Book trailer

Diệt vong: “Không phải mọi kẻ điên đều là thiên tài… Nhưng nhiều thiên tài lại là kẻ điên.”

Published

on

Câu nói này có lẽ rất phù hợp để nói về tác gia Đức ngữ quan trọng nhất thời hậu thế chiến II, Thomas Bernhard. Thomas Bernhard (1931-1989) là nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch người Áo. Được đánh giá cao ở nước ngoài nhưng tại Áo, ông lại bị chỉ trích là kẻ “vạch áo cho người xem lưng” khi các tác phẩm của ông thẳng thắn chỉ ra và cay nghiệt phê phán các thói tật của quê hương, bao gồm của quá khứ Quốc xã đáng bị chôn vùi mãi mãi. Thomas Bernhard  chẳng bao giờ ngần ngại khoác cho dân Áo đủ thứ xấu xa trên đời. Ông cho rằng chính phủ nước ông sẵn sàng phạm vào mọi tội ác và đã phạm mọi tội ác có thể hình dung với nước Áo, lợi dụng bản tính ngái ngủ của dân tộc này để cuối cùng biến sự đê tiện và tàn nhẫn thành nghệ thuật duy nhất mà chính phủ ấy sử dụng, ngưỡng mộ và rõ ràng là mê mẩn.

Ông ghét tất cả những gì mọi người quanh ông coi trọng, không tin bất cứ cái gì mọi người quanh ông tin. Thomas Bernhard là một nhà văn cay nghiệt và nanh ác (như ông tự nhận). Nỗi đau bị bị bỏ rơi (thời thơ ấu), căn bệnh nan y hiểm nghèo khiến ông nhận thức cái chết là bản chất tối thượng của sự tồn tại. Các tác phẩm của ông thường được viết ở ngôi thứ nhất, là màn độc thoại dây cà dây muống của một nhân vật về xã hội, thế giới, con người.

“Sáng sáng, hàng triệu người chỉ cần khoác bộ quần áo lao động lên người là lập tức họ được xếp ngay vào hạng dân chúng cần lao, trong khi thực ra chỉ một bầy những kẻ lười biếng xảo trá, chỉ độc nghĩ đến miếng ăn mà thôi, và không làm gì khác ngoài việc ra tay phá hoại thế gian này.”

Với một phong cách phóng túng, cường điệu thổi phồng mọi sự, nhưng tinh tế trong tình yêu, cay nghiệt trong đả kích, tri kiến sâu rộng, cùng thủ pháp độc thoại bậc thầy, văn tài của Thomas Bernhard đã hội tụ và tỏa sáng rực rỡ nhất trong Diệt vong – cuốn tiểu thuyết cuối cùng và có lẽ đen tối nhất của ông. Được viết bằng phong cách không thể lẫn vào đâu được của ông, Diệt vong là màn ta thán liên tu bất tận của Franz-Josef Murau, con cừu đen của một gia đình quý tộc lâu đời của Áo. Đó là kẻ đã quyết dứt áo ra đi khỏi chốn chôn rau cắt rốn – miền Wolfsegg tuyệt đẹp. Cũng như chính nhà văn tạo ra mình, Murau căm ghét gia đình mình – những người cũng căm ghét anh không kém, ghê sợ tôn giáo được thờ phụng ngàn đời của mình, yêu quí đất nước Áo với những thắng cảnh tuyệt đẹp, nhưng lại căm thù nhà nước Áo đê tiện, tàn nhẫn. Chính bởi vậy, anh đã tới sinh sống ở Rome và hứa với lòng sẽ không bao giờ quay lại Wolfsegg, nơi không chỉ có gia đình luôn khinh thường, ghét bỏ anh mà cả những con người xấu xa, không thể nào chịu đựng nổi sinh sống. Thế nhưng vì một biến cố bi thương mà Murau vạn bất đắc dĩ phải trở về quê hương – cái chết đột ngột của cha mẹ và anh trai. Cái tai nạn khủng khiếp ấy đẩy Murau trở thành trụ cột của gia đình và buộc phải quay về lo tang lễ cũng như phải quyết định số phận sau này của Wolfsegg cùng hai đứa em gái.

