Phía sau trang sách

Lolita: Giai điệu cổ điển táo tợn, ranh mãnh và đẹp đẽ

“Chưa bao giờ, phải, chưa bao giờ tôi từng đọc một tác phẩm nào khó đọc đến như vậy. “

Published

on

“Chưa bao giờ, phải, chưa bao giờ tôi từng đọc một tác phẩm nào khó đọc đến như vậy. Khó đọc, đó là một từ chuẩn xác, một cuốn tiểu thuyết làm người ta phải chóng mặt với vốn kiến thức về ngôn ngữ, văn hóa, lối sống… ‘khủng’ về mọi mặt của tác giả.”

Thứ nhất, câu chuyện là sự pha trộn của gần hết các thứ tiếng ở Châu Mỹ và Châu Âu, đủ cho thấy khả năng ngoại ngữ siêu phàm của người viết.

Thứ hai, hành văn đứt nối, tưởng chừng ngắt quãng, đôi chỗ làm người đọc hoảng loạn, choáng váng cả về không gian và thời gian, bất ngờ, kịch tính nhưng lại lặng lẽ… thật kì diệu!

Thứ hai, mỗi câu mỗi chữ đề có tới mấy tầng nghĩa, lớp lớp chồng chồng, đọc xong một câu văn, người đọc như lặng đi trong thế giới tưởng tượng của riêng mình, trong tầng nghĩa mà mình hiểu, rồi lại bất ngờ khi lần đọc kế tiếp mình lại hiểu theo một nghĩa khác, rất kích thích, rất mới mẻ.

Thứ tư, mạnh bạo và phóng túng đề cập tới những từ ngữ nhạy cảm nhất, những chi tiết bùng nổ nhất. Lần đầu đọc, tôi phải công nhận vì sao có một thời thiên tiểu thuyết này dấy lên luồng tranh cãi giữa giá trị nghệ thuật hiện thực với sự rẻ mạt của một cuốn truyện khiêu dâm.

Thứ năm, chủ đề đột phá, bước ngoặt trong tư tưởng của một nhà văn. Tình yêu giữa một người đàn ông và một bé gái… có nhiều điều để nói hơn là một tình yêu thông thường. Đã vậy, khi đề cập tới tình yêu ở đây, tác giả gần như đồng nhất nó với thú vui thể xác, rất mạnh dạn, rất quyết liệt, rất phá cách.”

Đó là lời nhận xét của một độc giả sau khi thưởng thức hơn 400 trang của Lolita, kiệt tác của đại văn hào người Nga V. Nabokov.

Có một số ý kiến so sánh tình yêu của Humbert và Lolita với tình yêu Romeo và Juliet, vĩ đại mà chỉ bị sai lầm về tuổi tác. Có ý kiến cho rằng đây là một kiệt tác của một bậc thầy về ngôn ngữ. Và có độc giả không thể hiểu nổi V. Nabokov viết cái gì.

Được xếp vào top 10 tác phẩm gây tranh cãi nhất thế giới, top 100 tác phẩm xuất sắc nhất mọi thời đại, kiệt tác của văn chương thế kỉ XX, Lolita, cái tên không chỉ của một cuốn sách, một bộ phim mà đã đi vào tâm trí những ai yêu thích tác phẩm này như một tính từ riêng, một dấu ấn không thể nào quên. Một cuốn sách mà từ lúc khởi thủy, cho đến nay đã đi qua bao nhiêu sóng gió và vẫn luôn giữ được sức hút riêng của nó. Lolita đã từng được coi là một cuốn dâm thư và bị từ chối phũ phàng ở Mỹ, một quốc gia dường như luôn chấp nhận mọi tồn tại nghịch lý nhất của cả đời thường lẫn nghệ thuật, mặc dù V. Nabokov đã hy sinh thói quen viết tiếng Nga, tiếng mẹ đẻ mà ông nắm vững như lòng bàn tay mình, để chuyển sang viết tiếng Anh phục vụ độc giả.

