Trà chiều

7 cú lừa đảo ngoạn mục trong lịch sử

Published

on

P.T. Barnum, Anna Delvey, Elizabeth Holmes,…. câu chuyện về các tay lừa đảo xảo quyệt luôn có sức hấp dẫn lạ lùng với công chúng. Các mánh lới vĩ đại nhất không đơn giản là trò hên xui may rủi xuất phát từ lòng tham vô đáy của một cá nhân bất tài; chúng là kết quả của trí óc tài hoa nhưng lầm lỗi, khả năng phát hiện lỗ hổng pháp luật và đào khoét vào điểm mù tâm lý của nạn nhân để trục lợi và thỏa mãn cái tôi thổi phồng.

Ngày Cá tháng Tư là dịp lý tưởng để tìm hiểu về 7 phi vụ lừa đảo đáng nhớ trong lịch sử. Từ y học, xây dựng, điêu khắc đến xuất bản,… lĩnh vực nào cũng là mảnh đất béo bở để những “ảo thuật gia tâm lý” này ra tay kiếm chác. Và ngoạn mục nhất là, không phải ai cũng phải vào khám ngồi chơi xơi nước – những kẻ khôn ngoan nhất ôm lợi về tay nhưng vẫn bình an vô sự.

*

1. Ả y tá giả mạo trục lợi từ dịch bệnh

Ngay cả theo tiêu chuẩn đạo đức thấp lè tè của lừa đảo, Julia Lyons vẫn nổi bật là kẻ tàn nhẫn hạng nhất. Trong đại dịch cúm năm 1918, Lyons (dưới tên giả) “tình nguyện” đến Chicago làm y tá để chăm sóc các bệnh nhân mắc bệnh nan y tại nhà. Mặc dù được đào tạo bài bản trong lĩnh vực đánh cắp séc và đổi thành tiền mặt, ả hoàn toàn khiếm khuyết kiến thức y khoa. Ả tin chắc rằng, vì đất nước đang rơi vào cảnh hiểm nghèo và cần sự trợ giúp cấp thiết của nhân viên y tế, chẳng ai có thời gian tra xét kĩ càng. Linh tính của ả chính xác.

Nhân viên tình nguyện làm việc trong đại dịch cúm năm 1918 | Ảnh: Library of Congress/Reuters

Lyons chẳng mấy quan tâm đến việc điều trị bệnh nhân; ả tập trung hết thời gian và công sức để bòn rút tài khoản của họ. Bên cạnh việc đánh cắp tiền mặt và các vật giá trị, cô nàng còn mua đơn thuốc rẻ tiền và đội giá lên, điển hình là một bệnh nhân phải chi 100 đô-la chỉ để có được bình ô-xy trị giá vỏn vẹn 5 đô-la. Cuối cùng thì ả cũng bị tống vào tù, dù đã khăng khăng biện hộ rằng hoàn cảnh đưa đẩy mình vào con đường phạm tội.

2. Gã đàn ông “sale” cả tháp Eiffel

Đến bây giờ, chúng ta vẫn không biết nhiều về cuộc đời của Victor Lustig, kể cả tên thật của hắn ta. Lustig là tay làm hàng giả khét tiếng, nhưng cú lừa đỉnh cao của hắn diễn ra vào năm 1925, khi hắn làm giả giấy tờ chứng mình rằng mình là “Phó Tổng giám của Ministère de Postes et Télégraphes (Bộ Bưu chính và Điện báo Pháp)”. Tiền đề cực đơn giản: Lustig hẹn gặp nhiều đơn vị buôn sắt vụn và bảo họ rằng Tháp Eiffel – bấy giờ đang tình trạng xuống cấp trầm trọng – sẽ bị dỡ bỏ và vật liệu sắt sẽ được bán cho bên trả giá cao nhất.

Ai cũng cho đây là món hời, nhưng Lustig đặc biệt chú ý đến André Poisson, thỏ thẻ đề nghị Poisson “hối lộ” mình để nhận được vụ giao dịch này. Sau khi cầm được tiền trên tay, Lustig bỏ trốn khỏi Pháp nhưng chẳng mấy chốc mà quay về cố hương để lặp lại trò lừa đảo trên. (Hắn ta đoán chính xác rằng, Poisson vì quá xấu hổ nên chẳng dám kể cho ai về vụ này.)

Ai mua tháp Eiffel không? | Ảnh: Huy Phan

3. Stanley Kubrick, hàng nhái

Nếu bạn định mạo danh một đạo diễn phim lừng lẫy, Stanley Kubrick là lựa chọn tuyệt vời. Thời điểm còn sống, tuy được đánh giá cao qua các tác phẩm The ShiningFull Metal Jacket, Kubrick vẫn sống ẩn dật – gương mặt của ông không được công chúng biết đến và ghi nhớ nhiều như Steven Spielberg hay Martin Scorsese. Điều đó mở ra cơ hội để Alan Conway (tên khai sinh là Eddie Alan Jablowsky) liên tục xạo sự.

Trong giai đoạn đầu những năm 1990, Conway lang thang khắp nước Anh, mạo nhận là Kubrick và khai thác được một đại dương khán thính giả, nhà phê bình sân khấu, diễn viên và nhân viên trong ngành giải trí sẵn lòng nghe hắn diễn thuyết. Chiến lợi phẩm của gã ta chẳng nhiều nhặn gì – vài bữa tối miễn phí và quyền lui tới hậu trường (mặc dù vợ của Kubrick tố cáo Conway đã “dùng mồi nhử vai diễn để gạ gẫm các cậu trai”), Conway xoay sở mánh lời này trong nhiều năm dài. Điều lạ lùng nhất là thời điểm mất của cả Conway và đạo diễn Kubrick thật chỉ cách nhau vài tháng.