Ảnh: Tao Đàn

“Họ, dân Đức ấy, nuốt Goethe như nuốt một thứ thuốc nào đấy vào bụng và tin vào công dụng vào thuốc, tin sái cổ vào tác dụng chữa bệnh của thuốc; Goethe nói cho cùng, chẳng qua chỉ là ông thầy lang của dân Đức, vị pháp sư vi lượng đồng căn liệu pháp về tinh thần đầu tiên của dân Đức mà thôi. Họ uống Goethe vào người và khỏi bệnh. Toàn thể dân tộc Đức uống Goethe vào người và hết bệnh. Thế nhưng… Goethe là một tên bịp bợm, cũng giống như bọn lang băm, tên nào mà chả bịp bợm; cả thơ văn lẫn triết lý của Goethe đều là ngón bịp lên đến tột đỉnh của dân Đức.”

Trải dài 500 trang sách là hai màn độc thoại không một chỗ xuống dòng của Murau khi nhận được bức điện báo tin dữ và khi đã trở về Wolfsegg tổ chức đám tang. Người đọc bị cuốn theo nhịp điệu dồn dập những ta thán về ông bố nhu nhược, bà mẹ tham tiền, ông anh bất tài và lũ em gái phụ thuộc; bàng hoàng nhưng cũng đồng cảm với những nhận xét cay nghiệt về sự nặng nề của tiếng Đức, cái giả tạo của nhiếp ảnh, thứ văn chương rẻ tiền, lũ bác sỹ đốn mạt, cái chính phủ trì trệ, thứ tôn giáo bảo thủ, một dân tộc biếng lười… Làn sóng căm ghét, khinh thường được đẩy đến tột độ với những lời móc mỉa được cường điệu hóa cực điểm.

“Tôi khinh bỉ những ai chụp ảnh liên hồi và lúc nào cũng quàng máy ảnh chạy lăng xăng… Họ ghi lại một thế giới bị méo mó đến mức quái đản trên các bức ảnh của họ, một thế giới không còn gì là chung với thế giới thật ngoài sự méo mó đến quái dị mà họ phải chịu tội. Chụp ảnh là một thứ nghiện ngập chung mà dần dần toàn nhân loại đã nhiễm phải, bởi vì nhân loại không những đã phải lòng cả sự méo mó lẫn quái dị đó, mà còn bị mê muội vì nó theo thời gian, do không ngừng chụp ảnh, nhầm tưởng thế giới méo mó và quái dị trông ảnh là thế giới duy nhất thực.”

 Thế nhưng qua đó Murau đã phân tích thấu đáo thực tế xã hội cùng nhận thức bản thể tự thân, anh lý giải về sự tồn tại của bản thân trong tâm trí chính chúng ta và sự tồn tại của chúng ta trong mắt tha nhân. Trong cái “ác” của anh hay của chính Thomas Bernhard, có một nỗi niềm hoài cổ tiếc nhớ về một sự toàn bích đã mất hoặc đang mất dần. Chính điều đó mới tạo nên giá trị nhân văn của Diệt vong, cuốn sách vĩ đại của một con người thiên tài.

*

“Với sự dữ dội ngạt thở… Qua tiếng nói của Murau, Thomas Bernhard tấn công thế giới hiện đại, được minh họa bởi nơi chôn rau cắt rốn của ông, nước Áo.” – Chicago Tribune

“Sự tinh tế khác biệt của Diệt vong nằm ở sự mô tả ý thức trong hành động: Murau, hóa ra, có thể yếu đuối, đáng ngưỡng mộ, khó hiểu hoặc độc địa, nhưng tâm trí của anh ta, như được mô tả trên trang giấy, dường như hoàn toàn đúng với cuộc sống.” – Washington Post Book World

“Không phải mọi kẻ điên đều là thiên tài. Nhiều người được gọi thế nhưng số người thực sự như vậy thì rất ít. Đó là một câu lạc bộ riêng biệt, nhưng Bernhard đã bước chân vào đó… Giống như Swift, Bernhard viết như một con quái vật thiêng liêng… Ông là một nghệ sĩ biểu diễn văn học xuất chúng: một người đi đến cực đoan bằng cách truyền sức sống cho ý thức của chúng ta về khả năng của con người, tuy nhiên lại mang tính phá hoại.” – The Wall Street Journal

Hết.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Book trailer

Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng tái xuất với diện mạo hoàn toàn mới

Published

on

Đoạt huân chương Newbery từ năm 1972, tác phẩm của Robert C. O’Brien vẫn chinh phục trái tim độc giả nhỏ tuổi qua bao thế hệ dù đã hơn 30 năm trôi qua kể từ lần đầu phát hành. Tác phẩm lần đầu xuất bản ở Việt Nam dưới cái tên Mẹ Frisby và gia đình chuột vào thời điểm 2012. Trong lần tái bản này, cuốn sách đoạt giải Newbery sẽ mang tên mới là Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng, nội dung được biên tập lại kèm theo nhiều hình ảnh minh họa sinh động.

