Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Như núi như mây: Nỗi đau đồng sàng dị mộng

“Sống trong cảnh đồng sàng dị mộng thật khổ tâm vô cùng, không chỉ cho mình mà còn cho người phải ở với mình nữa”.

Published

on

Thoáng qua

Những cơn gió cứ liên tục thổi bay mây, nhưng dẫu mây có bay đi ngàn năm rồi thì cũng về lại với núi.” – đó là câu nói mở đầu cho chuyện dài tưởng như bất tận của Như núi như mây. Khởi đầu bằng tình cảm thiếu thời của hai cô cậu học trò đương lúc Saigon vươn mình yên ả để rồi sau đó là những biến động năm 75, tiếp tục là sức ảnh hưởng to lớn của bóng ma tư tưởng ngộp thở,… tất cả khiến họ trở thành những đường mải miết không hề giao cắt. Bẵng một thời gian, số kiếp băng qua ngã rẽ của từng người một, đâm vào nghi hoặc, cuối cùng cũng gặp nhau, hàn gắn và rồi mất mát,… tất cả xoay vòng như một thân thế phù du trôi nổi giữa kiếp người này. Với một kết cấu rất dễ bắt gặp ở những tiểu thuyết thiên về tình cảm hiện đại, Nguyễn Đông Thức lầm lì nhấn phanh bơm đầy thứ hơi số phận tréo ngoe vào trong lớp vỏ tưởng như thường tình và phổ biến ấy, thổi chúng căng phồng, căng mãi, căng mãi, để rồi vỡ tung ra từng mảnh nhỏ. Soi chiếu từng mảnh đau thương bằng con mắt nhân quần sau những mỏi mệt đi dọc câu chuyện, dễ dàng ta thấy chìm ẩn đâu đó là những thân phận, là một thời đoạn đầy những bấp bênh dễ chừng lật nhào sau cơn bão lớn.

1. Cơn mộng thứ nhất – Vỏ bọc đẹp đẽ

Một cách trực quan và chiếm đa số thời lượng, Như núi như mây được Nguyễn Đông Thức xây dựng như cuộc rượt đuổi thân phận theo đúng tiến trình của một mô tuýp quen thuộc: mở đầu là những trùng hợp khó tin, tiếp sau là những cao trào nút thắt đi đến đỉnh điểm và cuối cùng là những thoái trào của cơn đè nén suốt chặng đường dài. Nguyễn Đông Thức biết cách giữ nhịp tiểu thuyết, khi luôn đưa ra những khúc quanh mới, để rồi phân chúng thành từng ngã nhỏ, đưa nhiều lựa chọn và hướng nhân vật vào khúc cua nghiệt ngã nhất. Ông dùng những diễn biến ngoại cảnh cùng tâm lí nhân vật như mạch nguồn nuôi sống những đường dây này. Đọc Như núi như mây, ta dễ bắt gặp những nét tương đồng với đầy rẫy tác phẩm ngoài kia: chuyện tình ngang trái một phần nào đó hình dáng Shakespeare, chênh lệch giai cấp cổ hủ gọi mời nhân ảnh Hồ Biểu Chánh, những gian khổ đấu tranh lại đầy rẫy hình bóng Enrique Maria Remarque,… tất cả tựu hình chung nổi bật lên tính phổ biến, một phần tạo nên sự tiếp cận ban đầu dễ chừng thân quen để rồi tăng đều lũy tiến; nhưng cũng đồng thời gây ra một sự nhàm chán đối với những ai yêu thích cái lạ. Thế nhưng một điểm nổi bật dễ nhận ra trong tiểu thuyết này là Nguyễn Đông Thức đã mang tất cả những cái chung chung ấy vào cùng một chỗ, để rồi đưa vào phông nền vô cùng địa phương, hay nói cách khác, gắn mác địa danh lên chính thành phẩm. Và chính yếu tố made in Vietnam này lại làm cho tác phẩm vượt lên theo một mặt khác.

Đọc Như núi như mây, ta thấy hiện lên một Saigon vẫn là nó nhất vào những ngày cuối cùng của một phế tích tráng lệ. Chưa khi nào người ta miêu tả Saigon bằng những lần xem phim ở tầng 2 rạp Eden hay vào La Pagode uống cà phê và nghe nhạc máy jukebox như Nguyễn Đông Thức; cũng chưa bao giờ thấy nhắc đến những vũ trường Catinat, những cục xà bông Cô Ba, thuốc lá Samit hay kem UB trong một tác phẩm văn chương của thời hiện đại. Nói một cách khác, Saigon vẫn luôn sống động trong mỗi câu chuyện của ông, nó là linh hồn chứa đựng những nét riêng biệt cho toàn tác phẩm, nhưng cũng đồng thời, tồn tại song song trong ký ức những người xưa cũ hay tạo lập lát cắt héo úa cho lớp người sau. Và bằng việc tạo cho Saigon một chỗ đứng riêng, Nguyễn Đông Thức cũng đồng thời tạo riêng cho câu chuyện mình một sự cuốn hút khó thể tách rời.

Một thuộc tính khác làm cho Như núi như mây trở nên riêng biệt trong khu rừng đầy những tương đồng đó là thời đoạn. Việc chọn Saigon những năm 70 đầy những đổi thay chính trị khi cao trào giữa quân Giải phóng và phía miền Nam đang lên cao trào một phần làm nên tính chất địa phương cho toàn tác phẩm, đồng thời như là đường dây vận động xuyên suốt của những diễn biến sau này. Việc đôi lứa lìa xa cũng từ chiến tranh loạn lạc, việc cả gia đình chạy về miền Tây cũng từ công cuộc thanh lọc toàn diện chế độ cũ, cho đến chi tiết vượt biên, gặp cướp biển, di cư sang Mỹ, Pol Pot… tất cả xảy ra trong một thời đoạn ắt hẳn phải thế. Việc tính toán chi ly suốt một quãng dài để rồi gặp nhau khi đất nước mở cửa được Nguyễn Đông Thức tính toán kỹ càng, một phần cho thấy câu chuyện đương thời phải thế nhưng cũng đồng thời phản ánh lịch sử một thời đoạn dài.