Stanley Kubrick hàng thật giá thật | Ảnh: Britannica

4. Nhật ký của Hitler

Đây là phi vụ báo chí thế kỷ: năm 1983, tờ The Sunday Times London xuất bản nhiều trang nhật ký được cho là do chính tay kẻ khét tiếng nhất thế kỷ XX – Adolf Hitler – viết. Biên tập viên của tờ báo, Frank Giles, đã cẩn trọng hợp tác với nhiều sử gia uy tín để xác thực và đi đến kết luận chúng là hàng thật. Phũ phàng thay, đống nhật ký trên là tác phẩm của một thợ rèn người Đức tên Konrad Kujau, người đã kiếm chác được từ phí xuất bản tại Đức và các quốc gia khác. (Kujau đã bán 60 tập nhật ký giả cho nhà xuất bản Stern với giá 4,8 triệu đô-la.) Vào phút chót, tờ Sunday Times đã nhận được thông tin này, nhưng chủ biên tờ báo – Rupert Murdoch – ra lệnh tiếp tục in. Kujau sau đó bị kết tội lừa đảo và ngồi tù ba năm.

Sau khi được thả, hắn vẫn gặp rắc rối khi sở hữu vũ khí không có giấy phép. Một thẩm phán người Đức bảo Kujau “rành rành là một gã u mê những thứ trái pháp luật.”

Konrad Kujau và “kiệt tác” của mình | Ảnh: Alchetron

5. Nàng công chúa kỳ bí

Năm 1817, cư dân ngôi làng nhỏ ở Almondsbury (Anh Quốc) bắt đầu đồn thổi về một vị khách lạ trong thị trấn. Tên nàng là Caraboo. Bằng một thứ ngôn ngữ ngoại lai, nàng thuật lại với thông dịch viên rằng mình là công chúa xuất thân từ hòn đảo Javasu ở Ấn Độ Dương, và nàng đang trốn chạy khỏi bọn cướp biển. Thị trấn nhỏ bé lấy làm vinh dự khi được diện kiến một thành viên hoàng tộc, và ngay sau đó quan chức địa phương bắt đầu tổ chức những bữa tiệc đắt đỏ và xa hoa để khoản đãi nàng.

Nhưng Javasu chỉ tồn tại trong hư cấu, và Công chúa Caraboo cũng không có chút dính líu gì với hai chữ “hoàng gia”. Cô ta tên thật là Mary Baker, con gái của một thợ săn. Sau khi một chủ nhà trọ nhận ra Baker từ mô tả trên báo, sự nghi ngờ ngày càng tăng. Lời đồn đến tai bà Worrall, vợ của thẩm phán Samuel Worrall. Lấy cớ mời Caraboo đến làm người mẫu tranh chân dung, bà dụ ả đến Bristol để người chủ trọ kia nhận diện. Baker nhận tội, rằng đây là giải phải thoát nghèo bằng cách “fake it till you make it” (theo đúng nghĩa đen).

Chân dung “công chúa Caraboo” | Ảnh: Wikipedia Commons

6. Phi vụ lừa đảo đồ gốm thời tiền-Colombia

Năm 1974, Brígido Lara nằm trong băng nhóm bị bắt và buộc tội cướp phá tạo tác đồ gốm thời tiền Colombia. Nhưng Lara kiên quyết phủ nhận tội danh vì – gã khăng khăng – đây toàn hàng giả! Lara thừa nhận mình đã dùng đất sét để tạo ra các mẫu hàng nhái, mô phỏng tác phẩm từ nền văn minh Mesoamerican và bán chúng. Mặc dù gã khẳng định mình “chưa bao giờ quảng cáo đây là hàng thật”, gã thừa biết rất nhiều đối tác của mình sau đó sẽ bán lại cho người khác như thể đây thực sự là tác phẩm của thời cổ.

Đối mặt với bản án 10 năm tù giam vì tội cướp phá di sản văn hóa, Lara thuyết phục cai ngục cung cấp đất sét và dụng cụ để chứng minh mình “vô tội”. Sau khi được thả, anh được bảo tàng Museo de Antropología de Xalapa thuê về làm việc. Dù Lara đã trở về chính đạo, đồ giả của anh vẫn thi thoảng xuất hiện tại nhiều bảo tàng và buổi đấu giá trên thế giới, dẫn đến việc Lara phải xuất đầu lộ diện để làm sáng tỏ.

Brígido Lara | Ảnh: Jesse Lerner

7. Tòa nhà chọc trời… lùn nhất thế giới

Chắc chẳng mấy ai coi một tòa nhà cao 12 mét là “chọc trời”. Người dân địa phương vẫn truyền tai nhau rằng, vào năm 1919, một tòa nhà ở Wichita Falls (Texas, Mỹ) xuất hiện sau khi chủ đầu tư tên J.D. McMahon thuyết phục cư dân rằng hắn sẽ xây dựng một cơ ngơi khổng lồ vươn thẳng lên chín tầng mây cao. Sau khi nhét túi 200.000 đô-la, hắn ta dựng lên một tòa nhà chỉ cao 4 tầng (40 feet) — thì ra số đo trong giấy tờ được tính theo đơn vị inch chứ không phải feet, một chi tiết quan trọng không ai nhận ra.