Khắc họa loài vật trong bối cảnh sinh tồn

Câu chuyện trong Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng xoay quanh cuộc phiêu lưu của chị chuột Frisby góa bụa cùng đàn con, khi cả gia đình phải chuyển nhà để ông chủ trang trại Fritzgibbon chuẩn bị cày cấy vườn rau cho vụ mùa mới. Nhưng Timothy, bé trai út trong nhà lại đang mắc viêm phổi nặng và không thể di chuyển giữa tiết trời lạnh giá. Quyết cứu con mình, chị Frisby đã bất ngờ rơi vào cuộc phiêu lưu có mèo và quạ, có thành phố bí ẩn dưới góc vườn. Để rồi cuộc gặp gỡ với những chú chuột NIMH phi thường và hào hiệp đã giúp mẹ con chị thoát khỏi tình thế tiến thoái lưỡng nan.

Tuy gắn mác truyện thiếu nhi, điểm đặc sắc của cuốn sách đoạt giải Newbery là lối hành văn và những tình tiết đậm chất hiện thực, mô tả sống động khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ với những chu trình tự nhiên khắc nghiệt.

Mối quan hệ đa chiều giữa chuột và con người

Loài chuột trong truyện được khắc họa rất thú vị khi chúng có thể tự ý thức về bản chất “thích trộm cắp” của giống loài. Trăn trở vì luôn phải sống phụ thuộc vào con người, chúng muốn bứt khỏi tình cảnh đó. Nhưng cũng như con người, loài chuột trong Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng không đầu hàng trước trở ngại mà biết tự nâng cấp cuộc sống của mình bằng nhiều phương tiện khác nhau. Thật thú vị khi Robert C. O’Brien đưa những chi tiết mô tả phòng thí nghiệm, điện nước, vật dụng cơ khí… trong một tác phẩm ngỡ như truyện cổ tích về loài vật.

Tác giả đứng vào thế trung lập khi đánh giá mối quan hệ giữa con người với loài vật, xét trên phương diện cả hai phe đều phải vật lộn vì mục đích sinh tồn. Đồng thời, người lớn cũng có thể đọc tác phẩm để khám phá một góc nhìn độc đáo về thế giới loài vật, chiêm nghiệm về vị thế của chúng ta giữa tự nhiên bao la.

Tranh minh họa sống động, đáng yêu

Trở lại với diện mạo mới, tác phẩm Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng có thêm phần tranh minh họa in màu của họa sĩ Việt Nam với những màu sắc tươi sáng, tạo hình nhân vật dễ thương, giúp bạn đọc hình dung rõ hơn về thế giới của loài vật được mô tả qua những câu chữ.

Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng mang đến câu chuyện đậm chất phiêu lưu giả tưởng, vừa gần gũi, đề cao tình mẫu tử mà không hề giáo điều hay phán xét. Sở hữu nội dung hấp dẫn, thông điệp ý nghĩa và phần hình thức bắt mắt, tác phẩm thiếu nhi đoạt giải Newbery hứa hẹn sẽ là món quà phù hợp với trẻ nhỏ lẫn người lớn vào mùa lễ tết sắp tới.

Về giải thưởng Newbery:

Xuất hiện từ năm 1922 ở Mỹ, Newbery Medal là giải thưởng danh giá dành cho sách thiếu nhi đầu tiên trên thế giới, được Hiệp hội Dịch vụ Thư viện cho Trẻ em (ALSC) trao tặng các tác giả có đóng góp quan trọng cho nền văn học trẻ em Mỹ. Tại Việt Nam đã có những đầu sách đoạt huân chương Newbery được xuất bản, bao gồm Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng, Charlotte và Wilbur, Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, Hòn đảo cá heo xanh

Về tác giả:

Robert C. O’Brien tên đầy đủ là Robert Leslie Carroll Conly, sinh ngày 11.1.1918 ở Brooklyn, New York. Ông theo học trường William College và tốt nghiệp Đại học Rochester. Sau đó ông trở thành nhà văn kiêm nhà báo của tờ Newsweek , National Geographic cùng nhiều tờ báo khác. Ông sống tại New York, rồi chuyển đến Washington cùng vợ và bốn đứa con.