Điều đáng nói thứ hai là Nguyễn Đông Thức đã một lần nữa không làm người đọc thất vọng bằng những điểm mạnh vốn có của mình. Nếu từng thân quen những chuyện học đường vô cùng ngờ nghệch trong Vĩnh biệt mùa hè hay khoảng thời gian thanh niên sôi nổi của Ngọc trong đá; thì với Như núi như mây ta lại như được sống dậy trong không khí ấy thêm một lần nữa. Nguyễn Đông Thức hiểu và biết cách xoay chuyển tình thế vô cùng nhịp nhàng khi lái câu chuyện vào vùng địa phận thân quen của mình. Ông từ tốn ở đó, từ tốn kể chuyện bằng những câu chữ chắc nịch, để đọc rồi lại thấm thía, rồi lại ước mơ. Từ những thân quen, ông chuyển câu chuyện theo một khía cạnh hoàn toàn khác lạ, dưới một góc nhìn không thể không có trong những tiểu thuyết tình yêu – những dục vọng thể xác. Những sự tiếp xúc về mặt thể xác trong văn ông không đóng một vai chủ chốt như Murakami hay Tanizaki (tuy về mức độ bạo dạn và dữ dội có thể đong đếm ngang ngửa) mà được thêm vào như cách biểu đạt tình yêu không hề che giấu, mà xét ở thời điểm tác phẩm ra đời, đã là một thay đổi đi sâu vào bản chất sự việc rất đáng ghi nhận. Cùng với Ma Văn Kháng ở mảng truyện ngắn; Nguyễn Đông Thức đã góp tên tuổi mình cùng Thuận, Đỗ Hoàng Diệu,… đi sâu khám phá bản thể con người.

2. Cơn mộng thứ hai – Nhát dao rách toạc

Như núi như mây hẳn nhiên như đã nói trên, mang trong mình một sự sóng đôi gần giống tựa đề của nó, khi vừa là một tiểu thuyết tình yêu, vừa là nỗi đau thân phận. Nếu Nguyễn Đông Thức chọn lớp vỏ tình yêu để làm phần nổi đẩy ra trước mắt người đọc, thì cái thấm thía về thân phận từ phía đằng sau như những nhát dao đâm lên lổm chổm. Cái hay là Nguyễn Đông Thức vừa không che giấu hoàn toàn phía sau để người đọc tự mình nhận ra, cũng không để nó lồ lộ trước mắt như những bài ca lịch sử; mà bằng lối viết xen kẽ, ông để hai yếu tố đan cài bổ sung cho nhau đầy tính hợp lí. Như núi như mây là bản trường ca dài từ số phận của người phụ nữ, mở rộng ra hơn là số phận của người di cư và rồi cuối cùng to lớn hơn, là số phận cả thời đoạn dông dài đầy đủ bất trắc.

Lấy hình ảnh những người phụ nữ làm nhân vật chính đi suốt câu chuyện, Nguyễn Đông Thức như muốn khởi đầu từ cái nhỏ nhất, từ sinh thể từ xưa đến nay vẫn luôn được coi là thành tố phụ. Những người phụ nữ trong tác phẩm này chịu nhiều đau thương, họ cùng có vẻ duy mĩ về sắc vóc nhưng cuộc đời lại bi thương đến không ngờ. Vân từ một thiếu nữ cái gì cũng có, muốn gì cũng được như bước ra từ trang viết của Hồ Biểu Chánh; lại sớm dằn vặt đau khổ trước những ngang trái yêu đương khi vẫn lại là vấn đề muôn thuở – giai cấp. Đến khi vùng mình thoát dậy, thời đoạn lịch sử lại nện cho cô những đòn đau điếng. Cuối cùng sau bao khó khăn tìm được bến đỗ, đời sống lại làm teo tóp dần đi khoảng thởi gian ấy. Hình ảnh Liên – một cô gái thanh niên xung phong bám víu vào tình yêu như một bản ngã, để rồi bị phản bội trong tâm tưởng, dằn vặt, học thích nghi và rồi tự mình phản bội. Khác với Dạ Ngân là một phụ nữ viết về phụ nữ vô cùng thành công trong Gia đình bé mọn, Nguyễn Đông Thức viết về những người phụ nữ trong đây với vẻ nâng niu cho một thân phận đã quá mỏi mệt. Tuy đôi khi những trúc trắc hay cách sắp xếp làm nên diễn tiến khiên cưỡng nhô mình vươn ra góc cạnh xù xì chưa được gọt giũa, nhưng nếu nhìn nhận dưới góc độ của một tâm hồn văn chương, thì đó là lời cứu vớt cho những thân phận quá ư chìm nổi. Để rồi sau này mượn một câu nói của Vân, ông viết như cách ta đồng thuận ngầm đầy vẻ cam chịu: “Cuộc sống là vậy, ai cũng phải gạt nước mắt đi tới chứ không thể cứ ngồi than khóc mãi chuyện quá khứ”.

Từ hành trình những người phụ nữ đi tìm tình yêu, Nguyễn Đông Thức hòa cơn bão nhỏ thành những trái ngang của một thời đoạn đầy những con người trong cơn bão lớn. Miền Nam thất thủ năm 75 như một cú sốc lớn cho phe Cộng hòa khi chỉ sau một đêm, từ một người có tất cả đã trở thành không có gì, báo hiệu cho một số phận bấp bênh hiện ra trước mặt. Để chạy trốn cuộc sống kham khổ trước khi Cách mạng ào vào Saigon, lớp tiểu tư sản chỉ còn duy cách vượt biên để rồi trở thành cánh buồm ngoài xa heo hút tâm hồn. Họ bỗng trở thành những người xa lạ, những người không có quê hương, những người chạy trốn vì chính lựa chọn đã gây ra kết cục cho họ thế này. Bị xếp vào hạng người tị nạn, họ vật vờ hiu hắt dáng hình phản chiếu dưới những cơn sóng, phía Tây là tổ quốc trước mặt nhưng không sao về được, rồi cướp biển, trấn lột, cưỡng hiếp… từ một ước mơ ban đầu khiến họ hóa điên. “Nhiều người trong số họ chấp nhận liều mạng đơn giản chỉ vì mong được đổi đời, có một cuộc sống khá hơn trên vùng đất hứa. Nhưng cũng có những người ra đi vì lý do khác. Họ có thể chấp nhận đói khổ, nhưng phải được đối xử công bằng. Họ vất vả cả đời, nhưng ít nhất họ phải còn niềm tin rằng con cái mình sẽ có cơ hội để được vươn lên bằng con người khác… Không có những điều đó, thì có chết họ cũng ra đi.” Thiếu nước ngọt làm họ hóa điên, chứng kiến gia đình tàn sát khiến họ hóa rồ, thần kinh của những người con thời đại này thật quá mong manh khi ánh chớp số phận vừa lóe lên chào.