Chính V. Nabokov cũng đau lòng một cách hài hước mà rằng: Có biên tập viên thông minh về các mặt khác, nhưng trong trường hợp này, mới đọc lướt phần đầu đã nhận định Lolita là “châu Âu già hủ hóa châu Mỹ trẻ”, trong khi một tay đọc lướt khác lại thấy trong đó hình ảnh của “châu Mỹ trẻ hủ hóa châu Âu già”.

Nabokov cũng than phiền rằng có ông chủ NXB thấy tiếc vì trong cả cuốn sách không có người tốt nào cả. Một ông chủ NXB khác nói, nếu ông in Lolita thì cả ông và Nabokov sẽ đi tù. Thậm chí “có những tâm hồn đôn hậu tuyên bố rằng Lolita chẳng mang ý nghĩa gì hết vì nó không dạy được họ điều gì” khi mà Lolita chỉ là câu chuyện đáng xấu hổ về một gã tâm thần và một cô bé dậy thì sớm lẳng lơ.

Sau đó cuốn sách đã được in lần đầu tiên ở Paris. Những người chấp nhận Lolita gọi đó là một cuốn sách khiêu dâm kết hợp với cách dạy dỗ hành vi ứng xử. Nhà văn Martin Amis còn cho rằng Lolita chính là biểu tượng của chủ nghĩa cực quyền đã phá hỏng nước Nga trong ánh mắt tuổi thơ của Nabokov.

Còn với Nabokov trong toàn bộ các cuốn sách của ông thì Lolita là tác phẩm tinh khiết nhất, trừu tượng nhất và được ông tính toán cẩn thận nhất. “Lolita là một tác phẩm được tôi đặc biệt ưng. Đó là tác phẩm khó khăn nhất của tôi, nó xử lý một chủ đề quá xa, quá tách biệt với đời sống xúc cảm của tôi, bởi vậy nó cho tôi niềm vui được vận dụng kết hợp nhiều tài năng của mình để làm cho câu chuyện không trở thành giả tạo.”

“Lolita, ánh sáng của đời tôi, ngọn lửa nơi hạ bộ của tôi. Tội lỗi của tôi, tâm hồn của tôi. Lo-lee-ta: đầu lưỡi lướt xuống ba bước nhỏ dọc vòm miệng, khẽ đập vào răng ba tiếng. Lo. Li. Ta.

Buổi sáng, em là Lo, ngắn gọn là Lo thôi, đứng thẳng cao một mét bốn mươi sáu, chân đi độc một chiếc tất. Mặc quần thụng trong nhà, em là Lola. Ở trường học, em là Dolly. Trên dòng kẻ bằng những dấu chấm, em là Dolores. Nhưng trong vòng tay tôi, bao giờ em cũng là Lolita.”

Nếu tóm tắt cột truyện Lolita ta có thể diễn giải mấy dòng sau:

Một tiến sĩ văn học người gốc Âu yêu si mê khốn khổ một em bé gái Mỹ mười hai tuổi đến nỗi buộc phải kết hôn với mẹ cô bé, người mà ông ta không yêu, chỉ để hàng ngày được gần gũi với người thương. Sau khi mẹ cô bé chết trong một tai nạn, tiến sĩ cùng con gái vợ chu du khắp nước Mỹ.

Rồi cuối cùng, vì lòng ghen tuông, vì nỗi đau đớn bởi sự mất mát tình yêu, ông ta trở thành kẻ giết người và đây chính là tập hồi ký của Humbert, một kẻ tâm thần.

Nếu chỉ đơn giản thế, ta có thể xếp Lolita vào danh sách dài những câu chuyện loạn luân rẻ mạt nhan nhản hàng ngày.

Nhưng Lolita hơn thế rất nhiều!

journal-book-cover-design-3-new-jpeg

Đó là sự tinh vi dò xét tâm lý con người; đó còn là những nước cờ ngôn từ kiệt xuất của một trong những thiên tài văn chương lớn nhất.