McMahon bình an vô sự, còn dân địa phương thì muốn độn thổ sau khi biệt danh “tòa nhà chọc trời lùn nhất thế giới” ra đời.

“Tòa nhà chọc trời” Newby–McMahon | Ảnh: The Bluebeam Blog

Hết.

Mèo Heo lược dịch.

Bài viết gốc 21 of the Wildest Cons in History đăng tại Mental Floss.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Từ Sách đến Phim

The Lobster – Cô đơn hay không cô đơn?

Published

on

By

The Lobster thuộc dòng phim dystopian pha trộn với black comedy. Trình bày một thế giới giả tưởng với nhiều qui luật riêng, The Lobster thoạt tiên khiến người xem dễ có chút choáng ngợp và bỡ ngỡ ở những bước đầu làm quen với nó. Trong thế giới chủ lưu của The Lobster, không ai được phép cô đơn, không ai có quyền cô đơn, việc tìm người phối ngẫu trở thành nhiệm vụ xã hội mà nếu như ai đó cố tình vi phạm hay phớt lờ sẽ bị trừng phạt. Những người cô đơn sẽ được đưa đến khách sạn. Tại đây, trong vòng 45 ngày, họ phải tìm cho mình một người bạn đời, nếu không, họ sẽ bị biến thành loài vật mà họ đã chọn. Những sự kiện đầu tiên tuần tự diễn ra với rất ít điểm nhấn cảm xúc dành cho nhân vật tựa như lối kể chuyện chỉ có những đoạn tường thuật khách quan mà không có những đoạn miêu tả nội tâm chi tiết. Lối kể chuyện ấy phần nào gợi nhớ đến cách kể chuyện cổ tích với những nhân vật được miêu tả chung chung, có thể có tên hoặc không có tên, tập trung vào tình tiết hơn là nhân vật. Phân nửa đầu tiên của The Lobster – tức là khi David còn ở trong khách sạn đã chọn lối kể chuyện gần giống như vậy với rất nhiều nhân vật không được đặt tên nhằm tạo ra sự biểu trưng hay cảm giác về sự đại diện tập thể, sự không chú trọng vào cá thể đạt mức cao nhất. Điều này cũng thích hợp với không khí ngột ngạt trong môi trường toàn trị, độc tài ở khách sạn.

The Lobster có thể được chia thành ba hồi với: hồi một là màn làm quen thế giới khách sạn cho đến khi David bỏ đi, hồi hai là màn làm quen thế giới trong rừng cho đến khi David lại muốn bỏ đi lần nữa nhưng lần này là với người con gái anh yêu, hồi ba tập trung vào giải quyết vấn đề ở cuối hồi hai. Tuy nhiên, tôi vẫn thích liệt The Lobster vào phim cấu trúc hai hồi chung với một phim kinh điển của loại cấu trúc này mà tôi đã từng xem là Muholland Drive. Nếu như Muholland Drive là sự phản chiếu hai mặt của thế giới tưởng tượng và thế giới thực, xoay quanh giữa cái đã-có-thể-là và cái đã-thực-sự-là thì The Lobster là sự phản chiếu giữa hai thế giới đều thực như nhau và đều phi lí như nhau, xoay quanh giữa cái phải-là và cái không-thể-là. Thế giới ở khách sạn và thế giới ở rừng dường như đối nghịch nhau một cách triệt để: một nơi hầu như bị bó buộc trong không gian nội thất với những căn phòng, những dãy hành lang và một nơi với không gian mở rộng là những cánh rừng, con sông; một nơi cấm người ta độc thân và một nơi cấm người ta yêu. David đã đến với thế giới ở rừng như một sự cứu rỗi nhưng rồi anh cũng sớm nhận ra nơi ấy chẳng khác gì ở khách sạn, nó chỉ là dạng thức khác của khách sạn. Cả hai nơi đều tồn tại dựa trên một điều cấm lớn nhất mà thoạt tiên, người ta tưởng mình sẽ nhận được quyền lợi từ điều được phép của cái ngược lại với điều cấm. Trong những buổi họp mặt, theo chỉ thị của người quản lí, các nhân viên khách sạn nhấn mạnh đến ích lợi của một mối quan hệ, của hôn nhân, của việc luôn có một người bên cạnh, họ đưa ra những tình huống cho thấy rằng ở một mình rất bất lợi. Tuy nhiên, khi tình trạng độc thân trở thành điều gần như tội lỗi thì điều ngược lại với nó – tình trạng hôn nhân cũng không thể khiến người ta thực sự vui vẻ, bình yên như nó vốn là nữa. Ngược lại, thế giới ở rừng cũng đi theo hướng tương tự như thế. Có thể nói, thế giới trong The Lobster được vận hành theo thuyết nhị nguyên mà ở đó, con người bị buộc phải chọn một người bạn hay một nhóm, một tập thể để đứng ở phía cực họ tin là đúng và cùng nhau chống lại phía cực họ tin là sai. Đó là thế giới không cổ vũ cho sự đơn lẻ cá nhân dù tập thể có phi lí đến đâu chăng nữa. Wai Chee Dimock viết trên tờ Los Angeles Review of Books đã có ý so sánh The Lobster với những tác phẩm của Samuel Beckett. Tuy nhiên, khi xem The Lobster, tôi lại nhớ đến không khí phi lí kiểu Kafka. Cụ thể là, phim khiến tôi nhớ đến The Castle.

