Trích đăng

Chương 1 “Tà dương” – Dazai Osamu

Published

on

Tà dương không chỉ là cuộc suy tàn của một gia đình quý tộc mà còn là cơn tan vỡ của một thời đại đầy ảo tưởng và một xã hội đầy nạn nhân. Đó là những ngày tháng phong ba và ám tối vào giữa thế kỷ hai mươi ở Nhật. Trong cái gia đình quý tộc đang dần dà trở nên khốn cùng ấy, mỗi người bám vào một thứ lương tri tự nguyện. Người mẹ sống nốt những ngày cuối cùng của cuộc chiến như một người quý tộc cuối cùng, hiền dịu, nhẹ nhàng, mang theo mình cái đẹp bi thiết của tà dương. Người con trai Naoji tan nát tâm hồn, không thể chịu đựng một sự giả dối nào, mang chủ nghĩa hư vô đi vào cái chết. Và cô con gái kỳ diệu Kazuko. Nàng không muốn làm nạn nhân của một lý tưởng nào, một luân thường nào. Không cần hôn nhân, nàng quyết định có con. Tự do, nàng cưu mang sự sống, đối mặt với những tan nát phũ phàng. Dẫu biết là bất định, nàng vẫn sống như nàng muốn. Cho ngày mới.

Trích từ: Tà dương

Tác giả: Dazai Osamu

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

*

CHƯƠNG 1
RẮN

Buổi sáng, trong phòng ăn, mẹ lặng lẽ húp một thìa súp và thốt ra tiếng kêu khe khẽ:

– Ah!

– Là tóc sao? – Tôi nghĩ trong bát canh súp có thứ gì ghê ghê lẫn vào chăng.

– Không phải.

Mẹ lại đưa một thìa súp lên miệng nuốt vào, làm như chẳng có chuyện gì xảy ra, rồi mẹ nghiêng mặt về phía cửa sổ nhà bếp, nhìn ra những cành hoa anh đào núi đang độ mãn khai. Cứ nghiêng mặt như thế, mẹ lại đưa một thìa súp lên miệng, cho vào khoảng hẹp giữa hai môi nhẹ nhàng trút xuống. Cái tính từ “nhẹ nhàng” dùng trong trường hợp của mẹ hoàn toàn không mang tính khoa trương một chút nào. Cách ăn uống đó quả thật hoàn toàn khác biệt với cách ăn uống thường thấy trên những tạp chí phụ nữ. Naoji, em trai tôi, có lần vừa uống rượu vừa nói với tôi như thế này:

– Không phải cứ có tước vị là trở thành quý tộc cả đâu. Có những người dù không có tước vị gì cũng là một quý tộc cao sang như thể trời ban cho một thiên tước vậy. Như chị em mình đây, cho dù có tước vị thì cũng chẳng ra vẻ quý tộc gì cả, mà gần với thứ tiện dân hơn. Như Iwashima ấy (tên một bá tước1 học chung lớp với Naoji), chị có cảm thấy hắn đối xử với chị còn tệ bạc hơn kẻ ma cô dắt gái ở chốn lầu xanh không? Hay Yanai (tên một tử tước chung trường với Naoji) trong đám cưới anh trai lại mặc bộ vét tông đen. Thì cứ cho là cần phải mặc bộ vét đen đi nhưng em thật muốn nôn mửa khi nghe cái giọng khoa trương kệch cỡm như đọc diễn văn của gã ngu đó. Cái sự kiểu cách chẳng liên quan một chút gì đến sự cao sang quý phái cả. Mặc dù cái bảng hiệu “nhà nghỉ cao cấp” thường thấy ở quận Hongo này nhưng hầu hết những đám quý tộc trong đó đều là một lũ “ăn mày cao cấp” cả. Quý tộc thực sự ấy nhé, hoàn toàn không phải là những thứ kiểu cách theo kiểu thằng Iwashima đâu. Ngay cả trong gia đình mình đây, chỉ có mẹ mới là quý tộc thật sự.

Có gì đó cao sang nơi bà mà chúng tôi không thể nào sánh nổi.

Như trong cách ăn súp chẳng hạn. Chúng tôi hay nghiêng nhẹ đĩa rồi dùng muỗng múc súp đưa ngang lên miệng. Nhưng mẹ tôi thì dùng các ngón của bàn tay trái tì nhẹ lên mép bàn, thẳng người, ngẩng mặt lên, đưa muỗng múc súp mà hầu như không nhìn vào đĩa. Rồi bà nhẹ nhàng và khinh khoái đưa đầu muỗng súp vào giữa hai môi theo một góc vuông khiến ta có thể hình dung tư thế ấy như một con chim én vậy. Rồi vừa như vô tình nhìn xung quanh, bà vừa nhẹ nhàng đưa muỗng súp lên xuống như vẫy đôi cánh nhỏ, không bao giờ để rơi một giọt súp cũng không bao giờ phát ra tiếng động nào cả khi chạm vào đĩa lẫn khi đưa lên miệng. Có lẽ đó không phải là kiểu cách ăn uống được quy định chính thức lễ nghi, nhưng trong mắt tôi nó lại vô cùng khả ái, và tôi cho đó mới chính là cái cốt cách của quý tộc chân chính. Hơn thế nữa, sự thực là cách uống súp theo kiểu thẳng người lên, đưa đầu muỗng súp vào miệng thì ngon hơn rất nhiều so với cách cúi đầu xuống và húp súp từ muỗng theo chiều ngang. Tuy nhiên, tôi cũng chỉ là thứ hành khất quý tộc đúng như Naoji nói nên chẳng thể nào sử dụng muỗng một cách khinh khoái và thuần khiết như mẹ tôi được. Thành ra chẳng còn cách nào hơn, tôi đành cúi đầu xuống và húp súp một cách buồn bã theo kiểu “lễ thức chính quy”.

Không chỉ có món súp, cách ăn uống của mẹ tôi hầu hết đều đi lệch ra ngoài khuôn khổ. Chẳng hạn như khi ăn bít tết, bà nhanh chóng dùng dao và nĩa cắt thịt ra từng miếng nhỏ rồi bỏ dao đi, chuyển cái nĩa sang tay phải rồi cứ thế xiên từng miếng một khoan khoái đưa lên thưởng thức.

Hơn thế, mỗi khi ăn một miếng thịt gà có xương, trong khi chúng tôi khổ sở tách xương ra cố không gây tiếng động nào nơi đĩa thì mẹ tôi lại nhẹ nhàng dùng đầu ngón tay cầm chỗ xương ấy đưa lên miệng rồi tách phần thịt và xương. Cái hành động thô lậu ấy khi mẹ tôi trình diễn lại vô cùng dễ thương, thậm chí còn có đôi chút gợi tình nữa. Đúng là quý tộc tinh hoa có khác. Không chỉ xương gà mà trong bữa trưa, khi ăn những món như đùi lợn muối hay xúc xích mẹ tôi cũng hay dùng tay cầm lên để ăn.

– Các con có biết tại sao món cơm nắm ngon như vậy không? Vì nó được nắm chặt bằng bàn tay người đấy.

Có lần mẹ nói như thế.

Thực ra cũng có lúc tôi nghĩ ăn bằng tay như thế chắc ngon lắm, nhưng lũ khất thực cao cấp như chúng tôi nếu bắt chước một cách tệ hại thì chẳng phải đã trở thành một kẻ ăn mày thực sự hay sao, nên tôi đành gắng chịu đựng vậy.

Ngay cả thằng em tôi Naoji cũng đã nói mẹ chúng ta là số một, còn tôi sau nhiều lần chật vật bắt chước bà thì cảm thấy vô cùng tuyệt vọng.

Có một lần, vào đêm trăng sáng đầu thu, trong vườn sau nhà, tôi và mẹ ngồi dưới bóng cây bên bờ ao ngắm trăng, vừa nói chuyện trời sao mây gió vừa cười đùa. Chợt mẹ tôi đứng dậy đi sâu vào bụi hoa hagi kế bên rồi từ giữa đám hoa màu trắng ấy, mẹ ló gương mặt trắng ngần đẹp hơn cả hoa cười ra hỏi tôi rằng:

– Kazuko à, con xem mẹ đang làm gì này?

– Hái hoa chứ gì?

– Không, mẹ đi tiểu đấy.

Mẹ tôi cất giọng cười tươi trả lời.

Quả thật nơi mẹ tôi có một vẻ gì cao quý vô cùng mà tôi không tài nào bắt chước được.

Bắt đầu từ câu chuyện món súp sáng nay mà lan man đến như vậy thì có lẽ đi hơi quá xa, nhưng vì gần đây tôi có đọc một quyển sách nói rằng những quý phu nhân vương triều Louis thường bình thản tiểu tiện ở những góc hành lang hay trong các khu vườn ở cung điện. Sự ngây thơ đáng yêu ấy mới thật dễ thương làm sao và tôi nghĩ rằng không chừng người như mẹ tôi là một phu nhân quý tộc chân chính cuối cùng còn lại?

Trở lại chuyện sáng nay, khi húp một thìa súp, mẹ tôi kêu lên khe khẽ. Và khi tôi hỏi rằng có phải tóc không thì mẹ đáp rằng không.

– Có lẽ vì quá mặn chăng?

Món súp sáng nay được tôi chế biến từ đậu bina đóng hộp do Mỹ cấp và ngay từ đầu tôi đã không tự tin chút nào nên dù mẹ nói không tôi cũng lo lắng hỏi như vậy.

– Con nấu ăn ngon lắm.

Mẹ tôi nói nghiêm túc như vậy và sau khi dùng hết chén súp mẹ còn ăn thêm một vắt cơm nắm cuộn rong biển.

Từ nhỏ, phải sau 10 giờ sáng tôi mới ăn điểm tâm thấy ngon miệng vì không cảm thấy đói. Lúc đó tôi chỉ húp qua loa chén súp cho xong chuyện, rồi đặt vắt cơm nắm lên đĩa dùng đũa dẽ vụn ra, sau đó lấy đũa gắp từng miếng y như khi mẹ tôi dùng muỗng húp súp vậy. Tôi đưa đũa vuông góc với miệng như thể đang đút mồi cho một con chim sẻ nhỏ và ăn một cách lề mề chậm chạp. Trong khi đó mẹ tôi đã dùng xong bữa sáng, lặng lẽ đứng dậy, dựa lưng vào bức tường đang hứng ánh sáng buổi mai, nhìn cách tôi ăn và nói:

– Kazuko à, vẫn chưa được đâu con. Phải tập làm sao để có thể ăn sáng một cách ngon lành nhất mới được.

– Còn mẹ thì sao? Có thấy ngon không ạ?

– Đương nhiên rồi, mẹ đâu còn là bệnh nhân nữa.

– Vậy thì Kazuko cũng chẳng phải bệnh nhân đâu.

– Không được, không được – Mẹ vừa lắc đầu vừa cười với vẻ cô đơn vô hạn.

Năm năm trước, tôi từng bị bệnh phổi và phải nằm miệt mài trên giường nhưng tôi biết đó chỉ là thứ bệnh ích kỷ của tôi mà thôi. Tuy nhiên điều làm tôi lo lắng lại chính là chứng bệnh u sầu của mẹ dạo gần đây. Vậy mà mẹ lại chỉ toàn lo lắng cho tôi.

– Ah! – Tôi nói.

– Gì vậy con? – Lần này đến mẹ lên tiếng.

Hai mẹ con nhìn nhau và tôi có cảm giác dường như chúng tôi thấu hiểu tâm tư nhau nên tôi cười khúc khích còn mẹ thì khẽ mỉm cười.

Những lúc cảm thấy ngượng ngùng với điều gì đó, tự nhiên tôi thường khe khẽ thốt ra tiếng “ah” kỳ diệu ấy. Bây giờ đột nhiên nhớ đến chuyện ly hôn sáu năm về trước, buồn bã nên tôi bất chợt thốt ra tiếng kêu “ah” như thế, nhưng còn mẹ thì sao? Không lẽ mẹ cũng giống như tôi đang nhớ về kỷ niệm đau lòng nào? Không phải. Vậy thì có chuyện gì đây?

– Mẹ à, lúc nãy hình như mẹ vừa nhớ ra chuyện gì phải không? Chuyện gì vậy mẹ?

– Mẹ quên rồi.

– Chuyện của con hả?

– Không phải.

– Vậy thì chuyện của Naoji?

– Ừ – Mẹ nghiêng nghiêng đầu nói – Hình như là vậy.

Thằng em tôi khi đang học đại học thì bị triệu tập nhập ngũ đến vùng đảo phía Nam, từ đó bặt vô âm tín. Chiến tranh kết thúc nhưng vẫn không rõ tung tích, mẹ nói đã chuẩn bị tinh thần là không thể gặp lại nó rồi nhưng tôi biết mẹ chưa một lần chấp nhận suy nghĩ đó mà lúc nào cũng nuôi hy vọng sẽ gặp lại Naoji.

– Mẹ định từ bỏ hy vọng về Naoji rồi nhưng ăn canh súp con nấu ngon quá làm mẹ nhớ em không chịu nổi. Phải chi mẹ làm được nhiều điều cho em nó hơn.

Thằng Naoji từ khi vào trường trung học, đã chọn ngành văn chương và bắt đầu cuộc sống ăn chơi quậy phá như một thiếu niên hư hỏng, không hiểu rằng mình đã gây cho mẹ bao nỗi buồn phiền khổ sở. Vậy mà mẹ tôi ngay cả khi ăn súp vẫn nghĩ đến Naoji. Tôi nuốt cơm và cảm thấy nóng máu.

– Không sao đâu mẹ. Naoji không sao đâu. Thằng hư hỏng như Naoji dễ gì mà chết. Người chết thường là những người hiền lành, dịu dàng và đẹp đẽ thôi. Chứ còn thằng Naoji ấy có lấy cây đập nó cũng không chịu chết cho đâu.

Mẹ mỉm cười trêu tôi:

– Vậy thì người chết sớm sẽ là Kazuko rồi.

– Sao vậy được chứ? Con là chị của thằng du côn đó mà, nên đến tám mươi tuổi vẫn còn khỏe đấy.

– Vậy sao? Vậy thì chắc đến chín mươi tuổi mẹ vẫn còn minh mẫn nhỉ?

– Đúng đấy – Tôi nói và bất chợt cảm thấy ngại ngùng. Kẻ ác thì thường sống lâu, người đẹp lại thường yểu mệnh. Mẹ tôi rất đẹp, nhưng tôi lại muốn bà được sống lâu. Tôi cảm thấy mình thật khó hiểu.

– Mình thật tệ – Tôi nói, đôi môi run lên và nước mắt khẽ ứa tràn.

Có lẽ giờ nên chuyển sang chuyện những con rắn. Một buổi chiều của chừng bốn năm ngày trước, bọn trẻ trong làng tìm thấy khoảng mười cái trứng rắn ở góc hàng rào tre trong vườn.

– Đây là trứng rắn độc mamushi đó. – Bọn trẻ khăng khăng.

Tôi nghĩ nếu trứng nở ra chừng mười con rắn thì mình làm sao còn có thể đi dạo quanh quẩn trong vườn được nữa nên mới bảo bọn trẻ:

– Mình hãy đốt nó đi!

Bọn nhỏ vui mừng nhảy cẫng lên và chạy theo tôi. Chúng tôi thu gom lá cây, cành khô ở gần hàng rào lại, châm lửa và ném từng cái trứng vào trong đám cháy. Những cái trứng mãi vẫn không chịu cháy. Bọn trẻ chất thêm củi, lá khô làm cho lửa bùng mạnh hơn nhưng mấy cái trứng vẫn không hề hấn gì.