Sau khi Robert C. O’Brien qua đời (ngày 5.3.1973), cuốn tiểu thuyết Z for Zachariah đã được vợ và con gái ông tiếp tục chấp bút dựa theo những phác thảo còn lại.

Các tác phẩm của ông bao gồm: The Silver Crown; Mrs. Frisby and the Rats of NIMH; A Report from Group 17Z for Zachariah.

Đọc bài viết

Book trailer

2030: Những xu hướng lớn sẽ định hình thế giới tương lai – Hành trang cho xã hội mai sau

Published

on

Thế giới mà chúng ta sống đang thay đổi nhanh hơn bao giờ hết. Nếu như ngày trước, con người mất hàng nghìn năm để hình thành các xã hội sơ khai, thì giờ đây, chỉ trong khoảng thời gian nửa thế kỉ, một người có thể chứng kiến biết bao cuộc chiến bừng lên rồi dập tắt, biết bao thể chế từ lúc hưng thịnh cho đến khi suy tàn.

2030 là mốc thời gian mà tác giả Mauro F. Guillén đặt ra trong cuốn sách viết về tương lai. Năm 2030 thoạt nghe thật gần nhưng với tốc độ phát triển vũ bão của khoa học, công nghệ thông tin và quá trình toàn cầu hóa ngày nay, 10 năm cũng đủ tạo ra vô vàn biến động nằm ngoài trí tưởng tượng của chúng ta.

Cộng với những tác động tàn phá từ dịch bệnh Covid-19, tác giả Mauro F. Guillén khẳng định con người của năm 2030 không thể tiếp tục sống theo lối truyền thống. Vậy nên cuốn sách của ông ra đời nhằm giúp độc giả có một cái nhìn khái quát về các xu hướng đang diễn ra trên toàn cầu, đồng thời tự trang bị trước những cơ hội lẫn thách thức của thế giới mới để không bị tụt lại phía sau.

Được viết bằng văn phong hấp dẫn đan xen các dẫn chứng khoa học, 2030: Những xu hướng lớn sẽ định hình thế giới tương lai là một bản phân tích sâu rộng, chặt chẽ và đầy thuyết phục về xã hội loài người trong thập niên tới, trải dài trên nhiều lĩnh vực từ nhân khẩu học, kinh tế, đô thị hóa cho đến những cách tân công nghệ mới nhất như tiền điện tử và trí tuệ nhân tạo.

Tác giả Mauro F. Guillén

Qua đó, cuốn sách nêu bật những ý quan trọng:

  • Trong thập niên tới, số trẻ sơ sinh sẽ ít đi do hiện tượng giảm sinh toàn cầu. Thay vào đó, thế hệ “đầu bạc” có thêm cơ hội tiến vào thị trường việc làm, trở thành nhóm khách hàng được các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu.
  • Tầng lớp trung lưu mới và cũ sẽ tranh giành vị thế khi trọng tâm tiêu dùng toàn cầu dịch chuyển sang các lục địa nằm ngoài châu Âu và Mỹ.
  • Xuất hiện thêm nhiều phụ nữ giàu có khiến cơ cấu quyền lực của xã hội dần chuyển hóa, nhưng họ cũng phải đối mặt với nhiều áp lực hơn và xu hướng này có thể dẫn đến xung đột giữa các nhóm phụ nữ khác nhau trong xã hội.
  • Các thành phố tăng trưởng mạnh mẽ tạo ra hàng loạt vấn đề mới như biến đổi khí hậu, khủng hoảng nhu cầu nước và đất đai.
  • Hàng loạt công nghệ đột phá như AI (trí tuệ nhân tạo), xe điện, in 3D, công nghệ nano… mở ra rất nhiều tiềm năng để giải quyết các vấn đề xã hội, đồng thời cũng đưa đến nhiều tình thế nan giải khi các phương thức truyền thống và lớp người lao động cũ bị thế chỗ. 

Còn rất nhiều dự đoán thú vị về nền kinh tế chia sẻ, thế giới không tư hữu, các dự đoán về blockchain (chuỗi khối) và tiền tê tương lai đang chờ bạn đọc khám phá.

