Book trailer

Cuộc thập tự chinh thứ nhất: Giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây

Published

on

Jerusalem lâu nay vốn vẫn được xem như là trung tâm của thế giới, là nơi giao nhau của ba lục địa Á Âu Phi, là nơi hành hương quan trọng của ba tôn giáo lớn bao gồm Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo. Trong hơn 3000 năm lịch sử của mình, Jerusalem đã trải qua nhiều thảm kịch khác nhau: bị thiêu rụi, tấn công và trao qua tay các chính quyền đô hộ. Trong cuốn du ký Con đường hồi giáo, tác giả Nguyễn Phương Mai đã viết rằng: Đằng sau những đường phố lát đá lộng lẫy của thành Jerusalem là cuộc sống tín ngưỡng cực điểm, là sự căng thẳng đến tột cùng của xung khắc tôn giáo như một quả bóng đầy hơi có thể bục tung bất cứ lúc nào. Ở Jerusalem, mỗi hòn đá là một câu chuyện kinh thánh, mỗi người dân là một tín đồ sẵn lòng tử vì đạo, mỗi ngọn gió tràn qua cũng có mùi thánh thần, một lời nói bâng quơ cũng có thể trở thành điều tiên tri chờ ngày ứng nghiệm.

Và do đó, Jerusalem thăng trầm như số kiếp của một đời người bị những bên thay nhau giằng xé. Vào quãng thời gian năm 1095 tại xứ Clermont miền Nam nước Pháp, Giáo hoàng đương nhiệm Urban II – bằng lời hiệu triệu đầy kích động thông qua tội ác của người Thổ, người Hồi đối với những Kitô Hữu xứ phương Đông – đã kêu gọi tầng lớp quý tộc đảm đương cuộc viễn chinh vào trong đất Thánh. Bằng lời hiệu triệu đầy tính cách mạng nhân danh Chúa mà mọi tầng lớp trong xã hội phương Tây đã đứng lên đi theo tiếng gọi của cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Thế nhưng nguyên nhân gốc rễ hình thành nên cuộc chiến này, cũng như những gì đã thực sự diễn ra để định hình nên thế giới ngày nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Mối tương quan giữa phương Đông và phương Tây trong những tư liệu để lại từ lâu vẫn đặt ra những câu hỏi về sự xác thực, liệu ta nên tin về phía bên nào khi ai cũng đang che giấu một điều gì đó?

Và với Cuộc thập tự chinh thứ nhất – Tiếng gọi từ phương Đông của tác giả Peter Frankopan, ta đã phần nào hiểu được những điều cốt lõi nhất của cuộc chiến này. Với một sự kiện có phần quan trọng nhằm định hình nên thời Trung cổ, Frankopan đã đứng trung dung giữa hai góc nhìn phương Đông và phương Tây. Ông dựa trên những tư liệu để lại của cuốn Alexiad (do Anna Komnene – con gái của Hoàng đế xứ Byzantium viết) và những dữ liệu phương Tây từ những hiệp sỹ, tu sỹ – những người châu Âu tham gia cuộc thập tự chinh để lại. Điều thành công nhất của tác phẩm này là bởi những suy đoán dựa trên cơ sở của những phân tích vô cùng hợp lý, khi có sự kết hợp giữa các sử liệu khác nhau của Frankopan. Ông có quan điểm cởi mở và rất khách quan; không phô trương, bợ đỡ hay coi phương Tây là phe đúng đắn trong sự kiện này; từ đó chính tính khách quan làm nên được sự cuốn hút cho tác phẩm.

Như thể đầu tiên là những gốc rễ sâu xa bắt nguồn nên cuộc Thập tự chinh. Nếu các sử gia phương Tây vẫn luôn khắc họa hình ảnh một lòng kính Chúa và nhân danh Chúa của những người lính Kito đặc biệt sùng tín; thì Frankopan đã cho ta thấy một điều ngược lại. Thay vì tin vào những điều có sẵn từ lâu, nay ông chứng minh gốc rễ của cuộc Thánh chiến đã được bắt nguồn từ phía phương Đông, từ kinh đô Constantinople xứ Byzantine, từ Hoàng đế Alexios I chứ không phải từ phía Giáo hoàng hay những ca ngợi thiêng liêng khác. Ông cũng cho rằng động cơ một phần nằm ở Giáo hoàng Urban II khi vị này muốn giành lại thế ưu tiên từ phía giáo hội thành Rome, trong một nỗ lực nhằm thống nhất Kito giáo phương Đông và phương Tây. Trong khi những người tham gia cuộc Thánh chiến này với mục đích cứu chuộc tội lỗi và hy vọng nhận được “món quà tinh thần” nhiều hơn là lòng nhiệt thành được phận sự Chúa.

Những sự thật này có thể gây shock cho những luận điểm ta vốn quen nghe. Còn hơn thế nữa, Frankopan cũng giành công lý về lại cho Hoàng đế Alexios I trước những điều tiếng vốn vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Theo đó một chân dung Hoàng đế hiện lên xuyên suốt cuộc Thập tự chinh đầy tính toán nhưng cũng tuân thủ những lời hứa từ phía phe mình. Khi người Thổ lần lượt chiếm được những cứ điểm quan trọng như Nicea, Antioch hay thậm chí là thành Jerusalem, Hoàng đế Alexios đã phát đi lời kêu gọi giúp đỡ từ phía Giáo hoàng. Một mặt ông muốn đánh đuổi quân Thổ ra khỏi mảnh đất thiêng liêng, nhưng mặt khác ông lại e ngại chính sự phản trắc từ phía kinh thành đã từng xảy ra ở trong quá khứ. Đứng trước cuộc hành quân đầy gian khó này, công tác hậu cần được ông chuẩn bị một cách hoàn hảo. Nhưng khi đội quân phương Tây tiến vào, một nỗi lo khác bắt đầu xuất hiện, khi họ liệu có nối gót người Thổ chiếm lại chính những vùng đất ở vùng Tiểu Á họ vừa giải phóng? Chính sự chân trong chân ngoài này đã khắc họa chân dung một Hoàng đế đầy e ngại và có phần chần chừ, khiến không ít những nhà quý tộc như Bohemond xứ Taranto một mực cho rằng ông đã bội ước và đòi chiếm lại vùng Antioch.

Tác giả Peter Frankopan. Nguồn: The Guardian

Song song cùng những sự thật vừa được chứng minh, sự hùng vĩ của cuộc Thập tự chinh đầu tiên cũng được Frankopan khắc họa một cách hoàn hảo. Trước một quy mô hơn 70 nghìn người từ lúc bắt đầu đến khi đến được thành Thánh thì chỉ còn lại vỏn vẹn có 1/3, những cuộc chiến ác liệt xua đuổi quân Thổ ở Antioch, ở Jerusalem, những mưu chước của Hoàng đế Alexios hiện lên sinh động mà đầy hoành tráng. Ở đó chính trong cuộc chiến chống lại người Thổ hay dân du mục Pecheneg, ta thấy hiện lên một lý tưởng lớn với những mong muốn chống lại ly giáo, thấy được bản sắc vùng miền cũng như những tranh cãi thế tục và phân chia giữa hai giáo hội thành Rome và Constatinople. Với cuốn sách thứ hai tiếp theo Những con đường tơ lụa, Peter Frankopan bằng sự trung dung và tính khách quan đã khái quát nên Cuộc thập tự chinh đầu tiên đầy hoành tráng và được giải thích cặn kẽ dưới một góc nhìn Đông phương. Mới lạ, mạnh mẽ và đầy thuyết phục; đây là cuốn sách giúp ta hiểu thêm về thời Trung cổ, về tiêu chuẩn hóa cho các cuộc Thập tự chinh tiếp sau và hơn hết chính là hành trình giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây.

Hết.

Sa Nguyên

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Book trailer

Ăn cơm với cá: Sách ẩm thực không thể bỏ qua cho những tín đồ yêu cá

Published

on

By

Ăn cơm với cá không chỉ là những hướng dẫn chi tiết về cách nấu 30 món cá sao cho ngon và đậm vị vùng miền, mà qua đó, độc giả còn có cơ hội hiểu thêm về sự tinh tế của ẩm thực Việt Nam.

Một cuốn sách ẩm thực tỉ mẩn và chăm chút

Từ những giới thiệu căn bản như Ăn cơm với cá - nét truyền thống Việt, Tên gọi và cách nấu cá Việt Nam đến Những mẹo sơ chế cá thông dụng, chúng ta sẽ được trải nghiệm cách nấu 10 món cá ngon mỗi miền Bắc, Trung, Nam.

Không những thế, trước mỗi công thức thường sẽ có đôi dòng, khi thì nói về cái thanh tao trong việc thưởng thức món ăn, khi thì kể tích cũ về gốc gác món ăn, có khi lại là những trải nghiệm riêng của tác giả về món ăn ấy. Và trong công thức luôn luôn tặng kèm những bí quyết rất nhỏ nhưng quyết định độ ngon của cả món cá. Mọi thứ tinh tế, trau chuốt và thân thuộc như cái cách mẹ chỉ cho con gái, mẹ chồng chỉ cho con dâu nấu ăn.