Cô bé nhà làm nông ở cuối làng đứng bên ngoài hàng rào vừa cười vừa hỏi:

– Chị đang làm gì đấy ạ?

– Bọn chị đang đốt trứng rắn độc mamushi. Nếu để nó nở thành con thì ghê lắm.

– Trứng đó to cỡ nào chị?

– To cỡ như trứng cút và màu trắng.

– Vậy thì đó chỉ là trứng rắn bình thường chứ không phải là trứng rắn độc mamushi đâu. Trứng sống thì làm sao đốt cháy được!

Cô bé cười tinh quái rồi bỏ đi.

Đốt mãi chừng ba phút nhưng mấy cái trứng vẫn không cháy, bọn trẻ mới khều ra và đem chôn dưới gốc cây mơ. Tôi gom mấy viên sỏi và đắp thành mộ bia cho chúng.

– Nào các em, mình cùng khấn vái nhé!

Khi tôi ngồi xổm xuống và chắp hai tay vái thì bọn trẻ phía sau tôi dường như cũng ngoan ngoãn chắp tay theo.

Sau đó tôi và bọn trẻ chia tay nhau. Tôi chậm rãi bước lên thềm đá và thấy mẹ đang đứng đó, dưới bóng của tàn cây cát đằng.

– Con vừa làm một việc thật tội lỗi đó. – Mẹ tôi nói.

– Vì con tưởng đó là rắn độc nhưng hóa ra chỉ là rắn bình thường. Nhưng con đã chôn cất chúng tử tế, nên chắc không sao đâu.

Mặc dù nói vậy nhưng tôi nghĩ chuyện như thế mà để mẹ nhìn thấy thì thật không hay chút nào.

Đương nhiên mẹ không phải là người mê tín nhưng mười năm trước, sau khi cha tôi qua đời tại tư gia ở thành phố Nishikata mẹ trở nên rất sợ rắn. Ngay trước khi cha mất, mẹ nhìn thấy có sợi dây đen đen dài dài bên gối nằm của cha, mẹ định nhặt lên thì mới hay ra đó là con rắn. Nó trườn đi, ra tới hành lang rồi mất hút. Chứng kiến cảnh tượng ấy chỉ có mẹ và chú Wada, hai người nhìn nhau nhưng vì không muốn làm kinh động đến phút ra đi của cha nên đều im lặng. Lúc đó, tôi cũng có mặt tại phòng khách nhưng không hề hay biết gì.

Nhưng chính tôi đã chứng kiến cảnh rắn bò lóp ngóp trên bờ ao, trên ngọn cây ở ngoài vườn vào buổi tối ngay ngày cha tôi qua đời. Bây giờ tôi là bà cô hai mươi chín tuổi nhưng khi cha mất vào mười năm trước, tôi cũng đã mười chín tuổi rồi. Không còn là trẻ con nữa nên cho dù mười năm đã trôi qua ký ức đó vẫn còn rõ ràng, không hề sai trật. Khi đi cắt hoa cúng, tôi bước dọc về phía bờ ao, đến bên cây đỗ quyên, ngước mắt nhìn thì thấy trên đầu cành cây có một con rắn nhỏ đang quấn mình. Khi định ngắt cành hoa cúc yamabuki tiếp theo cũng thấy trên cành hoa có rắn, tôi hơi ngạc nhiên. Trên cành cây ô liu, rồi cây phong, cây hoa đậu, dây cát đằng, cây hoa anh đào kế bên cũng có…, nói chung nơi nào có cây là nơi đó thấy rắn. Tuy nhiên tôi lại không thấy sợ hãi lắm. Tôi chỉ cảm thấy rắn cũng giống như tôi, buồn thương về sự ra đi của cha, nên chúng mới rời hang bò ra ngoài vái lạy vong linh của cha tôi. Khi tôi lặng lẽ báo cho mẹ biết về chuyện có rắn trong vườn, mẹ nghiêng đầu như đang suy nghĩ điều gì đấy nhưng không nói ra.

Nhưng sự thật là sau lần thứ hai thấy rắn đó, mẹ tôi đâm ra vô cùng ghét rắn. Có lẽ hơn cả ghét nữa mà là kính rắn, sợ rắn, như một cảm giác kinh sợ nên kính nhi viễn chi vậy.

Tôi nghĩ việc đốt trứng rắn mẹ nhìn thấy khi nãy chắc chắn đã khiến mẹ có cảm giác đó là việc vô cùng bất thường, còn tôi cũng thấy rất sợ vì mình đã đốt trứng rắn và cứ lo lắng không biết đó có phải là lời nguyền ác nghiệt nào lên mẹ hay không? Đến ngày hôm sau, hôm sau nữa tôi vẫn không thể quên nhưng sáng nay nơi nhà ăn, tôi đã lỡ miệng nói xằng bậy thiếu suy nghĩ rằng người đẹp sẽ chết, không thể nào rút lại lời nói được nữa, tôi chỉ đành khóc; vừa dọn dẹp bữa sáng tôi vừa cảm thấy sâu thẳm trong ngực mình, có cái gì đó như một con rắn đang trườn vào âm mưu rút ngắn sinh mệnh của mẹ, một cảm giác bức bối không tài nào chịu nổi.

Rồi ngày hôm đó, tôi lại nhìn thấy rắn trong vườn. Đó là một ngày đẹp trời và vô cùng yên tĩnh nên sau khi làm xong việc ở nhà bếp, tôi mang một chiếc ghế mây ra bãi cỏ sau vườn để ngồi đan len. Nhưng khi vừa đặt chiếc ghế xuống bãi cỏ, tôi nhìn thấy ở bụi cây chỗ tảng đá nơi góc vườn có một con rắn. “Á, thật là đáng ghét!” Lúc đó tôi chỉ nghĩ vậy thôi chớ không suy nghĩ gì sâu xa hơn rồi mang ghế đặt ngay chỗ lối đi, ngồi xuống và đan len. Cho đến chiều, tôi muốn xem tập tranh của Marie Laurencin2 ở trong thư viện nhà tôi, vốn là một cái chòi nơi góc vườn nên đã cất bước và lại thấy trên bãi cỏ một con rắn đang chậm chạp trườn đi. Nó giống y như con rắn ban sáng. Một con rắn dài thanh mảnh quý phái. Tôi nghĩ nó là rắn cái. Nàng ta từ từ băng qua bãi cỏ, đến dưới bụi hoa hồng thì ngừng lại ngẩng đầu lên, thè lưỡi đung đưa như ngọn lửa. Làm ra vẻ nhìn ngắm xung quanh một hồi lâu, nàng gục đầu, rũ xuống đất một cách uể oải. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ đây là một con rắn thật đẹp rồi đi đến thư viện góc vườn lấy tập tranh. Khi quay trở lại, tôi thử tìm con rắn lúc nãy nhưng nàng không còn ở đó nữa.

Đến gần chiều, tôi cùng mẹ uống trà trong căn phòng bài trí kiểu Trung Hoa, nhìn ra vườn tôi lại thấy nàng rắn ban sáng đang nằm trên bậc thang đá thứ ba. Mẹ cũng nhận ra.

– Con rắn kia là…?

Mẹ đi đến chỗ tôi, nắm tay tôi và cứ đứng yên như thế. Nghe mẹ hỏi, tôi chợt nghĩ ra và nói:

– Con rắn mẹ của những cái trứng đó đúng không?

– Đúng, đúng đấy con à – Mẹ thì thầm.

Chúng tôi nắm chặt tay nhau, nghẹt thở, im lặng quan sát con rắn. Nó ngóc đầu uể oải rồi bắt đầu trườn đi như thể đang run rẩy, băng ngang qua bậc thang đá về phía bụi hoa diên vĩ.

– Nó cứ đi vòng quanh vườn từ sáng nay đấy mẹ ạ – Tôi khe khẽ nói.

Mẹ thở dài rồi ngồi xuống ghế:

– Vậy sao? Nó đi tìm trứng đấy mà. Thật tội nghiệp – Mẹ trầm giọng.

Tôi chỉ đành cười trừ trong căng thẳng.

Ánh chiều soi sáng gương mặt mẹ, mắt mẹ sáng lấp lánh gần như một màu xanh, gương mặt dường như mang một chút gì giận dữ đẹp vô cùng, khiến người khác phải động lòng. Tôi chợt nghĩ gương mặt mẹ và con rắn đẹp đẽ khi nãy có một cái gì đó giống nhau. Tôi cũng không hiểu tại sao lại có cảm giác con rắn xấu xí như con rắn độc mamushi đang uốn éo trong ngực tôi như muốn ăn tươi nuốt sống con rắn mẹ đẹp đẽ vô chừng và buồn rầu sang trọng đó.

Tôi đặt tay lên bờ vai mềm mại và mảnh mai của mẹ, cảm nhận được một nỗi muộn phiền không rõ lý do.

Chúng tôi đã rời bỏ căn nhà nơi khu phố Nishikata, Tokyo để chuyển về một sơn trang xây theo kiểu Trung Hoa ở Izu này từ tháng mười hai năm Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện. Sau khi cha tôi mất, việc kinh tế của gia đình đều do một tay chú Wada, em trai và là người thân duy nhất của mẹ lo liệu. Nhưng thế cuộc đổi thay từ khi chiến tranh kết thúc, chú Wada cũng chẳng còn cách nào khác là phải bán nhà, giải tán hết người làm rồi bàn với mẹ tôi rằng cách tốt nhất bây giờ là mua một căn nhà nhỏ đâu đó ở miền quê để sống qua những tháng ngày yên ổn. Mà mẹ tôi thì chuyện tiền nong còn kém hiểu biết hơn cả một đứa trẻ con, khi nghe chú Wada nói thế chỉ gật đầu mà rằng “vậy chú làm sao được thì làm” rồi thôi.

Vào cuối tháng mười một, chú tôi gửi điện báo nói rằng “ngôi biệt thự của tử tước Kawada trên tuyến đường sắt Sunzu3đang rao bán, ngôi nhà nằm trên nền cao bằng phẳng, tầm nhìn khoáng đạt và có vườn rộng chừng một trăm tsubo4; vùng này cũng nổi tiếng là một chốn để ngắm hoa mơ, mùa đông ấm áp, mùa hè mát mẻ, em nghĩ chị sống nơi đó sẽ rất thích hợp nhưng vì cần phải gặp và nói chuyện trực tiếp với chủ biệt thự nên nếu được ngày mai chị có thể ghé văn phòng em ở khu Ginza một chút”.

– Vậy mẹ có đi không? – Tôi hỏi.

– Đi chứ, vì chú ấy đã yêu cầu như vậy còn gì – Mẹ nói với một nụ cười cô đơn vô hạn.

Ngày hôm sau, mẹ nhờ chú Matsuyama, người tài xế cũ, đưa đi từ quá trưa đến khoảng 8 giờ tối mới cùng chú Matsuyama trở về nhà.

Mẹ vào phòng của tôi, chống tay lên bàn, ngồi xuống với vẻ rã rời và buông một câu.

– Mẹ quyết định rồi.

– Quyết định cái gì vậy mẹ?

– Tất cả.

– Nhưng mà…

Tôi kinh ngạc:  

– Nhà cửa như thế nào mẹ còn chưa xem qua mà.

Mẹ tựa khuỷu tay lên bàn, sờ trán và khẽ thở dài:

– Bởi vì chú Wada nói đó là một nơi rất tốt. Mẹ cảm thấy chúng ta cứ nhắm mắt mà dọn đến ngôi nhà đó thì cũng đượcchứ sao.

Mẹ ngẩng mặt lên cười yếu ớt. Gương mặt ấy hơi tiều tụy nhưng đẹp vô cùng.

– Đúng vậy.  

Tôi gật đầu biết mình đã thua niềm tin đẹp đẽ của mẹ đối với chú Wada và cũng tán đồng.

– Vậy thì con cũng nhắm mắt mà dọn đi.

Hai mẹ con cùng cất tiếng cười nhưng sau đó là một nỗi rầu buồn vô hạn.

Sau đó, mỗi ngày đều có phu khuân vác đến thu xếp hành lý và chuyển đi. Chú Wada cũng đã đến giúp cắt đặt mọi việc. Tôi cùng cô hầu Okimi bận rộn với bao nhiêu việc, nào là sắp xếp quần áo, rồi mang những thứ linh tinh ra vườn đốt, vậy mà mẹ không phụ giúp gì dù chỉ là đụng đến một ngón tay, cứ suốt ngày chôn mình trong phòng thờ thẫn.

– Sao vậy ạ? Mẹ lại không muốn chuyển đến Izu nữa à? – Tôi lấy can đảm hỏi mẹ.

– Không phải vậy đâu – Mẹ mơ màng đáp.

Mười ngày sau, chuyện thu dọn hành lý cũng hoàn tất. Buổi tối khi tôi cùng Okimi đốt giấy vụn và rơm khô ngoài vườn, mẹ cũng từ trong phòng bước ra, đứng ở lối đi và lặng lẽ nhìn những tàn lửa cháy. Cơn gió tây lạnh lẽo như màu tro xám thổi qua, làn khói bay là đà sát mặt đất, tôi vô tình ngước lên nhìn gương mặt của mẹ, thấy thần sắc vô cùng nhợt nhạt, nét mặt này tôi chưa nhìn thấy bao giờ.

– Mẹ à, sắc mặt mẹ xanh xao quá!

Khi tôi hoảng hốt la lên như vậy thì mẹ cười nhẹ đáp lời:

– Không có gì đâu con.

Rồi lặng lẽ quay về phòng.

Tối hôm đó, vì chăn chiếu đã đóng hành lý nên Okimi ngủ ở trường kỷ trên tầng hai, còn tôi và mẹ nghỉ trong phòng của mẹ, hai người nằm chung trên một tấm futon mượn của nhà kế bên.

Khi tôi vừa định chúc mẹ ngon giấc thì bất ngờ mẹ nói với giọng run run yếu ớt:

– Vì có Kazuko nên mẹ mới đến Izu. Chính vì có Kazuko đi cùng mẹ đấy.

Tôi giật mình hỏi lại:

– Nếu không có Kazuko thì sao?

Đột nhiên mẹ bật khóc.

– Mẹ thà chết đi còn hơn. Mẹ muốn chết trong ngôi nhà mà cha con đã qua đời.

Mẹ nghẹn ngào và khóc thổn thức.

Từ trước đến giờ chưa lần nào mẹ tỏ ra yếu đuối trước mặt tôi, cũng chưa khi nào để tôi nhìn thấy mẹ khóc đau khổ như vậy. Cho dù là lúc cha tôi mất, lúc tôi đi lấy chồng, lúc tôi bụng mang dạ chửa quay về nhà, rồi đứa bé bị chết non trong bệnh viện, hay lúc tôi bệnh nằm liệt giường, rồi ngay cả khi Naoji quậy phá nữa, mẹ cũng tuyệt đối không cho ai thấy thái độ yếu ớt như thế.

Mười năm kể từ ngày cha tôi mất, mẹ không thay đổi một chút nào, vẫn lạc quan và hiền dịu. Chúng tôi cứ thế tha hồ làm nũng với mẹ. Tuy nhiên, giờ thì mẹ đã hết sạch tiền. Vì tôi và Naoji, mẹ trang trải tiêu pha hết chẳng tiếc nuối một chút gì. Và giờ đây mẹ phải rời ngôi nhà thân thương này để dọn đến một sơn trang nhỏ ở Izu, cùng tôi bắt đầu cuộc sống mới, lủi thủi chỉ có hai người.

