Book trailer

Diệt vong: “Không phải mọi kẻ điên đều là thiên tài… Nhưng nhiều thiên tài lại là kẻ điên.”

Published

on

Câu nói này có lẽ rất phù hợp để nói về tác gia Đức ngữ quan trọng nhất thời hậu thế chiến II, Thomas Bernhard. Thomas Bernhard (1931-1989) là nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch người Áo. Được đánh giá cao ở nước ngoài nhưng tại Áo, ông lại bị chỉ trích là kẻ “vạch áo cho người xem lưng” khi các tác phẩm của ông thẳng thắn chỉ ra và cay nghiệt phê phán các thói tật của quê hương, bao gồm của quá khứ Quốc xã đáng bị chôn vùi mãi mãi. Thomas Bernhard  chẳng bao giờ ngần ngại khoác cho dân Áo đủ thứ xấu xa trên đời. Ông cho rằng chính phủ nước ông sẵn sàng phạm vào mọi tội ác và đã phạm mọi tội ác có thể hình dung với nước Áo, lợi dụng bản tính ngái ngủ của dân tộc này để cuối cùng biến sự đê tiện và tàn nhẫn thành nghệ thuật duy nhất mà chính phủ ấy sử dụng, ngưỡng mộ và rõ ràng là mê mẩn.

Ông ghét tất cả những gì mọi người quanh ông coi trọng, không tin bất cứ cái gì mọi người quanh ông tin. Thomas Bernhard là một nhà văn cay nghiệt và nanh ác (như ông tự nhận). Nỗi đau bị bị bỏ rơi (thời thơ ấu), căn bệnh nan y hiểm nghèo khiến ông nhận thức cái chết là bản chất tối thượng của sự tồn tại. Các tác phẩm của ông thường được viết ở ngôi thứ nhất, là màn độc thoại dây cà dây muống của một nhân vật về xã hội, thế giới, con người.

“Sáng sáng, hàng triệu người chỉ cần khoác bộ quần áo lao động lên người là lập tức họ được xếp ngay vào hạng dân chúng cần lao, trong khi thực ra chỉ một bầy những kẻ lười biếng xảo trá, chỉ độc nghĩ đến miếng ăn mà thôi, và không làm gì khác ngoài việc ra tay phá hoại thế gian này.”

Với một phong cách phóng túng, cường điệu thổi phồng mọi sự, nhưng tinh tế trong tình yêu, cay nghiệt trong đả kích, tri kiến sâu rộng, cùng thủ pháp độc thoại bậc thầy, văn tài của Thomas Bernhard đã hội tụ và tỏa sáng rực rỡ nhất trong Diệt vong – cuốn tiểu thuyết cuối cùng và có lẽ đen tối nhất của ông. Được viết bằng phong cách không thể lẫn vào đâu được của ông, Diệt vong là màn ta thán liên tu bất tận của Franz-Josef Murau, con cừu đen của một gia đình quý tộc lâu đời của Áo. Đó là kẻ đã quyết dứt áo ra đi khỏi chốn chôn rau cắt rốn – miền Wolfsegg tuyệt đẹp. Cũng như chính nhà văn tạo ra mình, Murau căm ghét gia đình mình – những người cũng căm ghét anh không kém, ghê sợ tôn giáo được thờ phụng ngàn đời của mình, yêu quí đất nước Áo với những thắng cảnh tuyệt đẹp, nhưng lại căm thù nhà nước Áo đê tiện, tàn nhẫn. Chính bởi vậy, anh đã tới sinh sống ở Rome và hứa với lòng sẽ không bao giờ quay lại Wolfsegg, nơi không chỉ có gia đình luôn khinh thường, ghét bỏ anh mà cả những con người xấu xa, không thể nào chịu đựng nổi sinh sống. Thế nhưng vì một biến cố bi thương mà Murau vạn bất đắc dĩ phải trở về quê hương – cái chết đột ngột của cha mẹ và anh trai. Cái tai nạn khủng khiếp ấy đẩy Murau trở thành trụ cột của gia đình và buộc phải quay về lo tang lễ cũng như phải quyết định số phận sau này của Wolfsegg cùng hai đứa em gái.

