Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Lolita: Giai điệu cổ điển táo tợn, ranh mãnh và đẹp đẽ

“Chưa bao giờ, phải, chưa bao giờ tôi từng đọc một tác phẩm nào khó đọc đến như vậy. “

Published

on

“Chưa bao giờ, phải, chưa bao giờ tôi từng đọc một tác phẩm nào khó đọc đến như vậy. Khó đọc, đó là một từ chuẩn xác, một cuốn tiểu thuyết làm người ta phải chóng mặt với vốn kiến thức về ngôn ngữ, văn hóa, lối sống… ‘khủng’ về mọi mặt của tác giả.”

Thứ nhất, câu chuyện là sự pha trộn của gần hết các thứ tiếng ở Châu Mỹ và Châu Âu, đủ cho thấy khả năng ngoại ngữ siêu phàm của người viết.

Thứ hai, hành văn đứt nối, tưởng chừng ngắt quãng, đôi chỗ làm người đọc hoảng loạn, choáng váng cả về không gian và thời gian, bất ngờ, kịch tính nhưng lại lặng lẽ… thật kì diệu!

Thứ hai, mỗi câu mỗi chữ đề có tới mấy tầng nghĩa, lớp lớp chồng chồng, đọc xong một câu văn, người đọc như lặng đi trong thế giới tưởng tượng của riêng mình, trong tầng nghĩa mà mình hiểu, rồi lại bất ngờ khi lần đọc kế tiếp mình lại hiểu theo một nghĩa khác, rất kích thích, rất mới mẻ.

Thứ tư, mạnh bạo và phóng túng đề cập tới những từ ngữ nhạy cảm nhất, những chi tiết bùng nổ nhất. Lần đầu đọc, tôi phải công nhận vì sao có một thời thiên tiểu thuyết này dấy lên luồng tranh cãi giữa giá trị nghệ thuật hiện thực với sự rẻ mạt của một cuốn truyện khiêu dâm.

Thứ năm, chủ đề đột phá, bước ngoặt trong tư tưởng của một nhà văn. Tình yêu giữa một người đàn ông và một bé gái… có nhiều điều để nói hơn là một tình yêu thông thường. Đã vậy, khi đề cập tới tình yêu ở đây, tác giả gần như đồng nhất nó với thú vui thể xác, rất mạnh dạn, rất quyết liệt, rất phá cách.”

Đó là lời nhận xét của một độc giả sau khi thưởng thức hơn 400 trang của Lolita, kiệt tác của đại văn hào người Nga V. Nabokov.

Có một số ý kiến so sánh tình yêu của Humbert và Lolita với tình yêu Romeo và Juliet, vĩ đại mà chỉ bị sai lầm về tuổi tác. Có ý kiến cho rằng đây là một kiệt tác của một bậc thầy về ngôn ngữ. Và có độc giả không thể hiểu nổi V. Nabokov viết cái gì.

Được xếp vào top 10 tác phẩm gây tranh cãi nhất thế giới, top 100 tác phẩm xuất sắc nhất mọi thời đại, kiệt tác của văn chương thế kỉ XX, Lolita, cái tên không chỉ của một cuốn sách, một bộ phim mà đã đi vào tâm trí những ai yêu thích tác phẩm này như một tính từ riêng, một dấu ấn không thể nào quên. Một cuốn sách mà từ lúc khởi thủy, cho đến nay đã đi qua bao nhiêu sóng gió và vẫn luôn giữ được sức hút riêng của nó. Lolita đã từng được coi là một cuốn dâm thư và bị từ chối phũ phàng ở Mỹ, một quốc gia dường như luôn chấp nhận mọi tồn tại nghịch lý nhất của cả đời thường lẫn nghệ thuật, mặc dù V. Nabokov đã hy sinh thói quen viết tiếng Nga, tiếng mẹ đẻ mà ông nắm vững như lòng bàn tay mình, để chuyển sang viết tiếng Anh phục vụ độc giả.

Chính V. Nabokov cũng đau lòng một cách hài hước mà rằng: Có biên tập viên thông minh về các mặt khác, nhưng trong trường hợp này, mới đọc lướt phần đầu đã nhận định Lolita là “châu Âu già hủ hóa châu Mỹ trẻ”, trong khi một tay đọc lướt khác lại thấy trong đó hình ảnh của “châu Mỹ trẻ hủ hóa châu Âu già”.

Nabokov cũng than phiền rằng có ông chủ NXB thấy tiếc vì trong cả cuốn sách không có người tốt nào cả. Một ông chủ NXB khác nói, nếu ông in Lolita thì cả ông và Nabokov sẽ đi tù. Thậm chí “có những tâm hồn đôn hậu tuyên bố rằng Lolita chẳng mang ý nghĩa gì hết vì nó không dạy được họ điều gì” khi mà Lolita chỉ là câu chuyện đáng xấu hổ về một gã tâm thần và một cô bé dậy thì sớm lẳng lơ.

Sau đó cuốn sách đã được in lần đầu tiên ở Paris. Những người chấp nhận Lolita gọi đó là một cuốn sách khiêu dâm kết hợp với cách dạy dỗ hành vi ứng xử. Nhà văn Martin Amis còn cho rằng Lolita chính là biểu tượng của chủ nghĩa cực quyền đã phá hỏng nước Nga trong ánh mắt tuổi thơ của Nabokov.

Còn với Nabokov trong toàn bộ các cuốn sách của ông thì Lolita là tác phẩm tinh khiết nhất, trừu tượng nhất và được ông tính toán cẩn thận nhất. “Lolita là một tác phẩm được tôi đặc biệt ưng. Đó là tác phẩm khó khăn nhất của tôi, nó xử lý một chủ đề quá xa, quá tách biệt với đời sống xúc cảm của tôi, bởi vậy nó cho tôi niềm vui được vận dụng kết hợp nhiều tài năng của mình để làm cho câu chuyện không trở thành giả tạo.”

“Lolita, ánh sáng của đời tôi, ngọn lửa nơi hạ bộ của tôi. Tội lỗi của tôi, tâm hồn của tôi. Lo-lee-ta: đầu lưỡi lướt xuống ba bước nhỏ dọc vòm miệng, khẽ đập vào răng ba tiếng. Lo. Li. Ta.

Buổi sáng, em là Lo, ngắn gọn là Lo thôi, đứng thẳng cao một mét bốn mươi sáu, chân đi độc một chiếc tất. Mặc quần thụng trong nhà, em là Lola. Ở trường học, em là Dolly. Trên dòng kẻ bằng những dấu chấm, em là Dolores. Nhưng trong vòng tay tôi, bao giờ em cũng là Lolita.”

Nếu tóm tắt cột truyện Lolita ta có thể diễn giải mấy dòng sau:

Một tiến sĩ văn học người gốc Âu yêu si mê khốn khổ một em bé gái Mỹ mười hai tuổi đến nỗi buộc phải kết hôn với mẹ cô bé, người mà ông ta không yêu, chỉ để hàng ngày được gần gũi với người thương. Sau khi mẹ cô bé chết trong một tai nạn, tiến sĩ cùng con gái vợ chu du khắp nước Mỹ.

Rồi cuối cùng, vì lòng ghen tuông, vì nỗi đau đớn bởi sự mất mát tình yêu, ông ta trở thành kẻ giết người và đây chính là tập hồi ký của Humbert, một kẻ tâm thần.

