổ đó nhưng cô không chọn bỏ chạy khỏi nơi đây. Sương như loài hoa rừng hằng ngày Lee Ryeong vẫn ngắm, vừa xinh đẹp rực rỡ, vừa ấm áp nhưng cũng âm thầm. Sương mang vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, chịu thương, chịu khó, nhẫn nại vô cùng.

Ranh giới của yêu và ghét, thiện và ác thật mong manh

Sẽ ra sao nếu một ngày con người, khi mà nỗi đau nuốt trọn tâm trí họ, khi hy vọng bắt đầu bị bóng tối thế chỗ? Liệu những gì tốt đẹp nhất làm nên một con người có trường tồn, hay nó cũng sẽ phai dần cùng những mất mát?

Chồng Sương - Jong Tae, không phải là người xấu. Nhưng anh là kẻ nhu nhược. Anh để mẹ đánh đập, mắng nhiếc vợ dù cô chẳng làm sai gì cả; cách duy nhất anh bảo vệ Sương là để cô trốn sang nhà hàng xóm. Đã có lúc anh quan tâm, yêu thương vợ, anh thấy có lỗi vì đã nói dối Sương khi anh hơn cô 20 tuổi nhưng lại bảo chỉ 10 thôi. Anh muốn bù đắp cho Sương bằng những món quà, dù chỉ là những thứ mĩ phẩm rẻ tiền mua trên phố nhưng an ủi Sương biết bao. Anh chu đáo gói phần quà nhỏ gửi về cho ông bà Sương ở Việt Nam. Những định kiến về quan niệm ăn sâu vào người đàn ông đó, chứ có phải bản chất họ xấu xa đâu.

Khi biến cố xảy ra, hắn ta trở thành một con người khác, triền miên trong những cơn say, đánh, chửi, đổ lỗi lên Sương. Rượu đem đến cho hắn cảm giác giải thoát, làm hắn ta trở nên mất trí, thờ ơ trước khổ đau của Sương, thậm chí làm nên những việc ác. Và Jong Tae đã trở thành một kẻ độc ác vì rượu và cả sự hoài nghi.

Họ không có bằng chứng để kết tội nhưng họ dồn ánh mắt nghi ngờ, đổ lỗi lên Sương. Người duy nhất có thể làm chứng - chú Dong Joo lại bị câm, bà Park - mẹ chú cũng lờ đi những hành động của con trai mình. Ranh giới giữa thiện và ác thật mong manh, sự im lặng đã đẩy một người vô tội đến đường cùng. Không phải một lần mà đến tận hai lần, ngọn lửa đã thiêu rụi hy vọng của Sương, những tàn tro và oan khuất từ vụ chạy đầu tiên vẫn còn đủ để một đốm lửa hy vọng lập lòe, để cô sống, tiếp tục nuôi niềm tin về tương lai tốt đẹp hơn. Nhưng ngọn lửa lần này đã thiêu rụi toàn bộ, thiêu rụi căn nhà trắng, Lee Ryeong và tất cả. Nó cũng lấy đi tiếng nói của Sương. Chẳng còn gì.

Lối sống làng xã ăn sâu và gốc rễ người làng quê

Sương là sở hữu chung của dân làng, những ánh nhìn soi mói của người làng luôn nhìn vào cô, chỉ cần có một hành động sai thôi, cả làng sẽ lên án và vớ lấy lý do “người ngoại quốc” để từ chối nhận cô. Dù ở làng Gail hơn 10 năm nhưng không có hộ khẩu Hàn, mà cho dù có thì đời đời kiếp kiếp cô chỉ là “kẻ ngoại quốc” mà thôi. Dân làng cũng chẳng ưa Jang và Lee Ryeong dù họ mang quốc tịch Hàn, sinh ra và lớn lên ở Hàn nhưng họ chỉ là người giàu về đây chiếm đất.

Những suy nghĩ đâm sâu, cắm rễ trong tâm trí họ, họ không chấp nhận một người ngoại quốc, một người thành phố đến sinh sống ở đây.