Tác giả Giang Vũ bộc bạch rằng để nói hết các món cá khắp Việt Nam có khi mất cả đời, bởi cô không chỉ nói, viết, chụp ảnh mà còn nấu đi nấu lại cho ra cái chất của món ăn đó, của vùng miền đó. Trong Ăn cơm với cá là 30 món cá ngon được cẩn trọng cân nhắc và chọn lọc kỹ càng suốt 5 năm để mang đến cho độc giả những điều tinh túy nhất của “cá Việt Nam”.

Chuyến du lịch ẩm thực ba miền bằng ngôn từ và hình ảnh

Với văn phong và lối hành văn chầm chậm đầy cảm xúc, từng trang trong cuốn sách không chỉ là những món ăn quen thuộc, không chỉ là vùng tuổi thơ của tác giả, mà còn gợi lại những kỷ niệm ít nhiều người Việt nào cũng có. Ít có sách ẩm thực nào khiến người đọc cảm thấy đói bụng và nhớ nhà nhiều đến thế.

Thật không quá khi nói rằng, đọc cuốn sách, ta như rơi vào một chuyến du lịch ẩm thực mà trong đó, bằng ngôn từ và hình ảnh, tác giả dẫn dắt độc giả đi từ quá khứ thông qua những ký ức tuổi thơ êm ả, đến cánh đồng đầy các loại cua ốc cá tôm, có khi ra đến chợ với các sạo cá tươi khô đủ loại, rồi cuối cùng dừng chân ở mâm cơm gia đình Việt bình dị mà “không cao lương mĩ vị nào sánh bằng.”

Cũng theo tác giả, “ăn cá thường phải theo mùa, theo con nước, phụ thuộc vào thiên nhiên chứ không phải lúc nào cũng mua được.” Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng, thói quen ăn uống thuận theo tự nhiên đã nằm trọn vẹn trong văn hóa ẩm thực của người xưa. Và điều đó lại được nhắc đến qua những chia sẻ chi tiết và thân tình trong Ăn cơm với cá.

“Hi vọng rằng bạn đọc sẽ khám phá được một Việt Nam thật phong phú và đặc sắc qua những bữa cơm với cá dân dã mà cũng rất đỗi thân thương này.” Đó chính là tâm tư mà tác giả muốn truyền tải.

Khơi dậy niềm cảm hứng ẩm thực dân dã

Cuốn sách khiến chúng ta nhen nhóm một niềm tự hào về quê hương, về ẩm thực nước mình, khiến ta muốn tự hào kể cho một người bạn nước ngoài về sự tinh tế ấy và nói rằng: Ẩm thực Việt Nam tinh tế lắm!

Qua từng trang sách, chúng ta thấy rõ những cố gắng bảo lưu văn hóa ẩm thực từng vùng miền thông qua việc nghiên cứu rất kỹ các loại gia vị, cách nấu, cách nêm nếm, tạo ra cái ngon cho món cá từng vùng miền. Và thật vậy, cuốn sách khiến ta thêm yêu những mùa mưa mùa nắng trên dải đất hình chữ S, thêm yêu những thửa ruộng có con cá chuối, cá diếc bơi lội; yêu dòng nước phù sa nuôi bầy cá kèo, cá linh; yêu vùng biển mặn mòi nuôi đàn cá trích, cá thu; yêu cả bụi dọc mùng, rau cải, rau đắng, củ nghệ củ riềng trồng sẵn trong vườn.

Có lẽ không cần đợi đến khi đọc xong những trang cuối, độc giả đã nóng lòng đi chợ và vào bếp nấu một món cá đặc trưng để vừa ăn vừa ôn lại những cảm xúc về món cá mà mẹ hay bà từng nấu. Ăn cơm với cá không chỉ là cuốn sách dành cho người thích nấu ăn mà còn là món quà dành cho người yêu văn hóa ẩm thực Việt Nam. Và đó không khác gì một chuyến du lịch ẩm thực mà những món cá ngon chính là cầu nối.

Ăn cơm với cá quả thực đã “dẫn dắt chúng ta đến với một hành trình bếp núc đậm đà, mà cũng rất thơ” như chia sẻ của Chef Võ Quốc – Đại sứ văn hóa ẩm thực Việt Nam năm 2012. Không những thế, cuốn sách còn được Food Blogger Chánh Trần nhận xét là “đánh trúng tim đen của tất cả các tín đồ yêu cá”. Vì vậy, Ăn cơm với cá là cuốn sách không thể bỏ qua với những ai quan tâm đến ẩm thực và văn hóa Việt Nam.

Trích đoạn

Nhìn lại lịch sử của dân tộc thì ăn cơm với cá cũng phổ biến hơn ăn cơm với thịt gia súc, gia cầm. Từ xa xưa, người Việt rất hạn chế ăn gia súc, vì con trâu là một công cụ lao động quan trọng của nhà nông. Người Việt cũng chỉ biết ăn thịt bò từ khi người Pháp vào Việt Nam. Còn gia cầm, mặc dù được nuôi ở mỗi gia đình tại làng quê, nhưng chỉ những dịp như nhà có khách, giỗ chạp, cưới xin, lễ lạt… người ta mới làm thịt. Bữa cơm hằng ngày phổ biến nhất vẫn là cá bắt ngoài mương, ruộng, ao, ngòi, sông, suối, kênh, rạch, biển… Vì đã có tuổi đời ngàn năm, công thức nấu món cá Việt Nam cũng trở nên hoàn hảo, thật khó mà thay đổi cho ngon thêm nữa.

(trích đoạn Ăn cơm với cá – Giang Vũ)

Về tác giả

Giang Vũ là nhà báo ẩm thực. Chị sinh ra ra ở miền Bắc, lấy chồng người Huế, sống ở Bỉ, hiện đang đang sinh sống và làm việc tại Sài Gòn. Với hơn 10 năm làm BTV mảng ẩm thực, chuyên viết và chụp về ẩm thực đường phố di sản ẩm thực trên khắp Việt Nam cũng như trải nghiệm ẩm thực nước ngoài tại các nhà hàng ở Sài Gòn, cùng mong muốn lưu giữ công thức các món ăn truyền thống và tôn vinh vẻ đẹp của ẩm thực Việt, chị đầu tư nhiều thời gian nghiên cứu về “cook book” để thực hiện những cuốn sách ẩm thực chất lượng với hình ảnh đẹp, công thức chính xác, thuận tiện cho việc dịch ra tiếng Anh và giới thiệu với độc giả quốc tế.

Trong cuốn sách này, chị vừa là người soạn công thức vừa là người trình bày và chụp ảnh từng món ăn. Chị cũng là tác giả của cuốn cook book mang tên 30 Món mứt ngon của người Việt do Phương Nam Book xuất bản.

Hết.

Đọc bài viết

Book trailer

Hồn Đô Thị: Chuyến du hành về Sài Gòn xưa

Published

on

By

Hồn Đô Thị gồm 30 bài tùy bút được tuyển chọn từ bộ sách Sài Gòn – Chuyện đời của phố (5 tập) đã được xuất bản trong khoảng thời gian từ 2014 – 2018. Mỗi tập trong bộ sách thường có vài bài tùy bút – xen kẽ các bài khác mang tính sưu khảo – được nhiều độc giả đặc biệt yêu thích. Bộ sách đến nay đã được tái bản 5 lần.

Tinh thần Sài Gòn xưa được tái hiện sống động

Trong những bài tùy bút của Hồn Đô Thị, tinh thần Sài Gòn xưa hiện lên rõ nét qua những câu chuyện như: chuyện cũ về hẻm Tô Châu, chuyện trong hẻm nhỏ gần chợ Thiếc ở Chợ Lớn, chuyện hồi tưởng của một cụ già tám mươi tuổi về chuyến dạo chơi lý thú đi thăm Sài Gòn vào thập niên 1940, chuyện về người vợ Triều Châu hiền hậu bao dung của một tay trống nổi tiếng.

Nhắc đến Sài Gòn, dù là xưa hay nay, đều không thể thiếu gánh hàng vỉa hè như một nét văn hóa đặc trưng. Còn Phạm Công Luận thì lại nhớ câu chuyện “ông già áo đen” và tiếng kéo lắt xắt bên món gỏi khô bò khu nước mía Viễn Đông, hay tiếng rao của người bán vịt lộn ở khu Đề Thám mà tác giả thường nghe thành: “Ai… vật lộn không?”. 

Chính vì những lẽ đó, Hồn Đô Thị tuy là kí ức riêng của tác giả nhưng lại bắt được dòng hơi thở chung của đời sống đô thị Sài Gòn xưa.

Những trang tùy bút giàu cảm xúc, đầy ắp tư liệu

Với giọng văn trầm tĩnh, giàu cảm xúc và tư liệu đầy đặn, 30 câu chuyện kể như những thước phim ngắn được bật lên, lần lượt đưa người đọc tìm về những hồn cốt Sài Gòn đã từng hiện diện, ẩn tàng trong tính cách của người Sài Gòn và trong những góc khuất của đời sống.

Tùy bút vốn là thể loại để người viết có thể tự do tung hứng theo cảm xúc. Nhưng ở Hồn Đô Thị, Phạm Công Luận đã viết không chỉ dựa vào cảm xúc đơn thuần mà còn có sự nghiên cứu, phóng chiếu với những tư liệu thực tế đúng như thao tác thường thấy ở nhà báo chuyên nghiệp.

Chẳng hạn, trong bài viết Tìm lại giấc mơ kể về người chủ nhà tìm cách xây lại ngôi nhà theo phong cách Sài Gòn xưa, Phạm Công Luận không chỉ dừng lại ở việc kể chuyện chung chung mà còn thuật tường tận chi tiết về đồ nội thất, gạch bông, quá trình hình thành căn nhà từ lúc phôi thai đến khi hoàn tất. Người đọc vừa được chìm vào cảm xúc của tác giả, vừa biết thêm những thông tin hữu ích.

Đôi khi trong dòng kí ức về Sài Gòn xưa, tác giả cũng thể hiện những bâng khuâng về Sài Gòn nay, đặt ra vấn đề từ góc nhìn báo chí để người đọc cùng suy ngẫm. Ở bài Tìm trong góc xóm, sau khi miêu tả lại góc xóm ngày xưa thế nào với những hoài nhớ cá nhân; ngay lập tức, Phạm Công Luận suy tư về tình trạng đô thị hóa dần lấn sang cả những vùng ven thành phố, là nguyên nhân khiến cho hồn cốt của những vùng này cũng mất đi.

Bộ sưu tập công phu về đời sống Sài Gòn

Phạm Công Luận khảo sát về Sài Gòn xưa ở đủ mọi khía cạnh: lịch sử, văn hóa, tâm lý, lối sống, âm nhạc, kinh doanh… Qua đó, những giá trị Sài Gòn đã từng tồn tại, nay trở về trong ký ức và niềm thương cảm về thân phận một thành phố mà mỗi người, mỗi thế hệ người dân đã gắn bó bằng những cách khác nhau.

Trong Hồn Đô Thị, tác giả còn cung cấp những thông tin thú vị mà nhiều khi chính người Sài Gòn chưa hẳn đã biết: Hàng Xanh thực ra là cách viết sai từ Hàng Sanh; trước khi trở thành phố Tây, khu Đề Thám xưa dày đặc tòa soạn báo tư nhân; những tên gọi cũ của đường phố Sài Gòn; những tiếng rao hàng đậm đà trong ký ức tuổi nhỏ của nhiều lớp người…

Bên cạnh đó, cuốn sách còn có phần minh họa của họa sĩ Kim Duẩn theo đúng phong cách hoài cổ về Sài Gòn xưa cho từng bài viết. Kim Duẩn chăm chút cho từng chi tiết nhỏ trong tranh như gạch bông, kiểu tóc của thiếu nữ Sài Gòn xưa, tà áo dài, những biển hiệu với các kiểu chữ đặc trưng của hòn ngọc Viễn Đông một thời…     

Với lời văn giàu cảm xúc của Phạm Công Luận, cùng phần minh họa trau chuốt về mặt mỹ thuật của Kim Duẩn, Hồn Đô Thị thực sự là món quà quý để người đọc tìm về di sản văn hóa của Sài Gòn, để hòa điệu, tri ân những độc giả luôn nặng lòng với thành phố này.

Trích đoạn

Với nhiều người Việt, đậm đà trong ký ức tuổi nhỏ êm đềm chính là những tiếng rao, những âm thanh trên đường phố, đặc sắc và đa dạng, kỳ lạ và đầy dấu ấn. Nó lẩn khuất trong ngăn kéo ký ức, hiếm khi nghĩ tới nhưng bỗng nở bung ra, lao xao trong niềm nhớ khi ta động chạm đến.

(trích Tiếng rao trên đường phố Sài Gòn năm 1943)

Sài Gòn thay đổi nhanh đến nỗi không kịp giữ lại những sắc màu làm nên chính nó. Đã phảng phất một góc Singapore ở Phú Mỹ Hưng, một góc Paris ở đâu đó quận Nhứt hay một khu thương mại sáng choang không kém Âu Mỹ. Giới trẻ nao nức về chúng, nhưng sau khi ra nước ngoài vài chuyến, sau khi ngụp lặn trong các khu thương mại lớn, họ tìm thấy gì ở Sài Gòn để mà nhớ nhung?