Phải chi mẹ là người hẹp lòng, la mắng chúng tôi, lặng lẽ tiết kiệm một chút cho riêng mình thì dù cuộc thế đổi thay thế nào cũng không đến mức cùng quẫn chỉ muốn chết như thế này. Mà cái chuyện không có tiền đúng là một địa ngục đáng sợ và thê thảm vô vọng nhất mà tôi lần đầu tiên từ lúc sinh ra đến giờ mới nhận thấy. Ngực tôi nghẹn thắt lại, muốn khóc nhưng không thể nào khóc được. Không biết cái cảm giác lúc này có phải thứ mà nhân gian thường hay nói là “sự nghiêm túc của cuộc đời” hay không? Tôi cứ ngửa mặt nhìn lên trần nhà, cảm thấy người mình như một tảng đá, không tài nào nhúc nhích nổi.

Ngày hôm sau, quả thật sắc mặt mẹ rất xanh xám, có vẻ dùng dằng muốn ở lại căn nhà này lâu hơn chút nữa, không muốn rời đi. Chú Wada nhìn thấy được điều này nên nói rằng hành lý đã gửi đi hết rồi, hôm nay phải khởi hành đi Izu. Lúc này, mẹ mới miễn cưỡng mặc áo khoác, khẽ cúi chào cô hầu Okimi cùng những người làm khác cũng đang nói lời tạm biệt, rồi cùng chú và tôi ba người rời khỏi căn nhà ở Nishikata.

Chuyến xe lửa khá vắng vẻ nên cả ba chúng tôi đều tìm được chỗ ngồi. Trong xe, chú tôi cao hứng ngâm nga vài đoạn kịch No còn mẹ thì sắc diện rất xấu, ủ rũ gục đầu và như co ro vì lạnh. Đến Mishima, chúng tôi đổi qua chuyến tàu đi Sunzu, đến Izu Nagaoka thì xuống tàu đi xe buýt chừng 15 phút là tới nơi. Chúng tôi từ từ leo lên con dốc hướng về phía núi và thấy một ngôi làng nhỏ, ở rìa làng có một sơn trang xây theo kiểu Trung Hoa khá kỳ công.

– Mẹ ơi, nơi này tuyệt hơn nhiều so với hình dung của mình nhỉ? – Tôi nói hổn hển.

– Đúng vậy đấy.

Mẹ đứng trước cổng sơn trang với một thoáng vui hiện lên trong mắt.

– Thứ nhất là không khí trong lành. Thật tinh khiết biết bao!

Chú nói đầy vẻ tự hào:

– Đúng như thế.

Mẹ mỉm cười đáp lại:

– Thật tuyệt! Không khí ở đây thật tuyệt!

Và cả ba chúng tôi mỉm cười.

Chúng tôi thử bước vào bên trong thì thấy hành lý từ Tokyo đã được chuyển đến chất đầy từ hành lang cho đến tận trong phòng.

– Thứ hai là phong cảnh từ phòng khách nhìn ra rất đẹp.

Chú cao hứng kéo hai mẹ con tôi vào phòng khách và bắt chúng tôi ngồi xuống.

Lúc này khoảng ba giờ chiều, khí trời mùa đông dịu nhẹ lan tỏa trên bãi cỏ trong vườn. Dưới chân bậc thềm đá nơi bãi cỏ là một cái ao nhỏ với rất nhiều cây hoa mơ, ở phía cuối vườn là một mảng vườn cam trải dài, ở đó có con đường làng, theo đó là ruộng lúa nước, xa xa là rừng thông và tít bên kia rừng thông là biển. Nếu ngồi ở phòng khách như thế này thì mực nước biển cao ngang ngực tôi.

– Cảnh vật thật yên bình – Mẹ nói đầy vẻ ưu tư.

– Chắc tại bầu không khí. Ánh nắng dường như khác hẳn với Tokyo, đúng không mẹ? Những tia nắng trông giống như tơ lụa.

Tôi phấn khởi lên tiếng.

Căn nhà có một phòng mười chiếu, một phòng sáu chiếu, một phòng khách kiểu Trung Hoa, hành lang rộng khoảng ba chiếu, phòng tắm cũng oảng chừng ba chiếu, rồi phòng ăn và phòng sinh hoạt chung, rồi một phòng trên tầng hai thiết kế theo kiểu Tây bên trong kê một cái giường lớn dành cho khách. Chỉ có bấy nhiêu phòng thôi nhưng với hai mẹ con tôi, à không, cho dù Naoji trở về nữa thì đối với ba người, căn nhà cũng không chật chội chút nào.

Chú đến cửa hàng duy nhất trong sơn thôn này để đặt mua thức ăn. Khi cơm hộp được mang tới, chúng tôi bày ra trong phòng khách, chú lấy rượu whisky đem theo ra thưởng thức. Chú vui vẻ kể chuyện về chuyến đi du lịch Trung Quốc với tử tước Kawada, người chủ trước của sơn trang này. Mẹ chỉ cầm đũa chấm mút chút ít và khi trời vừa chạng vạng tối, mẹ cất giọng khe khẽ.

– Để cho mẹ ngủ một chút.

Tôi soạn hành lý lấy chăn đệm trải cho mẹ nằm nghỉ. Nhưng có điều gì đó nơi mẹ khiến tôi lo lắng. Tôi tìm cái nhiệt kế và thử đo thân nhiệt cho mẹ thì thấy lên đến ba mươi chín độ.

Chú tôi cũng hoảng hốt và vội vàng đi đến cuối làng tìm bác sĩ.

– Mẹ ơi!

Tôi gọi nhưng mẹ chỉ nằm thiêm thiếp. Tôi nắm chặt bàn tay nhỏ nhắn của mẹ và nức nở khóc. Mẹ thật tội nghiệp biết bao, mà không, cả hai mẹ con mình thật là đáng thương. Tôi vừa khóc vừa nghĩ đến việc chết đi cùng mẹ. Thôi, chúng tôi không cần bất cứ thứ gì nữa. Cuộc sống của mẹ con tôi đã kết thúc kể từ khi bước chân ra khỏi ngôi nhà ở Nishikata.

Khoảng hai tiếng sau chú đưa một vị bác sĩ trong làng về, ông có vẻ khá già, mặc áo hakama thượng phẩm và chân mang tất trắng.

– Không chừng bị viêm phổi đấy. Tuy nhiên, dù bị viêm phổi đi nữa cũng không cần lo lắng gì đâu.

Sau khi chẩn bệnh, bác sĩ nói một cách mập mờ như vậy rồi chích thuốc cho mẹ xong thì ra về.

Ngày hôm sau mẹ vẫn không hạ sốt.

Chú Wada đưa cho tôi hai ngàn yên và căn dặn nếu phải nhập viện thì hãy gửi điện báo về Tokyo cho chú, rồi quay về trong ngày hôm đó.

Tôi lấy trong hành lý ra một số vật dụng nấu ăn cần thiết, nấu cháo mời mẹ ăn. Mẹ vẫn nằm như thế và húp đến muỗng cháo thứ ba thì lắc đầu.

Vào buổi trưa hôm ấy, vị bác sĩ làng lại ghé thăm bệnh. Lần này ông không mặc áo hakama nhưng chân vẫn đi tất trắng.

– Có nên đưa vào bệnh viện không ạ? – Tôi hỏi.

– Không cần thiết đâu. Hôm nay tôi sẽ tiêm một mũi thuốc liều cao và phu nhân có lẽ sẽ hạ sốt đấy.

Câu trả lời của bác sĩ cũng mơ hồ như hôm trước. Sau đó ông tiêm thuốc cho mẹ rồi ra về.

Dường như mũi thuốc đó có hiệu quả, quá trưa hôm đó sắc mặt mẹ trở nên hồng hào, mồ hôi ra đầm đìa và cười nói khi tôi thay áo ngủ cho mẹ.

– Có lẽ đây là danh y chăng?

Sốt đã hạ xuống còn 37 độ. Tôi vui mừng không tả xiết, vội chạy đến quán trọ cuối làng nhờ bà chủ mua giùm mười quả trứng gà mang về luộc lòng đào mời mẹ ăn. Mẹ ăn được ba quả và chừng nửa chén cháo.

Hôm sau, vị bác sĩ, lại mang tất trắng, đến thăm bệnh. Khi tôi bày tỏ lòng cảm ơn về liều thuốc hiệu nghiệm ngày hôm qua thì ông cúi đầu đáp lễ với vẻ mặt như muốn nói “đương nhiên phải có hiệu quả rồi”. Ông khám bệnh cho mẹ một cách cẩn thận và quay sang nói với tôi:

– Phu nhân đã khỏi bệnh. Vì vậy, từ bây giờ có thể ăn bất cứ thứ gì và làm gì cũng được hết đấy.

Đúng là cách nói chuyện lạ lùng, tôi kiềm chế lắm mới không bật cười.

Tôi tiễn vị bác sĩ ra tận cổng, khi quay lại phòng khách thì thấy mẹ đã ngồi dậy được.

– Đúng là danh y. Mẹ đã khỏi rồi.

Mẹ trông rất vui tươi, thì thầm như nói với chính mình.

– Mẹ à, con mở cửa ra nhé? Bên ngoài tuyết đang rơi đấy.

Tuyết nhẹ nhàng rơi rơi từng phiến mỏng như những cánh hoa mẫu đơn. Tôi kéo cánh cửa và ngồi bên cạnh mẹ, ngắm tuyết Izu qua lớp kính.

– Khỏi bệnh rồi.

Mẹ lại thì thầm một mình.

– Ngồi như thế này, mẹ có cảm giác những chuyện trước đây thoáng qua như một giấc mơ thôi. Nói thật, lúc sắp chuyển nhà đến Izu trong lòng mẹ cứ chán nản thế nào ấy. Mẹ chỉ muốn ở thêm dù chỉ một ngày, thậm chí nửa ngày trong ngôi nhà ở Nishikata. Khi lên xe điện là lúc mẹ nhận ra lòng mình đã chết đi một nửa và khi đặt chân đến đây, lúc đầu mẹ cảm thấy tâm trạng vui lên một chút nhưng khi trời chập choạng tối mẹ như kiệt sức vì da diết nhớ Tokyo.

Đây không phải là căn bệnh bình thường đâu. Thần linh đã cho mẹ tái sinh thành một người khác hoàn toàn với ngày hôm qua đấy.

Rồi từ đó đến nay, cuộc sống nơi sơn trang chỉ hai mẹ con tôi cứ lặng lẽ và yên bình trôi qua. Những người ở đây đối xử rất tử tế với chúng tôi. Chúng tôi chuyển đến đây từ tháng mười hai năm ngoái, vậy tính đến hôm nay là đã bốn tháng trôi qua rồi. Ngoài việc chuẩn bị cơm nước ra chúng tôi đan len ở ngoài sân vườn, đọc sách trong phòng bày trí kiểu Trung Hoa hay lặng lẽ thưởng trà, sống một cuộc sống hầu như biệt lập với thế gian. Vào tháng hai hoa mơ nở rộ, cả sơn thôn ngập chìm trong sắc hoa. Tháng ba nhiều ngày bình yên lặng gió nên những cánh hoa mơ độ mãn khai càng tươi tắn, khoe sắc cho đến cuối tháng. Dù sáng trưa chiều hay tối, những cánh hoa mơ vẫn đẹp đến nao lòng. Lần nào tôi mở cửa, hương hoa cũng lan tỏa khắp gian phòng.

Vào cuối tháng ba, buổi chiều thường hay có gió, khi tôi thưởng thức trà chiều trong phòng ăn, những cánh hoa mơ ngoài cửa sổ theo gió bay vào trong tách trà. Sang tháng tư, tôi và mẹ đan len ngoài sân và thường nói về kế hoạch làm vườn sắp tới. Mẹ nói là muốn giúp tôi.

Ah, dù cho chúng tôi – như lời mẹ nói – đã chết đi để tái sinh thành hai con người hoàn toàn khác nhưng phải chăng sự phục sinh như chúa Jesu đối với người phàm là không thể được? Mặc dù mẹ nói đã quên đi chuyện đã qua nhưng rõ ràng khi húp muỗng súp mẹ lại nhớ đến Naoji và thở dài. Và vết thương trong lòng tôi, thực ra cũng chưa bao giờ lành lại.

À, tôi muốn kể mọi chuyện rõ ràng không che đậy tí gì cả. Thỉnh thoảng tôi thầm nghĩ sự bình yên ở sơn trang này chỉ là giả dối ngụy tạo mà thôi.

Cho dù đây có là khoảng thời gian nghỉ ngơi ngắn ngủi mà thần linh đã ban cho mẹ con tôi đi nữa, thì tôi cũng không ngừng nhận thấy rằng trong sự yên bình này có một bóng đen tăm tối và bất thường đang tiến lại gần chúng tôi. Mẹ tỏ ra hạnh phúc nhưng mỗi ngày lại cứ tiều tụy đi. Trong ngực tôi, con rắn độc mamushi đang trú ngụ, dù gắng đè nén đến đâu nó cũng đang lớn dần lên bằng sự hy sinh của mẹ. Ah, giá như đây chỉ là do thời tiết mà thôi thì hay biết mấy. Nhưng gần đây tôi cứ cảm thấy cuộc sống này thật chán chường không chịu nổi. Chắc hẳn là việc đốt trứng rắn là một trong những điều dại dột làm tôi cứ lo lắng bồn chồn như vậy. Nếu cứ thế này mãi thì sẽ làm cho mẹ ngày càng chìm sâu vào nỗi buồn phiền và suy nhược hơn thôi. Còn nếu viết về tình yêu thì tôi đã không thể nào viết gì được nữa.

-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Giai cấp quý tộc được quy định bởi Hiến Pháp Minh Trị xếp theo thứ tự lần lượt là Hoàng tộc 皇族, Hoa tộc 華族 (gồm công tước 公爵, hầu tước 侯爵, bá tước 伯爵, tử tước 子爵, nam tước 男爵), Sĩ tộc 士族 và bình dân 平民 – ND.
  2. Marie Laurencin (1885-1956): nữ họa sĩ Pháp, chuyên vẽ tranh chân dung – ND.
  3. Sunzu 駿豆: viết tắt của hai vùng Suruga 駿河 và Izu 伊豆 – ND.
  4. Tsubo (坪): đơn vị đo diện tích ở Nhật. Một tsubo chừng 3,306 mét vuông – ND.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Chương 1 “Đôi mắt trũng sâu” (Dean Koontz)

Published

on

By

Trích từ: Đôi mắt trũng sâu
Tác giả: Dean Koontz
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 03.2022

Sáu phút đầu tiên của buổi sáng thứ Ba, trên đường về nhà sau buổi tập muộn cho chương trình biểu diễn mới, Tina Evans nhìn thấy con trai mình là Danny đang trong một chiếc xe của người lạ. Nhưng Danny chết đến nay hơn cả năm rồi.

Dự định mua một quart sữa và ổ bánh mì nguyên cám nên Tina dừng lại ở một cửa hàng mở cửa hai mươi bốn giờ cách nhà cô hai dãy phố và đậu xe trong màn bụi mờ vàng vọt của ánh sáng đèn hơi natri, bên cạnh một chiếc station wagon hiệu Chevrolet màu kem bóng loáng. Đứa bé trai ngồi ghế phía trước, đang chờ ai đó trong cửa hàng. Tina chỉ có thể nhìn thấy một bên mặt của cậu bé, đủ để cô há hốc nhận ra trong đau đớn.

Danny.

Cậu bé khoảng độ mười hai tuổi, bằng tuổi với Danny. Mái tóc đen dày như của Danny, cái mũi y hệt Danny, và một khuôn cằm khá thanh mảnh cũng giống Danny.