Như bất kì tác phẩm điện ảnh nào có khuynh hướng văn học, The Lobster sử dụng voice over ở mật độ dày đặc để kể chuyện. Phim không tiết lộ thân phận người kể chuyện ngay từ đầu khiến hồi một của phim (theo cách chia hai hồi của tôi) chìm trong tính trần thuật và không khí hư cấu rõ rệt. Ta có cảm giác những sự kiện trên phim nằm ở thì quá khứ rất xa và David là nhân vật từ sản phẩm tưởng tượng của một cô gái nào đó. Chính cảm giác này đã phần nào khiến tôi bồi hồi khi biết được cô gái kể chuyện từ đầu phim chính là người yêu David, đồng thời cũng là người David yêu. Vậy là, trong thế giới ấy, David có thực, cô gái có thực, họ không cô đơn, họ đã tìm thấy nhau – điều này như một phát kiến mới mẻ, lớn lao khiến tôi cảm thấy ấm áp. Như thế, cũng có thể chia phim thành hai hồi với hồi một là quá khứ gần, hồi hai là hiện tại. Bắt đầu từ hồi hai, chúng ta không còn nhân vật kể chuyện theo kiểu nhà tiên tri nữa. Từ lúc ấy, cả nhân vật lẫn ta đều không biết điều gì sắp xảy ra. Ta nhập cuộc trở lại với sự hồi hộp và lo lắng hơn cho họ.  

The Lobster sử dụng tông màu teal and orange nhưng không theo lối giống những phim bom tấn. Tông màu teal của phim nghiêng về green hơn là cyan và được dùng kèm ánh sáng đánh theo kiểu high-key khiến tông màu xanh bàng bạc như có lẫn chút màu vàng chanh. Dù cảnh nội hay cảnh ngoại, ngày hay đêm, phim đều cố gắng duy trì tông màu xanh ấy khiến cho cảm giác về một thế giới phi lí trở nên rõ rệt hơn. Hơn nữa, chính vì màu background không được thay đổi nhiều, người xem có thể dễ dàng thâm nhập vào sự buồn chán, đơn điệu, khắc nghiệt của thế giới ấy. Green vốn luôn là màu gợi cảm giác quái dị, u buồn như làn da xanh xao của một cô gái ốm nặng vì bệnh và trong The Lobster, màu xanh ấy đã phát huy triệt để tác dụng của nó. Bản thân bộ phim cũng như một con người yếu ớt đang bị bệnh, không thể tìm được phương thuốc cứu chữa cho mình. David có lẽ đã nghĩ rằng chỉ cần thoát khỏi khách sạn là ổn. Nhưng trên thực tế, anh chỉ thoát từ màu xanh nhạt sang màu xanh đậm đặc hơn của khu rừng. Khi một lần nữa, anh cùng người con gái anh yêu tìm cách thoát khỏi khu rừng, hai người băng qua cánh đồng cỏ lau vàng, đi trên một xa lộ vắng người với con đường mở rộng trước mắt, màu xanh buồn bã ấy vẫn đuổi theo họ. Rồi họ vào một quán cà phê, trong không gian bị nhốt kín, khi họ ngồi ở chiếc bàn bên khung cửa sổ lớn đến mức có thể thấy được gần như toàn bộ cảnh vật bên ngoài, một lần nữa, màu xanh buồn bã như lời nhắc nhở về thế giới phi lí vẫn vây lấy họ. Cả hai đã không thể vượt qua sức mạnh quyền năng của nó. Tất cả chỉ là sự lặp lại.  

The Lobster kết thúc bằng sự chờ đợi. Cái chờ ban đầu dường như có vẻ điềm nhiên của cô gái bị cắt ngay lúc ta có cảm tưởng cô đang bắt đầu bồn chồn, lo lắng rằng liệu người cô chờ đợi có quay trở lại với cô hay không. Câu trả lời sẽ là có hoặc không tùy mỗi người. Với tôi, tôi nghĩ rằng anh sẽ không quay trở lại, anh sẽ chạy trốn và cả hai lại tiếp tục đơn độc. Tuy nhiên, cho dẫu anh quay trở lại, liệu rằng khi đôi mắt cả hai không còn đón nhận ánh sáng nữa, họ có thể ở bên nhau lâu dài trong thế giới khắc nghiệt, tàn nhẫn như thế hay không? Vậy nên, dù câu trả lời là thế nào, tương lai phía trước của họ vẫn khó thoát khỏi thứ nỗi buồn kéo dài dằng dặc năm này qua tháng nọ. Những viễn cảnh gợi lên từ kết thúc ấy khiến tôi xót xa. Cùng với Léon: The professional, The Lobster trở thành một trong số những phim hiếm hoi mà tôi đặc biệt thích kết thúc phim. Một bộ phim hay không phải lúc nào cũng sẽ có một cảnh kết thúc gợi mở nhiều cảm xúc và suy nghĩ như thế. Với tôi, The Lobster là viên ngọc quí của điện ảnh đương đại những năm gần đây. Sau The Lobster, tôi sẽ cố gắng tìm thời gian để xem những phim còn lại của đạo diễn Yorgos Lanthimos.

Điểm đánh giá: 9/10

Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Ngọn lửa của tôi

Published

on

By

Ngọn lửa. Ngọn lửa. Ngọn lửa.