Về tác giả:

Mauro F. Guillén là diễn giả, nhà tư vấn uy tín cho nhiều doanh nghiệp, một chuyên gia hàng đầu về xu hướng toàn cầu. Ông từng tốt nghiệp Xã hội học ở Đại học Yale và Kinh tế học ở Tây Ban Nha. Ông đồng thời cũng là một nhà tư tưởng, học giả và giáo viên đoạt giải thưởng tại Trường Wharton, nơi ông giữ chức Giáo sư Zandman về Quản lý Quốc tế và giảng dạy trong Chương trình Quản lý Nâng cao hàng đầu cùng nhiều khóa học khác cho giám đốc điều hành, MBAs và sinh viên đại học.

Hiện nay, ông là Giám đốc kiêm Hiệu trưởng của Trường Kinh doanh Cambridge Judge và là thành viên của Queen's College tại Đại học Cambridge.

Những cuốn sách đã xuất bản: The Architecture of Collapse, Global Turning PointsEmerging Markets Rule.

Đọc bài viết

Book trailer

Giải Booker 2021 gọi tên nhà văn người Nam Phi Damon Galgut

Published

on

Sau hai lần lọt vào danh sách rút gọn, cuối cùng tiểu thuyết gia kiêm nhà soạn kịch Damon Galgut đã nhận giải Booker Prize (cùng khoản tiền mặt 50,000 bảng Anh) cho tiểu thuyết The Promise. Ông là nhà văn người Nam Phi thứ ba nhận được vinh dự này, sau J. M. Coetzee và Nadine Gordimer.

Lần đầu tiên là “một người chiến thắng”

Khi Damon Galgut hay tin The Promise lọt vào danh sách rút gọn Giải Booker 2021, ông đã rất bồn chồn. Từng hai lần lọt vào vòng short-list (năm 2003 và 2010), và cả hai lần gánh nặng của danh hiệu được đề cử “có lẽ đã bào đi vài năm tuổi đời tôi”.

Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Guardian, Galgut chia sẻ: “Trong vài tuần đầu, anh được coi là một trong sáu người thắng cuộc; rồi đột nhiên, rất đột nhiên, tất cả sự chú ý đang đổ dồn vào anh bỗng biến mất, và rồi chỉ có duy nhất một người chiến thắng, còn lại đều là những kẻ bại trận.”

Nhưng năm nay mọi chuyện đã khác. Hội đồng chấm giải Booker đã viết những lời ca ngợi đứa con tinh thần của ông, vì “phong cách kể chuyện khác thường cân bằng giữa sự hoa mỹ kiểu Faulkner với tính chính xác của Nabokov, phá bỏ giới hạn, là minh chứng cho sự phát triển rực rỡ của tiểu thuyết thế kỷ 21”.

Damon Galgut vào khoảnh khắc công bố kết quả Giải Booker 2021. Ảnh: The Washington Newsday

Giới phê bình văn học đã ví von lối viết thử nghiệm của ông với các bậc thầy chủ nghĩa hiện đại như Virginia Woolf, James Joyce và William Faulkner; đồng thời một số khác ghi nhận tác phẩm của ông nợ một lời cảm ơn đến nhà văn đồng hương J. M. Coetzee.

Lời giễu nhại cay độc giữa thời đại phân biệt chủng tộc

The Promise, tiểu thuyết thứ chín của Damon Galgut, là bức chân dung vừa hiểm ác vừa ngớ ngẩn đến mức ảm đạm về gia đình nhà Swart - hậu duệ thực dân Hà Lan - đang cố gắng níu giữ trang trại, đất đai và địa vị của họ ở Nam Phi thời hậu phân biệt chủng tộc.

Những ý tưởng đầu tiên được sinh ra từ cuộc trò chuyện với người bạn vừa đi dự một loạt đám tang của người nhà. Từ đó, Galgut bắt đầu viết một cuốn tiểu thuyết xoay quanh trọng tâm là một gia đình - “chỉ là một đám người Nam Phi da trắng đơn điệu,” - khi người mẹ quyền uy qua đời vì ung thư năm 1986, cũng là lúc Nam Phi đang rung chuyển vì bất ổn chính trị. Tiêu đề The Promise đề cập đến lời hứa (và thất hứa) của gia đình Swart, rằng sẽ trao nhà và đất cho người quản gia da đen tận tụy, đồng thời cũng ám chỉ sự bội tín, về cái viễn cảnh bình đẳng xã hội thời hậu phân biệt chủng tộc mãi mãi chẳng thể thành hình.