Tina thầm gọi tên con trai mình, như thể lo sợ nếu gọi to hơn sẽ làm dáng hình yêu dấu này tan biến.

Không biết cô đang chăm chú nhìn mình, cậu bé đưa một tay lên miệng và cắn nhẹ vào khớp đốt ngón tay cái, giống như Danny đã bắt đầu làm khoảng một năm trước khi chết. Tina đã cố gắng phá bỏ thói quen xấu đó của con nhưng không thành công.

Giờ đây khi quan sát đứa bé này, dường như sự giống nhau giữa nó và Danny còn hơn cả sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đột nhiên Tina nghe thấy từng tiếng thình thịch của tim mình, còn miệng thì trở nên khô khốc và chua chát. Cô vẫn chưa thích nghi được với nỗi mất mát đứa con độc nhất của mình, bởi vì bản thân không bao giờ muốn – hay thử – làm quen với nó. Việc chấp nhận sự giống nhau giữa cậu bé này với Danny rất dễ khiến Tina lầm tưởng rằng nỗi mất mát từ đầu đã không tồn tại.

Có thể… có thể cậu bé này chính là Danny. Tại sao lại không nhỉ? Càng suy xét thì câu chuyện càng có vẻ ít điên rồ hơn. Xét cho cùng, cô chưa bao giờ nhìn thấy thi thể của con. Cảnh sát và những người mai táng đã khuyên rằng không nên nhìn vì cơ thể Danny đã bị rách toạc và giập nát một cách khủng khiếp. Rợn người và kiệt sức vì đau buồn nên cô đã làm theo lời khuyên của họ, tang lễ của Danny đã được cử hành với quan tài đóng kín nên những người đưa tiễn không thể nhìn mặt cậu lần cuối. Biết đâu họ đã nhầm khi nhận diện thi thể. Danny có thể đã không chết trong vụ tai nạn. Có lẽ cậu chỉ bị một chấn thương nhẹ ở đầu nhưng nghiêm trọng vừa đủ để bị… mất đi ký ức. Đúng rồi. Mất trí nhớ. Có lẽ trong vô thức Danny đã rời khỏi chiếc xe buýt vỡ nát và được tìm thấy cách xa hiện trường vụ tai nạn hàng dặm đường, không có giấy tờ tùy thân, không thể nói cho ai biết mình là ai hay từ đâu đến. Hoàn toàn có thể, đúng không? Cô đã từng xem những câu chuyện tương tự trong các bộ phim. Chắc chắn rồi. Mất trí nhớ. Và nếu quả đúng như vậy thì có thể người ta đã đưa cậu bé đến một trung tâm cứu trợ trẻ em để bắt đầu cuộc sống mới. Và rồi bây giờ Danny ngồi trong một chiếc wagon hiệu Chevrolet màu kem, đang được mang đến trước mặt cô nhờ định mệnh và nhờ…

Ý thức được cái nhìn chằm chằm nên cậu bé quay mặt về phía Tina. Cô nín thở khi khuôn mặt ấy chầm chậm hướng về phía mình. Khi nhìn nhau qua hai lớp kính cửa sổ và ánh sáng kỳ lạ của đèn huỳnh quang, Tina có cảm giác như thể họ đang giao tiếp xuyên qua một vực thẳm mênh mông của không gian, thời gian và định mệnh. Nhưng rồi sự thật không thể khác, ảo ảnh của cô tan vỡ vì cậu bé không phải là Danny.

Rời mắt khỏi cậu bé và tập trung vào đôi tay, Tina nhận ra mình đang ghì chặt vô-lăng đến mức khiến tay tê nhức.
“Chết tiệt.”

Cô giận dữ với chính mình. Thường tự cho mình là người phụ nữ có trình độ, luôn điềm tĩnh, cứng cỏi và có thể đương đầu với bất kỳ thử thách nào trong đời, thế mà cuộc sống của Tina đã bị xáo động vì vẫn mãi không thể chấp nhận cái chết của Danny.

Theo sau cú sốc ban đầu, cô đã phải bắt đầu đối phó với sang chấn tâm lý hậu tang lễ. Dần dần, ngày qua ngày, tuần nối tiếp tuần, cô đã để Danny lại phía sau với nỗi tiếc thương, với cảm giác tội lỗi, với nước mắt pha lẫn nhiều cay đắng, nhưng cũng có lòng quyết tâm và kiên định. Trong năm vừa qua cô đã đạt được nhiều bước tiến trong sự nghiệp, và nhờ cậy guồng quay công việc tất bật như một loại thuốc morphine1 để làm vơi bớt nỗi đau cho đến khi vết thương lành hẳn.

Thế rồi một vài tuần mới đây thôi, cô lại bắt đầu rơi vào lại tình trạng khủng khiếp đã từng nhấn chìm mình ngay khi vừa nhận hung tin. Sự cự tuyệt của cô cương quyết đến mức phi lý. Một lần nữa, cô lại bị chấp niệm ám ảnh rằng con mình còn sống. Thời gian đúng ra phải làm vơi bớt nỗi thống khổ của cô, nay lại kéo cô quay về với sự đau thương. Cậu bé trong chiếc station wagon này không phải người đầu tiên cô lầm tưởng là Danny; trong những tuần gần đây, Tina đã nhìn thấy đứa con trai đã mất của mình trong nhiều chiếc xe khác, ở những sân trường mà cô lái xe ngang qua, trên tuyến đường dãy phố, hay giữa một rạp chiếu phim.

Ngoài ra, gần đây một giấc mơ về chuyện Danny vẫn còn sống cứ lặp đi lặp lại làm cho cô phiền muộn. Mỗi lần như vậy, Tina không thể đối mặt với thực tại suốt vài giờ sau khi thức giấc. Cô cứ ngờ ngợ giấc mơ là điềm báo trước rằng rồi một ngày Danny sẽ trở lại với mình, bằng cách nào đó mà cậu bé đã sống sót và sẽ sớm quay về trong vòng tay của cô.

Đó là một hình ảnh tưởng tượng ấm áp tuyệt vời, nhưng cô không thể duy trì nó được lâu. Mặc dù Tina luôn chống cự, nhưng sự thật nghiệt ngã vẫn dần dần len lỏi, liên tục hạ gục cô không thương xót, buộc cô phải thừa nhận rằng giấc mơ không phải là điềm báo. Tuy nhiên, Tina biết rằng khi giấc mơ lại đến với mình, cô sẽ tìm thấy nguồn hy vọng mới như đã từng có rất nhiều lần trước đây.

Nhưng chuyện đó không ổn chút nào.

Bệnh thật, cô tự mắng mình.

Cô liếc nhìn chiếc station wagon và thấy cậu bé vẫn đang nhìn mình chòng chọc. Rồi cô trừng trừng nhìn hai bàn tay đang ghì chặt của mình và cố buông tay khỏi vô-lăng.

Đau buồn có thể khiến con người ta phát điên. Cô đã nghe nói vậy và tin điều đó, nhưng không cho phép nó xảy đến với mình. Cô sẽ đủ cứng rắn để giữ kết nối với thực tại – cho dù thực tại có phũ phàng thế nào đi nữa. Cô không thể tự cho phép mình nuôi dưỡng hy vọng.

Cô yêu Danny bằng cả tâm can, nhưng cậu đã bỏ cô mà đi. Bị rách toạc và giập nát trong một tai nạn xe buýt với mười bốn cậu bé khác, chỉ là một nạn nhân của một thảm kịch lớn hơn. Biến dạng đến mức không thể nhận ra. Chết.

Lạnh lẽo.

Thối rữa.

Trong quan tài.

Dưới mộ sâu.

Mãi mãi.

Môi run rẩy. Cô muốn khóc, cần được khóc, nhưng đã kìm được.

Đứa bé trai trong chiếc Chevy đã mất hứng thú với cô. Cậu bé lại đang chăm chú nhìn vào mặt tiền của cửa hiệu tạp hóa và chờ đợi.

Tina rời chiếc Honda của mình. Trời đêm mát mẻ một cách dễ chịu, khí hậu khô-sa-mạc. Cô hít một hơi thật sâu và bước vào cửa hàng. Không khí trong đó làm cô lạnh đến thấu xương, cộng thêm ánh đèn huỳnh quang sáng chói và không gian quá trống trải nên khó có thể khơi gợi trí tưởng tượng.

Cô mua một quart sữa không béo và ổ bánh mì còn nguyên cám cắt mỏng sẵn cho người ăn kiêng, vì mỗi lát chỉ chứa nửa lượng calorie1 của một lát bánh mì thông thường. Tuy không còn là vũ công nữa mà làm việc ở khâu sản xuất chương trình trong hậu trường, nhưng cô vẫn cảm thấy thể chất và tâm lý mình tốt nhất khi cân nặng không vượt quá thời còn là một nghệ sĩ biểu diễn.

Năm phút sau cô đã về đến nhà. Đó là căn nhà trệt nằm khiêm tốn trong một khu phố yên tĩnh. Những cây ô-liu và tràm gió uể oải lay động trong làn gió nhẹ phảng phất của hoang mạc Mojave.

Tina vào bếp nướng hai lát bánh mì, phết lên đó một lớp mỏng bơ đậu phộng, rót một ly sữa không béo và ngồi vào bàn.

Dù đặc biệt kén ăn nhưng bánh mì nướng bơ đậu phộng là một trong những món ưa thích của Danny từ khi mới chập chững biết đi. Khi còn rất nhỏ cậu đã gọi nó là “pơ dậu phọng”.

Giờ đây vừa nhắm mắt vừa nhai bánh mì nướng, Tina vẫn có thể nhìn thấy hình ảnh của Danny – mới ba tuổi đầu, miệng và cằm lấm lem bơ đậu phộng – cười toe toét bập bẹ, Bánh mì nướng pơ dậu phọng nữa, nữa đi mà.

Giật mình mở mắt vì hình ảnh của con trai trong tâm trí cô quá sống động, nó giống ảo ảnh hơn là ký ức. Ngay lúc này cô không muốn nhớ rõ ràng đến vậy.

Nhưng đã quá muộn. Trái tim se thắt lại trong lồng ngực, môi bắt đầu run rẩy, và Tina gục đầu xuống bàn. Cô khóc.

*

Đêm hôm đó Tina lại mơ thấy Danny còn sống. Bằng cách nào đó. Ở một nơi nào đó. Còn sống. Và cậu cần cô.

Trong giấc mơ, Danny đang đứng ở rìa một hẻm núi sâu không đáy, còn Tina thì ở phía bên kia, đối diện với cậu, nhìn qua vực thẳm mênh mông. Danny đang gọi cô. Cậu bé cô đơn và sợ hãi. Tina đau khổ vì không thể nghĩ ra cách nào để đến với con mình. Trong khi đó, bầu trời ngày càng tối sầm lại; những đám mây dông to lớn như nắm tay siết chặt của những người khổng lồ trên trời đã vắt cạn tia sáng cuối ngày. Tiếng khóc của Danny hòa cùng giọng của cô càng lúc càng trở nên chói tai và tuyệt vọng, vì biết rằng nếu không gặp được nhau trước khi màn đêm buông xuống thì họ sẽ chia xa mãi mãi; trong màn đêm đang đến, một cái gì đó đang rình rập Danny, một thứ đáng sợ sẽ tóm chầm lấy nếu cậu chỉ có một mình giữa đêm tối. Đột nhiên, chớp giật đảo lộn bầu trời, rồi đến một tiếng sấm nổ kinh hoàng và màn đêm bất thình lình sập xuống tối đen, bóng tối mịt mù và vô tận.

Tina Evans ngồi thẳng dậy trên giường, cô tin chắc đã nghe thấy một tiếng động trong nhà. Nó không đơn thuần là tiếng sấm đến từ giấc mơ. Âm thanh mà cô nghe thấy phát ra khi cô đã tỉnh thức, một tiếng động thật sự chứ không phải do tưởng tượng.

Cô chăm chú lắng nghe, sẵn sàng tung chăn và bước khỏi giường. Im lặng ngự trị không gian.

Dần dần sự nghi ngờ bắt đầu len lỏi. Thời gian gần đây cô vẫn hay bị giật mình. Đêm nay không phải là đêm đầu tiên cô bị huyễn hoặc về một kẻ đột nhập đang rình rập ngôi nhà của mình. Bốn hoặc năm lần trong suốt hai tuần qua, cô đã lấy khẩu súng lục ở tủ đầu giường và lục soát căn nhà, từng phòng một, nhưng không tìm thấy ai cả. Gần đây cô đã phải chịu rất nhiều áp lực cả về đời sống riêng tư lẫn nghề nghiệp. Có lẽ những gì nghe thấy đêm nay chỉ là tiếng sấm nổ ra trong giấc mơ.

Tina vẫn cảnh giác trong vài phút, nhưng đêm thật yên bình nên cuối cùng phải thừa nhận là trong nhà chỉ có mình cô. Khi nhịp tim chậm dần, cô lại nằm xuống gối.

Những lúc như vậy cô lại ước mình và Michael vẫn còn bên nhau. Cô nhắm mắt lại và tưởng tượng đang nằm bên cạnh rồi xích lại gần anh trong bóng tối, đụng chạm, vuốt ve, áp người vào và nằm trong vòng tay che chở của anh. Michael sẽ dỗ dành và trấn an cho đến khi giấc ngủ của cô quay trở lại.

Dĩ nhiên, nếu cô và Michael đang ở trên giường ngay lúc này thì tình thế lại khác hoàn toàn. Họ sẽ không làm tình. Họ sẽ cãi nhau. Anh ta sẽ cưỡng lại tình cảm của cô, xua đuổi cô bằng cách gây sự. Anh ta sẽ khơi mào từ một chuyện không đâu rồi trêu tức cô cho đến khi chuyện cãi nhau vặt vãnh leo thang thành cuộc chiến hôn nhân. Đó là những gì đã diễn ra trong mấy tháng cuối cùng họ ở bên nhau. Anh ta luôn sôi sục tâm lý thù địch và kiếm cớ trút giận lên cô.

Tình yêu sâu đậm khiến Tina tổn thương và đau buồn khi mối quan hệ của họ đổ vỡ. Nhưng phải thừa nhận là cô có phần cảm thấy nhẹ nhõm vì cuối cùng nó cũng chấm dứt.

Cô đã mất cả con lẫn chồng trong cùng một năm, người đàn ông rồi đến thằng bé, đứa con trai nằm dưới mộ sâu và người chồng đổi dạ thay lòng. Trong mười hai năm hôn nhân, Tina đã trở thành một con người khác và phức tạp hơn chính cô trong ngày cưới của họ, nhưng Michael thì chẳng hề thay đổi chút nào – và lại không thích con người mới của cô. Họ bắt đầu như những người tình, chia sẻ mọi chuyện trong cuộc sống thường nhật – thành công và thất bại, niềm vui và sự thất vọng – nhưng khi ly hôn xong, họ đã trở thành hai người xa lạ. Mặc dù Michael vẫn đang sống trong thành phố, chỉ cách cô không đầy một dặm (1,6km), nhưng ở một khía cạnh nào đó, anh ta cũng xa cách và không thể chạm tới giống như Danny.

Cô thở dài cam chịu và mở to đôi mắt.

Bây giờ tuy không còn buồn ngủ nữa, nhưng Tina biết mình cần phải nghỉ ngơi nhiều hơn. Cô cần phải tươi tắn và tỉnh táo vào sáng mai.