Đột nhiên tôi chẳng nghĩ được điều gì ngoài hình ảnh đó. Hay là trong đầu tôi có nhiều suy nghĩ về những sự vụ khác nhau nhưng xét theo tần suất xuất hiện thì hình ảnh đó lặp đi lặp lại nhiều lần. Thế là tôi vớ đại nó theo cơ chế ngẫu nhiên. Ờ, ngẫu nhiên mà thôi. Đáng lẽ tôi phải suy nghĩ một hình ảnh nào đó nghiêm túc hơn chẳng hạn, có tính toán và ý đồ hơn chẳng hạn. Dù gì hôm nay cũng là sinh nhật tôi, dù gì tôi cũng muốn viết một cái gì đó cho hôm nay, dù gì tôi cũng muốn nó phải là thứ gì đó có ý nghĩa, dù gì nó cũng là một cái cột mốc 20 năm, dù gì… Khi suy nghĩ về tất cả những cái dù gì đó, sự bội thực vì cái dù gì đó… tôi lại nhận thấy dường như chẳng có gì là quan trọng cả. Thật kì lạ. Cách vài phút, à không, cách đây vài giờ, vài ngày, vài tháng trước, vài năm trước, vài những giờ khắc mà tôi không còn nhớ nó hoạt động ra sao, tôi đã từng nghĩ rằng có nhiều thứ quan trọng và mình đã xác quyết được thứ quan trọng đó. Nhưng rồi đột nhiên tất cả giống như một khoảnh khắc những đám mây che hờ hờ xung quanh bầu trời vụt tan biến mất, và một luồng ánh sáng xung quanh chói lóa, mọi thứ xóa nhòa trong ánh nắng đó, mọi vật chìm lấp trong khoảng sáng đó, không cái gì được nhìn rõ nữa. Khoảnh khắc đó nhanh thôi. Nhưng có thật. Và thế là tôi quên mất thứ quan trọng với mình là gì. Giống như nó đã chìm đi cùng cơn sáng đó. Hay là giống như nó vốn thể là thứ ngay từ đầu đã chẳng tồn tại.

Đâu phải chỉ trong bóng đêm mọi thứ mới biến mất. Ánh sáng cũng là một thứ hủy diệt những tồn lưu của các sự vật/sự vụ chung quanh nó một cách ghê gớm. Mà thật ra, sự tiêu hủy của ánh sáng còn kinh khủng hơn là bóng đêm. Đơn giản vì khi một thứ nào đó biến mất trong bóng tối, người ta còn có thể dùng ánh sáng để tìm lại nó được. Nhưng một thứ biến mất trong ánh sáng thì không thể lấy một thứ sáng hơn mà thắp lên tìm nó. Theo cơ chế suy luận nghịch thì đơn giản là người ta có thể lấy một thứ tối hơn mà đốt lên. Đốt, đốt, đốt. Đốt cái thứ tối ấy lên để tìm vật đã mất. Nhưng không ai đốt lên cả. Không phải vì chất tối để đốt cháy không tồn tại. Đơn thuần là vì nếu có một người nào đó đốt chất tối lên để tìm kiếm, họ sẽ lập tức bị đám đông dị nghị. Nó là một cách khác của sự thừa nhận rằng: “Tôi có mang bóng tối trong mình”. Mà ở thế giới này, dường như chẳng có ai dám thừa nhận điều đó. Thế nên mọi người để những thứ mình đã mất chìm trong ánh sáng, ánh sáng của những điều đẹp đẽ nhưng làm người ta mê mị, mu muội, ánh sáng của những tầng không vốn chứa trong nó sự giả dối. Vậy cái gì là thật đây?

Ờ. Đại loại thì tôi nhẫn tâm, độc ác. Chẳng ai ném thẳng những lời đó cho tôi như nàng. Nàng cho tôi cái chất có thế đốt lên bóng tối ấy. Chỉ có nàng là nhận ra sự ác độc của tôi. Hoặc giả mọi người cũng nhận ra nhưng họ không nói. Và như thế, tôi yêu nàng. Nàng đã nhận ra bản chất của tôi.

Sao nhỉ? Sao nhỉ? Sao nhỉ?

Đại loại khi viết những câu hỏi đó, trong lòng tôi thực sự chẳng nghi vấn điều gì cả. Nó chỉ là những tiếng đệm vô nghĩa. Nó giống như một trạm dừng chân cho sự hụt hơi của tôi trong việc đuổi bắt suy nghĩ của mình. Khi viết nghiêm túc, tôi viết rất chậm. Tôi đánh mất thói quen viết nhanh đã từ lâu. Tôi làm mọi thứ trong sự chậm rãi của mình. Đôi lúc, sự chậm rãi đó khiến chính bản thân tôi phát bực. Tôi vừa muốn ở trong sự chậm đó. Nó có thú vị của riêng nó. Đồng thời tôi vừa muốn thoát khỏi nó. Vậy nên khi xác định không phải viết một cái gì đó nghiêm túc, một cái gì đó chỉ viết để thỏa hiệp với khao khát muốn viết đơn thuần giữa đôi tay và tâm thức thì tôi sẽ viết nhanh. Viết để đạt được sự đồng thuận cho bản thân thì không nên viết chậm tự hành hạ mình nữa làm gì. À, cái trạm dừng chân của tôi. Chắc là tôi đã nghỉ ngơi ở đó xong rồi. Nãy giờ là bao nhiêu phút nhỉ?