Humbert, nhân vật chính của truyện, hơn Lolita 21 tuổi. Humbert đã bảo vệ luận án tiến sĩ, các bài báo khoa học vẫn thường xuyên được đăng tải, được các trường đại học mời giảng dạy, có mối quan hệ tốt đẹp với tất cả những người xung quanh, được đánh giá là một người nhã nhặn, lịch thiệp và nhân cách tốt, được phụ nữ mê như điếu đổ với bề ngoài điển trai. Tóm lại mọi hành vi và tác phong của Humbert hoàn toàn bình thường, đến nỗi cả hai người vợ và bạn bè anh ta đều chẳng hay biết  anh ta một kẻ tâm thần mắc bệnh ham muốn tình dục với trẻ con, hay còn gọi là bệnh ái nhi.

Gã Humbert một phần cứ phải che giấu con người thật để chứng tỏ mình là một người đàn ông bình thường, một người văn minh khiến ngay cả khi gã chưa bị bỏ tù thì cũng giống như đang sống trong một cái nhà tù vô hình với một tưởng tượng vô hình về cái “cù lao thời gian thần tiên vô hình”.

Phần nữa, gã luôn phải đè nén và che giấu cái ham muốn tội lỗi của mình, cái ham muốn mà càng cố gắng đè bẹp, nó càng khiến cho gã phát cuồng lên, đặc biệt là khi Humbert sống kề sát Lolita, bị cô bé kích động hàng ngày, mà luôn phải giả bộ là một người cha dượng thân ái và lịch thiệp. Humbert yêu thương và tôn thờ Lolita như với cách mà anh ta gọi các em bé gái: Tiểu nữ thần. Tình yêu đơn phương của H.H cũng có đầy đủ các cung bậc của một thứ tình yêu tột đỉnh. Sau sự phản bội của Lolita, gã cha dượng H.H nổi lòng ghen tuông và “Lo ngước mắt lên với một nụ cười nửa miệng ngỡ ngàng và chẳng nói chẳng rằng, tôi bạt một cái tát tai trời giáng trúng cái chỏm nhỏ, cứng và nóng của gò má em…”

Và tiếp đến là hối hận, là nức nở chuộc tội êm dịu đến thắt lòng, là quỳ gối yêu đương, là làm lành trong mê cuồng xác thịt đến tuyệt vọng. “Trong đêm nhung lụa ở motel Mirana, tôi hôn lòng bàn chân hoe hoe vàng với những ngón dài của em, tôi đốt cháy mình…” Humbert vừa là chủ nô, vừa là nô lệ của Lolita, và toàn bộ câu chuyện toát lên rất rõ hai khía cạnh mâu thuẫn đầy ám ảnh này.

Lolita tên thật là Dolores Haze, là một cô bé tính khí thất thường, vừa ngây thơ, vừa dày dạn. Có thể người đàn bà trong cơ thể cô phát triển quá sớm, với những khao khát về tình dục quá sớm trong khi trí não cô cũng không trưởng thành hơn tuổi mười hai là mấy, mọi hành vi của Lolita chỉ là sự tò mò của một bé gái dậy thì.

Trong suốt cuộc hành trình chạy trốn rong ruổi suốt nước Mỹ, cô vừa có những cuộc truy hoan cùng người đàn ông đáng tuổi bố mình, vừa thèm thuồng những trò chơi tinh nghịch mà lứa tuổi “tiểu nữ thần” như cô ưa thích. Và cũng đúng như tính cách của một đứa trẻ, cô nhanh chóng chán “cái thế giới Humberland màu nâu sậm và đen kịt”. Cô chạy trốn, cô chối bỏ bởi trước mắt cô là một tương lai mịt mù bởi một thứ tình yêu nô lệ tước đoạt cả tuổi thơ, tước đoạt tự do, tước đoạt một cuộc sống bình thường.

Lolita đáng thương hơn là đáng trách bởi cô chỉ là cô bé không cha không mẹ, không bạn bè và không người chia sẻ sống trong một môi trường bất bình thường, với một kẻ bất bình thường nuôi dưỡng một thứ tình yêu bất bình thường.