Nếu chỉ đơn giản thế, ta có thể xếp Lolita vào danh sách dài những câu chuyện loạn luân rẻ mạt nhan nhản hàng ngày.

Nhưng Lolita hơn thế rất nhiều!

journal-book-cover-design-3-new-jpeg

Đó là sự tinh vi dò xét tâm lý con người; đó còn là những nước cờ ngôn từ kiệt xuất của một trong những thiên tài văn chương lớn nhất.

Humbert, nhân vật chính của truyện, hơn Lolita 21 tuổi. Humbert đã bảo vệ luận án tiến sĩ, các bài báo khoa học vẫn thường xuyên được đăng tải, được các trường đại học mời giảng dạy, có mối quan hệ tốt đẹp với tất cả những người xung quanh, được đánh giá là một người nhã nhặn, lịch thiệp và nhân cách tốt, được phụ nữ mê như điếu đổ với bề ngoài điển trai. Tóm lại mọi hành vi và tác phong của Humbert hoàn toàn bình thường, đến nỗi cả hai người vợ và bạn bè anh ta đều chẳng hay biết  anh ta một kẻ tâm thần mắc bệnh ham muốn tình dục với trẻ con, hay còn gọi là bệnh ái nhi.

Gã Humbert một phần cứ phải che giấu con người thật để chứng tỏ mình là một người đàn ông bình thường, một người văn minh khiến ngay cả khi gã chưa bị bỏ tù thì cũng giống như đang sống trong một cái nhà tù vô hình với một tưởng tượng vô hình về cái “cù lao thời gian thần tiên vô hình”.

Phần nữa, gã luôn phải đè nén và che giấu cái ham muốn tội lỗi của mình, cái ham muốn mà càng cố gắng đè bẹp, nó càng khiến cho gã phát cuồng lên, đặc biệt là khi Humbert sống kề sát Lolita, bị cô bé kích động hàng ngày, mà luôn phải giả bộ là một người cha dượng thân ái và lịch thiệp. Humbert yêu thương và tôn thờ Lolita như với cách mà anh ta gọi các em bé gái: Tiểu nữ thần. Tình yêu đơn phương của H.H cũng có đầy đủ các cung bậc của một thứ tình yêu tột đỉnh. Sau sự phản bội của Lolita, gã cha dượng H.H nổi lòng ghen tuông và “Lo ngước mắt lên với một nụ cười nửa miệng ngỡ ngàng và chẳng nói chẳng rằng, tôi bạt một cái tát tai trời giáng trúng cái chỏm nhỏ, cứng và nóng của gò má em…”

Và tiếp đến là hối hận, là nức nở chuộc tội êm dịu đến thắt lòng, là quỳ gối yêu đương, là làm lành trong mê cuồng xác thịt đến tuyệt vọng. “Trong đêm nhung lụa ở motel Mirana, tôi hôn lòng bàn chân hoe hoe vàng với những ngón dài của em, tôi đốt cháy mình…” Humbert vừa là chủ nô, vừa là nô lệ của Lolita, và toàn bộ câu chuyện toát lên rất rõ hai khía cạnh mâu thuẫn đầy ám ảnh này.

Lolita tên thật là Dolores Haze, là một cô bé tính khí thất thường, vừa ngây thơ, vừa dày dạn. Có thể người đàn bà trong cơ thể cô phát triển quá sớm, với những khao khát về tình dục quá sớm trong khi trí não cô cũng không trưởng thành hơn tuổi mười hai là mấy, mọi hành vi của Lolita chỉ là sự tò mò của một bé gái dậy thì.

Trong suốt cuộc hành trình chạy trốn rong ruổi suốt nước Mỹ, cô vừa có những cuộc truy hoan cùng người đàn ông đáng tuổi bố mình, vừa thèm thuồng những trò chơi tinh nghịch mà lứa tuổi “tiểu nữ thần” như cô ưa thích. Và cũng đúng như tính cách của một đứa trẻ, cô nhanh chóng chán “cái thế giới Humberland màu nâu sậm và đen kịt”. Cô chạy trốn, cô chối bỏ bởi trước mắt cô là một tương lai mịt mù bởi một thứ tình yêu nô lệ tước đoạt cả tuổi thơ, tước đoạt tự do, tước đoạt một cuộc sống bình thường.

Lolita đáng thương hơn là đáng trách bởi cô chỉ là cô bé không cha không mẹ, không bạn bè và không người chia sẻ sống trong một môi trường bất bình thường, với một kẻ bất bình thường nuôi dưỡng một thứ tình yêu bất bình thường.

Không thể phủ nhận Lolita là một tiểu thuyết khó đọc, có thể ở những trang đầu độc giả có thể sẽ bị choáng vì nó khó nhằn, cảm thấy ghét Humbert và cả Lolita nhưng nếu chịu khó theo dõi tiếp thì sẽ cảm thấy vô cùng thú vị với lối chơi chữ cũng như diễn biến của câu chuyện. Cuộc hành trình của hai con người ấy sẽ khiến người đọc cảm thấy buồn bã, thương cho số phận của những nhân vật, đồng cảm, tìm ra sự yêu thương nhiều hơn là căm phẫn. Và cuối cùng là sự vỡ òa khi Humbert đã xóa bỏ nguyên tắc mang mã gene độc nhất vô nhị của mình, xóa bỏ tư duy mỹ cảm của một người đàn ông, xóa bỏ lòng kiêu hãnh của một nam nhân khi nhìn cái bụng to phình của người thương đang mang đứa con của kẻ khác.

“Tôi khẩn thiết muốn thế giới biết tôi yêu xiết bao Lolita của tôi, chính Lolita này, trắng bệch và ô nhiễm, với đứa con của một kẻ khác trong bụng, nhưng vẫn còn nguyên cặp mắt xám với rèm mi đen nhánh như bồ hóng, mái tóc vẫn nguyên màu hạnh đào nâu đỏ, vẫn là Carmencita, vẫn là của tôi. Ngay cả như vậy, chỉ cần trông thấy bộ mặt thân yêu tái nhợt của em, chỉ cần nghe âm thanh cái giọng trẻ khản đặc của em, lòng tôi đã ngập tràn thương mến đến phát điên rồi, ơi Lolita của tôi.”

Chỉ đến khi Lolita bỏ trốn, chỉ đến khi gã lặn lội đi tìm bằng được cô, chỉ đến khi gã bị cô kiên quyết từ chối, cảm xúc, sự hy sinh, sự tuyệt vọng của gã mới làm người xem rung động và xót xa. Rồi đến khi gã đi tìm gặp người mà Lolita yêu say đắm và cũng là người làm tan nát trái tim cô để trả thù, bạn đọc lại có cảm giác tình cảm của Humbert với Lolita mang hơi hướng của tình cảm cha-con.

Cuối cùng, khi gã người tình chết, Humbert vào tù và viết ra Lolita như một bản tự thú, một lần nữa Nabokov đã dùng tình yêu mãnh liệt của mình để làm cho Lolita trở thành bất tử. Tượng đài Lolita đã nói lên khát vọng tình yêu đẹp đẽ của Nabokov, một tình yêu đã vượt ra ngoài biên giới của tình dục, ham muốn và bản năng.