Phút à. Cái đồng hồ của tôi đã biến mất trên tay tôi ngày hôm nay. Nó nằm trong phòng thi của kì tuyển sinh cao đẳng. Có lẽ nó lướt qua một vài thí sinh, rồi lướt qua một vài hạt bụi. Bụi màu trắng, vàng, đỏ gì đó… trên nền bảng trắng, đen, xanh gì đó… để ghi. Ghi chính cái trạng thái đang hiển hiện của nó. À, đơn giản là em gái tôi mượn tôi đồng hồ để đi coi thi thôi mà. Nhưng cảm giác hôm nay lạ nhỉ. Tôi không đeo đồng hồ một ngày và nhận thấy sự lệ thuộc của mình vào nó. Tôi cứ liếc vào khoảng da sáng trên cổ tay của mình – nơi mà đáng lẽ thường khi vẫn có chiếc đồng hồ ở đó. Màu nâu, lớp kính mặt trước đã bị nứt vỡ, vòng tròn để giữ dây thì bị đứt và mất đi, bản thân sợi dây cũng nhàu nhĩ, những lỗ trên dây thì tưa ra, thành một khoảng trống lớn hơn sự tồn tại vốn có của nó ban đầu. May quá. Chiếc kim vẫn chạy. Thế giới vẫn xoay tròn trong đó. Và hôm nay nó tạm nghỉ việc trên tay tôi. Tay tôi cảm thấy trống. Cứ như thể là cái đồng hồ ấy đã truyền cả chức năng của nó cho cái tay. Cái tay bé mọn lại. Cái tay có thể làm nhiều chức năng hơn viết, cầm nắm một thứ gì đó, một điều gì đó, một cơn điên loạn nào đó, và làm vụt mất một điều gì đó. Nhưng mất một điểm tựa, mất thời gian, nó như chỉ còn mỗi chức năng là có ở đó để được cái đồng hồ quấn quanh. Cái tay tôi hôm nay sao ấy nhỉ. Sao tự nhiên nó lại có cái suy nghĩ thật ra nó chỉ là một thứ để đặt bên cạnh đồng hồ. Cái tay có trước mà. Nhưng đồng hồ là thời gian. Và thời gian thì có trước cái tay. Hay là cái tay có trước thời gian. Thời gian vô nghĩa. Và dường như khi đánh mất ý nghĩa của nó, mọi thứ cũng vô nghĩa. Nghĩa là… nghĩa là… con người ta cần một điểm tựa. Nhưng thời gian thì không cần họ. Nó giống như một đồng minh lúc thì đồng thuận, lúc thì phản nghịch. Không phải lúc nào thời gian cũng đứng về phía con người. Việc đặt ra những cột mốc giúp người ta làm việc, nhưng thật ra đôi lúc việc hạn định những cột mốc đó làm người ta lại khó kiểm soát bản thân hơn, phải làm những thứ mà não trạng đã hoạch địch trong đầu. Đại loại thì vào thời điểm đó phải làm những việc đó, vào khoảng thời gian nào đó trong ngày, tôi phải làm việc này, việc kia. Tôi không thể làm việc đó cho đến khi… Đại khái thì không thể muốn là hành động. Mà thật ra việc có thể muốn rồi làm bất cứ lúc nào cũng không phải là thứ quan trọng. Đại loại người ta sống trong nó và cố gắng hòa nhập với nó hay vờ như hòa nhập với nó chứ không phải bản chất vốn là hòa nhập và hòa nhập với thời gian. Đại loại, đại loại vậy.

Năm ngoái. À không. Lâu lắm rồi. Năm kia. Không. Chưa tới. Kia nữa. Là cách đây mấy sự kia kia của năm. Đại loại, cột mốc thì không còn quan trọng nữa. A! Tôi mới phát hiện ra hôm nay mình thích chữ đại loại. Nó biểu hiện một sự vừa thỏa hiệp mà vừa không thỏa hiệp thì phải. Đã đồng thuận rồi đó nhưng còn phải xét thêm. Là chữ mang tính chất trung tính và hơi vô trách nhiệm. A ha, nó còn là chữ chứa trong mình sự mâu thuẫn nữa chứ. Nói chung là thích đó.