Không thể phủ nhận Lolita là một tiểu thuyết khó đọc, có thể ở những trang đầu độc giả có thể sẽ bị choáng vì nó khó nhằn, cảm thấy ghét Humbert và cả Lolita nhưng nếu chịu khó theo dõi tiếp thì sẽ cảm thấy vô cùng thú vị với lối chơi chữ cũng như diễn biến của câu chuyện. Cuộc hành trình của hai con người ấy sẽ khiến người đọc cảm thấy buồn bã, thương cho số phận của những nhân vật, đồng cảm, tìm ra sự yêu thương nhiều hơn là căm phẫn. Và cuối cùng là sự vỡ òa khi Humbert đã xóa bỏ nguyên tắc mang mã gene độc nhất vô nhị của mình, xóa bỏ tư duy mỹ cảm của một người đàn ông, xóa bỏ lòng kiêu hãnh của một nam nhân khi nhìn cái bụng to phình của người thương đang mang đứa con của kẻ khác.

“Tôi khẩn thiết muốn thế giới biết tôi yêu xiết bao Lolita của tôi, chính Lolita này, trắng bệch và ô nhiễm, với đứa con của một kẻ khác trong bụng, nhưng vẫn còn nguyên cặp mắt xám với rèm mi đen nhánh như bồ hóng, mái tóc vẫn nguyên màu hạnh đào nâu đỏ, vẫn là Carmencita, vẫn là của tôi. Ngay cả như vậy, chỉ cần trông thấy bộ mặt thân yêu tái nhợt của em, chỉ cần nghe âm thanh cái giọng trẻ khản đặc của em, lòng tôi đã ngập tràn thương mến đến phát điên rồi, ơi Lolita của tôi.”

Chỉ đến khi Lolita bỏ trốn, chỉ đến khi gã lặn lội đi tìm bằng được cô, chỉ đến khi gã bị cô kiên quyết từ chối, cảm xúc, sự hy sinh, sự tuyệt vọng của gã mới làm người xem rung động và xót xa. Rồi đến khi gã đi tìm gặp người mà Lolita yêu say đắm và cũng là người làm tan nát trái tim cô để trả thù, bạn đọc lại có cảm giác tình cảm của Humbert với Lolita mang hơi hướng của tình cảm cha-con.

Cuối cùng, khi gã người tình chết, Humbert vào tù và viết ra Lolita như một bản tự thú, một lần nữa Nabokov đã dùng tình yêu mãnh liệt của mình để làm cho Lolita trở thành bất tử. Tượng đài Lolita đã nói lên khát vọng tình yêu đẹp đẽ của Nabokov, một tình yêu đã vượt ra ngoài biên giới của tình dục, ham muốn và bản năng.

Nabokov đã chạm đến tận cùng những kẽ tâm lý trong ngõ thẳm của tâm hồn người, những suy nghĩ sâu kín được tác giả trải dài trên giấy trắng mực đen. Cốt truyện nhiều biến động, nhiều tình tiết ly kỳ, không gian đẹp và ý tưởng chân lý. Lolita chậm rãi và nhẹ nhàng như một giai điệu cổ điển réo rắt để người đọc có thể gặm nhấm từ từ, đọc để cảm thụ khi có thời gian và không gian thoải mái thích hợp.

Hết.

Thu Hiền

*

Có thể bạn đọc sẽ thích


3 Comments

3 Bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Lịch sử ra đời Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records) ít người biết

Published

on

By

Nguồn gốc của cuốn sách Kỷ lục thế giới Guinness (Guinness Word Records) được lấy cảm hứng từ ông Hugh Beaver trong một cuộc đi săn ở County Wexford, Ireland năm 1951.

Vào thời điểm ấy, ông Hugh Beaver đang là giám đốc Nhà máy bia Guinness. Sau khi bắn hụt một con chim choi choi vàng (Pluvialis squatarola), Beaver và các thành viên trong nhóm săn của mình đã tranh luận liệu sinh vật này có phải là loài chim nhanh nhất Châu Âu hay không. Thậm chí, họ đã tra cứu rất nhiều loại Bách khoa toàn thư nhưng họ chẳng thể tìm ra một cuốn sách có chứa câu trả lời.