(trích Hồn đô thị)

Tìm tòi, lục lọi, giữ gìn ký ức, hình ảnh của Sài Gòn một thời đã qua, trăm năm trước hay mới chỉ vài chục năm trước, soi rọi mình trên dòng sông thời gian, từ đó tìm ra được những giá trị tinh thần, đạo đức của người Sài Gòn – Gia Định một thời là việc cần làm và nên làm. Tìm thấy để tự hào về một nơi từng đáng sống, đã từng sống đàng hoàng, có tình có nghĩa. Từ niềm tự hào đó, chúng ta gắng sống đàng hoàng cho hôm nay và mai sau.

(trích Giữ tinh thần “dấn thân yêu đời” của người Sài Gòn)

Về tác giả

Nhà báo Phạm Công Luận là tác giả của những tựa sách gây tiếng vang và được tái bản nhiều lần như Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Những lối về ấu thơ, Chú bé Thất Sơn. Không chỉ nổi bật trong thể loại tản văn, ông còn là một cây bút gạo cội sở hữu lượng tác phẩm dồi dào, mang đến cho độc giả nhiều tập sách chuyên khảo, hồi ký về Sài Gòn giàu giá trị như Sài Gòn – Chuyện đời của phố (5 tập), Phong vị báo xuân xưa, Sài Gòn – Ngoảnh lại trăm năm…

Hết.

Đọc bài viết

Giới thiệu sách

Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng – Ngọt ngào sao những thi vị này

Published

on

By

Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của tác giả Đặng Nguyễn Đông Vy, gồm 2 phần là tản văn và truyện ngắn. Xuất bản lần đầu năm 2012, tác phẩm ngay lập tức được đón nhận và đã tái bản rất nhiều lần. Ở lần tái bản này, cuốn sách được in ấn với hình thức bìa độc đáo.

Nhẹ nhàng mở những trang sách Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng giữa lòng phố thị xô bồ, bạn sẽ bước vào một khoảng trời chứa đầy ký ức của tác giả, dù rất riêng nhưng sao thật gần gũi với những ai từng có một quê nhà để nhớ, để thương. Giản dị, mộc mạc, từng lời văn như thấm vào trái tim độc giả, để lại những cảm xúc đầy luyến lưu, xao xuyến. Cuốn sách mang đến cảm giác dễ chịu, khiến người ta mỉm cười, thấy ấm áp giữa những ngày mưa lạnh ướt át.

Phần tản văn kể về thuở ấu thơ của tác giả, đan xen những bài học, chiêm nghiệm mà tác giả nhận ra khi nhìn lại các kỷ niệm sau ngần ấy năm. Phần truyện ngắn xoay quanh các nhân vật do tác giả sáng tạo, chứa đựng tình yêu chớm nở trong những năm tháng đầy hoa mộng. Chúng ta như nhìn thấy hai Đặng Nguyễn Đông Vy với những nét tính cách khác biệt. Cả hai đều trong sáng và bay bổng, nhưng một bên là hồn nhiên, nghịch ngợm, một bên lại phảng phất những nỗi niềm man mác. Tuy nhiên, cả hai phần này không tách biệt, mà là một mạch cảm xúc nối liền theo quá trình trưởng thành nơi tâm hồn tác giả.

Hồi ức yên bình tuổi thơ ngây qua những dòng tản văn

Phần tản văn gồm 22 câu chuyện, phần lớn đều đan xen những kỷ niệm thuở ấu thơ của tác giả. Những câu văn mượt mà, mộc mạc, đầy xúc cảm trong trẻo, hồn nhiên, đưa ta quay lại những ngày còn bé bỏng, khi cả gia đình – ông bà, cha mẹ, anh chị em vẫn quây quần trong căn nhà cửa gỗ sơn xanh, tường tróc sơn loang lổ. Qua đôi mắt của tác giả, ta như nhìn thấy người ông móm mém, yêu thích mãng cầu bơ, người bà phúc hậu, ngồi xỏ mành ốc gạo với cháu gái nhỏ, người mẹ chăm chỉ sắp xếp đá trang trí trong vườn nhà, người cha cặm cụi quấy bột sắn thành hồ dán cho con làm thủ công.

Ta như nhìn thấy những người bạn chơi cùng lúc bé nghịch ngợm, nô đùa cùng nhau, rồi xích mích, dỗi hờn. Ta như nhìn thấy góc trường tiểu học với lũ trẻ ồn ào nhốn nháo, tranh nhau xem phim cổ tích trong chiếc hộp gỗ của ông lão hàng rong. Ta như nhìn thấy những mùa thu hoạch khoai mì rộn rã cả miền quê, những mùa Giáng Sinh tưng bừng nơi xóm đạo. Đó là những ký ức rất riêng tư của tác giả, nhưng sao lại gần gũi với tất cả chúng ta đến lạ thường.

Tác giả thổ lộ những điều thoạt đầu nghe hết sức lạ lùng, chẳng hạn như ngày bé tác giả thích nhất chính là… đi chăn bò. Tuy nhiên, khi theo từng câu chữ của cô, đặt chân lên hành trình mơ mộng đầy ắp niềm vui khi lùa bò đi ăn, ta dần ngộ ra thích đi chăn bò là điều vô cùng hợp lý. Làm sao không thích cho được khi bao bọc xung quanh là một thiên nhiên phong phú, đầy chất thơ: dế cồ than nấp dưới hòn đá, chuồn chuồn kim đậu trên ngọn cây, châu chấu hối hả nhảy khỏi mõm của lũ bò, lũ cá rô lượn lờ dưới dòng nước trong… Những ngọn gió thổi qua lớp cỏ xanh mơn mởn trên bờ đê mấp mô, những đồng lúa chín vàng trĩu hạt, những đám mạ non mướt mát… mang theo hơi thở của rơm rạ, hương sen và bùn đất. Linh hồn ta chợt như thoát khỏi thực tại, đến với đồng cỏ điểm xuyết hoa dại nhỏ xinh, hạnh phúc lao nhanh giữa đất trời với đôi bàn chân trần nóng bỏng.

Giữa những kỷ niệm ấm áp, bình yên bên gia đình, bạn bè, và những khung cảnh hồi ức vừa chân thực, vừa mơ mộng, tác giả lồng ghép vào những bài học nhân văn một cách rất tự nhiên. Đó là trận đòn đau vào mùa khoai mì năm ấy, khi ba tác giả tức giận quất roi con vì tội giễu nhại người tàn tật. Đó là chiều ba mươi tết bà nội cùng tác giả dắt nhau ghé thăm từng hộ gia đình khó khăn nằm sâu trong phía núi, tặng cả người lớn lẫn trẻ con những đòn bánh tét xinh xinh. Đó là tinh thần làm ăn chăm chỉ, sáng tạo, cần cù của ông nội, thứ giúp ông từng gây dựng được cả cơ đồ. Đó là ánh mắt buồn bã đến xót lòng của người mẹ khi nghe tác giả thốt lên rằng “Mẹ đúng là chẳng có gì để ngưỡng mộ cả.”

Có những bài học mà mãi đến lớn, sau bao nhiêu thăng trầm, tác giả mới đột nhiên nhận ra. Chiếc hộp con đựng bản di chúc cùng những gì quý giá nhất năm tám tuổi, vốn chỉ là một trò chơi, nhưng giờ nhìn lại, tác giả bỗng hiểu ra rằng nên “làm cho những người khác biết mình yêu thương họ ngay lúc này tốt hơn là ấp ủ tình yêu đó cho tới khi ta không còn cơ hội để trao nó cho họ nữa.” Ngôi nhà ông nội hì hục một mình đào móng, trộn vữa, đặt từng viên gạch… trên mảnh đất tự ông khai phá luôn mở rộng cửa và đầy ắp yêu thương. Nó đón nhận bao lượt khách lỡ đường mà chẳng hề tính phí, giúp đỡ một người đàn bà xa lạ suýt đẻ rớt bình yên hạ sinh con mình, rộng mở vòng tay để một ông lão hành khất xa lạ tá túc. Tác giả nhận ra, qua bao năm, từng lượt người cứ đến rồi đi, ngôi nhà năm xưa vẫn cứ y như cũ, chỉ có những câu chuyện về lòng hào hiệp và nhân hậu mãi chất đầy…

Những bản tình ca dang dở nhưng thi vị trong phần truyện ngắn

Nếu phần tản văn toát lên tình thân, tình bạn và tình người, thì tinh thần chính trong phần truyện ngắn lại là tình yêu đôi lứa. 11 câu chuyện là 11 sắc màu tình yêu, có khi là những rung động mông lung tuổi học trò, có khi là nỗi khắc khoải của người bị bỏ lại nơi dương thế, có khi là giọt nước mắt của mối tình chưa nở đã tàn phai. Đơn giản, không hoa mỹ, nhưng từng câu văn lại thấm vào lòng người đến lạ thường. Ta thấy mình như hóa thân thành nhân vật, cũng cảm nhận được “một nỗi thất vọng đau đớn đến khó tả” khi nhìn thấy hoa tường vi ố vàng trong bụi bặm của đời thực, cũng thấy “quay quắt nhớ” về ai đó với câu tỏ tình dễ thương.