The Promise, tiểu thuyết thứ chín của Damon Galgut, là bức chân dung vừa hiểm ác vừa ngớ ngẩn đến mức ảm đạm về gia đình nhà Swart - hậu duệ thực dân Hà Lan - đang cố gắng níu giữ trang trại, đất đai và địa vị của họ ở Nam Phi thời hậu phân biệt chủng tộc. Ảnh: CNN

The Promise đạm bạc, đâu đó hiểm ác, đâu đó hóm hỉnh cay độc. Khi cuốn sách khép lại, chỉ có duy nhất một người mang họ Swart sống sót. Galgut ghi chép tỉ mỉ tiến trình tử vong của con người; những công việc vụn vặt của nhà tang lễ được trình bày qua các tình tiết tẻ ngắt, cũng như thứ mùi khó ngửi của kẻ sống và người chết. Galgut liên tục đề cập đến cái thứ gì đó đắng chát hay bị chôn vùi ở “lõi chua” của cả người nhà Swart và đất nước Nam Phi, và có lẽ ngay trong chính bản thân sự sống: “bản chất của mọi thứ đều là sự dối trá.”

Cuốn tiểu thuyết còn ghi lại những thăng trầm của một Nam Phi đang thay da đổi thịt - khởi đầu bằng buổi nhậm chức của Nelson Mandela. Tuy nhiên, các nhân vật da trắng vẫn thản nhiên bác bỏ sự tồn tại của người da màu. Sự tự mãn, thụ động của nhà Swart chỉ có thể cứu chuộc bằng lời hứa bị trì hoãn từ lâu - rằng quản gia Salome có thể thừa hưởng ngôi nhà khiêm tốn trên mảnh đất mà cô đang sống. Galgut mượn sự thất hứa này để khắc họa tình trạng băng hoại đạo đức nghiêm trọng trong cộng đồng người da trắng tại Nam Phi.

Những ảnh hưởng từ J. M. Coetzee

Mặc dù phần lớn The Promise có bối cảnh tại những thập kỷ trước, nhưng chủ thể của cuốn sách - hậu quả của chủ nghĩa thực dân và nạn phân biệt chủng tộc, câu hỏi còn bỏ ngỏ, rằng ai mới thuộc về mảnh đất này - vẫn còn vang vọng tại đất nước Nam Phi. “Câu chuyện đất đai, ai đang sở hữu nó, ai đã từng sở hữu nó, ai sẽ sở hữu nó trong tương lai, đây là trọng tâm trên bàn tròn chính trị Nam Phi hiện nay”.

Văn chương của Galgut từ lâu đã được mang lên bàn cân so sánh với các tác phẩm của người đồng hương J. M. Coetzee - nhà văn chuyên chắt lọc những bạo lực của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc thành những câu chuyện ngụ ngôn u ám. Cả hai tác giả đều viết về những gì hội tụ tại ngã ba chính trị, tinh thần và thể xác; cơn ác mộng mang tên phân biệt chủng tộc vấn vít với nhu cầu dai dẳng của thân xác phàm trần. Coetzee có thể khơi dậy niềm vui hiện sinh nghiệt ngã từ hoàn cảnh khốn khó của các nhân vật chính. Trong khi đó, Galgut trong The Promise là một nhà văn trào phúng, nghiêng hẳn về cái vô cảm và đạo đức giả trong các nhân vật của ông.

Văn chương của Galgut từ lâu đã được mang lên bàn cân so sánh với các tác phẩm của người đồng hương J. M. Coetzee - nhà văn chuyên chắt lọc những bạo lực của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc thành những câu chuyện ngụ ngôn u ám. Ảnh: Micheline Pelletier/Corbis

Tuy nhiên, cả hai nhà văn đều viết về những cái xấu xa; và khi anh em nhà Swart trôi theo số phận thê lương, Galgut lại theo đuổi viễn kiến của Coetzee về cái khó của loài người, mà trạng thái mặc định là nỗi đau. Tôi đau, vì vậy tôi tồn tại.

Hết.

Mèo Heo lược dịch từ New York Time.

Đọc bài viết

Cafe sáng