Ngày mai là một trong những ngày trọng đại nhất đời cô: 30 tháng Mười hai. Bình thường ngày đó chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt cả. Nhưng ngày 30 tháng Mười hai này chính là dấu mốc cho toàn bộ tương lai của cô dù thế nào chăng nữa.

Trong mười lăm năm, kể từ khi cô vừa tròn mười tám tuổi, hai năm trước khi kết hôn với Michael, Tina Evans đã sống và làm việc ở Las Vegas. Cô khởi nghiệp với vai trò vũ công – không phải showgirl1 mà là một vũ công thực thụ cho Lido de Paris, một chương trình biểu diễn trên sân khấu hoành tráng tại Khách sạn Stardust. Lido là một trong những chương trình biểu diễn xa hoa và lãng phí khó tin đến mức không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới ngoài Vegas, vì chỉ ở Vegas mới có một chương trình trị giá hàng triệu đô-la có thể được tổ chức từ năm này qua năm nọ mà chẳng quan tâm mấy đến lợi nhuận; những khoản tiền kếch xù như vậy đã được chi cho các màn dàn dựng công phu và những bộ trang phục trau chuốt, cũng như cho dàn diễn viên và ê-kíp sản xuất đông đảo, miễn là doanh thu từ bán vé và đồ uống đủ bù cho chi phí sản xuất thì khách sạn thường vẫn hài lòng. Rốt cuộc cũng chẳng có gì kỳ lạ vì chương trình chỉ là sự quyến rũ, chèo kéo với mục đích duy nhất là đưa vài ngàn người vào khách sạn mỗi đêm. Khi đến cũng như khi rời khỏi khán phòng, đám đông phải băng qua tất cả các bàn xí ngầu, bàn xì dách và cò quay roulette cũng như những dãy máy đánh bạc lấp lánh, và đó mới chính là nơi tạo ra lợi nhuận. Tina yêu thích công việc nhảy múa với Lido, và cô đã gắn bó hai năm rưỡi cho đến khi biết mình có thai. Cô đã xin nghỉ để dưỡng thai, sinh Danny và dành toàn bộ thời gian ở bên con trong những tháng đầu đời. Khi Danny được sáu tháng tuổi, Tina bắt đầu tập luyện để lấy lại vóc dáng và giành được vị trí trong dàn hợp xướng của một chương trình biểu diễn mới ở Vegas sau ba tháng miệt mài luyện tập. Cô đã xoay xở để vừa là một vũ công giỏi vừa là một người mẹ tốt, mặc dù điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng; thương yêu Danny và đam mê công việc của mình, cô đã chu toàn cả hai nhiệm vụ.

Tuy nhiên, cách đây năm năm, vào dịp sinh nhật lần thứ hai mươi tám của mình, cô bắt đầu nhận ra là mình chỉ còn, nếu may mắn, mười năm để làm một vũ công biểu diễn, nên cô đã quyết định lập nghiệp trong vai trò khác để tránh bị đào thải ở tuổi ba mươi tám. Cô nhận được vị trí biên đạo múa cho một chương trình kịch thời sự bèo bọt, một kiểu bắt chước rẻ tiền đầy ảm đạm so với Lido trị giá hàng triệu đô-la, và cuối cùng kiêm luôn cả phần việc của người lo trang phục. Rồi cô chuyển qua một loạt vị trí tương tự trong các rạp lớn hơn, sau đó là trong các khán phòng nhỏ với bốn hoặc năm trăm chỗ ngồi ở các khách sạn hạng hai với ngân sách chương trình hạn hẹp. Có lúc cô chỉ đạo kịch thời sự, rồi lại xoay qua sản xuất cái này chỉ đạo cái kia. Cô ngày càng được nể trọng trong thế giới giải trí dây mơ rễ má của Vegas, và tin rằng mình đang gần kề với thành công hơn bao giờ hết.

Gần một năm trước, ngay sau cái chết của Danny, Tina đã được mời chào công việc chỉ đạo và hợp tác sản xuất một chương trình khổng lồ trị giá mười triệu đô-la sẽ được dàn dựng trong khán phòng chính hai-ngàn-chỗ-ngồi của Golden Pyramid, một trong những khách sạn lớn nhất và sang trọng nhất ở Dải1. Lúc đầu, quả thật trái ngang vì một cơ hội tuyệt vời như thế lại đến trước khi cô có đủ thời gian để khâu vá vết thương của mình, như thể định mệnh thật quá hời hợt và vô cảm khi cho rằng có thể an bài và bù đắp cho cái chết của Danny chỉ bằng cách trao tặng cho cô cơ hội việc làm trong mơ. Thế nhưng, dù đang cay đắng và chán nản – hoặc cũng có thể là vì – cảm thấy hoàn toàn trống rỗng và vô dụng, cô đã nhận lời.

Chương trình mới có tên gọi là Magyck! bởi vì các tiết mục tạp kỹ xen lẫn những tiết mục nhảy múa đều là các màn ảo thuật, vả lại bản thân những tiết mục đồng diễn này tập trung vào các hiệu ứng đặc biệt công phu và được xây dựng xung quanh chủ đề siêu nhiên. Lắt léo chữ nghĩa trong tên gọi không phải là ý tưởng của Tina, nhưng hầu hết phần còn lại của chương trình là sáng tạo của riêng cô, và cô vẫn luôn hài lòng với thành quả của mình. Cũng kiệt sức nữa. Cả năm nay vụt trôi với mười hai đến mười bốn giờ làm việc mỗi ngày, chẳng có kỳ nghỉ mà cũng hiếm khi được nghỉ cuối tuần. Tuy nhiên, dù bận tâm cho Magyck! nhiều như thế, cô vẫn hết sức khó khăn trong việc chấp nhận cái chết của Danny. Cách đây một tháng, lần đầu tiên cô nghĩ rằng cuối cùng mình cũng đã bắt đầu vượt qua được nỗi đau buồn. Cô có thể nhớ đến con mà không tuôn nước mắt, đến thăm mộ con mà không còn bị mất tự chủ vì tiếc thương. Sau khi cân nhắc mọi chuyện, cô cảm thấy khá hơn, thậm chí có phần nào đó phấn khởi. Cô sẽ không bao giờ quên Danny, đứa trẻ ngọt ngào đó là một phần to lớn của cô, nhưng cô không còn phải sống cuộc đời quanh quẩn với khoảng trống mà cậu để lại. Vết thương lòng đã lành lặn tuy vẫn còn nhạy cảm với nỗi đau.

Đó là suy nghĩ của Tina một tháng trước đây. Trong một hoặc hai tuần qua cô ngày càng tiến bộ và dần học cách chấp nhận sự thật. Thế nhưng những giấc mơ mới lại bắt đầu, hơn nữa chúng còn tồi tệ hơn hàng loạt cơn ác mộng đã đến với cô ngay sau khi Danny chết.

Có lẽ những trăn trở về phản ứng của công chúng với Magyck! khiến cô nhớ lại mối lo âu lớn hơn về Danny.

Trong chưa đầy mười bảy giờ nữa – vào lúc tám giờ đêm ngày 30 tháng Mười hai – Khách sạn Golden Pyramid sẽ trình diễn một buổi ra mắt đặc biệt dành cho khách mời VIP1 xem Magyck!, và ngay đêm sau, đêm Giao thừa, chương trình sẽ mở cửa đón công chúng. Nếu phản ứng của khán giả nhiệt tình và tích cực như Tina hy vọng, tương lai tài chính của cô sẽ được đảm bảo, vì theo hợp đồng cô sẽ nhận được hai chấm năm phần trăm trên tổng doanh thu, trừ doanh số bán rượu, sau năm triệu đầu tiên. Nếu Magyck! thành công và chiếm lĩnh sân khấu trong bốn hoặc năm năm, như đôi khi xảy ra với các chương trình thành công khác ở Vegas, cuối cùng cô sẽ lên hàng triệu phú. Tất nhiên, nếu sản phẩm là một thất bại, nếu nó không làm thỏa mãn khán giả, sự nghiệp của cô có thể sẽ xuống dốc và trở lại làm việc trong các rạp nhỏ một lần nữa. Ngành nghề biểu diễn, dù dưới bất kỳ hình thức nào, là một công việc tàn nhẫn.

Rõ ràng cô có lý do xác đáng để mà lo lắng. Nỗi sợ hãi đến ám ảnh của cô về những kẻ đột nhập vào nhà, những giấc mơ đầy bất an về Danny, sự đau buồn trở lại của cô – tất cả những điều này có thể nảy sinh từ nỗi trăn trở về Magyck!. Nếu quả đúng như vậy thì các triệu chứng đó sẽ biến mất ngay sau khi số phận của chương trình được định đoạt. Chỉ cần cố gắng vượt qua trong vài ngày tới, với tâm trạng phần nào thanh thản sau đó, cô có thể tự chữa lành vết thương cho mình.

Trước tiên cô buộc phải ngủ đôi chút. Vào lúc mười giờ sáng mai, cô có lịch hẹn gặp hai đại lý điều hành tour đang có ý định đặt trước tám ngàn vé cho Magyck! trong ba tháng đầu biểu diễn. Sau đó vào lúc một giờ, toàn bộ dàn diễn viên và ê-kíp sản xuất sẽ tập hợp lại để tổng duyệt lần cuối.

Cô giũ gối, trải lại khăn giường và tròng vào chiếc áo ngủ ngắn của mình. Cô cố gắng thư giãn bằng cách nhắm mắt lại và hình dung một cơn thủy triều đêm đang dịu dàng vỗ về bờ biển ánh màu bàng bạc.

Cạch!

Cô ngồi phắt dậy trên giường.

Có một thứ gì đã bị ngã đổ đâu đó trong nhà. Hẳn nó phải là một vật thể hình dạng to lớn bởi vì âm thanh phát ra đủ lớn để đánh thức cô dậy mặc dù đã bị các bức tường ngăn cách bao bọc.

Dù có là gì đi nữa… nó cũng không đơn giản tự ngã đổ. Nó đã bị va đụng. Những vật thể to nặng không thể tự ngã đổ trong căn phòng vắng.

Cô nghiêng đầu, chăm chú lắng nghe. Một âm thanh khác nhẹ hơn theo sau tiếng động trước. Tuy kéo dài không đủ lâu để Tina xác định được nguồn gốc nhưng nó có vẻ gì đó lén lút. Lần này mối đe dọa không phải do cô tưởng tượng ra nữa. Ai đó thực sự đang ở trong nhà.

Cô bật đèn ngay khi ngồi bật dậy trên giường. Mở ngăn kéo của chiếc tủ đầu giường. Khẩu súng lục đã được lắp đạn sẵn. Cô mở hai chốt an toàn.

Dừng lại nghe ngóng một lát.

Trong sự tĩnh mịch của đêm sa mạc, Tina tưởng như mình có thể cảm nhận được kẻ xâm nhập cũng đang lắng nghe, lắng nghe cô.

Cô bước xuống khỏi giường và xỏ chân vào đôi dép lê.

Cầm súng bằng tay phải, cô lặng lẽ đến bên cửa phòng ngủ.

Cô có cân nhắc việc gọi cảnh sát, nhưng sợ sẽ tự biến mình thành một kẻ ngốc. Mọi chuyện sẽ ra sao nếu họ đến, với đèn chớp nháy và còi hụ inh ỏi – và rồi chẳng tìm thấy ai? Suốt hai tuần qua nếu cô cứ viện đến cảnh sát mỗi khi nghĩ rằng mình nghe thấy một kẻ rình mò trong nhà, có lẽ họ chẳng mất nhiều thời gian để kết luận cô là một kẻ thần kinh có vấn đề. Vì kiêu hãnh nên Tina không thể chịu đựng nổi suy nghĩ mình xuất hiện với vẻ hoảng hốt trước mặt hai gã cớm có nụ cười nhăn nhở, để rồi sau đó trong khi nhâm nhi bánh rán và cà phê, họ sẽ đem cô ra làm trò cười. Cô phải tự mình lục soát ngôi nhà, chỉ mình cô mà thôi.

Hướng khẩu súng lên trần nhà, cô lên đạn.

Hít một hơi thật sâu, cô mở khóa cửa phòng ngủ và bước nhẹ ra hành lang.

(Còn tiếp)

Đọc bài viết

Trích đăng

Truyện ngắn: Thằng Lùn – trích Xứ tháng Mười

Trích truyện ngắn “Thằng lùn” trong tuyển tập “Xứ tháng Mười” của Ray Bradbury.

Published

on

By

Trích từ: Xứ tháng Mười
Tác giả: Ray Bradbury
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 03.2022

THẰNG LÙN

Aimee ngắm bầu trời, lặng lẽ.

Đêm nay là một trong những đêm hè oi ả im lìm. Sân bến  tàu  bê-tông  vắng  bóng  người,  những  bóng  đèn  vàng, trắng, đỏ giăng mắc cháy sáng như bầy côn trùng lơ lửng bên trên khoảng không đông đặc. Những người quản lý đủ loại gian hàng trò chơi hội chợ đứng bất động, những xác ướp bằng sáp đang tan chảy, không nói năng, mắt nhìn đờ đẫn, không trừ một ai.

Hai khách đã đi qua đây từ một giờ trước. Hai kẻ lẻ loi ấy giờ đang ngồi trên tàu lượn cao tốc, la hét như điên khi đoàn tàu xé màn đêm chói lóa lao thẳng xuống, quay tròn, quay tròn những vòng vô nghĩa.

Aimee chầm chậm đi băng qua bãi biển, mấy vòng gỗ ném cọc bám nhớp nháp trong hai bàn tay. Cô dừng lại sau quầy bán vé trước cửa MÊ CUNG NHÀ KÍNH. Cô thấy bóng mình biến dạng  gớm  guốc  trong  ba  tấm  gương  dợn  sóng bên ngoài Mê Cung. Một ngàn bản sao mệt mỏi của bóng cô tan biến vào lối đi phía bên kia, những ảnh hình nóng hổi giữa vùng gương lạnh trong veo.

Cô bước vào trong quầy vé đứng nhìn hồi lâu cần cổ gầy guộc của Ralph Banghart. Hắn cắn giữa hai hàm răng dài ố vàng lởm chởm một điếu xì-gà chưa châm lửa trong khi bày bộ bài tơi tả ra chơi một mình trên kệ quầy.

Lúc  chiếc  tàu  lượn  quay  rú  lên  rồi  lại  lao  xuống  kinh động như núi lở, cô sực nhớ ra và lên tiếng.

“Loại người nào thích lên tàu lượn cao tốc?”

Ralph Banghart nhấm nhá điếu xì-gà cả ba mươi giây. “Những kẻ muốn chết. Tàu lượn là dễ chết nhất.” Hắn ngồi lắng nghe tiếng súng trường nổ mơ hồ vọng ra từ gian trò chơi bắn súng. “Cái nghề làm hội chợ chó chết này đúng là điên rồ. Chẳng hạn như thằng lùn kia. Cô gặp nó chưa? Tối nào cũng vậy, bỏ một đồng xu, chạy vào Mê Cung Nhà Kính ra tít đằng sau, tới buồng Khổng Lồ. Rồi cô sẽ thấy thằng lùn tịt này chạy thẳng tới đó cho coi. Thiệt tình!”

“Ờ, đúng,” Aimee thốt lên, cô đã nhớ ra. “Em luôn thắc mắc không biết làm người lùn thì cảm giác ra sao. Gặp người lùn nào em cũng thấy thương hại.”

“Tôi cứ muốn tóm lấy nó mà co kéo thun giãn chơi.” “Đừng nói thế chứ!”