Lồng trong những câu chuyện là đủ sắc màu, đủ âm thanh, đủ mùi vị. Một vườn pensée khoe sắc thắm khẽ lay động trong làn gió nhẹ tựa như tình yêu chân thành ở tuổi sắp xế chiều của một góa phụ mất chồng từ lâu. Một ly tonic “đăng đắng, mằn mặn, lạnh ngắt, và vị ngọt đọng đâu đó, không phải trên môi, không phải trên đầu lưỡi mơ hồ” khiến ta nhận ra tình yêu có thể bắt đầu từ nỗi nhớ, không phải chính con người ấy, mà là khoảng không gian, những cảm xúc bao quanh mỗi khi ta ở bên người ấy. Tiếng chuông nhà thờ đổ vang vang đêm giao thừa nơi Đà Lạt đầy sương lạnh, tràn ngập nỗi lạc lõng của một cô bé mười sáu tuổi lần đầu lang thang giữa nơi xa lạ vào đêm ba mươi. Chúng được miêu tả sống động, như thể ta đang ở ngay đó, nhìn tận mắt, nếm tận miệng, nghe tận tai vậy.

Phần lớn tình yêu trong phần truyện ngắn này đều bỏ ngõ, dở dang. Mỗi câu chuyện đều có gì đó man mác buồn, chứa nhiều nỗi niềm da diết, khắc khoải. Nhưng dù mối tình trong truyện đã vĩnh viễn khép lại, hay vẫn còn lấp lánh chút hy vọng cho ngày sau, thì mối tình ấy vẫn đi vào lòng người đọc, vẫn khiến ta thấy tình yêu, tuy muôn hình vạn trạng, tuy hạnh phúc lẫn đau đớn, vẫn thật đẹp làm sao.

Hình thức bìa sách độc đáo như một bức bình phong

Lần tái bản này, sách ra mắt ở cả hai hình thức bìa mềm lẫn bìa cứng, đều có kích thước nhỏ xinh tựa một quyển sổ tay, dễ dàng bỏ túi mang theo đến bất kỳ nơi đâu. Bản bìa mềm tiện dụng, được in đổi chiều hai nửa nội dung – một tản văn, một truyện ngắn. Trong khi đó, bản bìa cứng là hai quyển sách có bìa nối liền nhau, khi bung mở toàn bộ sẽ tạo cảm giác như đang kéo ra bức bình phong tuyệt đẹp.

Trong mùa dịch vừa rồi, họa sĩ t. hờ đã dành rất nhiều thời gian tâm huyết để thiết kế bìa sách đầy tính đột phá, sáng tạo này. Khi đọc tác phẩm, anh cảm giác như có hai chị Vy khác nhau, một chị Vy nhỏ và một chị Vy lớn. Vì vậy, anh đã suy nghĩ làm sao vừa phân biệt hai phần tản văn và truyện ngắn, vừa ghép được chúng dính liền với nhau để không làm mất mối liên kết giữa hai chị Vy trong sách. Kết quả là thiết kế phá cách, ngộ nghĩnh dành cho cả hai phiên bản bìa cứng và bìa mềm đã ra đời. 

Có lẽ chất trong trẻo, êm dịu trong từng câu văn của Đặng Nguyễn Đông Vy đã thấm vào lòng của họa sĩ t. hờ, nên từng hình vẽ trong sách, từ ảnh bìa đến ảnh mình họa, đều toát lên vẻ đẹp bay bổng, đầy nghệ thuật. Nếu phần bìa tản văn có màu chủ đạo là xanh lá, với hình ảnh “chị Vy nhỏ” nằm giữa cánh đồng hoa bướm vờn quanh, thì phần bìa truyện ngắn lại mang màu xanh đen huyền bí của bầu trời đêm, điểm xuyết những ngôi sao vàng trên dải ngân hà lam biếc.

Về tác giả

Đặng Nguyễn Đông Vy, sinh năm 1979 tại Khánh Hòa, là một cây bút quen thuộc trên các tờ báo hướng đến độ tuổi mới lớn như Hoa Học Trò, Báo Sinh viên Việt Nam... Chị vừa làm báo, vừa viết văn, và đã xuất bản rất nhiều tác phẩm sâu lắng, thú vị như Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng, Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn, Những Lối Về Ấu Thơ…

Đọc bài viết

Cafe sáng