Quay lại với cái kia kia. Sao nhỉ? (Ồ, giờ thì tôi thấy là hôm nay mình cũng thích chữ sao nhỉ rồi). Ờ thì vào thời điểm của cái kia kia. Sự tàn nhẫn của tôi bộc lộ rõ. Tại sao tôi lại ghi nhớ nó và cứ lặp đi lặp lại mãi. Khoảng thời gian đó tôi cứ muốn đọc sách. Tôi cứ muốn có một luồng suy nghĩ chạy qua đầu mình để mình đỡ phải mất công suy nghĩ, hoài nghi, tự vấn… vân vân và vân vân  các công đoạn tư duy của nó. Và khoảng thời gian đó thì ông ngoại tôi bị bệnh. Điều tàn nhẫn nhất là hôm đó, khi nghe kết quả về bệnh của ông, mọi người trong nhà lo lắng. Chị tôi đã khóc khi biết bệnh của ông không còn phương cách nào cứu chữa. Hôm đó, tôi vẫn đang ngồi nhà đọc sách. Khoảng thời gian đó không hiểu sao tôi lại thích ngồi trong cửa phòng bấm chốt, tách ly với mọi thứ ngoài kia và đọc, không muốn bị ai làm phiền, kể cả là người nhà, kể cả là bất cứ thứ tin tức nào. Chị tôi gõ cửa. Phải gõ cửa nhiều lần tôi mới ra mở. Đơn thuần là tôi đang đọc dở một trang. Tôi còn một hai đoạn. Tôi còn một hai dòng. Tôi còn một vài chữ. Tôi phải đọc cho hết trọn một trang hay trọn một ý. Rồi tôi đánh dấu trang lại bằng một kẹp sách. Gấp cuốn sách lại và ra phòng mở cửa cho chị. Tôi làm tất cả các công đoạn đó một cách qui củ từng bước từng bước một với cái sự không có một điều gì có thể hối thúc tôi trong đầu. Chị tôi khóc rồi trách tôi vì sao không khóc, rồi trách tôi không khóc cũng được nhưng sao không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào, rồi trách tôi không khóc, không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào cũng được nhưng sao có thể để lộ cái vẻ mặt bình thản như thế, rồi trách tôi không khóc, không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào, đề lộ cái vẻ mặt bình thản như thế cũng được nhưng sao có thể giờ phút này mà vẫn còn tâm trí mà đọc sách, rồi trách tôi không khóc, không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào, để lộ cái vẻ mặt bình thản như thế, giờ phút này mà vẫn còn tâm trí đọc sách cũng được nhưng sao có thể vẫn chú tâm để làm một việc gì đó ngoài sự lo lắng chung của mọi người…Tại sao và tại sao? Tại sao hồi đó lại như thế? Tại sao tôi cứ muốn phải lặp lại những điều này, những chi tiết này? Chính tôi cũng không biết. “Cái gì được lặp lại nhiều lần nghĩa là cái đó là thứ thật sự quan trọng với mình,” nàng nói với tôi như thế.

Hôm nay cũng là một ngày tương tự như vậy nhưng mức độ nhẹ hơn. Tôi không ngờ và cũng không muốn cái cảm giác cách đây ba năm đó lặp lại, vào chính ngày này. Không có điều gì là giống nhau, mọi việc sẽ khác đi. Sẽ khác đi. Nếu nó trở thành một điều gì đó kinh khủng hơn, tôi chỉ mong một cơ chế nào đó bòn rút sức khỏe và nguồn sống của mình chia bớt cho mẹ. Tôi không muốn mình nhẫn tâm một cách vô trách nhiệm như thế nữa. Sự nhẫn tâm cũng là thứ cần phải có trách nhiệm.

Tôi không khóc.

Khi ông ngoại mất. Khi nhiều điều cứ lần lượt trôi tuột khỏi tay tôi, mọi thứ tình cảm, con người, những thứ mà tôi đặt cho nó cái tên quan trọng…

Vậy mà tôi lại khóc vì nàng, khóc khi nghe nàng nói có thể vứt bỏ tôi một cách dễ dàng, tôi chẳng là gì quan trọng với nàng cả. Tại sao vậy nhỉ? Tôi sợ mất nàng đến như thế ư? Tôi quen với cảm giác mất mát rồi mà. Có những lúc càng mất mát tôi càng thấy hưng phấn. Giống như cách người ta mang balô, đi đường trường rồi trên đường đi mệt mỏi quá mà cứ dần bỏ bớt những thứ mình mang theo để đi nhẹ nhàng hơn. Đó cũng là thứ mất mát làm người ta buồn, không, rất đau. Đôi lúc người ta cố làm cho mình trống đi mà, đôi lúc sự trống đi là cần thiết mà.

Sao nhỉ…
Tôi mâu thuẫn quá.
Nhưng, tôi yêu nàng. Tôi muốn thét lớn lên điều đó. Đó có phải là điều quan trọng không?

Tôi yêu cái cách nàng ngủ. Thi thoảng trán nàng lại nhăn như đang suy nghĩ, trông khuôn mặt của nàng lúc đó rất khó chịu. Có khi lại gợi cho tôi cảm giác hoang mang từ đôi mắt đang nhắm ấy. Tôi yêu cái cách những ngón tay nàng còn đập vào nhau trong lúc ngủ. Tôi yêu hơi thở nhè nhẹ đó. Yêu nó ấm nóng, phả vào ngực tôi đều đặn. Để tôi biết sự tồn tại của nàng. Nàng đang ở ngay đây, bên cạnh tôi. Và tôi sợ nàng biến mất.

Một đôi lúc tôi thoáng nghĩ, dường như tất cả những việc tôi làm ở tuổi 20, hay là cả ở những tuổi trước đó, tất cả đều nằm trong chuỗi nguyên nhân để dẫn đến việc tôi có thể gặp nàng, tôi được nàng yêu. Tôi yêu nàng. Và tôi biết nàng cũng yêu tôi. Điều đó khiến tôi hạnh phúc. Hạnh phúc kinh khủng. Nó là một cái gì đó thật tuyệt vời. Nàng như một ngọn lửa với tôi. Đôi lúc, tôi ôm nàng, tôi ở bên nàng mà cái tiếng nói trong đầu tôi: hãy đốt cháy tôi đi, đốt cháy tôi đi, làm cho tôi nổi loạn, tôi cười, tôi vui, tôi khóc, tôi buồn, tôi đi đứng, tôi chạy nhảy, tôi viết, tôi làm điều này điều kia, tôi chứng kiến sự vụ này sự vụ nọ với một cái gì đó nóng khủng khiếp, cái nóng của sự tiêu hủy và muốn phá hoại đi tất cả. Hãy cứ làm tôi đau. Chẳng sao cả. Vì tôi yêu em.