Ảnh: Tao Đàn

“Họ, dân Đức ấy, nuốt Goethe như nuốt một thứ thuốc nào đấy vào bụng và tin vào công dụng vào thuốc, tin sái cổ vào tác dụng chữa bệnh của thuốc; Goethe nói cho cùng, chẳng qua chỉ là ông thầy lang của dân Đức, vị pháp sư vi lượng đồng căn liệu pháp về tinh thần đầu tiên của dân Đức mà thôi. Họ uống Goethe vào người và khỏi bệnh. Toàn thể dân tộc Đức uống Goethe vào người và hết bệnh. Thế nhưng… Goethe là một tên bịp bợm, cũng giống như bọn lang băm, tên nào mà chả bịp bợm; cả thơ văn lẫn triết lý của Goethe đều là ngón bịp lên đến tột đỉnh của dân Đức.”

Trải dài 500 trang sách là hai màn độc thoại không một chỗ xuống dòng của Murau khi nhận được bức điện báo tin dữ và khi đã trở về Wolfsegg tổ chức đám tang. Người đọc bị cuốn theo nhịp điệu dồn dập những ta thán về ông bố nhu nhược, bà mẹ tham tiền, ông anh bất tài và lũ em gái phụ thuộc; bàng hoàng nhưng cũng đồng cảm với những nhận xét cay nghiệt về sự nặng nề của tiếng Đức, cái giả tạo của nhiếp ảnh, thứ văn chương rẻ tiền, lũ bác sỹ đốn mạt, cái chính phủ trì trệ, thứ tôn giáo bảo thủ, một dân tộc biếng lười… Làn sóng căm ghét, khinh thường được đẩy đến tột độ với những lời móc mỉa được cường điệu hóa cực điểm.

“Tôi khinh bỉ những ai chụp ảnh liên hồi và lúc nào cũng quàng máy ảnh chạy lăng xăng… Họ ghi lại một thế giới bị méo mó đến mức quái đản trên các bức ảnh của họ, một thế giới không còn gì là chung với thế giới thật ngoài sự méo mó đến quái dị mà họ phải chịu tội. Chụp ảnh là một thứ nghiện ngập chung mà dần dần toàn nhân loại đã nhiễm phải, bởi vì nhân loại không những đã phải lòng cả sự méo mó lẫn quái dị đó, mà còn bị mê muội vì nó theo thời gian, do không ngừng chụp ảnh, nhầm tưởng thế giới méo mó và quái dị trông ảnh là thế giới duy nhất thực.”

 Thế nhưng qua đó Murau đã phân tích thấu đáo thực tế xã hội cùng nhận thức bản thể tự thân, anh lý giải về sự tồn tại của bản thân trong tâm trí chính chúng ta và sự tồn tại của chúng ta trong mắt tha nhân. Trong cái “ác” của anh hay của chính Thomas Bernhard, có một nỗi niềm hoài cổ tiếc nhớ về một sự toàn bích đã mất hoặc đang mất dần. Chính điều đó mới tạo nên giá trị nhân văn của Diệt vong, cuốn sách vĩ đại của một con người thiên tài.

*

“Với sự dữ dội ngạt thở… Qua tiếng nói của Murau, Thomas Bernhard tấn công thế giới hiện đại, được minh họa bởi nơi chôn rau cắt rốn của ông, nước Áo.” – Chicago Tribune

“Sự tinh tế khác biệt của Diệt vong nằm ở sự mô tả ý thức trong hành động: Murau, hóa ra, có thể yếu đuối, đáng ngưỡng mộ, khó hiểu hoặc độc địa, nhưng tâm trí của anh ta, như được mô tả trên trang giấy, dường như hoàn toàn đúng với cuộc sống.” – Washington Post Book World

“Không phải mọi kẻ điên đều là thiên tài. Nhiều người được gọi thế nhưng số người thực sự như vậy thì rất ít. Đó là một câu lạc bộ riêng biệt, nhưng Bernhard đã bước chân vào đó… Giống như Swift, Bernhard viết như một con quái vật thiêng liêng… Ông là một nghệ sĩ biểu diễn văn học xuất chúng: một người đi đến cực đoan bằng cách truyền sức sống cho ý thức của chúng ta về khả năng của con người, tuy nhiên lại mang tính phá hoại.” – The Wall Street Journal

Hết.

Click to comment

Viết bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Book trailer

“Giải mật” hồ sơ về chất độc màu da cam

Published

on

By

Qua ‘Mùa xuân vắng lặng – Mùa thu chết chóc của chiến tranh Việt Nam’, tác giả Patrick Hogan đã phơi bày bức tranh tổng thể về các hóa chất mà Mỹ rải xuống miền Trung và miền Nam Việt Nam trong thập niên 1960 với sức tàn phá vẫn còn hiện diện cho đến ngày nay.

Chiến tranh qua đi nhưng những di chứng mà nó để lại vẫn còn hiện diện. Trong khi tổn thương vật chất có thể tái thiết, thì những ảnh hưởng về mặt tinh thần vẫn còn dai dẳng, đeo bám không thôi. Một trong số đó là các tổn thương được gây ra bởi chất độc màu da cam (dioxin) cho nhiều thế hệ người dân Việt Nam.

Thế nhưng ít người biết rằng ngay cả những cựu binh Mỹ cũng bị ảnh hưởng bởi hành động ấy. Bằng trải nghiệm của bản thân cũng như nỗ lực lần giở các tư liệu, nghiên cứu khoa học cũng như các hồ sơ đã được giải mật… tác giả Patrick Hogan đã tái hiện lại những diễn biến lịch sử, qua đó lên án hành động phi nhân, kêu gọi thêm các nỗ lực để những hy sinh của các người lính được đền đáp xứng đáng.

Patrick Hogan là một cựu chiến binh đã từng đóng quân tại Việt Nam từ tháng 9.1966 đến tháng 6.1969. Khi mới nhập ngũ, ông nhận nhiệm vụ tiếp nhận và quản lý hàng hóa thiết yếu ở Tổng kho Cam Ranh (Khánh Hòa). Trong thời gian này, ông thường chứng kiến những lần máy bay phun rải hóa chất mà vào lúc ấy ông không thể biết đó là chất gì. Sau khi rời Việt Nam, ông trở về Mỹ và đảm nhận công việc cảnh sát.

Kể từ những năm 1970, ông thấy cơ thể đang suy yếu dần, kết hợp cùng với cái chết của người đồng đội Larry, hạt mầm hoài nghi sâu bên trong ông bắt đầu thức dậy. Năm 2012, sau khi nghe bài diễn thuyết của cựu tổng thống Barack Obama về chiến tranh Việt Nam, Hogan thôi thúc phải điều tra về hậu quả của việc tiếp xúc với chất độc da cam, từ đó ý tưởng về Mùa xuân vắng lặng – Mùa thu chết chóc của chiến tranh Việt Nam dần được thành hình.

Được viết bởi một cựu binh từng tham gia tham chiến, cuốn sách mang dáng dấp hồi ký, ghi lại những năm đầu tiên mà tác giả đặt chân đến Việt Nam. Ông đã tái hiện lại những thiếu thốn như phải ở trong những căn nhà đơn sơ gọi là “chuồng ngựa”, xung quanh chỉ toàn là cát, nhiệt độ thì tương đối cao… cũng như những áp lực mà người lính phải chịu, từ lối đánh du kích của bộ đội ta, cho đến thổ nhưỡng, các căn bệnh nhiệt đới cũng như đa dạng sinh vật mà côn trùng là một trong những lý do khiến chính quyền Mỹ tiến hành phun rải chất dioxin.

Song song cùng đó, tác giả cũng quay trở về những ngày hiện tại, mô tả lại những chứng bệnh ông đã và đang gặp phải, từ tiểu đường tuýp 2, bệnh tim cho đến rối loạn tiêu hóa, rối loạn hô hấp… Theo Patrick Hogan, đây đều là các di chứng mà các hóa chất do chính phủ Mỹ rải xuống gây ra. Thế nhưng khi đòi bồi thường từ DVA - Bộ Cựu chiến binh Mỹ, thì những kết quả trả về cho ông là không có đủ bằng chứng để khẳng định những căn bệnh đó do các hóa chất mà Mỹ rải xuống Việt Nam những năm 1960 gây ra.

Nhận thấy điều vô lý ấy, Hogan đã tìm hiểu sâu về các khía cạnh sinh học, hóa học của các hóa chất đã được rải xuống và kết hợp với các nghiên cứu mới nhất về chúng, để khẳng định cho lập luận của mình. Là một sĩ quan cảnh sát, ông cũng tận dụng thế mạnh điều tra để lần tìm về những hồ sơ được giải mật, qua đó cho thấy bức tranh chung nhất về bối cảnh lịch sử của những ngày ấy.

Nói về tác phẩm, tác giả chia sẻ: “Đây là câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về sự giận dữ và cuồng nộ, một cuốn biên niên sử được viết trong đau buồn và hy vọng. Đó là câu chuyện của vô số cựu binh từng phục vụ tại Việt Nam. Đó là một cuốn sách đi sâu vào các hóa chất chết người đã được sử dụng trong suốt cuộc chiến và ảnh hưởng của chúng lên các cựu binh. Nhiều trong số đó vẫn đang được sử dụng trên khắp nước Mỹ, thậm chí cho đến ngày nay. Đó là hành trình phơi bày mọi điều mà chính phủ Hoa Kỳ chưa từng và chưa bao giờ muốn phơi bày ra ánh sáng”.

Liệu các công ty hóa chất và chính phủ Mỹ có biết hóa chất mà họ rải xuống sẽ gây tác hại cho binh lính của mình? Liệu có cách nào đạt cùng mục đích mà không sử dụng hóa chất? Ngoài chất da cam thì các hóa chất còn gồm những gì? Liệu có những ai đã từng chống lại phương án nói trên?... Tất cả sẽ được giải đáp trong tác phẩm sâu sắc, chi tiết và đầy mạnh mẽ về những tội ác chiến tranh này, từ đó cảnh báo cho ngày hiện tại, khi các hóa chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu có độc tính tương tự đang được sử dụng không bị kiềm chế trong nông nghiệp hiện đại.

Trong thời gian qua, Phương Nam Books cũng cho ra mắt các sách thuộc tủ “Người Việt năm châu” như Gã du đãng chúng ta đang lùng kiếm (Le Thi Diem Thuy), Những kẻ tuyệt vọng (Minh Tran Huy), Người tị nạn (Viet Thanh Nguyen), Người cha im lặng (Doan Bui)...

Ngoài ra, các tựa sách về môi trường như Khát khao cây cỏ (Michael Pollan), Mùa xuân vắng lặng (Rachel Carson), Niên lịch miền gió cát (Aldo Leopold), Giành lại không khí sạch (Tim Smedley), Đời sống bí ẩn của cây (Peter Wohlleben)... cũng để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc.

THÔNG TIN TÁC GIẢ

Patrick Hogan là cựu chiến binh từng đóng quân tại Việt Nam từ tháng 9.1966 đến tháng 6.1969. Sau khi rời khỏi Việt Nam, Patrick Hogan được phong cấp bậc Trung sĩ Tham mưu E-6 và được Bộ trưởng Lục quân Hoa Kỳ Stanley Resor trao cho huy chương Army Commendation Medal. Ngoài ra, ông còn được trao: National Defense Medal, Vietnam Service Medal, Vietnam Campaign Medal.

Đọc bài viết

Book trailer

Niên lịch miền gió cát bàn cách sống hòa hợp thiên nhiên

Published

on

Sách Niên lịch miền gió cát là ghi chép của Aldo Leopold - nhà sinh thái học hoang dã - về các con người tôn trọng thiên nhiên.

Aldo Leopold là nhà địa chất học, nhà môi trường học. Năm 1935, gia đình ông mua một trang trại cũ gần sông Wisconsin (Mỹ), trồng cây và cứu sống cánh đồng đã chết. Ông ghi nhận những thay đổi của sinh, thực vật trong quá trình phục hồi. Các bản thảo sau đó được tập hợp thành quyển Niên lịch miền gió cátxuất bản tháng 4/1948, một tuần sau khi tác giả mất do đau tim.

Niên lịch miền gió cát do Dương Mạnh Hùng chuyển ngữ. Sách Phương Nam phát hành. Ảnh: Phương Nam Book.

Sách gồm ba phần. Phần một là quan sát sinh vật thay đổi theo từng tháng tại trang trại ở Wisconsin. Phần hai là ghi chép hành trình khám phá đời sống hoang dã của ông trong 40 năm. Phần cuối là nhận định về việc bảo tồn thiên nhiên. Thông qua thể văn xuôi đậm chất hóm hỉnh kết hợp yếu tố lịch sử, khoa học, Leopold truyền tải ý nghĩa về mối liên hệ giữa con người với môi trường, hy vọng độc giả yêu, tôn trọng thiên nhiên.

Ông đề ra đạo đức môi trường tự nhiên (land ethic): "Một hành động là đúng đắn là khi hướng tới bảo tồn tính toàn vẹn, ổn định của cộng đồng sinh vật". Leopold viết: "Con người sẽ có ý thức bảo tồn khi tiếp xúc, hiểu, cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên". Khi sống gần các sinh, thực vật, mỗi người sẽ hình thành đạo đức - cơ chế tự kiểm duyệt trước khi hành động tổn hại môi trường. Con người cần khám phá, kết nối với tự nhiên để có lòng yêu thương, quan tâm thế giới tạo hóa ban tặng.

Theo Buddy Huffaker, chủ tịch của Aldo Leopold Foundation (tổ chức nâng cao ý thức bảo vệ môi trường dựa trên lý luận của Leopold): "Nhờ lập luận về đạo đức môi trường tự nhiên nên Niên lịch miền gió cát được săn đón vào năm 1970 - lần đầu tiên tổ chức Ngày Trái đất. Các ghi chép về đạo đức của tác giả được áp dụng rộng rãi và vô tình trở thành chuẩn mực ứng xử với thiên nhiên". The Boston Globe nhận định sách là "một trong những tác phẩm có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào môi trường".

Aldo Leopold là nhà khoa học, nhà địa chất học, nhà triết học, nhà môi trường học người Mỹ. Ảnh: aldoleopold.

Aldo Leopold (1887-1948) trải qua thời thơ ấu tại Burlington, gần dòng sông Mississippi - nơi dấu chân của ông trải khắp các khu rừng, đồng cỏ. Leopold học lâm nghiệp tại trường dạy về rừng của Yale. Sau khi tốt nghiêp năm 1909, ông làm việc tại Cục Kiểm lâm Mỹ, đồng thời nghiên cứu sinh thái học, đề ra đạo đức môi trường tự nhiên. Năm 1933, tập sách về quản lý động vật hoang dã Game Management được xuất bản. Năm 1982, vợ và năm người con thành lập The Aldo Leopold Foundation nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường hoang dã dựa trên di sản trí tuệ tác giả để lại.

Theo VNexpress

Đọc bài viết

Book trailer

Người đẹp ngủ mê – tiểu thuyết kinh điển về nỗi buồn

Published

on

Người đẹp ngủ mê của nhà văn Nhật Kawabata Yasunari khắc họa nỗi buồn qua những suy nghĩ về sự sống và hoài niệm.

Người đẹp ngủ mê do dịch giả Quế Sơn chuyển ngữ, tái bản trong nước cuối tháng 11. Tác phẩm xuất bản lần đầu năm 1961, dựa trên kịch bản sân khấu kabuki Những mỹ nữ, công diễn vào khoảng thế kỷ 17 ở Nhật Bản.

Bìa sách Người đẹp ngủ mê. Tác phẩm dày 160 trang, tái bản trong nước cuối tháng 11. Ảnh: Phương Nam Book
Bìa sách Người đẹp ngủ mê. Tác phẩm dày 160 trang, tái bản trong nước. Ảnh: Phương Nam Book

Tác phẩm xoay quanh năm lần ông lão Eguchi ghé thăm ngôi nhà của những trinh nữ xinh đẹp tuổi chưa đầy 20. Họ bị gây mê bằng thuốc ngủ liều cao, khỏa thân trong tình trạng ngủ say. "Nếu chỉ cần lay nhẹ mà cô gái đã thức dậy thì ngôi nhà này đâu còn gì bí ẩn nữa. Các vị khách đến đây 'giống như ngủ với một ông Bụt vô hình'. Đối với các ông già, ngủ với một người đẹp không khi nào tỉnh thức là một mối cám dỗ, một cuộc phiêu lưu, một niềm vui thú mà họ tin mình còn thực hiện được", tác giả viết.

Mỗi chương là một lần Eguchi đến ngôi nhà ngủ cùng cô gái khác nhau. Khi màn đêm buông xuống, nhiều tiếng động kết hợp tạo nên bản nhạc của thiên nhiên, con người. Hơi thở của những cô gái, cộng với tiếng gió thổi qua mái nhà và âm thanh sóng biển đập vào vách đá. Từ đó, Eguchi hồi tưởng quá khứ, nhớ về những người đàn bà đi qua đời ông.

Tác giả lấy những hoài niệm để ẩn dụ cho sự tiếc nuối vẻ đẹp văn hóa Nhật Bản. Kỷ niệm tái hiện qua không gian, hình ảnh thiên nhiên xung quanh ngôi nhà của các mỹ nữ. Việc ngủ cạnh những cô gái khiến Eguchi khám phá nhiều cung bậc cảm xúc, đồng thời nhận ra sự cô đơn của mình. "Một nỗi cô đơn buồn bã trào lên. Nhưng hơn cả nỗi cô đơn hay nỗi buồn rầu, chính là nỗi cô chiếc tuyệt vọng của tuổi già như thể đông lạnh hẳn trong ông", Kawabata viết.

Tác phẩm không chỉ tràn ngập những mỹ từ, như "bàn tay mịn và đẹp, mái tóc trinh trắng, đôi má ửng đỏ, cổ và vai trông tươi và trẻ", mà còn suy tưởng về quy luật của thời gian, sự sống và cái chết, nỗi hoài niệm quá khứ, khao khát tương lai. Đời sống xã hội mang nhiều tổn thương, khiến con người dễ rơi vào tâm trạng cô đơn, tiếc nhớ những tháng ngày quá khứ.

Bìa trong của tác phẩm Người đẹp ngủ mê năm 2023. Ảnh: Phương Nam Book
Bìa trong của tác phẩm Người đẹp ngủ mê năm 2023. Ảnh: Phương Nam Book

Càng về cuối, Kawabata càng đào sâu ký ức của nhân vật chính, nhằm giúp Eguchi tìm lại được cảm xúc thuần túy nhất. Eguchi tin những lão già như mình, khi có dịp trú ngụ tại ngôi nhà của các mỹ nữ, không chỉ nhìn lại thời trai trẻ mà cố quên đi những việc tiêu cực xảy ra trong cuộc đời. Từ khía cạnh này, Eguchi liên tưởng những người đẹp ngủ mê là hiện thân của thần tiên trong các truyền thuyết.

"Cô gái ngủ mê man như chết nhưng thời gian sinh tồn của nàng đâu có ngưng chảy, vậy nàng có giữ được thời gian đó không hay là nó chảy tuột vào một vực sâu không đáy? Nàng không phải là một búp bê sống, vì không thể có búp bê sống trên thế gian này; nàng được biến thành một đồ chơi sống, để các cụ già đã mất năng lực đàn ông không bị cảm thấy xấu hổ. Không, không phải một đồ chơi: đối với các cụ, nàng chính là cuộc sống. Một cuộc sống người ta có thể sờ mó được, một cách tự tin", Kawabata nhận định.

Trong một số tác phẩm, Kawabata thường lồng ghép quan điểm của mình để gợi nhớ cuộc sống mồ côi và những khó khăn thời trẻ tuổi trẻ. Đồng thời, nhà văn để lại nhiều khoảng trống để độc giả tự khám phá. Bằng sự khéo léo biến hóa ngôn từ, Kawabata dẫn dắt người đọc qua nhiều tình huống, tạo nên cảm nhận khác nhau khi đọc tác phẩm.

Tác phẩm được giới chuyên môn và nhiều độc giả đánh giá cao. Năm 1968, Người đẹp ngủ mê giúp Kawabata Yasunari trở thành tiểu thuyết gia người Nhật đầu tiên đoạt giải Nobel Văn học. Đại diện Viện Hàn lâm Thụy Điển nhận xét: "Tác giả tôn vinh cái đẹp hư ảo, đồng thời khắc họa nỗi buồn hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và định mệnh con người".

Trên trang đánh giá sách Goodreads, độc giả Jim Fonseca viết: "Những dòng văn mở đầu câu chuyện góp phần che đậy nỗi khao khát và ký ức tình yêu trong quá khứ của nhân vật. Tác phẩm có chút kinh dị nhưng hấp dẫn, khắc sâu vào tâm trí tôi".

Nhà văn Kawabata Yasunari. Ảnh: Estate of Yousuf Karsh
Nhà văn Kawabata Yasunari. Ảnh: Estate of Yousuf Karsh

Kawabata Yasunari (1899-1972) sinh ra ở Osaka, mồ côi năm lên hai tuổi. Từ đó, ông và người chị ruột sống cùng ông bà ngoại và gia đình người dì. Qua thời gian, những sáng tác văn chương, tiểu luận mỹ học và phê bình văn học của Kawabata vẫn luôn hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu văn học khắp thế giới, do phản ánh nhiều phương diện văn hóa và đề cao tinh thần người Nhật. Nhiều tác phẩm của Kawabata từng xuất bản trong nước, gồm: Đẹp và buồnHồTiếng núiXứ tuyếtBồ công anh.

Theo Vnexpress

Đọc bài viết

Cafe sáng