“Trời đất,” Ralph đưa bàn tay rảnh rỗi vỗ đùi cô. “Lúc nào cô cũng có thái độ kỳ cục như vậy với những thằng cha thậm chí cô còn chưa gặp.” Hắn lắc đầu cười khúc khích.

“Nó với bí mật của nó. Chỉ có điều nó không biết là tôi biết đó nghe? Thế mới hay chứ!”

“Tối nay nóng.” Cô bồn chồn xóc xóc mấy vòng gỗ lớn trong những ngón tay ướt mồ hôi.

“Đừng  lái  qua  chuyện  khác.  Nó  sẽ  tới  đây,  dù  nắng hay mưa.”

Aimee dợm bước đi.

Ralph nắm lấy khuỷu tay cô. “Này! Cô khùng sao chứ? Không muốn thấy thằng lùn đó à? Suỵt!” Ralph quay lại. “Nó đến rồi kìa!”

Chỉ có mỗi bàn tay Thằng Lùn, đen đúa và lông lá, hiện ra với một đồng xu bạc khi cố với lên ô cửa quầy vé. “Một vé!” Một tiếng nói lanh lảnh như giọng trẻ con.

Bất giác, Aimee chồm tới.

Thằng Lùn ngước nhìn cô, rành rành một gã xấu xí, tóc đen, mắt đen bị lèn chặt trong máy ép, bị vắt nặn và nhồi nhét cho nhỏ choắt thêm, từng chút một, bẻ quặp lui tới, oằn oại ngược xuôi, cho đến khi chỉ còn một đống phẫn nộ nhợt nhạt, bộ mặt sưng húp không hình thù, bộ mặt mà ta phải mở căng mắt tỉnh thức lúc hai và ba và bốn giờ sáng, nằm bẹp trên giường, chỉ có cơ thể say ngủ.

Ralph xé chiếc vé màu vàng làm đôi. “Một vé!”

Dường như hoảng sợ vì cơn dông sắp đến, Thằng Lùn kéo chặt ve áo choàng đen quanh cổ rồi lắc lư hấp tấp bước đi. Một thoáng sau, mười ngàn thằng lùn lang thang lạc loài bò quằn quại giữa những mặt gương, như một đàn bọ hung đen cuống quýt, rồi biến mất.

“Mau!”

Ralph ôm cứng Aimee rồi lôi cô theo hành lang âm u đằng sau những tấm gương. Cô thấy tay hắn vỗ về cô suốt quãng đường đi ngược xuyên qua đường hầm dẫn tới một vách ngăn mỏng có lỗ nhỏ quan sát.

“Chuyện này hay,” hắn cười khúc khích. “Đó… nhìn đi.” Aimee ngần ngừ, rồi úp mặt vào vách ngăn.

“Cô… thấy… nó… không?” Ralph thì thào.

Aimee nghe tim mình đập dồn. Trọn một phút trôi qua. Trong  đó  Thằng  Lùn  đứng  giữa  căn  buồng  nhỏ  màu xanh. Mắt gã nhắm nghiền. Gã chưa sẵn sàng mở mắt nhìn. Giờ thì gã mở hai mi mắt lên rồi ngắm tấm gương lớn trước mặt. Và điều nhìn thấy được trong gương khiến gã mỉm cười. Gã nháy mắt, gã xoay tròn, gã đứng quay sang một bên, gã vẫy tay, gã cúi chào, gã lóng ngóng nhún nhảy khẽ khàng.

Và tấm gương lặp lại từng chuyển động với đôi cánh tay dài ngoằng, với một thân hình cao thêm, cao thêm, với cái nháy mắt to lớn và bóng hồi vọng khổng lồ của điệu múa, kết thúc bằng cái cúi chào vĩ đại!

“Tối nào cũng một trò đó,” Ralph thầm thì vào tai Aimee. “Hay thật đấy chứ?”

Aimee  quay  lại,  hướng  gương  mặt  bất  động  về  phía Ralph nhìn chăm chăm một hồi lâu, không nói năng gì. Rồi cứ như không tự kiềm chế được, cô từ từ quay đầu rất chậm, rất chậm trở lại lỗ quan sát căng mắt nhìn lần nữa. Cô nín thở. Cô thấy đôi mắt mình bắt đầu rướm lệ.

Ralph vừa huých nhẹ cô vừa thì thào.

“Này, thằng oắt lùn đó đang làm gì lúc này?

Nửa giờ sau, hai người cứ uống cà phê trong quầy vé mà chẳng ai nhìn ai khi Thằng Lùn từ trong những tấm gương đi ra. Gã bỏ mũ xuống và dợm bước tới quầy vé nhưng thấy Aimee lại hấp tấp bỏ đi.

“Anh ta muốn cái gì đó,” Aimee nói.

“Đúng.” Ralph dí nát điếu thuốc, vẻ bâng quơ. “Tôi còn biết nó muốn cái gì nữa kìa. Nhưng nó không dám hỏi. Có một đêm nó nói léo nhéo lí nhí, ‘Tôi chắc là mấy tấm gương đó đắt tiền lắm.’ Ôi, tôi giả ngu. Tôi nói, Ờ, đắt lắm. Coi bộ nó nhìn tôi như chờ đợi, rồi thấy tôi không nói gì nữa thì nó đi về, nhưng đêm sau nó lại hỏi. ‘Tôi chắc mấy tấm gương đó cũng phải đến cả năm chục, cả trăm đô?’ Chắc là thế, tôi nói vậy. Rồi tôi chia bài ra chơi một mình.”

“Ralph,” cô gọi.

Hắn ngước lên. “Sao cô nhìn tôi kỳ vậy?”

“Ralph,”  cô  nói,  “sao  không  bán  cho  anh  ta  một  tấm gương nào dư thừa của anh đi?”

“Này, Aimee, tôi có xía vào chuyện quản lý gian hàng ném vòng của cô không?”

“Mấy tấm gương đó bao nhiêu tiền?”

“Tôi có thể mua hàng xài rồi với giá ba mươi lăm đô.” “Thế sao anh không chỉ cho anh ta biết chỗ mua một tấm?”

“Aimee, cô khờ lắm.” Hắn đặt tay trên đầu gối cô. Cô nhích đầu gối ra. “Cho dù tôi chỉ nó chỗ mua thì cô tưởng nó sẽ mua sao? Không đời nào. Lý do? Nó mắc cỡ. Đấy, nó mà biết tôi thấy nó rửng mỡ trước tấm gương trong buồng Khổng Lồ thì nó sẽ không bao giờ quay lại đây đâu. Nó cứ làm bộ như đi vào Mê Cung cho lạc chơi, giống như mọi người. Vờ như nó chẳng quan tâm đến cái buồng đặc biệt ấy. Lúc nào cũng chờ dịp gian hàng này vắng khách, lúc tối khuya, để nó độc chiếm cái buồng cuối cùng đó. Những lúc gian hàng này đắt khách thì có trời mới biết đêm đêm nó giải khuây bằng cái trò gì. Không đâu, xin thưa, nó không dám mua gương ở bất kỳ đâu. Nó không hề có bạn bè, mà có đi chăng nữa nó cũng chẳng dám nhờ họ mua giúp một thứ như vậy. Sĩ diện mà, xin thề, sĩ diện. Lý do duy nhất khiến nó nói chuyện đó với tôi là vì tôi thực tế là người độc nhất mà nó quen biết. Hơn nữa, nhìn nó coi…, làm sao nó có đủ tiền mua tấm gương như vậy được. Nó có thể để dành, nhưng một thằng lùn thì làm đếch gì ra tiền mà để dành? Không ở trong gánh xiếc thì thứ như nó cả đống ngoài kia, đầy đường đầy chợ.

“Em thấy kỳ lạ. Em thấy buồn.” Aimee nhìn đăm đăm ra lối đi lót ván vắng ngắt. “Anh ta ở đâu vậy?”

“Dưới  khu  Flytrap  ngay  bờ  biển.  Ở  Ganghes  Arms. Mà sao?”

“Em si tình anh chàng đó mất rồi, nếu anh muốn biết.” Hắn ngoác miệng cười, răng vẫn cắn điếu xì-gà. “Aimee,”

Hắn nói. “Cô đúng là tiếu lâm hết sức.”

***

Một đêm ấm, một sáng nóng, rồi một trưa cháy bỏng. Mặt biển chói lóa kim tuyến và thủy tinh.

Aimee tản bộ tới, từ các lối đi chật hẹp trong hội chợ ra ngoài biển nóng, men theo bóng râm, tay ôm năm sáu tờ tạp chí bạc màu vì nắng. Cô mở cánh cửa bong tróc, gọi vọng vào vũng tối hầm hập. “Ralph?” Cô lần bước qua hành lang thâm u sau những tấm gương, gót giày nhấn xuống sàn gỗ. “Ralph?” Có người uể oải trở mình trên chiếc giường xếp vải bố.

“Aimee hả?”

Hắn ngồi dậy rồi vặn một bóng đèn tù mù vào đui đèn trên chiếc bàn có gương soi. Mắt nhắm mắt mở, hắn nheo nheo nhìn cô. “Kìa, trông cô hệt như con mèo vừa nuốt được con chim.”

“Ralph, em tới về chuyện gã tí hon!”

“Thằng lùn, Aimee, thằng lùn, cưng ơi. Tí hon là do tế bào, bẩm sinh đã vậy. Còn lùn dị dạng là do tuyến nội tiết…” “Ralph!  Em vừa biết được một chuyện tuyệt hay về anh ta!”

“Trời ơi là trời,” hắn nói với hai bàn tay đang chìa ra như làm chứng cho điều hắn không tin. “Cái cô này! Ai quan tâm cóc khô gì tới một thằng lùn xấu xí…”

“Ralph!” Cô chìa mấy tờ tạp chí ra, mắt sáng lên. “Anh ta là nhà văn! Ai mà nghĩ ra chứ!”

“Hôm nay nóng bức quá rồi, nghĩ ngợi làm chi.” Hắn lại ngả lưng ra rồi quan sát cô, miệng thoáng cười.

“Em tình cờ đi ngang qua Ganghes Arms, và gặp ông Greeley, ông quản lý. Ông ta bảo máy chữ gõ rào rào cả đêm trong phòng ông Lớn!”

“Thằng lùn đó mà tên là Lớn?” Ralph buột miệng cười rống lên.

“Viết truyện trinh thám đăng báo để sống qua ngày. Em tìm được một truyện của anh ta ở chỗ bán tạp chí cũ, và rồi, Ralph, biết gì không?

“Tôi đang mệt đây, Aimee.”

“Anh chàng nhỏ bé này có tâm hồn bao la như trời đất; anh ta có tất cả trong đầu!”

“Thế sao nó không viết cho các tạp chí lớn đi, cô nói tôi nghe coi?”

“Chắc là vì anh ta e ngại… Chắc anh ta không tự biết là có thể làm như thế. Chuyện thường tình. Người ta thường không tự tin vào bản thân. Nhưng nếu anh ta chỉ cần thử thôi, em dám cá anh ta có thể bán truyện ngắn cho bất kỳ đâu trên đời.”

“Thế sao nó không giàu có, tôi hỏi cô đấy?”

“Chắc là vì anh ta chưa nghĩ tới do cuộc sống khổ sở. Ai mà chẳng thế? Thân phận nhỏ nhoi thế kia? Em cho là khó lòng nghĩ tới bất cứ điều gì ngoài chuyện quá nhỏ nhoi và chuyện sống trong căn hộ một buồng rẻ tiền.”

“Xì!” Ralph cười nhạo. “Cô nói cứ như là bà trùm từ thiện.” Aimee  đưa  tờ  tạp  chí  lên.  “Để  em  đọc  anh  nghe  một đoạn truyện trinh thám của anh ta. Truyện có đủ súng ống và du côn, nhưng do một người lùn thuật lại. Em dám cá là mấy tay biên tập chẳng bao giờ đoán được tác giả này biết rõ mình đang viết cái gì. Ồ, xin anh đừng ngồi ì ra đó, Ralph! Nghe này.”

Và cô bắt đầu đọc to.

Tôi là một thằng lùn và tôi là kẻ giết người. Hai chuyện này không thể tách rời. Cái này là nguyên nhân của cái kia.

Kẻ  bị  tôi  giết  thường  chặn  tôi  giữa  đường  khi  tôi  hai mươi mốt tuổi, đưa hai tay nhấc bổng tôi lên, hôn trán tôi, hát ư ử loạn xạ những bài ru con, lôi tôi vào chợ, ném tôi lên mấy chiếc cân và quát tháo với ông hàng thịt “Cân cho đàng hoàng! Đừng có lấy ngón cái mà đè đĩa cân nghe chưa!”

Bạn có hiểu cuộc đời cả hai đã đi tới kết cục giết người ra sao không? Thằng ngu đó, kẻ hành hạ thân xác và tâm hồn tôi đó!

Còn thời thơ ấu của tôi: cha mẹ tôi đều nhỏ con, không hẳn là lùn, không hẳn. Của thừa kế của cha tôi đã cho cả gia đình sống trong một ngôi nhà búp bê, một thứ kỳ lạ giống như chiếc bánh cưới phủ kem xoắn ốc trắng tinh – những căn phòng nhỏ xíu, bàn ghế nhỏ xíu, tranh ảnh nhỏ xíu, cả đồ trang sức chạm đá, cả những miếng hổ phách có côn trùng mắc kẹt bên trong, tất cả đều tí tẹo, tí tẹo, tí tẹo! Thế giới Khổng Lồ xa vời quá, một tin đồn xấu xa bên kia bức tường vườn nhà. Tội nghiệp mẹ cha! Họ chỉ muốn những gì tốt đẹp nhất cho tôi. Họ giữ riết tôi như chiếc lọ sứ, nhỏ bé và quý báu, trong thế giới của kiến, trong những căn phòng tổ ong, trong thư viện li ti, trong mảnh đất có những cửa cái to bằng con bọ hung và cửa sổ to bằng con bướm mối. Mãi tới bây giờ tôi mới thấy được tầm vóc loạn tâm thần kỳ vĩ của cha mẹ tôi! Họ hẳn đã mơ tưởng sẽ sống đời đời, luôn giữ gìn tôi như con bướm khô trong hộp kính. Nhưng cha tôi chết trước, rồi một đám cháy nuốt chửng ngôi nhà tí hon, cái tổ ong bầu ấy, cùng mọi tấm gương soi bé bằng con tem và căn phòng bằng lọ muối bên trong. Mẹ cũng chết luôn! Và còn lại tôi một mình, nhìn tàn lửa rơi, bị quẳng ra ngoài thế giới của Quái Vật và Người Khổng Lồ, bị thực tế như trận đất lở cuốn phăng, quăng quật, lăn lóc, và nát bấy dưới chân vách núi!

Tôi phải mất một năm mới thích ứng được. Không thể nào nghĩ tới một nghề với chút công việc phụ thêm. Dường như đời này không có chỗ nào dành cho tôi. Và rồi, một tháng trước, Kẻ Khủng Bố đó bước vào đời tôi, ấn một cái mũ đàn bà lên mái đầu khờ khạo của tôi, và hét với đám bạn: “Tao muốn tụi bay xem con lùn này!”

Aimee ngừng đọc. Ánh mắt cô bồn chồn và tờ tạp chí run rẩy khi cô đưa cho Ralph. “Anh đọc hết đi. Phần còn lại là câu chuyện giết người. Viết được lắm. Anh thấy vậy không? Lùn mà hay! Lùn mà hay!”

Ralph quẳng tờ tạp chí qua một bên rồi uể oải châm điếu thuốc. “Tôi thích đọc truyện cao bồi hơn.”