Nguyễn Đông Thức miêu tả cuộc sống trên trại tị nạn Pulau Bidong thuộc Indonesia chân thực đến từng mảnh đời, tương tự như những trang viết ta từng bắt gặp trong những câu chuyện tị nạn của Pachinko (Min Jin Lee) hay Thoát đến phương Tây (Mohsin Hamid). Ở đó con người vật vờ tựa những ngọn cỏ đắm mình trong ánh hoàng hôn. Những người điên, người lờ đờ dở dở ương ương có mặt ở khắp mọi nơi. Những căn bệnh tâm lý trầm kha lại làm tăng thêm cái vẻ ảm đạm bọc ngoài tác phẩm. Nguyễn Đông Thức khoét sâu vào lòng vết thương, phơi ra hiện thực tưởng như đau đớn và cho ta thấy tâm lý con người có thể mỏng manh đến mức độ nào.

Từ những bước ngoặt lịch sử đó, Nguyễn Đông Thức lẳng lặng phác họa những nét chìm nổi về tính cách nhân quần dẫu cho có quá tiêu cực hay không, khi vào những dịp đặc biệt luôn được phơi bày một cách rõ ràng. Trước tin thắng trận năm 75 ông viết: “Những người lính thua trận vẫn còn lầm lũi đi về như những bóng ma, bên cạnh đoàn quân hôi của đang mệt lử đẩy về nhà những chuyến hàng cuối cùng”. Con người vẫn luôn là thể đa bào lạ lẫm với thâm tâm trong suốt, dường như tùy vào thời đoạn mà được nhuộm thứ màu nào vào trong những ô lưới nhỏ. Những câu chuyện vượt biên đi xa, chạy loạn về miền Tây khi Biên Hòa đang dần thất thủ… tất cả phản ánh nên một thế hệ con người sống động trong những ghì ép thời đoạn. Bên cạnh đó, thế hệ người-trong-bao sau độc lập tin tưởng quá mù quáng vào một lý tưởng hay những người Việt sau khi vượt biên thành công đến Mỹ định cư, dùng thủ đoạn phá giá để tự giết nhau, khiến người Mỹ vì không chịu được bầu không khí trở nên rẻ mạt ấy, đã nhường hết cho họ một phố quận Cam để rồi lẳng lặng ra đi, bước khỏi ngôi nhà của mình… tất cả được khắc họa rõ nét trong tác phẩm này thành một cõi nhân quần rất nhiều xáo trộn.

3. Tỉnh giấc

Như một tấm gương phản xạ những thứ song ánh, Như núi như mây của Nguyễn Đông Thức mang trong mình bộ mặt của một tiểu thuyết thân phận. Xuyên suốt chiều dài của cả tiểu thuyết là những cuộc rượt đuổi tưởng chừng mệt lử của số phận áp lên con người, khi nhu cầu cơ bản nhất của họ lâm vào ngõ cụt. Trong sáng, mưu mô, phản kháng, cam chịu,… đầy đủ các mặt sắc của đời sống tinh thần được thứ dịch xót xa của trúc trắc nuôi dưỡng và một kết cục dễ thấy biểu hiện thành hình. Có thể nói đây là một tiểu thuyết lãng mạn được gia công bởi một tay bút chắc tay, mang đậm dấu ấn thế hệ, dấu ấn Saigon. Nếu bỏ qua sự tham lam vài lần về những sắp xếp bố cục hay ôm đồm quá nhiều chi tiết vào trong, thì Như núi như mây là một tác phẩm vạch tung số phận con người, từ những phụ nữ đến người chạy loạn; từ người tị nạn đến cả nhân quần, tất cả xuất hiện và đứng vào hàng ngũ tiến hóa trên từng nấc thang nhân loại được Nguyễn Đông Thức sắp đặt và đưa vào canh gác từng vị trí trong mạch truyện mình.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Đọc tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát.


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

‘Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao’ để thấy những điều tử tế

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống. Là nguồn năng lượng tích cực, đó là câu chuyện của những người lạ mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu trong đời sống hàng ngày.

Published

on

By

nhin lai cuoc song dep biet bao review

Thời đại bùng nổ của instagram đã mang đến nhiều điều mới mẻ mà từ trước đến nay ta chưa bao giờ thấy được. Tính giản tiện (một giao diện vô cùng dễ chịu) và ngắn gọn (nếu muốn tăng tương tác trong một thời đại ai ai cũng bận rộn) là hai yếu tố căn bản nhất định hình nên tính instagrammable. Những dòng thơ ngắn gọn của Rupi Kaur cùng các nét vẽ sketch line-art như minh chứng rõ nhất cho làn sóng này. Quả thật instagram có một sức mạnh kỳ lạ, nó cuốn hút người đọc không chỉ về mặt câu chữ, mà còn hình ảnh, âm thanh, hiệu ứng và sự lan tỏa. Không chỉ Rupi Kaur chọn đó là nơi những vầng thơ của mình xuất hiện, tài khoản drawings_for_my_grandchildren của ông Chan và bà Marina tính đến nay đã có hơn 412 ngàn người theo dõi, kéo theo đó là sự quan tâm của những kênh truyền thông lớn là cũng một đại diện như thế.

Cũng như Rupi Kaur dùng instagram như cách chia sẻ, phơi bày những cảm xúc cá nhân của mình; ông Chan và bà Marina với những bức họa do chính ông vẽ và bà đề từ đã khơi gợi một sự thân quen của phần đông những người theo dõi. Những ‘tác phẩm’ của hai ông bà có thể nói dễ làm người ta không thể không nhớ, khi đó là những trải nghiệm ai cũng trải qua, và là câu chuyện không của riêng ai. Trên nền của những bức tranh, bà Marina đã diễn đạt lại những suy tư về các đứa cháu của mình. Động cơ ban đầu hình thành nên ý tưởng ấy cũng xuất phát từ việc mong muốn bọn trẻ có thể hiểu được ông bà chúng từng như thế nào, và do đó, đây là một cuốn album kỷ niệm của thời đại mới, nơi những nét vẽ phơi bày tình yêu, còn tính lưu trữ cũng như cảm xúc đi suốt dài hạn.