Nabokov đã chạm đến tận cùng những kẽ tâm lý trong ngõ thẳm của tâm hồn người, những suy nghĩ sâu kín được tác giả trải dài trên giấy trắng mực đen. Cốt truyện nhiều biến động, nhiều tình tiết ly kỳ, không gian đẹp và ý tưởng chân lý. Lolita chậm rãi và nhẹ nhàng như một giai điệu cổ điển réo rắt để người đọc có thể gặm nhấm từ từ, đọc để cảm thụ khi có thời gian và không gian thoải mái thích hợp.

Hết.

Thu Hiền

*

Có thể bạn đọc sẽ thích


3 Comments

3 Bình luận

  1. Khánh duy

    Tháng Năm 14, 2019 at 10:12 sáng

    Thật đúng khi nhận xét rằng tình yêu trong lolita là tình cảm quỷ ám, rực cháy và rỉ sét . Rõ ràng, để đọc cho tròn vẹn Lolita không hề dễ dàng. Dù tác phẩm còn gây tranh cãi nhưng quả thực LOLITA quả thực là ván cờ thử thách trí não độc giả ngàn đời.

  2. Thiên An

    Tháng Năm 15, 2019 at 10:11 sáng

    Phải nó rằng gu đọc sách của mỗi người là khác nhau và không phải cuốn sách nào ta cũng có thể đọc một cách ngon lành cũng cũng như hiểu hết được nó được. Lolita là một trong những cuốn khó đọc đó, nhưng theo cá nhân mình thấy thì ai muốn tìm hiểu về y học tâm thần thì nó là lựa chọn trên hết, nếu đọc được, nó rất hay còn nếu không nó thật khó nhai, hãy thử xem bạn có hợp với nó không :)))

  3. Quốc Việt

    Tháng Năm 15, 2019 at 4:32 chiều

    Mình ấn tượng nhất ở Lolita bởi nó là câu chuyện đầy nhạc tính :)))

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Tàn ngày để lại: Về một người đàn ông tự dối lòng

Published

on

Kazuo Ishiguro nói ông viết Tàn ngày để lại trong vòng 4 tuần, bằng cách đưa bản thân vào trạng thái mơ hồ nhưng tỉnh táo cao độ gọi là crash. Trạng thái kỳ dị ấy kết hợp cùng một giọng điệu trần thuật bậc thầy đã tạo ra một thiên tiểu thuyết vô tiền khoáng hậu về một người quản gia, mà rộng hơn, về một cách làm người.

Nếu tìm một người dẫn chuyện muốn đứng ngoài câu chuyện của mình, hòng nắm bắt những suy nghĩ chủ quan bằng giọng kể dường như khách quan ở ngôi thứ nhất, thì Stevens là lựa chọn không thể tốt hơn. Xuất phát từ điểm nhìn của một quản gia tận tụy hết mực, Stevens để cho câu chuyện đời mình rỉ rả chảy qua lỗ khóa thời gian chậm rãi nhưng kiệt lực. Thông qua đó, Stevens phong kín cảm xúc của mình đến độ nếu không thực tâm chú mục vào phía bên kia, – tức phía không được phơi ra trên bề mặt tiểu thuyết – ta không tài nào nhận ra được sự vỡ vụn trong tâm hồn ông.

Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Tàn ngày để lại.

1. Khi những điều người ta muốn viết lại không nằm trên giấy

Như Márquez đã từng nói, người ta ai cũng có ba cuộc đời: công khai, riêng tư và bí mật cân bằng với nhau. Riêng với Stevens, công việc quản gia làm cho khía cạnh riêng tư và bí mật trở thành một đám mờ không hơn những bụi mây bên rìa cuộc sống.

Giả như có ai đó thử định nghĩa cuộc đời bằng những gì người ta đã làm thì Stevens còn lâu mới với tới được khung đó, bởi dẫu cho tất cả công việc của ông, sự tận tụy, chỉn chu, trung thành và ý thức “phẩm cách” nghề nghiệp của mình, Stevens chỉ đang dẫm vào bước chân người cha để rồi hóa thân thành cái bóng cho chủ nhân mình. Cuộc đời ông thực chất nằm ở phía âm tính, phía những việc dù muốn hay không, vẫn chưa làm được.

Mối tương quan kỳ quặc đó còn vận cả vào trong cuốn tiểu thuyết – hồi ký, khi cuộc đời Stevens thực chất nằm ở những câu chuyện không được kể. Thử chọn bất kỳ một thời điểm, một sự việc nào, người ta đều có thể tìm thấy dấu vết ngụy trang ẩn tàng. Nhìn vào cách mọi việc diễn ra, từ khởi hành cho tới kết thúc, sự bình thản, nghiêm trang luôn chực chờ đổ vỡ bởi giọng nhỏ nuối tiếc đi kèm. Cũng phải thôi, công bằng mà nói, khi con người đã đi đến bên kia sườn dốc, lẽ đương nhiên sẽ thôi thúc người ta trở ngược lại mà ngắm nhìn cảnh sắc mình đã lỡ bỏ qua chứ không phải những cảnh người ta đã thấy hàng bao lần. Hơn nữa, với một người sống qua nhiều đời chủ nhân, đi qua hai cuộc thế chiến thì mong muốn giấu mình lại càng trở nên mãnh liệt. Đứng trước đống hoang tàn sau chiến tranh, sở mục một thời vàng son đã trở thành dĩ vãng, người ta lại càng có cớ tô vẽ những điều tốt đẹp mà bỏ quên những khía cạnh khác. Câu hỏi lớn về “phẩm cách” tồn tại như một cách níu kéo cân bằng mong manh giữa một cuộc đời lý tưởng đang trên đà sụp đổ. Bởi nếu không bám vào đó, liệu cuộc đời Stevens sẽ còn ý nghĩa gì chăng? Điều đó giải thích tại sao cứ dăm trang sách, người ta lại bắt gặp nỗi tiếc nuối cá nhân xen vào giữa lòng đắc thắng với công việc chính là vì vậy.

Nhưng không phải toàn bức tranh đều mang màu xám. Cho đến cuối, Stevens ít ra cũng đã thành công giải thoát mình khỏi thế lưỡng nan cuộc đời.

Có ích gì khi người ta trăn trở quá nhiều rằng mình đã có thể hay chẳng thể làm gì để nắm giữ tiến trình cuộc đời mình? Hẳn nhiên nếu những người như quý vị và tôi ít nhất cũng gắng khiến phần công sức nhỏ bé của mình góp vào những gì thật sự chân chính và đáng giá, thì cũng đủ rồi. Và nếu có ai trong chúng ta sẵn sàng hy sinh nhiều điều trong đời để theo đòi những tâm nguyện ấy, thì hẳn nhiên chính bản thân việc ấy, bất chấp kết quả có ra sao, cũng đáng tự hào mãn nguyện rồi.

Thử đặt Stevens và cha ông lên cùng bàn cân, giữa một người mãn nguyện đầy tự hào với một người ra đi trong tiếc nuối, chừng đó đủ thấy sự giải thoát bản thân khỏi những trăn trở cuộc đời đem lại sức nặng đến dường nào. Dẫu sao thì con người cũng phải vượt thoát khỏi những hình bóng tinh thần để giữ mình hiện hữu với thế giới. Đó mới là cuộc sống.