“Ralph, anh phải đọc truyện này. Cần có người nói cho ông Lớn biết là anh ta viết tốt lắm và khuyến khích anh ta viết tiếp.”

Ralph nhìn cô, đầu nghiêng một bên. “Thế ai sẽ nói cho nó biết? Chà chà, chúng ta là cánh tay mặt của Đấng Cứu Thế đấy à?”

“Đừng nói cái giọng đó chứ!”

“Tỉnh lại đi, đồ khùng! Nếu tự nhiên cô ào ào nói ra điều đó, nó sẽ nghĩ cô đang bố thí lòng thương hại. Nó sẽ gào rống xua đuổi cô cút khỏi nhà nó.”

Aimee ngồi xuống, ngẫm nghĩ từ tốn lại, cố xoay trở vấn đề xem xét mọi góc cạnh. “Em không biết. Có lẽ anh đúng. Ồ, không phải lòng thương hại đâu, Ralph, thật đó. Nhưng có thể đối với anh ta thì giống như thế. Em phải cẩn thận hết sức.”

Hắn nắm vai cô lắc tới lắc lui, mấy ngón tay bấu nhẹ. “Trời, trời, mặc kệ nó đi, tôi chỉ yêu cầu cô điều đó; cô sẽ hao tâm tốn sức mà chỉ thêm rắc rối chứ chẳng được gì. Trời, Aimee, chưa hề thấy cô sốt sắng chuyện gì như chuyện này. Thôi, hôm nay nghỉ làm đi chơi, tôi với cô, đi ăn trưa, đổ ít xăng, rồi phóng xe dọc bờ biển đi xa hết cỡ, bơi lội, ăn chiều, xem phim gì hay hay ở thị trấn nhỏ đâu đó… bỏ mẹ cái hội chợ này đi, được không? Một ngày vui đã đời không lo toan. Tôi đã để dành được ít tiền đây rồi.”

“Đó là vì em thấy anh ta khác biệt,” cô nói, mắt nhìn sâu vào bóng tối. “Đó là vì anh ta là người đáng nể mà tụi mình không thể nào bằng được…, anh và em và tất cả lũ chúng ta ở bến tàu này. Ngộ thật, ngộ thật đó. Cuộc đời đã định cho anh ta chẳng được tích sự gì ngoài những gánh xiếc rong, thế mà anh ta lại ở cái xứ này. Và cuộc đời đã định cho tụi mình không phải làm trong gánh xiếc rong, nhưng tụi mình cũng lại ở đây, thế đấy, ở tít tận đây trên cái cầu tàu ngoài biển này. Nhiều lúc tưởng chừng xa bờ đến cả triệu dặm. Ralph, làm sao tụi mình có thân xác này nhưng anh ta lại có được trí óc và có thể nghĩ ra nhiều điều mà tụi mình thậm chí không bao giờ ngờ tới?”

“Nãy giờ tôi nói gì cô đâu có nghe!” Ralph nói.

Cô ngồi còn hắn đứng bên trên, tiếng nói xa vắng. Mắt cô khép hờ và hai bàn tay cô đặt trên đùi, run rẩy.

“Tôi không thích vẻ mặt tinh ranh của cô lúc này,” cuối cùng hắn lên tiếng.

Aimee từ từ mở ví lấy ra một cuộn giấy bạc rồi bắt đầu đếm. “Ba mươi lăm, bốn mươi đô la. Đủ. Em sẽ điện thoại cho Billie Fine nhờ ông ta gửi một tấm gương biến dạng loại cao tới nhà ông Lớn nhỏ con ở Ganghes Arms. Đấy, em sẽ làm thế!”

“Cái gì?”

“Thử nghĩ xem, Ralph, anh ta sẽ sung sướng biết bao khi có tấm gương đó trong phòng riêng bất cứ khi nào anh ta cần tới. Em mượn điện thoại anh nhé?”

“Cứ việc, đúng là khùng.”

Ralph quay lưng thật nhanh rồi bỏ đi về cuối đường hầm. Tiếng cửa đóng sầm.

Aimee chờ một lúc rồi đưa tay nhấc điện thoại, bắt đầu quay số, chậm chạp đến đau khổ. Cô ngừng lại giữa những con số, nín thở, nhắm mắt, tự hỏi thầm nếu trót mang phận nhỏ nhoi trên đời này, và nếu một ngày có người gửi cho một tấm gương đặc biệt thì sẽ như thế nào. Một tấm gương trong phòng riêng nơi ta có thể ẩn náu cùng chiếc bóng phản chiếu to lớn của bản thân, chói sáng, và viết hết truyện này đến truyện khác, không cần phải bước ra thế gian nếu không cần thiết. Khi đó, một mình, cùng ảo ảnh tuyệt diệu toàn vẹn hình hài trong căn phòng ấy thì sẽ như thế nào. Điều này sẽ khiến ta buồn hay vui, nó sẽ giúp ích hay là phá hoại chuyện văn chương? Cô hết ngẩng lại cúi đầu, suy nghĩ, suy nghĩ mãi. Ít ra thì như thế sẽ chẳng có ai khinh thường ta. Đêm đêm, có thể lén thức giấc lúc ba giờ sáng lạnh lẽo, ta có thể nháy mắt rồi nhảy múa vòng quanh rồi mỉm cười rồi vẫy tay với chính mình, vụt lớn, vụt lớn, cao đẹp ngời ngời trong tấm gương rực rỡ.

Tiếng nói vang trong điện thoại, “Billie Fine đây.” “Ôi, Billie!” cô thổn thức.

Đêm tràn lấp cầu tàu. Biển đen gầm gừ dưới những tấm ván. Ralph ngồi lạnh tái trong chiếc quan tài bằng kính của mình,  tay  chia  bài,  mắt  nhìn  đăm  đăm,  môi  mím  chặt.  Ở khuỷu tay hắn, một kim tự tháp tàn thuốc cứ cao dần. Khi Aimee đi men dưới hàng bóng đèn màu xanh và đỏ rực, tươi cười, vẫy chào, hắn vẫn cứ từ từ, chầm chậm đặt từng quân bài xuống. “Chào Ralph!” cô gọi.

“Chuyện tình ra sao rồi?” – Hắn vừa hỏi vừa uống nước đá lạnh trong chiếc cốc bẩn. “Các chàng minh tinh, tài tử thế nào?”

“Em vừa đi mua chiếc mũ mới,” cô mỉm cười đáp. “Ôi, em thấy sướng quá! Anh biết tại sao không? Ngày mai Billie Fine sẽ cho gửi một tấm gương đi! Ta mà thấy được nét mặt của anh chàng nhỏ bé đó thì hay phải biết!”

“Tôi không giỏi tưởng tượng đâu.”

“Ối trời, bộ anh tưởng em sẽ lấy anh ta làm chồng hay sao.”

“Sao lại không? Bỏ nó vào va-li xách đi khắp nơi. Thiên hạ sẽ hỏi, Chồng cô đâu? Cô chỉ cần mở nắp ra, la lên, Nó đây này! Giống cái kèn bằng bạc. Lôi nó ra khỏi hộp bất cứ lúc nào, thổi một bài, cất vô hộp trở lại. Kiếm cái xô đựng cát nhỏ đặt sau hiên nhà cho nó đứng.”

“Em đang thấy sướng quá,” cô nói.

“Phải nói là nhân đức mới đúng.” Ralph không nhìn cô, miệng hắn căng ra. “N-h-â-n-đức. Tôi chắc mọi chuyện đều do tôi theo dõi thằng đó qua lỗ ván nẻ để làm trò vui chứ gì? Đó là lý do cô mua cho nó tấm gương đó chớ gì? Những người như cô rảnh quá mà, toàn phá hoại niềm vui của kẻ khác.”

“Anh nói thế thì em sẽ không đến chỗ anh uống nước nữa. Em thà không chơi với ai còn hơn chơi với người hèn hạ.” Ralph thở hắt một hơi thật dài. “Aimee, Aimee. Cô không

hiểu là cô chẳng thể giúp ích gì cho thằng cha đó sao? Nó là thằng khùng. Và cái trò điên rồ của cô cũng chẳng khác gì cô nói với nó: Cứ khùng nữa đi, tôi sẽ giúp anh, anh bạn”.

“Dù gì cũng là chuyện ngàn năm một thuở, có sai lầm cũng tốt nếu mình nghĩ việc làm này sẽ giúp người khác vui sướng,” cô nói.

“Cầu  Chúa  cứu  vớt  tôi  thoát  khỏi  những  kẻ  thiện tâm, Aimee.”

“Im đi! Im đi!” cô la lên, rồi không nói thêm gì nữa.

Hắn để cho im lặng đọng lại hồi lâu, rồi đứng dậy, đặt chiếc cốc dính đầy dấu tay qua một bên.

“Trông quầy vé cho tôi được chớ?”

“Được. Nhưng sao vậy?”

Cô thấy mười ngàn bóng hình trắng lạnh của hắn khệnh khạng  đi  theo  các  hành  lang  thủy  tinh,  giữa  những  mặt gương, môi hắn mím chặt và những ngón tay múa máy.

Cô ngồi trong quầy vé cả phút rồi bất chợt rùng mình. Một chiếc đồng hồ nhỏ kêu tích tắc trong quầy và cô lật bộ bài ra, từng lá một, đợi chờ. Cô nghe tiếng búa, gõ, nện, gõ, nện, văng vẳng trong Mê Cung; một lúc im lìm, một lúc chờ đợi thêm, rồi mười ngàn bóng hình gấp lại, mở ra, và tan rã, Ralph vừa sải bước vừa nhìn mười ngàn bóng hình cô ngồi trong quầy vé hồi vọng hai bên lối ra. Cô nghe tiếng cười khẽ khi hắn đi xuống đường dốc.

“Này, có gì mà anh cao hứng thế?” Cô ngờ vực hỏi. “Aimee,” hắn nói thản nhiên, “tụi mình không nên cãi nhau. Cô bảo ngày mai Billie sẽ gửi tấm gương đó tới cho ông Lớn à?”

“Anh không định làm trò quái quỷ gì đấy chứ?”

“Tôi ấy à?” Hắn thế chỗ cô trong quầy vé và vớ lấy bộ bài, miệng ậm ừ, mắt bừng sáng. “Không đời nào, ối trời, không đời nào.” Hắn không nhìn cô mà liền chia bài phành phạch. Cô đứng sau lưng hắn. Mi mắt phải của cô hơi máy. Cô hết khoanh tay rồi lại buông thõng xuống. Một phút trôi qua. Âm thanh duy nhất là tiếng sóng biển dưới gầm cầu ván tăm tối, tiếng Ralph hít thở trong bầu khí nóng, tiếng sột soạt khe khẽ của những lá bài. Bầu trời trên cầu tàu oi bức, dày đặc mây. Ngoài khơi xa, những ánh chớp lờ mờ vụt lóe lên.

“Ralph,” cuối cùng cô lên tiếng. “Thoải mái đi, Aimee,” hắn nói.

“Về chuyện anh muốn đi chơi biển ở miệt dưới…” “Ngày mai,” hắn nói. “Có thể tháng sau. Có thể năm sau.

Thằng Ralph Banghart này là người kiên nhẫn. Tôi không lo đâu, Aimee. Hiểu chưa?” Hắn giơ một bàn tay lên. “Tôi bình thản lắm.”

Cô chờ cho một đợt sóng ngoài biển tan biến.

“Em không muốn làm anh nổi khùng đâu, vậy thôi. Em không muốn chuyện gì xấu xảy ra, hứa với em đi.”

Gió  lúc  nóng  lúc  lạnh  thổi  qua  cầu  tàu.  Có  mùi  mưa trong gió. Đồng hồ kêu tích tắc. Aimee bắt đầu toát mồ hôi khi nhìn những lá bài xê dịch, xê dịch. Xa xa vọng về tiếng những tấm bia trúng đạn và tiếng nổ ở gian hàng trò chơi bắn súng.

Và rồi, gã ta kìa.

Đang lắc lư đi qua cổng chính vắng tanh của khu hội chợ, dưới những bóng đèn như côn trùng, gương mặt méo mó  và  u  ám,  mỗi  chuyển  động  là  một  gắng  gượng.  Gã  đi suốt đoạn đường dài ra cầu tàu trong lúc Aimee quan sát. Cô muốn nói với gã, Đây là đêm cuối cùng của anh, lần cuối cùng anh sẽ tự làm mình xấu hổ vì phải tới đây, lần cuối cùng anh phải chịu đựng con mắt theo dõi của Ralph, dù là lén lút. Cô ước gì mình có thể la lên và cười to và nói điều đó ngay trước mặt Ralph. Nhưng cô lặng thinh.

“Xin chào, xin chào!” Ralph rống lên. “Tối nay miễn phí, gian hàng mời! Đặc biệt dành cho khách quen!”

Thằng Lùn ngước lên, giật mình, đôi mắt đen bắn ra một khối bối rối bềnh bồng. Miệng gã nặn không nên lời cám ơn rồi gã quay lưng, một tay đưa lên cổ kéo chặt hai ve áo nhỏ tí quanh cuống họng co thắt, tay kia thầm ghì xiết đồng xu bạc. Ngoái lại, gã khẽ gật đầu, và rồi hàng trăm gương mặt thống khổ, giày vò, ám màu âm u kỳ lạ dưới ánh đèn, bước lang thang qua những hành lang thủy tinh.

“Ralph,” Aimee kéo khuỷu tay hắn. “Có chuyện gì thế?” Hắn ngoác miệng cười. “Tôi cũng đang nhân đức đây,

Aimee, nhân đức.” “Ralph,” cô kêu lên.

“Suỵt,” hắn nói. “Nghe đi.”

Trong quầy vé, họ chờ đợi giữa im lặng oi bức lê thê. Rồi, từ rất xa, văng vẳng, một tiếng rú.

“Raph!” Aimee kêu lên.

“Nghe đi, nghe đi!” Hắn nói.

Một tiếng rú nữa, lại rú và lại rú, rồi tiếng va đập rồi tiếng  quăng  quật  rồi  tiếng  đổ  vỡ,  âm  thanh  cuống  cuồng vọng khắp mê cung. Kìa, kìa, dội ngược và đối chọi loạn xạ, từ mặt gương này sang mặt gương khác, vừa la thét điên loạn vừa nức nở khóc, mặt đẫm lệ, miệng há hốc, ông Lớn xuất hiện. Gã nhào ra bầu trời đêm hầm hập, cuống cuồng nhìn quanh, rên rỉ, rồi chạy mất hút xuống bến tàu.

“Ralph, có chuyện gì thế?”

Ralph ngồi vừa cười ầm vừa vỗ đùi. Cô tát vào mặt hắn. “Anh đã làm gì?”

Hắn cố nín cười nhưng không được. “Theo tôi. Tôi sẽ cho cô thấy!”

Và  rồi  cô  vào  mê  cung,  hấp  tấp  chạy  qua  những  tấm gương trắng lóa, vết son môi đỏ rực như lửa phản chiếu cả ngàn lần trong cái hang động sáng bạc hừng hực nơi những người đàn bà điên loạn dị kỳ như cô đuổi theo một tên đàn ông tươi cười, đang chạy phăng phăng.

“Theo tôi!” hắn la to. Và họ lao tới căn buồng tí xíu sặc mùi bụi bặm.

“Ralph!”

Họ đứng ở ngưỡng cửa căn buồng nhỏ nơi Thằng Lùn đêm nào cũng đến cả năm nay. Cả hai đứng ở nơi Thằng Lùn đứng đêm đêm, trước khi gã mở mắt nhìn hình tượng thần kỳ trước mặt.