Hai người phụ nữ đối lập nhưng cũng thật giống nhau

Nhờ trưởng thôn giới thiệu, Sương đã đặt chân vào ngôi nhà trắng làm người giúp việc. Lúc đầu tôi nghĩ, “Chuyện đời Sương” mà sao những trang viết chiếm sóng của Jang và Lee Ryeong nhiều quá trời vậy? Rồi ai mới là nhân vật chính đây? Nhưng có lẽ, mọi thứ đều mang ý nghĩa riêng, chỉ là chúng ta hiểu như thế nào, hiểu đúng nó hay không thôi. Ngôi nhà trắng Lee Ryeong sống là ngôi nhà ao ước của Sương, ngôi nhà cô thấy trong những thước phim cổ tích, trong tưởng tượng. Hai người phụ nữ, họ đều có những nỗi khổ riêng. Sương sống trong sợ hãi đến mức phải trốn chạy sang nhà bà Park mỗi lần mẹ chồng đánh, đến lúc mẹ chồng qua đời lại là những trận đòn roi của chồng, Sương làm việc bục mặt để trang trải phí sinh hoạt, để nuôi người chồng nát rượu mà chẳng hề ta thán nửa lời. Còn Lee Ryeong, quá khứ của cô quả thực không dễ dàng, khi lấy Jang, cuộc sống cô ổn hơn, hạnh phúc chưa được bao lâu thì tai họa ập đến, cô phải sống với bệnh của mình. Thay vì kiên cường cô chọn trốn tránh, một cái xác không hồn trong căn phòng cánh cửa nhỏ như tờ giấy A3 và tối đen. Cô gái ngoại quốc đã kiên cường hơn, có lẽ vì cô khao khát được sống hơn, vì cô có một ước mơ, một hy vọng về tương lai đổi khác. Chỉ cần còn niềm tin, con người ta vẫn có thể vươn lên.

Sự chối bỏ thực tại luôn ẩn chứa trong mỗi người, khi chúng ta không tìm được hạnh phúc, khi sự thất vọng với thế giới khiến con người muốn tìm một thế giới riêng, trong xã hội đầy những nguyên tắc, đè nén thì sự vươn lên của Sương chính là một điều đáng trân trọng. Sương và Lee Ryeong sắp gặp nhau ở thế giới giao thoa, nhưng mọi thứ dang dở đầy tiếc nuối.

Ngôi nhà trắng: Khi tất cả đều hóa tàn tro

Ngôi nhà trắng là ngôi nhà mơ ước Jang dành cho Lee Ryeong, anh đã xây nó làm món quà cầu hôn người con gái đặc biệt, đó cũng chính là ngôi nhà trong những thước phim Sương mơ về trước ngày sang Hàn. Nó xuất hiện với xứ mệnh tốt đẹp biết bao nhưng chẳng có gì hoàn hảo cả. Giữa vùng quê nghèo, ngôi nhà trắng khang trang giàu có là cái gai trong mắt người làng, nó cũng vô tình là bước đẩy Lee Ryeong bị tai nạn. Từ sứ mệnh tốt đẹp lúc đầu, nó trở thành nơi giam cầm Lee Ryeong. Nhưng nó chính là mắc xích quan trọng kết nối câu chuyện. Để Sương gặp họ, để những mối giao cảm giữa những con người xa lạ thật gần gũi. Họ chưa hề trực tiếp ngồi nói chuyện với nhau; chỉ trong tâm tưởng thôi nhưng ta có thể cảm nhận được. Ngôi nhà cháy, tất cả đều hóa tàn tro, thân thể của Lee Ryeong, niềm hy vọng của Sương. Nhưng nó cũng là sự giải thoát, không biết đúng hay sai khi tôi nghĩ, nó giải thoát Jang, dù anh còn yêu Lee Ryeong nhưng là cô của trước kia, một nữ nhà văn khác biệt, viết vì chính mình chứ chẳng vì ai cả. Nó giải thoát Lee Ryeong trước nhưng tiếng kim loại ing tai trong đầu. Điều đó cũng chấm dứt cuộc đời làm dâu, làm vợ nơi xứ Hàn của Sương. Như một chuỗi vòng kết bằng sợi dây mỏng mảnh, ngọn lửa bùng cháy đốt hết tất cả.

Kết.

Câu chuyện không có sự chênh lệch giàu nghèo như trong Parasites, cũng không có những kịch tính mẹ chồng nàng dâu, motif bệnh ung thư… Ở đó chỉ có những con người với cuộc đời bình thường nhưng đủ để phơi bày hiện thực của ảo vọng đổi đời khi lấy chồng Hàn. Cô dâu Việt dưới ngòi bút của tác giả Suh Song Nan không mạnh về sự kiện, hành động hay lời thoại, xuyên suốt cuốn sách có những góc nhìn đan xen giữa các nhân vật. Nếu bạn đặt kì vọng quá lớn về cuốn sách kể chuyện làm dâu, những drama Hàn thì có lẽ, cuốn sách sẽ làm bạn thất vọng đấy. Nhưng không có nghĩa nó không đáng để đọc, để gặt hái những “quả chiêm nghiệm”, để lắng lòng suy nghĩ về số phận người phụ nữ, về cuộc đời của một con người, tác phẩm này là một sự lựa chọn không tồi.

Hết.

Tài liệu tham khảo:

  1. Suh Song Nan (2021) “Chuyện đời Sương nàng dâu Việt ở xứ Hàn”, NXB Phụ Nữ Việt Nam.
  2. Wikipedia (2021) Xếp hạn nữ quyền theo các quốc gia, truy cấp 18/10/2021: https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%AF_quy%E1%BB%81n
Đọc bài viết

Cafe sáng