Điều nổi bật nhất trong hàng loạt những tác phẩm của hai ông bà đó là tình yêu thương vô cùng sâu đậm dành cho những đứa cháu của mình. Như bà chia sẻ, mỗi khi bế chúng trên tay, những đứa bé ấy đều ngay lập tức trở thành con cái của chính bà – những nhân dáng nhỏ mà bà từng bế rất lâu trước đây; nên vì thế, Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao không chỉ là những gửi gắm của ông bà đến các đứa cháu, mà suy rộng ra hơn, đó còn là tình cảm thiêng liêng nói chung của các ông bố, bà mẹ trên thế gian này. Ở đó thông qua giấc mơ, những điều nhỏ nhặt đẹp đẽ… bà khắc họa lại hành trình trưởng thành nhanh và ngọt lịm của những đứa trẻ, từ Lua còn nằm nôi cho đến Arthur và Allan đã có thể tự mình đến trường.

Trong những trò làm nũng, chạy bộ, đá bóng, lái xe scooter cùng nhau, những đứa trẻ ấy trở thành đại diện của những phép màu. Đó có thể là những khoảnh khắc nhỏ chơi bóng với bố, là khi nô đùa vào lúc mùa hạ bên bể bơi của nhà bạn ông… những kỷ niệm đẹp và lung linh diệu kỳ.

Độc giả không cần tưởng tượng hay cố truy sâu, trong từng câu chữ hay nét phác họa của hai ông bà ta đều thấy được điều ngầm ý này một cách chan chứa tình thương và đầy hy vọng. Bà Marina trong một bức vẽ từng hoài nghi về vai trò của mình trong cuộc chạy tiếp sức giữa các thế hệ gia đình, nhưng rồi bà đúc kết lại, cây đuốc cầm trên nắm tay không phải là một vật chất, nó là ngọn lửa yêu thương muôn đời gìn giữ và sẽ truyền lại rất lâu về sau, giữa ông bà và các thế hệ của gia đình mình.

Quyển nhật ký của thời đổi mới

Việc lập ra tài khoản instagram ấy không chỉ dụng ý như tập album lưu giữ những kỷ niệm với con cháu mình, mà đó còn như một quyển nhật ký của thời đổi mới về những suy tư phản ánh ký ức một thời của họ.

Di cư đến Brazil vào năm 1981, hơn 30 năm sống xa Hàn Quốc nên tất cả những trăn trở của hai ông bà ta đều thấy được dấu ấn văn hóa phương Đông. Đó là những suy tư mang đậm tính thiền, về sự chuyển động, xoay chuyển của vòng thời gian; khi xuân đến cũng là xuân đang qua, hay thời gian đã đến trước khi ta kịp nhận ra. Trong nhân dáng của những suy nghĩ đậm tính nhân sinh ấy, những ký ức về người bố cho mình nằm lên người nhằm tránh cái rét mùa đông hay bài hát ru vào ngày Bố Mẹ gợi nhớ đến người mẹ của mình… Tất cả sâu sắc và đậm nét hơn mọi thứ trên đời.

Việc lập ra tài khoản instagram ấy không chỉ dụng ý như tập album lưu giữ những kỷ niệm với con cháu mình, mà đó còn như một quyển nhật ký của thời đổi mới về những suy tư phản ánh ký ức một thời của họ.

Những năm sống ở Hàn Quốc ấy còn là cảm giác mong muốn bé lại khi sống cuộc đời cùng những đứa cháu. Người ông mong nhớ Chiến dịch Ấm đỏ của Đôi quân Cứu tế vào mỗi mùa đông giúp đỡ người nghèo. Ông nhớ một thời vàng son khi mình lên đồ thật ngầu, hát vang nhạc pop để tìm yến oanh. Còn sâu sắc hơn là những ánh xạ của thế hệ này và thế hệ ông bà, của những cặp đôi thể hiện tình cảm trên những băng ghế, của nhóm BTS mà gợi nhớ họ về sự cuồng nhiệt với The Beattles một thời đã từng.

Song song những ký ức ấy, Brazil nơi hai ông bà gắn bó hơn 30 năm cũng hiện lên đầy sắc màu và sức sống. Đó là xứ sở của những con người bình dị, họ sống chan hòa và không thiệt hơn. Là nơi phong cảnh từ phía ngọn núi Jaraguá đang đứng sừng sững giữa một trận mây. Là nơi người ta yêu tỏi đến mức cho nó vào khi nấu cơm. Và cũng là nơi mọi người luôn giúp đỡ nhau, trong một thời khắc khi hai ông bà ngay cả một tiếng Bồ Đào Nha cũng không hề rõ; nhưng với đời sống chan hòa ấy, mọi sự đã đến và lớn dần lên trong trái tim của những con người tử tế.

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống. Là nguồn năng lượng tích cực, đó là câu chuyện của những người lạ mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu trong đời sống hàng ngày. Là một bà cụ hoài nhớ tuổi trẻ trên chuyến tàu điện, là hai người lạ đầy vẻ lo toan, là người nghệ sĩ ngao du bossa nova, là người bán bắp và sự chan hòa không tính thiệt hơn, là những người nghèo nuôi chó như bạn tri kỉ hay cho mèo hoang ăn… Tất cả hiện lên trong từng nét vẽ của ông Chan là sự tử tế, lòng yêu thương và đúng như cuốn sách này mong muốn truyền tải, Nhìn lại cuộc sống thật đẹp biết bao.

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống.

Thế nhưng nó cũng thực tế và đầy cảm hứng với mối nghi ngại của đời sống hiện nay, với bụi mịn, ô nhiễm; với đô thị hóa và những khoảng trời sao đã bị chen lấn và thu nhỏ lại. Ở đó những con người liều lĩnh, đầy vô tâm đẩy tê giác Sudan đến lúc tuyệt diệt. Họ giam cá voi sát thủ làm vật giải trí, họ thấy từng đàn cá voi vào biển tự sát vì rác thải nhựa tràn ngập trong dạ dày chúng… Nhưng họ không biết rồi đến một ngày mình cũng sẽ giống những con vật đó, như Tilikum bị giam ở nơi hồ bơi, họ bị cách ly khỏi đời sống này, khi mùa xuân đến không thể đạp xe, mà còn ngược lại được khuyên ở nhà. Đó không chỉ là hiện thực đời sống, đó còn là những lo lắng cho thế hệ sau đầy bấp bênh và thiếu kết nối.

Với Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao, qua những nét vẽ của ông Chan và lời kể chuyện của bà Marina; những bài học về lòng biết ơn, về sự chia sẻ và lòng cảm thông, về vẻ đẹp của tự nhiên và việc tận hưởng mọi thứ xung quanh thay vì chỉ riêng nhìn về phía trước… đã hiện lên một cách rõ ràng và đầy sinh động. Đó tuy là lát cắt nhỏ của những khoảnh khắc đời thường, thế nhưng nó khiến người ta tốt hơn, cảm thấy hòa nhập hơn và trên hết là cái đẹp sẽ luôn lan tỏa.

Trong một bức ảnh mà bà muốn ông vẽ cho các cháu những chiếc cầu vồng tràn ngập hy vọng; nhưng không đâu xa, đây chính là hy vọng mới mà mỗi một người có thể tìm thấy. Đầy cảm xúc và truyền cảm hứng trong một thời đại của bận bịu, phớt lờ và thiếu kết nối.

Hết.

Chiêu Dương.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi khoảng cách thế hệ khiến con đường “Về nhà với mẹ” thêm xa

Published

on

Trong những ngổn ngang mệt nhoài của cuộc đời, lắm lúc người ta chỉ mơ được về nhà với mẹ. Về để thấy mình luôn hoài bé nhỏ. Về để thấy mình luôn được yêu thương. Về để sống trong những bình yên dung dị suốt cả thời thơ ấu mà ngưỡng cửa trưởng thành đôi khi đã tàn nhẫn cướp mất đi. Nhà là một nơi chốn thiêng liêng dung chứa tất cả mọi thương yêu và sự che chở của cha mẹ. Cha mẹ nào cũng sẵn lòng chờ con. Đứa con nào cũng có thể trở về, dù thành công hay là thất bại. Thế nhưng với Green, một cô gái đang gặp phải những vấn đề khó khăn trong cuộc sống của mình, thì việc phải dọn về sống chung với mẹ - cùng với một cô bạn gái khác – lại là một quyết định không mấy dễ dàng, cho cả ba người…

Mâu thuẫn bắt đầu kể từ khi người mẹ nhận ra sự xuất hiện của Rain trong căn nhà mình. Sự xuất hiện đó đã làm bà lo lắng và bất an vô cùng.  Dù muốn dù không, bà đã không thể từ chối ngay từ đầu. Bà không quen với việc một người lạ nào đó cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt và cùng sống với bà trong căn nhà này. Nhưng vượt trên những nỗi lo đó, điều bà trăn trở nhất chính là mối quan hệ giữa Rain và Green. Cả hai cô gái này không đơn thuần chỉ là những người bạn. Họ yêu nhau. Liệu có một tình yêu thật sự tồn tại giữa hai người con gái?

Trên đời làm sao chấp nhận một tình yêu như vậy, người mẹ vẫn luôn nghĩ? Điều gì đã khiến cho con gái mình trở thành một đứa không bình thường? Green đã hơn ba mươi tuổi, lại là một người học rộng hiểu nhiều, thì lẽ ra Green phải hiểu điều gì đúng, điều gì không đúng chứ? Tại sao nó lại yêu con gái? Tại sao nó không chọn một cuộc sống bình thường như bao người? Tại sao nó cứ thích làm cho bà mẹ già này khổ tâm vì nó? Bà cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi, nhưng vẫn không thay đổi được điều gì. Rồi cứ thế, những bất an ngủ ngầm mỗi lúc càng lớn hơn, nó vô tình tạo nên một hố sâu khoảng cách, đẩy ba con người ở hai thế hệ này đi xa hơn…

Mỗi ngày trôi đi, khi chăm sóc Jen trong viện dưỡng lão, bà đã không ngừng nghĩ về tương lai của mình và của đứa con gái ngu ngốc kia. Jen đã từng là một phụ nữ trẻ sống trong ánh hào quang lẫy lừng với một quá khứ đáng tự hào, nhưng bây giờ đây, lúc cái thân xác này đã trở nên già cỗi, Jen phải nương nhờ vào sự chăm sóc viện dưỡng lão, chỉ vì Jen không có gia đình, chỉ vì Jen không có người thân. Và mặc dù được xếp vào một viện dưỡng lão cao cấp với số tiền lớn đủ để tận hưởng một cuộc sống tiện nghi tuổi về già, Jen lại phải nhận lấy sự chăm sóc hững hờ từ những nhân viên điều dưỡng với một chế độ hà khắc vô cùng. Để rồi khi cảm thấy Jen là một gánh nặng, người ta đã tàn nhẫn chuyển bà sang một nơi khác, tồi tệ hơn, chỉ vì thể nào rồi bà cũng sẽ chết. Nhìn thấy những chuyện đau lòng đó, người mẹ không thể nào tránh khỏi xót xa. Jen một đời sống vì cộng đồng, để rồi những thời khắc cuối cùng lại trở nên thê thảm đến như vậy. Rồi còn mình, rồi còn đứa con gái của mình, cuộc sống sau này sẽ như thế nào đây, nếu như không có ai chăm sóc, người mẹ đã thầm nghĩ.

Càng nghĩ, bà càng lo nhiều hơn. Con người ta đang sống trong thời đại luôn cảm thấy sợ hãi về những ánh nhìn của người khác dành cho mình. Hàng xóm đã bắt đầu bàn tán ra vào về mối quan hệ giữa Green và Rain. Thời cuộc cũng đã lên tiếng khi trường của Green bắt đầu sa thải những giáo viên đồng tính mà không có lí do. Green mỗi ngày đều cố gắng đấu tranh để giành lại công bằng cho chính mình và cộng đồng LGBT, dẫu sự đấu tranh đó phải đánh đổi rất nhiều bằng máu và nước mắt. Những con người kia, ai cũng cho là mình đúng – dưới góc nhìn của mình, nhưng không ai thử một lần đặt mình vào vị trí của người khác để nhìn nhận ra vấn đề. Đúng, vấn đề là nằm ở đó.

Về mặt người mẹ, bà không ngừng đau khổ trước những trăn trở này. Bà luôn muốn Green trở về là một đứa con gái bình thường, lấy chồng, có con, sống một cuộc đời giống như những người khác, để không phải có một kết thúc buồn bã giống như Jen. Nhưng bà càng cố gắng hướng cuộc sống của Green theo mong muốn của bà, thì kết quả lại càng trở nên tệ hại. “Tại sao phải lấy chồng hay có con mới là lập gia đình? Mẹ, Rain là gia đình của con. Cô ấy không phải bạn bè. Suốt bảy năm qua bọn con đã sống như gia đình. Gia đình là cái gì? Không phải là chỗ dựa tinh thần, là người luôn ở cạnh mình sao? Tại sao như thế này được coi là gia đình, như thế kia lại không?” Mối quan hệ giữa hai mẹ con ngày càng tệ. Bà nhận ra bà đã thay đổi rất nhiều, bất mãn hơn, cộc cằn hơn khi nói chuyện với Green. Và Rain, cũng chính là một thứ đáng ghét nhất trong cuộc đời của bà. Những mâu thuẫn nối tiếp mâu thuẫn. Ba con người với những suy nghĩ và cách sống khác nhau đã không thể nào hàn gắn dù vẫn đang sống dưới một mái nhà, trong một bầu không khí…

Chỉ đến khi những giọt nước mắt rơi, và máu đã đổ xuống…

Mọi sự hi sinh nào cũng đều có ý nghĩa.

Điều gì là đúng và điều gì là không đúng theo cách nhìn của người đời, đến giờ phút này nó không còn quan trọng nữa. “Giá như mọi thứ lại quay trở về vị trí ban đầu. Giá như cuộc sống luôn suôn sẻ thuận lợi. Nhưng có lẽ đang đợi tôi phía trước sẽ là một cuộc sống luôn phải đấu tranh và chịu đựng không ngừng nghỉ. Thế nên điều tôi nghĩ bây giờ không phải là ngày mai xa xôi nữa. Mà là hiện tại tôi đang đối mặt. Tôi sẽ chỉ nghĩ về những chuyện đã xảy ra ngày hôm nay và cách mình đã thu xếp mọi chuyện suôn sẻ. Và tôi cũng tin rằng, mình chỉ có thể vượt qua những ngày mai dài đằng đẵng theo cách như vậy mà thôi.”

Những ngày tiếp theo đó, ngay cả bản thân người mẹ cũng không biết rằng rồi mọi chuyện sẽ đi về đâu, nhưng bà đã tin, việc cần làm ngay lúc này, chính là đối mặt với hiện tại. Đối mặt, chứ không phải là trốn chạy. Và khi người ta đã có đủ dũng khí để đối mặt, cũng giống như người ta đủ can đảm để chấp nhận một sự thật nào đó. Sự thật thì mãi luôn luôn là sự thật, dù nó có bị người ta thêu dệt bởi vài ba cái ý niệm dối trá nào để bao biện cho một lí do nào khác.

Đọc đến những trang cuối cùng của cuốn sách, tôi hiểu ra được sức mạnh của sự thấu hiểu lớn lao đến nhường nào. Người ta ghét nhau vì người ta không thấu hiểu nhau. Người ta hờn giận nhau cũng vì thế. Vậy điều quan trọng ở đây là gì? Là tại sao người ta lại không cùng ngồi lại và nói với nhau? Nhưng điều này đôi khi thật khó, bởi ai cũng có những suy nghĩ của riêng mình, ai cũng có một cái tôi thật cao và nhất quyết không chịu nhân nhượng trước bất kì lý lẽ nào chống đối lại mình. Bởi vì vậy mà mới nói, sức mạnh của sự thấu hiểu lớn lao đến nhường nào. Nó lớn đến nỗi, người ta cứ nghĩ là mình sẽ không bao giờ làm được.

Nếu như Green và Rain không dọn về sống cùng với mẹ, nếu như không có những mâu thuẫn, tranh cãi giận hờn giữa cả ba người, thì có lẽ những trăn trở trong lòng nhau vẫn luôn hoài tồn đọng. Có phải chăng, thứ có thể giải đáp những khúc mắc đó, chính là sự thấu hiểu yêu thương? Cuốn sách cũng từ đó khép lại, nhẹ nhàng và rất đỗi đời thường…

Được viết theo lời kể của nhân vật người mẹ, Về nhà với mẹ mở ra một góc nhìn mới về những suy nghĩ, nhận định và cách phản ứng với vấn đề của các bậc phụ huynh. Cha mẹ đôi khi có những suy nghĩ thật khác với con cái, và những suy nghĩ đó có thể đúng hoặc có thể sai, nhưng chung quy lại, tất cả những gì cha mẹ làm đều xuất phát từ yêu thương và mong muốn con mình được tốt đẹp. Cuốn sách như chiếc cầu nối hai khoảng cách thế hệ lại với nhau. Các bậc cha mẹ có cơ hội để hiểu rõ cuộc sống của con cái, còn con cái thì cảm thông và nhìn nhận được suy nghĩ của cha mẹ. Chỉ cần thấu hiểu nhau, thì giận hờn nào cũng sẽ được xóa bỏ.

Tác giả Kim Hye Jin đã rất khéo léo khi xây dựng một bối cảnh xã hội Hàn Quốc hiện đại với nhiều kiểu người, nhiều câu chuyện rất thật, để từ đó làm bật nổi lên những góc nhìn đa chiều với nhiều vấn đề nhức nhối âm thầm trong cuộc sống. Về nhà với mẹ không chỉ gợi lên những suy tư, nỗi niềm của một người mẹ trước cuộc sống bấp bênh của con gái mình, mà còn phản ánh cái nhìn khắt khe của xã hội dành cho cộng đồng LGBT và phơi bày tâm lý con người trước những khía cạnh đạo đức, giàu nghèo, tình người… Dù được viết bằng ngôn từ đơn giản thân thuộc, nhưng những câu văn của tác giả đều để lại trong lòng độc giả những triết lí sống vô cùng sâu sắc về những tư tưởng và nhân sinh quan mới mẻ, có thể thay đổi được quan niệm đã cũ của một con người.

Và khoảng cách thế hệ chỉ khiến con đường về nhà với mẹ thêm xa hơn, chứ không phải là không bao giờ tới…

Hết.

Lâm Lâm

Ảnh đầu bài: Nhã Nam


Bài viết chung chủ đề

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tàn ngày để lại: Về một người đàn ông tự dối lòng

Published

on

Kazuo Ishiguro nói ông viết Tàn ngày để lại trong vòng 4 tuần, bằng cách đưa bản thân vào trạng thái mơ hồ nhưng tỉnh táo cao độ gọi là crash. Trạng thái kỳ dị ấy kết hợp cùng một giọng điệu trần thuật bậc thầy đã tạo ra một thiên tiểu thuyết vô tiền khoáng hậu về một người quản gia, mà rộng hơn, về một cách làm người.

Nếu tìm một người dẫn chuyện muốn đứng ngoài câu chuyện của mình, hòng nắm bắt những suy nghĩ chủ quan bằng giọng kể dường như khách quan ở ngôi thứ nhất, thì Stevens là lựa chọn không thể tốt hơn. Xuất phát từ điểm nhìn của một quản gia tận tụy hết mực, Stevens để cho câu chuyện đời mình rỉ rả chảy qua lỗ khóa thời gian chậm rãi nhưng kiệt lực. Thông qua đó, Stevens phong kín cảm xúc của mình đến độ nếu không thực tâm chú mục vào phía bên kia, – tức phía không được phơi ra trên bề mặt tiểu thuyết – ta không tài nào nhận ra được sự vỡ vụn trong tâm hồn ông.

Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Tàn ngày để lại.

1. Khi những điều người ta muốn viết lại không nằm trên giấy

Như Márquez đã từng nói, người ta ai cũng có ba cuộc đời: công khai, riêng tư và bí mật cân bằng với nhau. Riêng với Stevens, công việc quản gia làm cho khía cạnh riêng tư và bí mật trở thành một đám mờ không hơn những bụi mây bên rìa cuộc sống.

Giả như có ai đó thử định nghĩa cuộc đời bằng những gì người ta đã làm thì Stevens còn lâu mới với tới được khung đó, bởi dẫu cho tất cả công việc của ông, sự tận tụy, chỉn chu, trung thành và ý thức “phẩm cách” nghề nghiệp của mình, Stevens chỉ đang dẫm vào bước chân người cha để rồi hóa thân thành cái bóng cho chủ nhân mình. Cuộc đời ông thực chất nằm ở phía âm tính, phía những việc dù muốn hay không, vẫn chưa làm được.

Mối tương quan kỳ quặc đó còn vận cả vào trong cuốn tiểu thuyết – hồi ký, khi cuộc đời Stevens thực chất nằm ở những câu chuyện không được kể. Thử chọn bất kỳ một thời điểm, một sự việc nào, người ta đều có thể tìm thấy dấu vết ngụy trang ẩn tàng. Nhìn vào cách mọi việc diễn ra, từ khởi hành cho tới kết thúc, sự bình thản, nghiêm trang luôn chực chờ đổ vỡ bởi giọng nhỏ nuối tiếc đi kèm. Cũng phải thôi, công bằng mà nói, khi con người đã đi đến bên kia sườn dốc, lẽ đương nhiên sẽ thôi thúc người ta trở ngược lại mà ngắm nhìn cảnh sắc mình đã lỡ bỏ qua chứ không phải những cảnh người ta đã thấy hàng bao lần. Hơn nữa, với một người sống qua nhiều đời chủ nhân, đi qua hai cuộc thế chiến thì mong muốn giấu mình lại càng trở nên mãnh liệt. Đứng trước đống hoang tàn sau chiến tranh, sở mục một thời vàng son đã trở thành dĩ vãng, người ta lại càng có cớ tô vẽ những điều tốt đẹp mà bỏ quên những khía cạnh khác. Câu hỏi lớn về “phẩm cách” tồn tại như một cách níu kéo cân bằng mong manh giữa một cuộc đời lý tưởng đang trên đà sụp đổ. Bởi nếu không bám vào đó, liệu cuộc đời Stevens sẽ còn ý nghĩa gì chăng? Điều đó giải thích tại sao cứ dăm trang sách, người ta lại bắt gặp nỗi tiếc nuối cá nhân xen vào giữa lòng đắc thắng với công việc chính là vì vậy.

Nhưng không phải toàn bức tranh đều mang màu xám. Cho đến cuối, Stevens ít ra cũng đã thành công giải thoát mình khỏi thế lưỡng nan cuộc đời.

Có ích gì khi người ta trăn trở quá nhiều rằng mình đã có thể hay chẳng thể làm gì để nắm giữ tiến trình cuộc đời mình? Hẳn nhiên nếu những người như quý vị và tôi ít nhất cũng gắng khiến phần công sức nhỏ bé của mình góp vào những gì thật sự chân chính và đáng giá, thì cũng đủ rồi. Và nếu có ai trong chúng ta sẵn sàng hy sinh nhiều điều trong đời để theo đòi những tâm nguyện ấy, thì hẳn nhiên chính bản thân việc ấy, bất chấp kết quả có ra sao, cũng đáng tự hào mãn nguyện rồi.

Thử đặt Stevens và cha ông lên cùng bàn cân, giữa một người mãn nguyện đầy tự hào với một người ra đi trong tiếc nuối, chừng đó đủ thấy sự giải thoát bản thân khỏi những trăn trở cuộc đời đem lại sức nặng đến dường nào. Dẫu sao thì con người cũng phải vượt thoát khỏi những hình bóng tinh thần để giữ mình hiện hữu với thế giới. Đó mới là cuộc sống.

2. Sức nặng trong lời tự thú của một người đàn ông

Nếu bỏ qua mớ lý thuyết “phẩm cách” ngoắc ngoéo đeo đuổi Stevens suốt công cuộc Tây tiến, vứt hết bộ cánh quản gia bám theo ông suốt ba mươi lăm năm cuộc đời để tập trung bóc tách sự thật ẩn sâu dưới những lớp tự thoại liên thiên, thì không khó để người ta nhận ra đâu là cốt lõi con người ông. Nói thẳng ra, là câu chuyện của Stevens với cô Kenton.

Cảnh trong phim Tàn ngày để lại (The Remains of the Day), ra mắt năm 1993.

Với tất cả sự lý tính làm nên con người Stevens, không thể mong đợi một chuyện tình kiểu mẫu của hai người bọn họ được. Khi nói chuyện tình kiểu mẫu, có nghĩa người ta muốn ám chỉ Cuốn theo chiều gió, Jane Eyre hay Cỏ chân ngỗng, cũng có nghĩa là những chuyện vẫn không thường xảy ra bất chấp việc chúng thường được trích dẫn. Thậm chí, Stevens còn không chủ định để lộ bất kỳ dấu hiệu nào cho bất cứ ai trong toàn tiểu thuyết. Sự thể Kenton phát hiện ra Stevens vẫn thường đọc những chuyện tình ướt át không đi khỏi khuôn khổ tình cờ. Để mà nói, những gì xảy đến giữa họ cũng u ám hệt như dãy hành lang phụ dành cho gia nhân phía sau Dinh Darlington, chỉ được nhìn nhận ở mặt lưng của cuốn hồi ký. Hai người không hẹn mà gặp cùng tham gia vào trò chơi tình ái chẳng mấy hấp dẫn khi một người phải cố sức thể hiện đồng thời giấu kín tình cảm của mình với người kia và ngược lại. Dễ hiểu trò đi dây này rồi sẽ kết thúc trong nước mắt. Nhưng nếu không có những giọt nước mắt muộn màng của cô Kenton, thì ắt hẳn Stevens sẽ mang theo tình cảm của mình xuống mồ. Khoảnh khắc ông thừa nhận tình yêu dành cho bà cũng là thời điểm trái tim ông vụn vỡ.

Thực vậy – có gì mà không thừa nhận điều này chứ? – vào giây phút ấy, tim tôi như tan vỡ.

Thực vậy – dẫu cho suốt chiều dài hơn ba trăm trang tiểu thuyết, không dưới ba mươi lần ông tự nói với mình hay với người khác, cách này hay cách khác, bằng giọng Anh mẫu mực không thể nghi ngờ tính chân thực trong câu chuyện ông kể, dù cho tất cả những thứ đó – chỉ duy nhất lần này Stevens dám can đảm thú nhận tình cảm của mình. Khi một người đàn ông bày tỏ tình cảm – công khai, riêng tư hay bí mật – nhất là thứ tình cảm được ủ chượp hơn ba mươi năm trong hầm giam “phẩm cách”, thì dường như chẳng còn gì để kể, để mà nói nữa. Thời gian sẽ dừng lại ngay lúc ấy để xúc cảm cuốn đi tất cả. Tuy vậy, không phải mọi thứ đều kết thúc. Mặc cho chuyến hành trình về miền Tây nước Anh đã đi đến điểm cuối, mặc cho cuốn hồi ký cá nhân sắp ngưng giọng, giờ đây cuộc đời thật của Stevens mới chỉ vừa bắt đầu. Cuộc đời ông chỉ vừa bước sang buổi tối. Và buổi tối mới là phần hay nhất trong ngày, là thời điểm thu vén ánh tàn sau ngày dài làm việc, khi trái tim mỏi mệt được chữa lành và an nghỉ.

3. Tàn ngày để lại

Suy cho cùng, đâu có thể quay ngược thời gian được nữa. Người ta không thể ngâm ngợi mãi những gì đã có thể xảy ra. Người ta cần phải nhận ra mình đang có một thứ cũng tốt gần bằng thế, thậm chí còn hơn thế, và biết cảm kích vì điều đó.

Đến một lúc nào đó trong đời, khi sự sai khác về không - thời gian chẳng thể cản nổi lời mời gọi ký ức, người ta sẽ lộn ngược cuộc đời mình lại mà suy nghĩ, ngâm ngợi về những chuyện đã và chẳng xảy ra. Công cuộc xét lại đó có thể xuất hiện dưới hình dạng một cuộc nổi loạn tuổi thiếu niên, trá hình bên trong khủng hoảng tiền – trung niên, mà cũng có thể đơn thuần như một cơn gió nhẹ tuổi xế chiều. Khi thời khắc đến, người ta không khỏi ngăn mình tiếc nuối đôi chút. Suy cho cùng, đó là cả một cuộc đời.

Lẽ tất yếu, người ta luôn tìm thấy hình ảnh đời thường nào đó cốt gán lên nó mớ ý nghĩa trôi qua trong khoảnh khắc quá khứ đã bỏ lại sau lưng. Rất nhiều lần Stevens thoát ly thực tại để đi tới công cuộc xét lại đó, và bất kỳ ai cũng dễ dàng làm được. Tất cả những gì người ta cần làm là đứng trước biển, nhưng tại sao lại là biển? Có lẽ bởi sự mênh mang vô bờ bến, cũng có thể sự uốn lượn tuần hoàn của những con sóng, hay sự bàng bạc của mặt nước khi tàn ngày, dù sao thì cảm giác không – thời gian trước biển mang độ siêu thực nhất định, dễ dàng châm ngòi cho quả pháo ký ức.

Stevens đã chọn cầu tàu ven biển để đóng gói cuộc đời. Tại sao không? Đứng trước biển, đám đông tản mác, rặng phi lao gió lộng, rồi một con tàu nơi đường chân trời, rồi thì chỉ còn có bản thân. Người ta sẽ không ngần ngại ban cho con tàu đó ý nghĩa cuộc đời, với vô số bờ biển nó đã đi qua, cuối cùng cập bến nơi người ta đang đứng đây. Luôn luôn là bến bờ tiếc nuối. Mấy ai trong đời chịu từ bỏ những trăn trở khi tàn ngày mà nhìn nhận lại rằng, bờ biển ta đang đứng chỉ là một trong vô vàn mẫu ngẫu nhiên mà tạo hóa dẫn lối mà kiếm tìm cái đẹp trong nó. Rất có thể Stevens đã kiếm tìm một hình ảnh như vậy để vin cuộc đời ông vào. Và có vô số Stevens khác đứng trên cầu tàu đón ánh tàn chiều hôm ấy.

*

Có những ý nghĩ chỉ hiện hữu trong tâm trí mà không thể diễn tả thành lời. Cũng có những lời không thể hiện hữu trong tưởng tượng. Tàn ngày để lại là một câu chuyện như thế, nó thúc ép ta phải trở đi trở lại giữa tâm trí và ngôn từ, hòng kiếm tìm một sự thật khả dĩ về cách sống, cách làm người.  

Hết.

3V

Ảnh đầu bài: A.N (Thanh Niên)

Đọc bài viết

Cafe sáng