Aimee chầm chậm lê chân, một bàn tay đưa ra trước, bước vào căn buồng lờ mờ tối.

Tấm gương đã bị đổi.

Tấm  gương  mới  khiến  ngay  cả  những  người  bình thường cũng bé, bé, bé thêm; nó khiến ngay cả những kẻ cao lớn cũng thành nhỏ nhoi, tối tăm, dị dạng thấp kém hơn khi lại gần.

Aimee đứng trước tấm gương ấy, một ý nghĩ phản chiếu, nếu gương này biến người lớn thành nhỏ, khi đứng đây, trời ơi, thì sẽ như thế nào với một gã lùn, gã lùn tí hon, gã lùn u ám, gã lùn cô đơn và kinh hoảng?

Cô quay lưng và suýt vấp ngã. Ralph đang đứng nhìn cô. “Ralph,” cô thốt lên. “Trời ơi, sao anh lại làm thế?”

“Aimee, trở lại đây!”

Cô  băng  qua  những  tấm  gương,  vừa  chạy  vừa  khóc. Căng mắt nhìn qua màn lệ thật khó tìm đường, nhưng cô đã lần được lối ra. Cô đứng chớp mắt nhìn cầu tàu vắng lặng, rồi dợm chạy theo một hướng, đổi hướng khác, không biết về đâu, rồi thôi. Ralph chạy tới sau lưng cô, nói gì đó, một giọng nói xa xăm và khác lạ, như đang loáng thoáng sau một bức tường đêm khuya.

“Tôi không muốn nghe nữa,” cô nói.

Có ai đang chạy lên cầu tàu. Đó là Kelly, chủ gian hàng bắn súng. “Này, mấy người có thấy một thằng lùn mới chạy qua không? Thằng lùn đó giật một khẩu súng ở chỗ tôi, đã nạp đạn, rồi chạy mất tiêu, tôi không kịp bắt lại. Mấy người giúp tôi tìm nó với?”

Rồi Kelly đi luôn, vừa chạy hết tốc lực vừa quay đầu qua lại tìm kiếm giữa các căn lều bạt, khuất xa dần dưới những hàng bóng đèn giăng mắc rực đỏ rực vàng rực xanh.

Aimee ngần ngừ một lúc rồi cất bước. “Aimee, cô đi đâu?”

Cô nhìn Ralph như thể hai kẻ vừa rẽ qua một góc đường, hai người xa lạ, tình cờ chạm mặt và lướt qua nhau. “Chắc là…,” cô nói, “Tôi sẽ giúp mọi người đi tìm.”

“Cô chẳng làm gì được đâu.”

“Dù sao cũng phải thử. Ôi, Ralph, lỗi tại tôi cả! Lẽ ra tôi đừng điện thoại cho Billie Fine! Lẽ ra tôi đừng đặt mua tấm gương và khiến anh nổi khùng tới mức làm như thế! Lẽ ra chính tôi phải đi gặp ông Lớn, chứ không phải mua cái thứ điên khùng đó gửi tới! Tôi phải đi tìm người đó, dù có chết cũng phải đi tìm.”

Chầm  chập  xoay  người  lại,  hai  má  ướt  đẫm,  cô  nhìn những tấm gương dựng trước Mê Cung, trên một tấm gương là bóng phản chiếu của Ralph. Cô không thể rời mắt khỏi hình ảnh ấy; nó thu hút cô đứng sững, miệng há hốc, toàn thân run lẩy bẩy buốt lạnh.

“Aimee, sao vậy? Cô làm sao…?”

Hắn nhận ra hướng cô đang nhìn và quay ngoắt lại xem chuyện gì. Hắn sửng sốt.

Hắn quắc mắt nhìn tấm gương sáng rực đó.

Một con người kinh tởm, xấu xa, nhỏ mọn, cao chỉ chừng sáu tấc, bộ mặt bị bóp dẹp dưới vành mũ rơm kiểu xưa, đang

quắc mắt nhìn đáp trả. Ralph đứng đó trừng trừng nhìn bóng mình, hai bàn tay chống nạnh.

Aimee từ từ bước đi rồi bắt đầu nhanh chân và bắt đầu chạy. Cô chạy xuống bến tàu vắng lặng và cơn gió nóng phun những hạt mưa lớn bỏng rát trên trời dội xuống đầu trong lúc cô chạy thật xa.

Ảnh: Joseph Mugnaini

Hết.

Đọc bài viết

Trích đăng

Hoài niệm mùi hương Sài Gòn – trích đoạn “Với ngày như lá tháng như mây”

Tập tản văn tiếp nối mạch cảm hứng và tình yêu bền bỉ mà tác giả Phạm Công Luận dành cho mảnh đất Sài thành.

Published

on

By

Trích từ: Với ngày như lá tháng như mây
Tác giả: Phạm Công Luận
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 01.2022

Bạn đọc Việt Nam đã quen thuộc với nhà báo, tác giả Phạm Công Luận qua những tựa sách gây tiếng vang và được tái bản nhiều lần như Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Những lối về ấu thơ, Chú bé Thất Sơn. Không chỉ nổi bật trong thể loại tản văn, ông còn là một cây bút gạo cội sở hữu sức viết dồi dào, mang đến cho độc giả nhiều tập sách chuyên khảo, hồi ký về Sài Gòn giàu giá trị như Sài Gòn – Chuyện đời của phố (5 tập), Phong vị báo xuân xưa, Sài Gòn – Ngoảnh lại trăm năm

Tập tản văn Với ngày như lá tháng như mây tiếp nối mạch cảm hứng và tình yêu bền bỉ như nguồn nước không bao giờ cạn mà tác giả Phạm Công Luận dành cho mảnh đất Sài thành. Trải dài qua 30 bài viết, tập tản văn chứa đựng một cuộc du hành trong tâm tưởng của tác giả, đưa người đọc trôi về thời xa vắng của đất Sài Gòn – Gia Định trên dưới nửa thế kỷ trước.

MÙI HƯƠNG CŨ

Chuyện giữa những người trung niên từng học chung lớp ở trường phổ thông hồi mới lớn, quanh đi quẩn lại cũng quay về bạn cũ, thầy cô xưa. Một người nhắc lại hồi năm lớp Tám, ở góc bàn của cô bạn trong lớp luôn tỏa ra mùi thơm nhẹ. Ai đến gần mới cảm thấy nhưng không rõ từ đâu. Sau có người kể là mỗi buổi sáng đi học, bạn ấy luôn mang theo một nhánh bông dạ lý hương ngắt từ vườn nhà và bỏ vào hộc bàn.

Câu chuyện dễ thương ấy bỗng dưng kéo cả đám sồn sồn gần tuổi sáu mươi về lại hơn bốn mươi năm trước. Từ câu chuyện trên, những hồi tưởng về mùi hương mở rộng ra. Họ nhắc lại mùi nước hoa thoảng nhẹ của cô giáo dạy Anh văn, mùi ban mai tinh khiết ở khu lớp phía sau sân trường, bên cạnh mấy cây cổ thụ. Một anh bảo có ai nhớ mùi sâm đại hành hồi học trường Nguyễn Thượng Hiền không, nó the the cay cay, nhất là khi lén bứt đọt non đưa lên mũi ngửi. Một anh bảo: Tao nhớ mùi tóc… mấy đứa con gái. Đi tập văn nghệ, mình ôm đàn đánh cho mấy nhỏ đó hát, tóc đứa nào cũng thơm. Tóc con gái miệt Bà Quẹo thơm mùi bồ kết, tóc con gái khu Ông Tạ xài xà bông Trầm, Lux thơm nức.

Những mùi hương cũ, sao có thể buộc ta nhớ nhiều đến vậy! Chúng đánh thức ký ức và những mộng tưởng đã mất, kéo ta về thời tuổi trẻ thần thánh không bao giờ quay lại.

Người ta cho rằng khứu giác cũng quan trọng như tất cả các giác quan nhìn, nghe, nếm và chạm. Nhưng đối với nhiều người, khứu giác quan trọng hơn cả, vì nó dựa vào tiềm thức để tồn tại, có thể dẫn chúng ta đến những điều từng không hiểu rõ, thậm chí được cho là không đáng quan tâm. Nó có thể mang lại niềm hạnh phúc, cũng có thể mang đến ký ức về một điều nguy hiểm đã từng xảy ra.

Trong tâm trí tôi, có một mùi clo trong nước hồ bơi công cộng tỏa ra vào những ngày hè ở hồ bơi Nhà văn hóa Lao động thập niên 1990. Nắng thời tuổi trẻ lung linh vàng lóa dưới mặt nước và những cô gái mặc áo tắm đi qua gợi cảm giác vui thú và nhàn tản của một mùa hè rong chơi. Cảm giác về mùi clo ấy tưởng chừng như không hề có trong tiềm thức, chợt đến đột ngột khi tôi quay lại chính hồ bơi ngày xưa lúc vừa thay nước.

Mùi nước hoa Pháp là mùi hương sâu đậm nhất về má tôi trong những ngày Tết, không phải từ mùi nhang trầm thắp đêm Giao thừa. Những sáng mùng Một, má diện áo dài màu ruốc nhạt hay nhung đen, xức chút nước hoa sau gáy, trên cườm tay… đi chùa cùng bà bạn hàng xóm, sau đó là đi chúc Tết. Tôi thường trông lúc má đứng trước gương chải lại mái tóc trước khi đi, để được ôm bà, cảm nhận mùi nước hoa với mùi vải áo dài.

Sau này, khi nhớ về người mẹ đã khuất, tôi nhớ thêm mùi hương khác, không dễ chịu cho lắm, là mùi dấm chua ngai ngái thấm vào cục bột nhão mà má nắm lấy để lăn trên lưng cho tôi khi đang trong cơn sốt. Trong cơn mệt mỏi của đứa trẻ bảy tuổi, tôi biết có giọt nước mắt má nhỏ xuống lưng mình.

Lần đầu tiên ra nước ngoài hơn hai mươi năm trước, tôi ở Nhật cả tháng trời và mùi hương tôi nhớ nhất là mùi… khoai tây chiên tỏa ra từ các trung tâm thương mại. Sau này, món khoai tây chiên ở đâu cũng có, nhưng khi trở lại Nhật, tôi nhận ra đó là một mùi rất riêng biệt. Đó là mùi thành phố của nước Nhật, có khi chỉ mình tôi nghĩ vậy. Chắc chắn mỗi thành phố, mỗi khu phố đều có một mùi riêng. Mùi của vài con phố ở Hà Nội là mùi dấm tỏi trong món phở và mùi chả cá. Mùi của Chợ Lớn là mùi thuốc Bắc khi quẹo khúc cua trên đường Hải Thượng Lãn Ông. Mùi của xóm tôi một thời là mùi bông nguyệt quế ban đêm. Mùi của ngôi nhà thời ấu thơ là mùi thuốc tẩu của ba và mùi sơn dầu của ông anh trước cái giá vẽ. Mùi của khu đường rầy xe lửa cổng số 8 cắt ngang đường Nguyễn Minh Chiếu là mùi bò nhúng dấm cộng với mùi bia tỏa ra từ quán Ánh Hồng của ông bà Tư Khá. Mùi của nhà hàng xóm sát bên là mùi chuối nếp nướng chuẩn bị cho buổi bán chiều.

Khi nhớ đến những mùi hương thoảng qua đời mình như vậy, tôi nhận lại nhiều ký ức lung linh. Những ký ức đó đẹp vì diễn ra trong thời thơ ấu, lúc không vướng bận những trách nhiệm và lo toan của tuổi trưởng thành. Có thể khi nhớ lại, chúng ta lý tưởng hóa chúng dù trải nghiệm thật sự không dễ chịu. Dầu biết vậy, tôi cảm thấy điều đó thật tốt cho một “người lớn” sau này, khi luôn trong trạng thái đối diện với cuộc sống trần trụi.

Tôi đọc được đâu đó là ở nước Mỹ, những người sinh trước năm 1930 có xu hướng nhớ lại những mùi liên quan đến thiên nhiên nhiều hơn những người sinh ra trong những thập kỷ sau đó. Điều này có thể phản ánh sự đô thị hóa ngày càng tăng sau những năm 1930 ở nước Mỹ. Ở Việt Nam, thế hệ nào còn nhớ nhiều nhất những mùi hương của thiên nhiên?

“Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình”, “Để tưởng nhớmùihương”, “Mùi của ký ức”,… những câu thơ, tên sách, tên truyện đậm cảm xúc về một mùi hương xa xưa. Những mùi hương một thuở ấy, có thể vô can vô cớ đến với ta lúc bất ngờ nhất, có thể khiến một người chai sạn mùi đời ngẩn ngơ và thả nỗi nhung nhớ đi rất xa. Tôi đọc một đoạn văn trong cuốn sách Sống và viết với, có bài phỏng vấn nhà văn Nguyễn Hiến Lê của tác giả Nguyễn Ngu Í.

Ông Nguyễn Hiến Lê giữa thập niên 1960 sống trên đường Huỳnh Tịnh Của. Một lần đi bộ đến cuối đường Pasteur gần đó, ông bắt gặp một mùi hương nhẹ khiến ông cảm thấy như “lạc vào một thế giới khác”. Đó là mùi hương của cây sao. Khi nhắc đến câu chuyện đó với nhà báo, ông kể chuyện làng Ngọc Hà ngoài Hà Nội khi ông còn nhỏ và cảnh phố Hàng Đường gần chợ Đồng Xuân những ngày rằm và mồng Một. Ngày đó người ta quý bông ngọc lan hay hoàng lan, chỉ ngắt từng đóa chứ ít khi bẻ trọn cành để chưng hay để bán. Một xu được năm sáu bông quế hay hồng, lan, sói, móng rồng,… Tất cả gói trong lá chuối, mang về chưng trong đĩa sứ. Khi vào sống ở Sài Gòn, ông trồng hoàng lan trong góc sân. Khi ngồi viết, hương hoa thoang thoảng khiến ông có cảm tưởng mùi hương đến thăm ông, an ủi hay nhắc nhở, cười cợt,… tùy lúc. Ông nói: “Sắc thì ta phải đi tìm nó để thưởng nó, hương thì nó tìm ta để làm dịu hồn ta. Nó âm thầm, kín đáo, tế nhị, chỉ cho thôi chứ không cần đáp. Nó bỗng tới rồi bỗng đi, nó phảng phất, nó phiêu diêu…”. Nguyễn Hiến Lê tự nhận mình là người không lãng mạn, nhưng khi nói lên điều này, ông thể hiện tâm hồn lãng mạn và yêu thiên nhiên sâu sắc.

Nhớ mấy chục năm trước, sau hai tháng đi công tác xa, tôi về tới nhà vào buổi tối và chìm ngay vào giấc ngủ. Sáng sớm, thoang thoảng hương cà phê lan tỏa từ cái phòng nhỏ bên cạnh bếp, nơi ba tôi ngồi pha cà phê uống mỗi sáng sớm. Lúc đó, cảm giác bình yên ập tới khiến tôi thấy yêu gia đình biết bao nhiêu. Mùi cà phê quen thuộc giúp tôi định vị được cái ổ an toàn và thân thuộc từ hồi tấm bé của mình. Sau này, khi lập gia đình, loại mùi hương quan trọng với tôi đó là mùi thịt nướng dưới bếp, mùi xoài chín từ Cam Ranh gửi vào, mùi nắng trên sân thượng ấm nồng trên chồng quần áo vừa khô… và mùi hương tóc, hương da thân thuộc của những người thân yêu trong gia đình nhỏ.

- Còn tiếp -

Đọc bài viết

Cafe sáng