2. Sức nặng trong lời tự thú của một người đàn ông

Nếu bỏ qua mớ lý thuyết “phẩm cách” ngoắc ngoéo đeo đuổi Stevens suốt công cuộc Tây tiến, vứt hết bộ cánh quản gia bám theo ông suốt ba mươi lăm năm cuộc đời để tập trung bóc tách sự thật ẩn sâu dưới những lớp tự thoại liên thiên, thì không khó để người ta nhận ra đâu là cốt lõi con người ông. Nói thẳng ra, là câu chuyện của Stevens với cô Kenton.

Cảnh trong phim Tàn ngày để lại (The Remains of the Day), ra mắt năm 1993.

Với tất cả sự lý tính làm nên con người Stevens, không thể mong đợi một chuyện tình kiểu mẫu của hai người bọn họ được. Khi nói chuyện tình kiểu mẫu, có nghĩa người ta muốn ám chỉ Cuốn theo chiều gió, Jane Eyre hay Cỏ chân ngỗng, cũng có nghĩa là những chuyện vẫn không thường xảy ra bất chấp việc chúng thường được trích dẫn. Thậm chí, Stevens còn không chủ định để lộ bất kỳ dấu hiệu nào cho bất cứ ai trong toàn tiểu thuyết. Sự thể Kenton phát hiện ra Stevens vẫn thường đọc những chuyện tình ướt át không đi khỏi khuôn khổ tình cờ. Để mà nói, những gì xảy đến giữa họ cũng u ám hệt như dãy hành lang phụ dành cho gia nhân phía sau Dinh Darlington, chỉ được nhìn nhận ở mặt lưng của cuốn hồi ký. Hai người không hẹn mà gặp cùng tham gia vào trò chơi tình ái chẳng mấy hấp dẫn khi một người phải cố sức thể hiện đồng thời giấu kín tình cảm của mình với người kia và ngược lại. Dễ hiểu trò đi dây này rồi sẽ kết thúc trong nước mắt. Nhưng nếu không có những giọt nước mắt muộn màng của cô Kenton, thì ắt hẳn Stevens sẽ mang theo tình cảm của mình xuống mồ. Khoảnh khắc ông thừa nhận tình yêu dành cho bà cũng là thời điểm trái tim ông vụn vỡ.

Thực vậy – có gì mà không thừa nhận điều này chứ? – vào giây phút ấy, tim tôi như tan vỡ.

Thực vậy – dẫu cho suốt chiều dài hơn ba trăm trang tiểu thuyết, không dưới ba mươi lần ông tự nói với mình hay với người khác, cách này hay cách khác, bằng giọng Anh mẫu mực không thể nghi ngờ tính chân thực trong câu chuyện ông kể, dù cho tất cả những thứ đó – chỉ duy nhất lần này Stevens dám can đảm thú nhận tình cảm của mình. Khi một người đàn ông bày tỏ tình cảm – công khai, riêng tư hay bí mật – nhất là thứ tình cảm được ủ chượp hơn ba mươi năm trong hầm giam “phẩm cách”, thì dường như chẳng còn gì để kể, để mà nói nữa. Thời gian sẽ dừng lại ngay lúc ấy để xúc cảm cuốn đi tất cả. Tuy vậy, không phải mọi thứ đều kết thúc. Mặc cho chuyến hành trình về miền Tây nước Anh đã đi đến điểm cuối, mặc cho cuốn hồi ký cá nhân sắp ngưng giọng, giờ đây cuộc đời thật của Stevens mới chỉ vừa bắt đầu. Cuộc đời ông chỉ vừa bước sang buổi tối. Và buổi tối mới là phần hay nhất trong ngày, là thời điểm thu vén ánh tàn sau ngày dài làm việc, khi trái tim mỏi mệt được chữa lành và an nghỉ.

3. Tàn ngày để lại

Suy cho cùng, đâu có thể quay ngược thời gian được nữa. Người ta không thể ngâm ngợi mãi những gì đã có thể xảy ra. Người ta cần phải nhận ra mình đang có một thứ cũng tốt gần bằng thế, thậm chí còn hơn thế, và biết cảm kích vì điều đó.

Đến một lúc nào đó trong đời, khi sự sai khác về không - thời gian chẳng thể cản nổi lời mời gọi ký ức, người ta sẽ lộn ngược cuộc đời mình lại mà suy nghĩ, ngâm ngợi về những chuyện đã và chẳng xảy ra. Công cuộc xét lại đó có thể xuất hiện dưới hình dạng một cuộc nổi loạn tuổi thiếu niên, trá hình bên trong khủng hoảng tiền – trung niên, mà cũng có thể đơn thuần như một cơn gió nhẹ tuổi xế chiều. Khi thời khắc đến, người ta không khỏi ngăn mình tiếc nuối đôi chút. Suy cho cùng, đó là cả một cuộc đời.

Lẽ tất yếu, người ta luôn tìm thấy hình ảnh đời thường nào đó cốt gán lên nó mớ ý nghĩa trôi qua trong khoảnh khắc quá khứ đã bỏ lại sau lưng. Rất nhiều lần Stevens thoát ly thực tại để đi tới công cuộc xét lại đó, và bất kỳ ai cũng dễ dàng làm được. Tất cả những gì người ta cần làm là đứng trước biển, nhưng tại sao lại là biển? Có lẽ bởi sự mênh mang vô bờ bến, cũng có thể sự uốn lượn tuần hoàn của những con sóng, hay sự bàng bạc của mặt nước khi tàn ngày, dù sao thì cảm giác không – thời gian trước biển mang độ siêu thực nhất định, dễ dàng châm ngòi cho quả pháo ký ức.

Stevens đã chọn cầu tàu ven biển để đóng gói cuộc đời. Tại sao không? Đứng trước biển, đám đông tản mác, rặng phi lao gió lộng, rồi một con tàu nơi đường chân trời, rồi thì chỉ còn có bản thân. Người ta sẽ không ngần ngại ban cho con tàu đó ý nghĩa cuộc đời, với vô số bờ biển nó đã đi qua, cuối cùng cập bến nơi người ta đang đứng đây. Luôn luôn là bến bờ tiếc nuối. Mấy ai trong đời chịu từ bỏ những trăn trở khi tàn ngày mà nhìn nhận lại rằng, bờ biển ta đang đứng chỉ là một trong vô vàn mẫu ngẫu nhiên mà tạo hóa dẫn lối mà kiếm tìm cái đẹp trong nó. Rất có thể Stevens đã kiếm tìm một hình ảnh như vậy để vin cuộc đời ông vào. Và có vô số Stevens khác đứng trên cầu tàu đón ánh tàn chiều hôm ấy.

*

Có những ý nghĩ chỉ hiện hữu trong tâm trí mà không thể diễn tả thành lời. Cũng có những lời không thể hiện hữu trong tưởng tượng. Tàn ngày để lại là một câu chuyện như thế, nó thúc ép ta phải trở đi trở lại giữa tâm trí và ngôn từ, hòng kiếm tìm một sự thật khả dĩ về cách sống, cách làm người.  

Hết.

3V

Ảnh đầu bài: A.N (Thanh Niên)

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi các nhà văn đá xéo nhau: Tận cùng của sự đanh đá (phần 1)

“Mỗi lần tôi đọc ‘Kiêu hãnh và định kiến’, tôi lại muốn đào cô ta lên từ dưới ba tấc đất, cầm xương ống chân của cô ta mà đánh vào quả sọ.”

Published

on

Văn đàn đôi khi hơi ba phải một chút. Tức là, nếu đa số dư luận đánh giá một quyển sách là “Tuyệt Tác”, đánh giá này được cộp mác chính thức. Bất kì cá nhân nào dám đi ngược dòng dư luận sẽ nhận được cái nhìn kinh hãi. Danh tiếng như vậy đôi khi được thành lập khi chưa ai đọc sách cả, chỉ cần vài câu truyền miệng “tôi nghe nói nó hay lắm” là đủ. Nhưng bất chấp cái đám đông đáng sợ ngoài kia, vẫn sẽ có một vài (đôi lúc là nhiều vài) “kẻ phản đồ”. Họ chỉ đang ẩn nấp kĩ càng để tránh bị “đì” mà thôi.

Hiện nay, thật đáng tiếc là nhiều tác giả cảm thấy rằng họ không thể công khai chê bai tác phẩm của những nhà văn khác. Điều này không có lợi cho độc giả - lực lượng người hâm mộ trung thành càng ngày càng dựa dẫm vào nhà văn yêu thích của mình để tìm được đầu sách hay; cũng không tốt cho ngành sách, bởi vì độc giả đã chán ngấy những lời khen hoa mỹ bóng nhẫy và không dễ dàng tin tưởng chúng nữa. Tôi rất hiểu cho các tác giả khốn khổ phải viết bài trái lương tâm ngoài kia, nhưng vẫn không thể ngăn bản thân mình ghét cay ghét đắng cái trào lưu bợ đỡ nhau này. Mà thôi, đây là nan đề cho một bài viết khác.

Vòng vo nhiều như vậy cũng chỉ để nói rằng, thấy một gã khổng lồ bị đẩy ngã cũng khá là vui (đặc biệt là khi trong thâm tâm bạn cũng chẳng ưa gì gã lắm), mà thấy hai gã khổng lồ đánh nhau còn vui hơn. Đó là cảm giác của tôi khi xem các nhà văn nổi tiếng đá xéo tác phẩm của những tác giả nổi tiếng khác. Võ sĩ A và B của trận đấu đều là những cái tên có tiếng có miếng, điều này khiến cho hành động ngồi ăn bắp rang xem đánh nhau của bạn bớt tội lỗi hơn hẳn.

Vậy nên, kính thưa quý độc giả, tôi xin giới thiệu những tác giả đã vô tình hữu ý mà ghét một vài tác phẩm kinh điển và lời phê bình tao nhã của họ đối với những tác phẩm này. Còn việc những lời phê bình này có chuẩn xác không thì vẫn còn cần được thảo luận thêm.

1. Virginia Woolf bàn về Ulysses

Từ nhật kí của Virginia Woolf: 

Thứ tư, ngày 16 tháng Tám năm 1922:

Đáng lẽ là giờ này tôi nên đọc Ulysses, và thêu diệt những luận điểm đồng tình hoặc chống đối nó. Đến giờ tôi đã đọc được 200 trang - còn chưa được một phần ba; tôi đã cảm thấy thích thú, bị kích thích, bị quyến rũ, đã rất hứng thú với hai hay ba chương đầu của cuốn sách đến cuối cảnh nghĩa trang; sau đó thì bối rối, khó chịu và bị vỡ mộng bởi một thằng sinh viên dơ dáy đang ngồi gãi mụn. Tom, Tom vĩ đại [T.S. Eliot], lại nghĩ rằng quyển sách này ngang tầm với Chiến tranh và hòa bình! Bản thân tôi lại thấy nó là một quyển sách vô học và thô tục; quyển sách của một người lao động tự học, và chúng ta đều biết họ phiền hà như thế nào, họ tự cao, cứng đầu, sống sượng, bất bình thường và thường tạo cho người ta cảm giác chung là tởm đến phát ói. Giống như một miếng thịt sống vậy, vì sao lại chọn thịt sống khi người ta có thể ăn chín uống sôi chứ? Nhưng tôi mạo muội đoán là nếu bạn bị bệnh thiếu máu, như Tom ấy, bạn sẽ thấy sự huy hoàng hấp dẫn của máu tươi. Bản thân tôi tự nhận là một người bình thường, nên tôi sẵn sàng quay lại với những quyển sách văn học cổ điển. Tôi có lẽ sẽ đọc lại quyển sách này sau. Còn bây giờ, tôi vẫn không thể chấp nhận việc hy sinh sự minh mẫn của mình. Cứ tạm thời đánh dấu trang 200 ở đó đã.

Thứ tư, ngày 6 tháng Chín năm 1922:

Tôi đã đọc xong Ulysses và nghĩ nó là một phát đạn xịt. Một tác phẩm văn học thiên tài, nhưng thiên tài kiểu nước lợ. Quyển sách lan man. Nửa nạc nửa mỡ. Nó tự phụ. Nó thô tục, không chỉ ở nghĩa trên câu từ mà còn xét trên góc độ văn học. Tôi muốn nói, một nhà văn hạng A nên là một người tôn trọng văn học để không giở những trò câu độc giả bằng mánh lới xảo quyệt, những chi tiết giật gân hay là những trò xiếc khỉ tầm thường. Trong suốt quá trình đọc quyển sách này, trong đầu tôi luôn thường trực hình ảnh của một cậu bé học sinh trường công thấp hèn, có trí tuệ và sức bật đó, nhưng quá tự phụ và tự đại đến mức đánh mất lí trí thông thường, một kẻ ngông cuồng, ngụy trí thức, ồn ào thích gây sự chú ý, khiến những người tốt bụng thấy tội cho hắn ta và những kẻ nghiêm khắc cảm thấy hắn ta thật phiền; người ta hy vọng hắn nhanh chóng trưởng thành để bớt cái thói đó đi; nhưng Joyce đã 40 rồi, điều này chắc khó có thể xảy ra… Ôi, đọc quyển sách này tôi cảm thấy như bị vô số viên đạn tí hon bắn vào người; còn chẳng được chết thống khoái bởi một viên đạn vào mặt, như cách mà Tolstoy đã bắn vào mặt tôi; nhưng so sánh này thật là nỗi sỉ nhục với Tolstoy.

2. Mark Twain bàn về Kiêu hãnh và định kiến

Trong lá thư gửi Joseph Twichell, ngày 13 tháng Chín năm 1898:

Tôi không có quyền chỉ trích sách, và tôi thường không làm như vậy trừ phi tôi ghét cay ghét đắng quyển sách kia. Tôi thường muốn chỉ trích sách của Jane Austen, nhưng sách của cô ta thường làm tôi tức đến mức tôi không thể che giấu cơn điên tiết này trước độc giả. Vậy nên mỗi lần cầm bút lên thì tôi lại phải thả xuống. Mỗi lần tôi đọc Kiêu hãnh và định kiến, tôi lại muốn đào cô ta lên từ dưới ba tấc đất, cầm xương ống chân của cô ta mà đánh vào quả sọ.

Từ một bài viết không đầy đủ của Twain, tiêu đề “Jane Austen”:

Mỗi khi tôi đọc Kiêu hãnh và định kiến hay Lí trí và tình cảm, tôi cảm thấy như một người bán hàng rong đang bước vào Cánh cổng Thiên đường. Ý tôi là, tôi đồng cảm với cảm giác khả dĩ của anh ta. Tôi khá chắc tôi biết anh ta cảm giác như thế nào - và ý nghĩ sâu xa trong lòng anh ta. Anh ta chắc chắn sẽ cong môi lên, trào phúng nhìn những vị trong Giáo hội Trưởng lão trong nhà thờ đang tự mãn đi ngang dọc ở Thiên đường. Bởi vì anh ta nghĩ mình tốt, khinh thường các vị Trưởng lão sao? Không hề. Chỉ đơn giản là anh ta không khoái loại người như họ. Vậy thôi.

3. Aldous Huxley bàn về On the Road (Trên các nẻo)

Trích Aldous Huxley: Một tiểu sử của Nicholas Murray:

Sau khi đọc một lúc thì tôi thấy hơi chán. Ý tôi là, nẻo ngõ gì dài thế.

4. Katherine Mansfield bàn về Howards End

Từ nhật kí của Katherine Mansfield:

Tháng Năm năm 1917:

Khi đang xem lại những quyển sách dở nhất mình sở hữu, tối hôm qua tôi tình cờ bắt gặp Howards End và đã đọc nó. Nhưng đúng thật là nó không đủ hay. E. M. Forster chưa bao giờ đi xa hơn việc sáng tác một quyển sách tạm ổn, chưa bao giờ đi xa hơn việc hâm ấm một cái ấm trà. Anh ta lại là một trong số hiếm những kẻ giỏi việc này nhỉ. Sờ cái ấm này thử xem. Ấm không? Sờ sướng tay không? Nhưng chỉ sướng tay thôi, chẳng có trà cho anh uống đâu.

Và tôi lại không chắc lắm liệu Helen có thai với Leonard Bast hay với cái ô bị lãng quên của hắn ta. Cân nhắc hết các tình tiết, tôi nghĩ nó nhiều khả năng đứa con là của cái ô rồi.

5. Martin Amis bàn về Don Quixote

Từ bài phê bình được đăng trong quyển The War Against Cliché: Essays and Reviews 1971-2000 (tạm dịch Chiến tranh chống sáo rỗng: Các bài luận và bài bình 1971-2000)

Mặc dù là một tượng đài kiệt tác không thể chối bỏ, Don Quixote vẫn có một lỗi rất nghiêm trọng – nó khiến người ta không tài nào đọc nổi. Người viết bài bình này hẳn biết điều đó chứ, bởi vì hắn mới đọc nó mà. Quyển sách chứa đầy vẻ đẹp, nét cuốn hút, chi tiết hài hước uyên bác; nó (hầu hết quyển sách - phải lên đến 75% thời lượng quyển sách) cũng… đần độn không tầm thường. Đọc Don Quixote có thể được ví như chuyến đi thăm dài vô tận đến nhà một vị họ hàng lớn tuổi, người có một bụng trò khăm, thói bẩn, những hồi ức liên miên và những người bạn đồng liêu tệ bạc. Khi trải nghiệm đã qua, khi “cậu bé già” cuối cùng cũng vẫy tay chào tạm biệt (tại trang 846 - trong đoạn văn dày đặc chẳng có chỗ cho câu hội thoại nào), bạn sẽ rơi nước mắt, không phải nước mắt giải thoát mà là nước mắt tự hào. Bạn làm được rồi, cho dù Don Quixote hành hạ bạn thế nào đi nữa thì bạn cũng vượt qua được rồi.

6. David Foster Wallace bàn về American Psycho (Người Mỹ cuồng loạn)

Từ một bài phỏng vấn do Larry McCaffery thực hiện trong The Review of Contemporary Fiction (tạm dịch Bình luận về văn học đương đại), Hè năm 1993:

Larry McCaffery (LM): Trong trường hợp của anh, sự thù địch này được biểu hiện dưới dạng nào?

David Foster Wallace (DFW): Ồ. Không phải luôn luôn, nhưng đôi lúc dưới dạng những câu không sai ngữ pháp nhưng vẫn khó hiểu như chó. Hay việc tác giả thích cầm dữ liệu đấm vào mặt độc giả. Hay việc dành rất nhiều năng lượng để thổi phồng kỳ vọng trong lòng độc giả và sau đó khoái chí làm họ thất vọng. Bạn có thể thấy rõ điều này trong những cuốn sách kiểu American Psycho của Ellis: nó giả vờ phỉnh nịnh máu bạo dâm của độc giả được một lúc, nhưng cuối cùng, hóa ra đối tượng bị bạo hành lại là chính bản thân độc giả.

LM: Nhưng ít nhất trong trường hợp của American Psycho, tôi cảm thấy còn có gì đó sau cái khát vọng gây đau đớn cho người khác - hay nói rõ hơn là, anh không nghĩ là Ellis độc địa theo cách của những nghệ sĩ chân chính, như những gì anh đã từng nói?

DFW: Anh chỉ đang phô bày chủ nghĩa hoài nghi, chính là thứ khiến độc giả bị thao túng bởi các tác phẩm hành văn tệ hại. Tôi nghĩ sở dĩ Ellis và một số những tác giả nhất định tìm kiếm được độc giả bởi cái chủ nghĩa hoài nghi tăm tối tồn tại trong thế giới ngày nay. Nghe này, nếu xã hội hiện nay thực sự thối hoắc, vô cảm, chạy theo đồng tiền, bị thiểu năng về cảm xúc, thích bạo dâm và ngu độn, vậy thì tôi (hay bất cứ nhà văn nào) có thể cực dễ dàng mà vá chỗ này đắp chỗ kia ra đại những câu chuyện có những nhân vật ngu ngốc, nhạt nhẽo, EQ thấp mà vẫn bán ào ào, vì kiểu nhân vật này không cần phát triển tuyến nhân vật gì cả. Miêu tả anh ta (hay cô ta) chỉ cần Ctrl+V một đống hàng hiệu. Cốt truyện thì toàn người ngu ngốc nói toàn chuyện vô vị. Nếu những đặc điểm chỉ ra một tác phẩm văn chương tệ hại là: nhân vật thiếu chiều sâu, một thế giới sáo rỗng và vô nhân tính,... lại đồng thời là những đặc điểm dùng để miêu tả thế giới ngày nay, thì văn chương dở lại hóa ra là một bức phác họa tinh tế của một thế giới tệ hại. Nếu độc giả đơn giản là tin rằng thế giới này ngu ngốc, nông cạn và xấu tính, thì Ellis có thể viết một quyển tiểu thuyết xấu tính, nông cạn và ngu ngốc mà hóa ra lại là một lời trào phúng về một thế giới tệ hết chỗ nói. Nghe này, có lẽ gần như tất cả chúng ta đều đồng ý là đây là thời kỳ đen tối và ngu đần, nhưng chúng ta có cần thêm những quyển tiểu thuyết viễn vông không làm gì hơn ngoài việc làm quá lên cái mặt đen tối của xã hội? Trong thời kì đen tối thì đáng lẽ nghệ thuật phải là thứ định hình và thổi sức sống hồi sinh cho cái nhân tính ít ỏi còn lại và cho những phép màu vẫn còn ngoài đó đâu đây. Văn học hư cấu xuất sắc đáng lẽ là những quyển sách có thể vừa miêu tả đúng đắn bản chất của thế giới, cho dù tác giả có muốn tô vẽ thêm cho nó càng tối tăm hơn, vừa soi sáng được hy vọng sống sót và vẫn còn giữ được nhân tính của những con người trong thế giới này. Bạn có thể biện hộ rằng American Psycho là một bản tóm lược ngôn hành của các vấn đề xã hội ở cuối những năm 80, nhưng nó cũng chỉ đến thế mà thôi, chẳng có gì sâu sắc hơn cả.

7. Vladimir Nabokov bàn về Anh em nhà Karamazov Tội ác và hình phạt

Trong bài phỏng vấn với James Mossman, xuất bản trong tờ The Listener, ngày 23 tháng Mười năm 1969, được in lại trong tờ Strong Opinions:

Nếu bạn đang ám chỉ đến những quyển tiểu thuyết tệ nhất của Dostoevsky, thì, tất nhiên, tôi rất không thích quyển Anh em nhà Karamazov và cái mớ bòng bong rùng rợn Tội ác và hình phạt. Không, tôi không phản đối hành trình tự đi tìm bản ngã, nhưng trong những quyển sách trên, linh hồn, tội lỗi và đa cảm, và văn phong viết không thể bù lại cho công cuộc tìm kiếm rối tung rối mù và chán chết kia được.

8. Vladimir Nabokov bàn về Finnegans Wake

Từ bài phỏng vấn năm 1967 trong The Paris Review:

Tôi căm ghét Punningans Wake, một tác phẩm mà sự lây lan nhanh chóng tựa như tế bào ung thư của các từ ngữ bác học cũng không thể cứu vãn nổi thái độ vui vẻ tởm lợm của các phong tục trong đó, và các phép ẩn dụ đơn giản, quá đơn giản.

Từ một bài phỏng vấn khác năm 1967, được thực hiện bởi một trong các sinh viên của Nabokov tại Cornell:

Ulysses vượt trội hơn bất kì tác phẩm nào khác của Joyce, và khi so sánh với sự sáng tạo cao quý, dòng suy nghĩ và phong cách sáng suốt độc đáo của nó, Finnegans Wake không hơn gì một mớ truyện dân dã hỗn độn giả tạo không hình không dạng, một miếng thạch không đông dưới dạng một quyển sách, là tiếng ngáy không ngừng ở phòng bên cạnh, quấy rầy làm người ta mất ngủ. Hơn nữa, tôi luôn chán ghét những áng văn chương địa phương chứa đầy những từ vựng xưa cũ quái gở và những cách phát âm bắt chước vụng về. Vẻ bề ngoài của Finnegans Wake ngụy trang dưới dạng một căn nhà cho thuê thường thấy chứa đầy gái mại dâm, và chỉ có tiếng tụng kinh như từ thiên đường thỉnh thoảng xuất hiện mới cứu nó khỏi số phận vô vị, buồn chán. Tôi biết là tôi thể nào cũng bị đuổi khỏi thánh đường vì phát ngôn này.

Còn tiếp.

Xem tiếp phần 2.

Emma Đẹp Thần Thánh lược dịch.

Bản gốc do Emily Temple thực hiện, đăng tại Literary Hub.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tháo gỡ phép màu và góc nhìn từ tang quyến

Độc giả xem những quyển sách này như một cơ hội để chạm vào ẩn số vĩ đại – cái chết, một cách an toàn. Họ ít nhất được trấn an rằng cái chết, theo những người sắp chết, thực sự không đáng sợ như chúng ta hằng nghĩ.

Published

on

By

thao go phep mau julie yip williams

Tháo gỡ phép màu là cuốn sách Julie Yip-Williams kể lại câu chuyện cuộc đời mình, từ một bé gái bị khiếm thị bẩm sinh, vượt khó với nghị lực phi thường và cuối cùng qua đời khi chống chọi với căn bệnh ung thư giai đoạn cuối.

"Câu chuyện này bắt đầu ở điểm cuối. Nghĩa là nếu bạn đang đọc những dòng này, thì tôi đã không còn nữa. Nhưng không sao cả... Ở đây, tôi bắt đầu viết ra trải nghiệm của mình cả về cuộc đời tôi đã sống và những gian nan tôi đã chịu - cả hai đều không toàn diện, song cũng đủ để bạn thấy rõ quãng đường mà tôi đã đi và thế giới mà tôi đã tạo dựng suốt đời mình. Và thứ vốn ban đầu chỉ để ghi lại cái chết yểu chực chờ đã trở thành điều gì đó có ý nghĩa hơn nhiều: lời cổ vũ cho các bạn, những người vẫn đang sống.

Hãy sống khi bạn còn đang sống, bạn nhé. Từ lúc phép màu khởi đầu, đến khi phép màu tháo gỡ."

Thao go phep mau 3
Tháo gỡ phép màu

*

Thời gian qua, rất nhiều cuốn hồi ký do bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối viết đã trở thành best-seller, có thể kể đến Khi hơi thở hóa thinh không của Paul Kalanithi; The Bright Hour của Nina Rigg hay Dying: A Memoir của Cory Taylor.

Độc giả xem những quyển sách này như một cơ hội để chạm vào ẩn số vĩ đại - cái chết, một cách an toàn. Khi nhìn vào khoảnh khắc tồi tệ nhất trong cuộc đời của một người xa lạ, họ ít nhất được trấn an rằng cái chết, theo những người sắp chết, thực sự không đáng sợ như chúng ta hằng nghĩ.

Hồi ký của Julie Yip-Williams thì khác, nguyên chất, không cắt cạnh gọt giũa, trung thực một cách tàn nhẫn khi miêu tả cơn thịnh nộ đi kèm với nỗi đau thể xác của một bệnh nhân ung thư. Quyển sách bao trùm trong những cảm xúc chân thực nhất của một người đang đối diện với cái chết sớm: trực diện, trần trụi, và không hề được lãng mạn hóa.

Dưới đây, chúng ta có thể biết thêm một góc nhìn khác về quyển sách Tháo gỡ phép màu - giọng nói của tang quyến.

Julie qua đời vào tháng 03.2018, quyển sách Tháo gỡ phép màu được phát hành sau đó 1 năm. Josh Williams, chồng của tác giả, đã có những chia sẻ chân thực với trang Vulture xoay quanh người vợ quá cố cũng như quyển hồi ký.

Anh chia sẻ thẳng thắn về nguồn gốc quyển sách, những khó khăn của anh trong việc chia sẻ câu chuyện của gia đình mình với đông đảo bạn đọc, và cả cái tâm trạng quái quỷ khi biết rằng anh chỉ có thêm 4 năm nữa để sống với người mà anh muốn chung sống cả đời.

*

Cảm xúc của bạn khi quyển sách Tháo gỡ phép màu được xuất bản?

Như tôi đã nói, Julie thực sự không có ý định thương mại hóa bất kì bài viết nào. Cô ấy chỉ cảm thấy phần lớn những thông tin ngoài kia (về ung thư, về cái chết) là không trung thực, thậm chí gây hiểu lầm, và không đặc biệt hữu ích. Và chiếc blog của cô, một nơi duy nhất trên thế giới, giúp Julie phơi bày những cảm xúc chân thực nhất.

Phản ứng của Julie khi nghe rằng NXB thực sự quan tâm đến việc chuyển thể nó thành một cuốn sách - ý tôi là, thật khó để diễn tả. Cô ấy vui như được lên cung trăng. Lúc đó cô ấy thực sự yếu.

Cô biết mình không còn nhiều thời gian nữa. Tôi nghĩ Julie rất xúc động khi được để lại thứ gì đó, bởi vì cô ấy nghĩ rằng quyển sách có thể hữu ích cho những người đang đau khổ ngoài kia. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng cô ấy thực sự, thực sự muốn để lại một di sản hữu hình, đặc biệt là cho những đứa trẻ. 2 đứa đều còn quá nhỏ khi mẹ chúng qua đời.

Julie viết rất nhiều cảm xúc tức giận, bất lực trước cái chết. Đó dường như không phải là cảm xúc mà mọi người muốn đề cập đến khi nói về ung thư?

Chúng tôi có một kỳ nghỉ gia đình hàng năm, nơi chúng tôi có mặt cùng với bố mẹ tôi, chị em tôi và gia đình của họ. Và chúng tôi quyết định thực hiện nó vào năm 2013, mặc dù Julie lúc đó vừa nhận chẩn đoán về căn bệnh quái ác.

Tôi nhớ mình đã ngồi bên cạnh cô ấy, tất nhiên là trong tâm trạng bị sốc, thất thểu và đọc các bài blog của Julie. Và ngạc nhiên rằng, các bài viết đều rõ ràng và hữu ích.

Chúng tôi thống nhất với nhau rằng sứ mệnh trọng tâm của các bài blog, hay sau này là quyển sách Tháo gỡ phép màu, là thể hiện những cảm xúc trung thực, cởi mở và thực sự hữu ích. Những cảm xúc này đã ở đó, ngay từ đầu cuộc hành trình chống chọi ung thư của cô ấy.

Bạn có bảo vệ cuộc sống riêng theo một cách nào đó không? Vì hẳn sẽ rất nhiều người nói về gia đình, về vợ và các con bạn.

Chúa ơi. Nghe này, tôi không muốn mọi người hiểu sai, nhưng điều đó thực sự khó khăn với tôi. Tôi rất tự hào về cô ấy. Và tôi thực sự rất biết ơn vì cô ấy đã nhận được một hợp đồng xuất bản tốt. Julie xứng đáng được hưởng một điều lớn lao trong cuộc đời, nhất là khi cuộc đời này đối xử quá bất công với cô ấy. Tôi thực sự tự hào về vợ mình. Và tôi cũng rất vui vì quyển sách giúp cất giữ kỉ niệm về Julie với các con. Ở tuổi 42, tôi đủ lớn để hiểu rằng ký ức sẽ phai nhạt nếu ta không gìn giữ.

Nhưng về mặt cá nhân, điều đó rất khó khăn. Tôi chỉ đang cố gắng duy trì tập trung vào những khía cạnh tốt. Nhưng nó sẽ không phải là lựa chọn của tôi. Tôi không thích nói về cuộc sống cá nhân của mình, nhất là khi đó là những kỉ niệm đau đớn. Mất Julie là trải nghiệm đau khổ nhất trong cuộc đời tôi cho đến nay.

Tôi hiểu. Bạn không nói rằng bạn ghét cuốn sách hay ước gì cô ấy không viết nó - chỉ là đây không phải là tình huống bạn muốn.

Tôi là ai để ngồi đó và giết chết giấc mơ của cô ấy? Tôi đã rất yêu cô ấy. Tôi muốn cô ấy hạnh phúc. Tôi biết điều này làm cho cô ấy rất hạnh phúc. Và tôi biết rằng đó là mục tiêu sống của cô ấy. Ngay cả giấy chứng tử của Julie cũng viết rằng cô ấy là một luật sư và một tác giả. Cô ấy sẽ thích điều đó. Cô ấy sẽ mỉm cười với điều đó.

Có điều gì trong cuốn sách mà bạn chưa đọc, hoặc không thể đọc, cho đến khi cô ấy qua đời không?

Trước đây, tôi đọc các bài viết tại nơi làm việc. Hoặc có thể là vào ngày hôm sau nếu tôi có một ngày làm việc đặc biệt bận rộn. Nhưng theo thời gian, khi mọi thứ trở nên trầm trọng hơn vào năm 2016, 2017.

Tôi đã không thể đọc bài đăng mà cô ấy viết cho tôi có tựa đề “Tình yêu” - bài đăng cuối cùng hoặc áp cuối mà cô ấy đã viết - cho đến nhiều tháng sau khi chấp nhận được sự thật. Tôi đọc bài đăng đó khi Julie đã qua đời.

Julie có đọc hồi ký nào khác của những người mắc bệnh nan y không?

Tôi chưa đọc bất kỳ cuốn nào trong số đó, nhưng tôi biết rằng Julie chắc chắn đã đọc Khi hơi thở hóa thinh khôngvà quyển sách của Nina Riggs - The Bright Hour.

Bạn có thấy Tháo gỡ phép màu và cả những quyển hồi ký của bệnh nhân ung thư nêu trên, sau tất cả, mang lại một động lực tích cực?

Tất nhiên.

Những cuốn sách đó không có từ năm 2013. Trở lại năm 2013, nếu đọc chúng, tôi gần như cảm thấy hụt hẫng, kiểu như: “Ôi Chúa ơi. Những người này xem ung thư là một thách thức. Như một cơ hội.”

Họ viết về cái chết nhẹ như bẫng, như thể việc ghi một bàn thắng, việc giảm đi mười cân. Bởi theo những người sắp chết, cái chết thực sự không đáng sợ như chúng ta luôn nghĩ.

Vào một thời điểm nào đó trong cuốn sách, Julie chấp nhận những gì sắp xảy ra với bản thân. Bạn đã nghiệm ra khái niệm về "cái chết" mới của riêng mình chưa?

Cái chết có lẽ ít đáng sợ hơn với tôi so với trước đây. Julie không thực sự thuộc về tôn giáo nào, nhưng cô ấy sở hữu niềm tin tâm linh của người phương Đông. Cô ấy không sợ chết. Tôi nghĩ rằng mọi người đều có một chút sợ hãi, nhưng cô ấy thì không - thậm chí rất lâu trước khi cô ấy bị bệnh.

Mặt khác, tôi hoàn toàn kinh hãi về điều đó. Tôi đấu tranh với niềm tin rằng thực sự tồn tại một 'thế giới bên kia'. Quan sát Julie, tôi luôn tự hỏi không biết khi nó thực sự xảy ra thì sẽ như thế nào. Cô ấy rất bình yên khi ra đi - vì vậy theo một cách nào đó, làm giảm bớt nỗi sợ hãi của tôi. Nhưng tôi không biết liệu nó có thực sự trả lời bất kỳ câu hỏi sâu xa nào của tôi về 'thế giới bên kia' ấy hay không.

Có điều gì bạn muốn mọi người biết về Julie mà họ không thể hiểu khi đọc cuốn sách này không?

Tôi nghĩ rằng Julie có lẽ là người dũng cảm nhất mà tôi từng gặp. Đó không chỉ là vấn đề thị lực yếu hay suýt mất mạng dưới tay người bà. Cô ấy là một người cực kỳ thích phiêu lưu mạo hiểm, cô ấy đã đi khắp 7 lục địa vào năm 30. Tôi biết rằng một số người có thể đọc cuốn sách và nghĩ rằng cô ấy thật khắc nghiệt, gay gắt. Cô ấy thực sự có một số khía cạnh khó khăn, nhưng Julie cuối cùng là một người tốt bụng và yêu thương gia đình.

Tôi hy vọng độc giả cảm nhận được điều đó khi đọc quyển sách.

Chắc chắn.

Hết.

Uyên lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Hillary Kelly, đăng tại Vulture.

*


Đọc bài viết

Cafe sáng