Sau cuộc tranh luận, Hugh Beaver Nghĩ nhận ra những khách quen của các quán rượu tại Anh sẽ cần một phương án để giải quyết kiểu bất đồng này. Nếu có thể xuất bản một cuốn sách phân định được những cuộc tranh luận như thế thì nhất định cuốn sách sẽ được chào đón.

Chân dung ông Hugh Beaver, cha đẻ của cuốn Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records)

Qua sự giới thiệu của vận động viên từng lập kỷ lục thế giới Chris Chataway người đang làm việc ở Nhà máy bia Park Royal tại London (thuộc Công ty Guinness), ông Hugo Beaver đã mời hai anh em Ross và Norris McWhirter cộng tác để biến ý tưởng đó thành hiện thực. Họ bắt tay vào biên tập một cuốn gồm 198 trang và đặt tên là The Guinness book of records.

Hai anh em Ross và Norris McWhirter

Vào ngày 27/8/1955 ấn bản đầu tiên của sách Kỷ lục Guinness đã được xuất bản tại Vương quốc Anh. Họ dự định tặng miễn phí cuốn sách tại các quán rượu nhằm quảng bá thương hiệu cho Guinness. Đúng như suy nghĩ của Hugh Beaver, cuốn sách ngay lần xuất bản đầu tiên đã lọt vào danh sách ấn phẩm bán chạy nhất nước Anh lúc đó, bán được bán được 50.000 bản trong 3 tháng đầu tiên.

Vào giữa những năm 1970 bắt đầu có một phong trào danh tiếng như “Làm thế nào để được ghi danh vào Sách kỷ lục Guinness”. Nắm bắt trào lưu đó, năm 1975, Norrison Macverter đã đưa thêm chương “Những kỷ lục của con người”. Chính vì thế mà từ đó đến nay có nhiều người không những mong muốn mình không chỉ là độc giả, mà còn khao khát được là nhân vật của cuốn sách best seller này.

Đến nay, Sách Kỷ Lục Guinness đã có mặt ở 100 quốc gia trên thế giới và được dịch sang 23 ngôn ngữ, trở thành một trong những loạt sách có bản quyền bán chạy nhất thế giới. Trong nhiều năm, cuốn sách đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người, khiến người đọc không ít lần ngạc nhiên, thích thú với kiến thức rộng lớn về thế giới xung quanh.

Mặc dù đã lâu trong các quán rượu nước Anh, những cuộc thi tài trên Sách kỷ lục Guinness cũng không còn là mốt nữa, nhưng cuốn sách cho đến bây giờ vẫn là một trong số những loại sách tra cứu được phổ biến nhất trên khắp thế giới. 

Guinness World Records 2023 được Nhà Sách Phương Nam làm đại diện ở Việt Nam phát hành cùng lúc với thế giới vào ngày 15.9.2022. 

Nhân dịp mới phát hành, Nhà Sách Phương Nam đang có ưu đãi đặc biệt cho những bạn đọc đầu tiên:

Sách hiện đang có mặt trên website: www.nhasachphuongnam.com và hệ thống nhà sách Phương Nam toàn quốc.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Thánh đường của những lầm lỗi

Published

on

By

“Một lỗi lầm nếu như được lặp đi lặp lại nhiều lần, đó không phải là lỗi lầm nữa. Đó là sự lựa chọn.”
(Relationship Rules)

Từ lúc vô tình đọc được câu nói này trên Facebook của trang Relationship Rules, thỉnh thoảng tôi lại nghe chính tiếng nói của mình lặp lại những từ ngữ đó trong đầu. Có lẽ vì tôi thường gặp phải những vấn đề về cái gọi là sự lựa chọn, lỗi lầm và thói quen. Dù như thế, tôi vẫn không lường trước được, hay không tin mình đang ở trong những nỗi buồn do thói quen tạo ra. Cho đến khi tôi đọc Thánh đường của Raymond Carver vào năm vừa rồi, tôi mới chợt nhận ra thói quen có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng như thế nào đến những tổn thương tâm lí mà mỗi người chúng ta phải gánh chịu trong cuộc sống hằng ngày.

Điều khiến tôi ngưỡng mộ Raymond Carver nhất khi đọc Thánh đường nằm ở việc ông không tập trung vào hành động tức thời của nhân vật trước những sự cố để thúc đẩy tiến trình câu chuyện, thứ ông tập trung là hành vi của họ-những hành vi bắt nguồn từ việc lặp đi lặp lại một hành động nào đó và hành động đó trở thành thói quen. Để một câu chuyện hài hòa, hấp dẫn, thông thường hành động và hành vi phải xen kẽ nhau đều đặn. Hành động là thứ thúc đẩy câu chuyện; trong khi đó, hành vi là thứ tạo nên nét tính cách đặc trưng của nhân vật. Trước đây, tôi cứ nghĩ hành vi chỉ có một vai trò là khắc họa chân dung nhân vật qua những thói quen: điển hình là trong truyện của Murakami Haruki, ông xây dựng cho nhận vật nhiều hành vi đặc trưng như thích nghe nhạc jazz, thích nấu ăn, thích mì spaghetti… Có thể thấy, trong tác phẩm của Haruki, những hành vi ấy không hề là thứ thúc đẩy câu chuyện. Tôi đã khó mà tưởng tượng hành vi có thể làm một nhiệm vụ nào đó khác ngoài việc khắc họa nhân vật. Và Raymond Carver đã khiến tôi phải thay đổi suy nghĩ vì đa phần những truyện trong Thánh đường đều được xây dựng bởi hành vi của nhân vật hơn là hành động.

Trong Thánh đường, đa phần những truyện của Carver được mở đầu rất đơn giản, ông đi trực tiếp vào cảnh sinh hoạt thường ngày hay một vấn đề khó khăn chính mà nhân vật đang phải đối đầu. Ông ít khi nào viết những đoạn mở đầu mang tính chất dẫn nhập từ từ để người đọc có thời gian đi vào thế giới của nhân vật. Ngay khi đọc những dòng đầu tiên một truyện ngắn của ông, lát cắt về mảnh đời nào đó của nhân vật ngay lập tức đập vào người đọc. Ta không kịp có thời gian để chuẩn bị, ta chỉ có thể tiếp tục đọc để dần dần hiểu ra những vấn đề mà nhân vật đang đối đầu; điều này cũng giống như việc không phải lúc nào chúng ta cũng có thể phòng bị được trước những bất ngờ trong cuộc sống.

Sau màn dạo đầu trực tiếp, đột ngột ấy, chúng ta dần nhận ra những nhân vật của Carver đều đang sống trong những chiếc lồng của các hành vi lặp đi lặp lại. Ban đầu, tất cả dường như chỉ là một hành động bình thường như việc chồng của Sandy từ sau khi mất việc luôn ngồi trước ghế sofa xem tivi (Bảo quản), việc Carlyle bất đồng với ý kiến của vợ qua điện thoại (Cơn sốt), việc Lloyd nằm nghiêng một bên khi ngủ (Cẩn thận)… Carver không thay đổi những hành vi đó của nhân vật trong suốt câu chuyện. Nhưng ông thay đổi tình huống diễn ra hành vi, ông tạo ra các xung đột khiến người ta nghĩ nhân vật phải thay đổi hành vi. Tuy nhiên, cuối cùng các nhân vật của ông thường chỉ thay đổi suy nghĩ về hành vi của mình mà vẫn chưa thay đổi được chính bản thân hành vi ấy. Điều đó khiến cho các nhân vật xa rời nhau, khiến cho thế giới của họ vỡ vụn và khiến cho chính chúng ta đau lòng bởi một khi lỗi lầm đã thành thói quen, mấy ai có thể thay đổi được thói quen của mình? Và phải chăng, chính những lỗi lầm ấy cũng là sự lựa chọn của chúng ta?

Kodaki

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi việc đọc gần với ái ân

Published

on

By

Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu tự nhận mình là người mê say văn chương của Italo Calvino (nhà văn Ý, 1923-1985). Ông có thể dành hàng giờ để chia sẻ cảm nhận qua việc đọc từng tác phẩm của nhà văn này. Dưới đây là những nhận định của ông về tiểu thuyết Nếu một đêm đông có người lữ khách của Italo Calvino (Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học).

Salman Rushdie nói về Italo Calvino: “Nếu như tôi cần một tác giả bên cạnh mình khi mà Ý nổ tung, Anh bốc cháy và thế giới này đã tận thì không tác giả nào tuyệt hơn Italo Calvino.” Có thể nói rằng tôi gần như đồng ý với ông. Vì Italo Calvino đem lại cho tôi biết bao niềm vui từ Nếu một đêm đông có người lữ khách, Palomar, Nam tước trên cây đến Những thành phố vô hình, Tiếu ngạo càn khôn… Cái đáng nói ở Italo Calvino là ông luôn luôn tìm tòi, thể nghiệm cách viết. Mỗi tác phẩm của ông có thể nói là một khám phá. Từ tân hiện thực, truyện cổ, truyện ngụ ngôn, truyện kì ảo, truyện viễn tưởng khoa học, truyện viết theo cỗ bài Tarot, siêu tiểu thuyết…

Đặc biệt ở Nếu một đêm đông có người lữ khách, ta có thể thấy rõ sự đa dạng đó. Những chương có tiêu đề trong tiểu thuyết này được xem như là 10 tiểu thuyết dang dở dang hay 10 chương mở đầu của 10 cuốn tiểu thuyết khác nhau mà mỗi tiểu thuyết xảy ra ở những thời điểm, không gian khác nhau. Từ truyện trinh thám kiểu phương Tây mang màu sắc gián điệp, đến chuyện tình erotic kiểu Nhật… Thể loại nào ông cũng viết ra được cái chất của nó. Ông làm ta nhớ đến Picasso trong hội họa. Ông là người khổng lồ của văn học thế kỉ XX.

Tôi thích tác phẩm này ở mặt cấu trúc. Trước tiên, nó là một siêu tiểu thuyết. Đây là loại tiểu thuyết có khuynh hướng hậu hiện đại, là tiểu thuyết viết về tiểu thuyết. Có nghĩa là, tiểu thuyết về việc đọc và viết tiểu thuyết. Đọc và viết ở đây trở thành chủ đề. Cho nên, ta không đọc một tiểu thuyết bình thường có cấu trúc theo kiểu mở đầu, phát triển, đỉnh điểm, tháo gỡ và kết thúc. Do đó, câu chuyện dường như giẫm chân tại chỗ. Tác giả đưa người đọc trở thành nhân vật trung tâm và có thể nói người viết cũng trở thành nhân vật trung tâm với tên họ thật: Italo Calvino. Nhưng “khái niệm trung tâm” ở đây cũng chẳng phải là trung tâm, mà nó gần như là giải trung tâm.

Như vậy, văn chương ở đây là một cái gì đó tự qui chiếu. Cho nên, cũng có thể gọi tác phẩm này là tiểu thuyết tự qui chiếu. Tức là văn chương tự hướng về chính nó, tiểu thuyết thay vì hướng ra ngoài lại quay vào trong, như một vòng tròn trong lễ hội nguyên thủy.

Cái mà tôi tâm đắc ở Italo Calvino cũng như ở triết gia tân thực dụng Richard Rorty đó là ngôn ngữ tiểu thuyết như những hiện hữu sống động nhất. Do đó, nó là một tiếng nói không hề thứ yếu bên cạnh triết học. Thậm chí, dường như tiểu thuyết có nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn, bao dung hơn cũng giống như “vầng trăng truyện” trong Haroun và Biển truyện của Salman Rushdie thì truyện – nó không đưa ra một chân lí tối hậu nào, nó mãi mãi là dang dở, là câu hỏi và nó dạy cho chúng ta biết hỏi, biết rằng không có gì bất biến.

Chỉ có tiểu thuyết mới gợi cho ta sống với niềm vui, một niềm hoan lạc tràn trề và việc đọc gần với ái ân hơn cả.

Theo một cuộc trò chuyện với nhà văn Nhật Chiêu
Kodaki ghi

Đọc bài viết

Cafe sáng