Ngọn lửa.
Nó là thứ tiêu hủy.
Nhưng đồng thời cũng là thứ mang lại ánh sáng.

Fretto Frek

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

Vĩnh Biệt Mùa Hè… chỉ mới cách đây một năm

Vĩnh biệt mùa hè khiến tôi bất ngờ vì kết thúc. Cấu trúc vòng tròn tưởng chừng đã nhàm chán nhưng dùng trong phim đắt giá quá.

Published

on

By

Vẫn như Em còn nhớ hay em đã quên?, Vĩnh biệt mùa hè khiến tôi bất ngờ vì kết thúc. Cấu trúc vòng tròn tưởng chừng đã nhàm chán nhưng dùng trong phim đắt giá quá. Nó thể hiện sự so sánh, đồng thời cũng là quá khứ và hiện tại xen kẽ. Nó thể hiện nỗi buồn, sự luyến tiếc giữa kí ức và thực tế.

Cảnh đầu phim, tôi cứ nghĩ là hiện tại vì có vẻ như rất liền mạch khi Hằng ngồi buồn trong lớp một mình rồi nghe tiếng gọi của Hạ mà chạy ra ngoài sân trường. Không ngờ đến kết phim mới biết, đó chỉ là hồi ức của cô. Chi tiết để liên kết hai cảnh đầu và cuối phim giúp khán giả biết đó thực ra chỉ là một nằm ở bàn học: bàn học khắc hình bông hoa có bốn cánh là bốn chữ H. Ở đầu phim, Hằng phủi bụi trên bàn học, người xem thấy hình ảnh bông hoa. Ở cuối phim, khi Hằng ngước nhìn xuống bàn, vẫn là bông hoa đó, sáng rõ trên lớp bàn đã quét đi một phần bụi, rồi cô rơi nước mắt xuống bàn, ướt bông hoa. Nếu không nhờ chi tiết cái bàn kết nối, có thể người xem sẽ cảm thấy mơ hồ hơn, không đủ nhận biết, sẽ chỉ nghĩ cảnh đầu phim khi Hằng ngồi trong lớp học một mình là thực sự thuộc về quá khứ chứ không phải kết thúc khi cô hồi tưởng. Nhờ cái bàn, bông hoa ấy, người xem – hay là tôi mới biết được hóa ra hai cảnh đầu và cuối phim diễn ra cùng một khoảng thời gian. Khi biết được tiếng gọi ở đầu phim chỉ nằm trong trí tưởng tượng của Hằng để làm cái cớ nhớ về quá khứ, dù là quá khứ rất gần, có thể chỉ mới là mùa hè của cách đây một năm trước thì người xem càng thêm xót xa. Chỉ một chi tiết nhỏ như thế mà tạo dư âm cảm xúc đến khi dòng chữ credit hiện ra, đến tận từng giây cuối cùng. Một lựa chọn điện ảnh rất thông minh của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Về cách thể hiện, điểm tôi thích nhất ở phim này chính là ở đó.

Phim Việt Nam thời kì thập niên 90 hay quá. Sao tự nhiên hết thời kì phim mì ăn liền, có khoảng thời gian phim Việt Nam xem chán quá chừng, tôi cũng không hiểu nổi. Thời đó, tôi thấy Việt Nam làm phim cũng ngắn gọn súc tích. Không nói điện ảnh hay phim video tape, phim truyền hình cũng ngắn thôi, khoảng chừng 10 – 11 tập. Nói chung lúc nào xem cũng thấy vừa vặn, không thấy dài lê thê như phim truyền hình Việt Nam bây giờ, phim nào ít nhất cũng 30 tập, chán chết. Dần dần tôi đã nhớ lại rồi, có thời hồi nhỏ tôi rất thích xem phim truyền hình Việt Nam: Những nẻo đường phù sa, Người đẹp Tây Đô, Giao thời... Xem mà kiểu hồi hộp chờ đợi, trông ngóng mỗi ngày luôn, bỏ tập nào là tiếc hùi hụi tập đó. Còn bây giờ, tôi không xem được nữa, thấy mất kiên nhẫn kinh khủng. Dù tôi thích một số phim của Vũ Ngọc Đãng nhưng vừa rồi xem đến tập 4 của Vừa đi vừa khóc là phải chịu thua đầu hàng vì dài dòng quá. Từng tập thoại nhiều ơi là nhiều mà diễn biến không bao nhiêu. Cảm giác ngồi đợi nói hết một đoạn thoại trong khi nội dung không nhiều thật mỏi mòn. Không phải chỉ với Vừa đi vừa khóc, nhiều phim truyền hình Việt Nam khác cũng câu giờ bằng thoại.

Diễn viên Việt Nam hồi xưa sao đẹp thế nhỉ. Tôi xem phim này vì Lê Công Tuấn Anh mà rồi thấy Việt Trinh thời trẻ đẹp quá, Thiệu Ánh Dương mặt cũng rất cưng. Phim Việt Nam thập niên 90 có nhiều diễn viên đẹp thật. Có thể việc lồng tiếng hạn chế một phần diễn xuất của họ, khớp miệng không tự nhiên nhưng ánh mắt của họ thật tuyệt vời. Như ánh mắt của Việt Trinh trong Vĩnh biệt mùa hè thật buồn, còn Thiệu Ánh Dương thì ánh mắt đúng kiểu bất cần đời.

Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng