Phía sau trang sách

Phúc lành của đất: Cõi người hồn nhiên như cây cỏ

Published

on

Là một trong những tác phẩm quan trọng giúp nhà văn Na Uy Knut Hamsun đoạt giải Nobel Văn Chương 1920, Phúc lành của đất mang người đọc đến những điều kỳ diệu thật sự, khi nhận ra thiên nhiên có thể tuyệt đẹp thế nào, con người hiền lành ra sao, cũng như những chuyện khinh suất có thể nhỏ nhặt đến mức độ nào. Với tác phẩm này, tuổi trẻ, tình yêu đã được Knut Hamsun bơm vào trong mạch máu già cỗi, để người đọc lại một phần nữa thêm yêu quãng đời hiện tại.

Kể về người nông dân Isak và hành trình làm nên điền trang Sellarnaa trên núi cao của mình, Phúc lành của đất lướt qua hành trình từ hai bàn tay trắng đến khi thành đạt của người lao động cần cù, chăm chỉ và hết lòng với việc điền nông. Ở mảnh đất được thiên nhiên ban tặng, sự giao hòa giữa con người và tự nhiên đã cộng hưởng để tạo nên được những xung động lớn, mà như Thoreau hay Rachel Carson, ta như dạo bước trong những ân điển của Knut Hamsun.

Nội dung dưới đây tiết lộ các tình tiết quan trọng trong tác phẩm Phúc lành của đất.

Phúc lành của đất

*

Có thể nói xuyên suốt Phúc lành của đất đều là vẻ đẹp, hy vọng và sự thứ tha hướng theo những điều tích cực. Từ không có gì, Isak kết đôi cùng Inger – một người phụ nữ sứt môi, để xây dựng nên thế giới của mình, như Adam và Eva từ Vườn địa đàng rơi xuống mặt đất đầu tiên. Hai con người ấy như sự giao hòa âm dương, cùng sở hữu những mất mát và khiếm khuyết, nhưng họ dựa dẫm vào nhau, làm thành một thể để tạo nên mái ấm tròn đầy. Knut Hamsun ca ngợi sự bất toàn, chúng hoàn toàn có thể khớp nối để thành hoàn hảo, và cặp vợ chồng Isak – Inger là một ví dụ như thế. Nhưng hẳn nhiên, chuyện không dễ dàng.

Từng bước họ dựng nên nhà bằng việc Isak đốn gỗ, lột vỏ bạch dương, bán máng nước… để đổi lấy thú chăn thả, các loại dụng cụ cũng như những đồ vật khác làm nên cuộc sống; trong khi Inger nghiêng về thêu thùa, khung cửi cũng như một hôm dắt về chú bò cái đầu tiên của lãnh địa Sellarnaa. Nếu Isak khù khờ như gã khổng lồ một tay làm nên cơ đồ, thì Inger hoàn toàn ngược lại, là tiếng nói của văn minh, khi mọi thứ ùa vào hoang dã, và dĩ nhiên, là cả bản án đến 8 năm tù.

Trong lần vượt cạn sinh ra bé gái không may cũng bị sứt môi, Inger đã giết con mình. Knut Hamsun không mô tả rõ ràng hành động đó, nhưng ông cho độc giả một ngõ hầu để đồng cảm với nhân vật này, những điều tiếng và đàm tiếu mà một người khiếm khuyết phải chịu đựng. Gần như hoang dã, Inger với bộ óc hướng vào hoang dã đã làm nên ngôi mộ nhỏ cho con gái mình, với những nghĩ suy đơn giản đúc kết từ những trải nghiệm đã qua.

Oline – người đàn bà đánh hơi mọi chuyện trên đời, đã đoán và gián tiếp tạo nên bản án có phần khắc nghiệt đó. Chính tính ích kỷ sản sinh từ sự đói ăn của bầy con đông đúc đã đẩy người đàn bà ấy vào con đường sâu bọ, khi bất cứ nơi nào cũng đánh hơi thấy một mối lợi nào đó. Nhưng một mặt khác, Isak và Inger dường như phớt lờ bà. Trong họ chưa từng tồn tại một sự căm phẫn, họ hiền như đất của mình, có thể đấu tranh nhưng liền sau đó vẫn là những cư xử rất người. Isak chấp nhận Oline vào nhà như người giúp việc để chăm nom hai cậu con trai và làm việc nhà đổi lấy cái ăn, trong khi Inger sau cơn điên loạn chấp nhận những gì mình đã phạm phải.

Chính trong tám năm Inger tiếp xúc với thành thị, cũng là khi Sellarnaa đón nhận những sự đổi khác. Giờ đây thị dân nối nhau lên đồi, dựng trại, chăn gia súc và sinh sống ổn định. Với vỉa đồng phong phú, vị quan chức bị phế truất Geissler đã sớm nhìn thấy tiềm năng, và mua lại được từ Isak trong hành động rút ngắn thời gian ngồi khám của Inger bằng sự tình cờ may rủi nhìn thấy sai trái. Ngay cả trong cuộc đổi chác kim tiền này, Knut Hamsun cũng cho thấy được cái sâu xa hơn ngoài những mưu mô giới tư bản, bởi nhẽ như người hành hương không màng sự đời, vị Geissler với vỉa đồng ấy chỉ như một màn phản pháo cho những gì ông phải chịu đựng bởi chính quyền quan liêu có phần ngu dốt. Ông không qua mặt Isak, ông chỉ đơn thuần trở về nguyên bản như một trao đổi ngang giá.

Cùng lúc Geissler thương lượng mua những mỏ đồng, cũng là khi Inger học được lề thói thành thị. Về vùng đồi núi vắng vẻ, cô độc; cô liền lập tức thay đổi tâm tính. Ngay cả ở đây, là một người chất phác có phần khù khờ, Isak hiền lành như đất vẫn chịu đựng vợ. Khi văn minh ùa vào, những người khai mỏ đến, mặc cho Inger có thể rung động trước những chàng thợ mỏ đẹp mã biết thổi khẩu cầm, Isak cũng coi đó như một sự chếnh choáng thoáng qua. Trong anh có sự phân tích, nhưng không hẳn là cơn ghen, anh im lặng và tìm hiểu những gì vợ mình đang thiếu và muốn trải qua. Ở Inger, từ khi nổi loạn cho đến lúc nhận thức được thực tại, Knut Hamsun cũng coi đó như một điều tự nhiên, khi chỉ bằng một cái nhẫn hay cái ôm ghì siết, cũng có thể khiến người ta nhận ra bản chất thật sự.

Và đó cũng là khi đứa con trai lớn Eleseus, người sớm nhiễm những lề thói của xã hội đương thời, có cơ hội được vào thị trấn giúp việc. Thay vì công việc nặng nhọc cần đến sức người làm nông như cậu em Sivert, cậu ta chểnh mảng kinh doanh và lo bảo vệ danh tiếng, sợ rằng mang danh nhỏ nhen, ích kỷ; cậu thà bán chịu, buôn bán thua lỗ thay vì tìm cách cải thiện. Cuối cùng cậu trai rời bỏ Staburg và chuyển sang Mỹ, không thấy đường về.

Ở đây Knut Hamsun cũng họa được nên tình yêu vô cùng thầm kín của Isak với con trai mình, dẫu biết đứa bé sẽ không khởi sự thành công hay có ngày trở về; nhưng cũng thuần khiết như đất, ông cho cậu hết những thứ cậu muốn, vì ông hiểu những đứa con là những mảnh đất có biên giới riêng biệt, không thể thúc ép hay bắt giam chúng.

Những kẻ coi khinh đất đai, coi đó chỉ như nền móng cho những món lợi cũng được Knut Hamsun khắc họa, và hẳn nhiên, hậu vị mặn chát là những thứ mà họ được hưởng. Brede – kẻ coi khinh đất đai, chạy theo đường dây điện thoại và những mỏ đồng đến cuối cùng thì vẫn phải ở nhờ gia sản của Axel; trong khi Aronsen – tên thương gia thức thời chạy theo doanh thu của những lao động ở nơi khai mỏ, cuối cùng cũng đã tan hoang khi việc khai thác không thành hiện thực và nơi chốn ấy không ai sinh sống.

Mỗi người sống với đất đai dường như hình thành một nguồn rễ rắn chắc, và bất cứ ai coi đất chỉ như một món hời to, đều sẽ tan tác giữa cơn bão cuộc đời, nhưng ngay cả khi ấy Knut Hamsun cũng làm dịu bớt bi kịch đời họ, khi Brede giờ đây đủ sống với món kinh doanh nhà trọ, Oline được chết trên giường đàng hoàng còn Eleseus thì không đề cập đến cái kết thành bại sau cùng.

Việc chia tác phẩm thành ra hai phần có sự tương đồng nhất định trong nội dung cũng cho thấy một sự so sánh của Knut Hamsun với những cư dân đất đai. Nếu Isak và Inger gắn liền với đất như cặp vợ chồng có chung tình yêu với nhau, với đất; thì Axel và Barbro hoàn toàn ngược lại – bị ngăn cách bởi vai trò riêng biệt, là cỗ máy rút tiền hay người giúp việc? Cũng như giờ đây với văn minh ùa vào, việc giết con không còn mục đích chính đáng mà rủi thay đó là bỏ đi đứa trẻ vô tội trong những trò ma mãnh của chính con người, để rồi không bị ám ảnh bởi bất cứ điều gì, dẫu cho là dằn vặt hay chỉ một chút khổ đau. Phiên tòa xử án Barbro như chính thực tại của nền văn minh đánh mất nhân tính, với sự trá hình, khai man; cũng như dứt bỏ con người khỏi gốc rễ của mình, với sự chất phác, đất đai khi họ hồn nhiên như cây như cỏ.

Tác giả Knut Hamsun

*

Knut Hamsun viết nên Phúc lành của đất bằng sự ngây thơ, trong sáng và cái thuần khiết đến vô cùng tận. Dễ thấy trong bất cứ một bi kịch cá nhân nào, độc giả cũng thấy được cái nhìn bao dung, dễ chịu; cũng như là sự hy vọng vào tương lai gần. Knut Hamsun như mạch suối nguồn của thông tuệ, tốt đẹp và minh triết; chảy suốt mảnh đất văn minh khô cạn, bị đầu độc và đã không còn gốc rễ vững chắc. Một tác phẩm hay, dịu nhẹ, đưa con người về lại chính mình.

Hết.

minh.

Click to comment

Viết bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Phía sau trang sách

Giải mã hạnh phúc: Khám phá nguồn gốc của niềm vui và sự hài lòng

Liệu có bí mật nào cho hạnh phúc? Đây là câu hỏi đã xuất hiện từ hàng thập kỷ trước, và nhiều triết gia, lãnh tụ tôn giáo cũng như nhà khoa học đã đưa ra câu trả lời của riêng họ. Nhưng liệu có thể dùng khoa học để giải mã sự mưu cầu hạnh phúc được không?

Published

on

Hãy cùng đến với “Giải mã hạnh phúc”. Đây là một giả thuyết được đưa ra bởi chuyên gia tâm lý Jonathan Haidt, cho rằng hạnh phúc đến từ những khao khát nội tâm và đồng thời cũng đến từ các yếu tố bên ngoài. Nói cách khác thì hạnh phúc vừa là “bẩm sinh”, vừa là “nuôi dưỡng”.

Cụ thể thì như vậy nghĩa là gì? Hãy cùng phân tích các thành phần tạo nên “Giải mã hạnh phúc”, cũng như cách ứng dụng chúng vào cuộc sống để tìm kiếm niềm vui và sự hài lòng.

Bẩm sinh

Yếu tố di truyền đóng một vai trò nhất định trong cảm nhận chung về hạnh phúc của chúng ta. Một số người sinh ra đã có cái nhìn lạc quan, trong khi những người khác có thể phải vật lộn với lo âu và trầm cảm. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là mặc dù di truyền có thể ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc cơ bản, nhưng chúng không phải là yếu tố quyết định duy nhất.

Nuôi dưỡng

Môi trường và trải nghiệm cũng định hình hạnh phúc, điều này  bao gồm các mối quan hệ, công việc và thậm chí cả cộng đồng nơi chúng ta sống. Bằng cách tạo ra một môi trường hỗ trợ và trọn vẹn, chúng ta có thể nuôi dưỡng hạnh phúc lớn hơn trong cuộc sống.

Cân bằng giữa mong muốn và hoàn cảnh: “Giải mã hạnh phúc” cho rằng chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc bằng cách cân bằng giữa mong muốn bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Ví dụ, nếu bạn có mong muốn mạnh mẽ về an ninh tài chính, có thể bạn cần tìm một công việc mang đến nguồn thu nhập ổn định. Mặt khác, nếu bạn có niềm đam mê sâu sắc với sự sáng tạo, việc theo đuổi một sự nghiệp cho phép niềm đam mê đó phát triển có thể quan trọng hơn.

Vậy, làm cách nào để áp dụng “Giải mã hạnh phúc” vào thực tiễn? Dưới đây là một vài mẹo giúp bạn tìm thấy niềm vui và sự hài lòng trong cuộc sống:

1. Xác định các giá trị của bản thân: Hiểu được điều gì thực sự quan trọng với bạn có thể giúp định hướng các quyết định và tạo ra một cuộc sống viên mãn hơn.

2. Nuôi dưỡng các mối quan hệ: Mối quan hệ bền chặt với gia đình và bạn bè có thể mang lại tình yêu thương, sự hỗ trợ và cảm giác được thuộc về.

3. Theo đuổi đam mê: Tham gia vào các hoạt động và sở thích mang lại niềm vui có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc và hài lòng.

4. Thực hành lòng biết ơn: Dành thời gian để trân trọng những điều tốt đẹp trong cuộc sống, dù nhỏ bé, có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc tổng thể của bạn.

5. Cho đi: Giúp đỡ người khác có thể mang lại ý nghĩa và sự trọn vẹn cho cuộc sống của chúng ta.

Jonathan Haidt là một nhà tâm lý học và nhà tâm lý học xã hội, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về tâm lý học đạo đức và tâm lý học tư tưởng chính trị. Ông là giáo sư ngành Lãnh đạo Đạo đức tại Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, và đã xuất bản một số cuốn sách và nhiều bài báo nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học.

Các công trình của Haidt thường tập trung vào ý tưởng rằng niềm tin và giá trị đạo đức của chúng ta được hình thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm văn hóa, sự nuôi dạy và kinh nghiệm cá nhân. Ông lập luận rằng đạo đức không chỉ là vấn đề lý trí mà còn bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và trực giác của chúng ta.

Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của Haidt cho lĩnh vực tâm lý học là mô hình “trực giác xã hội” về phán đoán đạo đức. Mô hình này cho rằng các phán đoán đạo đức thường dựa trên những đánh giá tự động, vô thức về các tình huống, thay vì lý luận có ý thức và có chủ ý. Công trình này thách thức quan điểm truyền thống cho rằng việc ra quyết định đạo đức là một quá trình hoàn toàn lý trí, và nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm xúc và trực giác trong việc hình thành niềm tin đạo đức của chúng ta.

Nghiên cứu của Haidt cũng đã khám phá vai trò của đạo đức trong hệ tư tưởng chính trị, và ông đã chỉ ra rằng những người theo chủ nghĩa bảo thủ và tự do thường có nền tảng đạo đức khác nhau. Ví dụ, những người theo chủ nghĩa bảo thủ có xu hướng coi trọng các giá trị như lòng trung thành, quyền lực và sự thiêng liêng, trong khi những người theo chủ nghĩa tự do có xu hướng coi trọng sự công bằng và chăm sóc. Haidt lập luận rằng những khác biệt về đạo đức này đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình thái độ và hành vi chính trị.

Các công trình của Haidt đã được trích dẫn rộng rãi và nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải thưởng William James Fellow từ Hiệp hội Khoa học Tâm lý. Các cuốn sách của ông được ca ngợi vì dễ tiếp cận và chứa đựng những hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người.

Nhìn chung, những đóng góp của Jonathan Haidt cho lĩnh vực tâm lý học đã làm sáng tỏ vai trò của đạo đức và cảm xúc trong việc định hình niềm tin và hành vi, đồng thời giúp mở rộng hiểu biết về sự phức tạp của tâm trí con người.

Tóm lại, “Giải mã hạnh phúc” nhắc nhở chúng ta rằng hạnh phúc là sự kết hợp của cả bẩm sinh và nuôi dưỡng. Bằng cách cân bằng những mong muốn bên trong với hoàn cảnh bên ngoài, chúng ta có thể tạo ra một cuộc sống viên mãn và vui vẻ hơn. Vậy nên, hãy thử kiểm chứng “Giải mã hạnh phúc” và xem liệu nó có khiến bạn hạnh phúc hơn không nhé!

Lam dịch từ MindfulMac

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trách nhiệm thuộc về ai khi thiên nhiên hoang dã trở thành “tội phạm”?

Gấu đen đột nhập nhà dân, cây cối bị tình nghi gây ra án mạng, con nai băng qua đường không đúng luật. Nếu thiên nhiên phạm luật thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Published

on

Trong thế giới ngày càng đô thị hóa, ranh giới giữa lãnh địa con người và thiên nhiên hoang dã trở nên mong manh hơn bao giờ hết, dẫn đến những cuộc "chạm trán" dở khóc dở cười. Mary Roach đã khám phá thế giới kỳ thú nơi luật pháp - con người giao thoa, xung đột với bản năng tự nhiên trong Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật.

Giải mã "tội ác" của thiên nhiên

Mary Roach mở đầu Fuzz bằng cách đặt ra một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng lại khơi gợi vô số vấn đề phức tạp: Điều gì xảy ra khi thiên nhiên "phạm luật"? Không chỉ là những con thú lớn như gấu hay báo sư tử gây rắc rối ở vùng ngoại ô, danh sách "tội phạm tự nhiên" của Roach còn bao gồm cả những loài chim ăn trộm nông sản, những con khỉ tinh ranh ở Ấn Độ, những hạt đậu độc gây chết người hay thậm chí là những cái cây vô tri bị xem là mối nguy hiểm tiềm tàng.

Roach không ngồi yên trong phòng viết mà xông pha thực địa. Bà tham dự một khóa học về an toàn khi gặp thú dữ, theo chân các nhà khoa học điều tra hiện trường các vụ tấn công của động vật hoang dã, thậm chí nếm thử các loại thực vật bị xem là "có vấn đề".

Sách Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật (trái) và tác giả Mary Roach.

Khi tìm hiểu về những con voi ở Bắc Bengal thích chè chén, say xỉn, bà cho biết voi uống thứ mà dân làng thường uống: haaria, loại rượu pha chế tại nhà được lên men và dự trữ với số lượng đủ để làm say một con voi. "Theo Sĩ quan Raj, có hai điều xảy ra khi voi say xỉn. Hầu hết chỉ lạc đàn và ngủ quên. Nhưng dường như mọi đàn đều có một kẻ say xỉn hung hăng, thường là con đầu đàn hoặc voi đực đang trong kỳ musth. Trên đời, dù bạn có muốn mạo hiểm thế nào chăng nữa thì cũng phải tránh xa một con voi đực say xỉn", Roach viết.

Trọng tâm của Fuzz không phải là việc kết tội thiên nhiên mà là nỗ lực giải mã những hành vi bị xem là "phạm luật" ấy dưới góc độ khoa học. Tác giả đưa độc giả đi sâu vào thế giới của sinh thái học hành vi, di truyền học bảo tồn, khoa học pháp y động thực vật và quản lý động vật hoang dã.

Cụ thể như việc tìm hiểu các nghiên cứu tập tính nhằm hiểu rõ hơn về cách động vật di chuyển, kiếm ăn, và phản ứng với sự hiện diện của con người, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, như thiết kế hàng rào chống gấu, tạo hành lang di chuyển an toàn cho động vật hoang dã...

Con người nằm ở đâu trong "tội ác" này?

Một trong những thông điệp ngầm nhưng mạnh mẽ xuyên suốt Fuzz là sự tự vấn về vai trò của con người trong các cuộc xung đột với thiên nhiên. Mary Roach đặt câu hỏi: Liệu việc phá hủy môi trường tự nhiên, thay đổi cảnh quan, để thức ăn ngoài trời, vứt rác không đúng cách đã vô tình "mời gọi" động vật hoang dã vào những tình huống rắc rối?

Theo tìm hiểu của Roach, một con gấu vào khu dân cư tìm thức ăn không phải vì nó "xấu tính". Mà có thể vì nguồn thức ăn tự nhiên của nó bị suy giảm hoặc vì thùng rác của con người quá hấp dẫn, dễ tiếp cận. Bà không đổ lỗi cực đoan nhưng chỉ ra nhiều "tội ác" của thiên nhiên thực chất là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành động của con người.

Cuốn sách cũng nhắc đến những tình huống tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, thực tiễn trong việc quản lý xung đột. Từ những người ủng hộ biện pháp cứng rắn để bảo vệ tài sản và tính mạng con người, đến những nhà bảo tồn nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhân đạo hơn, tác giả để độc giả tự suy ngẫm về sự phức tạp của việc tìm kiếm điểm cân bằng. Làm thế nào để vừa bảo vệ lợi ích của con người, vừa tôn trọng quyền sống và không gian sinh tồn của các loài khác?

Theo Nguyệt Dạ | ZNews

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Nếu từng khóc khi xem phim “Mưu cầu hạnh phúc”, thì đây là cuốn sách bạn nên đọc

Published

on

Trong bộ phim Mưu Cầu Hạnh Phúc (The Pursuit of Happyness) ra mắt vào năm 2006 của đạo diễn Gabriele Muccino, diễn viên Will Smith vào vai Chris Gardner - một người cha đơn thân thất nghiệp, vô gia cư, phải vật lộn giữa cuộc sống bấp bênh, những đêm ngủ ở nhà ga, và giấc mơ đổi đời từ một chương trình thực tập không lương. Đó là một hành trình đầy khổ đau, nước mắt, nhưng cũng là bản hùng ca của lòng kiên cường và khát khao vươn lên.

Cùng năm 2006, chuyên gia tâm lý học Jonathan Haidt cho ra đời Giải Mã Hạnh Phúc, một công trình kết nối những minh triết cổ đại với khoa học hiện đại để trả lời câu hỏi muôn thuở: Hạnh phúc là gì, và làm sao để có được nó?

Khi đặt nhân vật Chris Gardner bên cạnh các giả thuyết về hạnh phúc của Haidt, ta nhận ra: Có những chân lý không bị mài mòn bởi thời gian hay hoàn cảnh, chẳng hạn như việc hạnh phúc không đến từ việc trốn tránh khổ đau, mà từ cách ta bước xuyên qua nó.

Will Smith và con trai Jaden Smith trong Mưu Cầu Hạnh Phúc.

"Con voi" và "người cưỡi voi": Cảm xúc và lý trí trong hành trình sinh tồn

Tác giả Jonathan Haidt dùng hình ảnh “con voi và người cưỡi voi” để ví von mối quan hệ giữa cảm xúc (con voi) và lý trí (người cưỡi). Trong phim, Chris Gardner nhiều lần bị cảm xúc dồn vào chân tường: Khi bị đuổi khỏi nhà, khi mất chỗ ngủ, khi con trai hỏi “Chúng ta có nhà không?”. Nhưng chính trong những khoảnh khắc ấy, “người cưỡi voi” - lý trí, bản lĩnh, lòng tin của Chris - vẫn kiên định dẫn đường.

Anh không để cảm xúc giận dữ, tuyệt vọng kiểm soát mình. Anh chọn hành động, kiên trì học hỏi, giữ vững phẩm giá ngay cả khi lau dọn toilet công cộng để có thêm chút tiền. Dù cảm xúc có lúc muốn gục ngã, anh vẫn tiếp tục hành động có lý trí, không để cơn tuyệt vọng làm tê liệt mình. Những lúc phải ngủ ở ga tàu với con trai, Chris vẫn giữ lòng tự trọng và tiếp tục cố gắng, giống như một người cưỡi đang cố gắng điều khiển một con voi đầy hoảng loạn.

Điều kiện ngoại cảnh và “ngưỡng hạnh phúc”

Sách Giải Mã Hạnh Phúc chỉ ra rằng con người có “mức độ hạnh phúc” nhất định. Ta có thể vui hoặc buồn nhất thời vì sự kiện bên ngoài, nhưng sau đó sẽ quay về mức hạnh phúc trung bình của mình. Thế nhưng, Haidt cũng lưu ý rằng có những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lâu dài đến hạnh phúc: nghèo đói, cô lập, hoặc bị sỉ nhục kéo dài.

Chris Gardner trải qua gần như tất cả những điều này, nhưng thay vì cam chịu, anh đã cố gắng tìm nhiều cách khác nhau để xoay chuyển số phận của bản thân, dẫu có những lúc rơi vào cảnh nghèo túng đến mức chỉ còn vỏn vẹn 30 đô la trong ví. Vì đã nỗ lực tự mình thay đổi hoàn cảnh nên khi thành công đến, anh không chỉ nhận được phần thưởng vật chất mà kèm theo đó còn là cảm giác xứng đáng, sự gắn kết với con trai, và lòng tự tôn được củng cố.

Ý nghĩa và mục đích sống: Cội nguồn của hạnh phúc bền vững

Haidt cho rằng hạnh phúc bền vững không đến từ việc theo đuổi khoái lạc (pleasure), mà đến từ việc sống có mục tiêu, có giá trị. Chris Gardner không chỉ muốn giàu mà hơn thế nữa, anh muốn trở thành một người cha xứng đáng, một con người có giá trị. Tình yêu dành cho con trai là kim chỉ nam dẫn lối, khiến anh không bỏ cuộc dù bị cả thế giới quay lưng.

Điều này khớp với một câu nói của triết gia Friedrich Nietzsche: "Nếu bạn có một lý do đủ lớn để sống, bạn có thể chịu đựng hầu hết mọi nỗi đau." (He who has a why to live for can bear almost any how).

Hạnh phúc không phải đích đến, mà là hành trình

Cuối phim, khi Chris được nhận vào làm chính thức, anh rưng rưng cố không bật khóc giữa đám đông, chạy vội đến nhà trẻ của con trai và ôm lấy con. Đó không chỉ là giây phút hạnh phúc đơn thuần, mà còn là sự giải phóng sau bao tháng ngày chịu đựng và không từ bỏ. Từ một nhân viên chào bán thiết bị y tế, cuộc đời Chris đã thay đổi. Đó là minh chứng cho giả thuyết cuối cùng của Haidt: “Hạnh phúc không phải là thứ mà bạn có thể tìm thấy, có được hoặc đạt được một cách trực tiếp. Bạn phải có được các điều kiện phù hợp và sau đó chờ đợi. Một số điều kiện đó nằm trong bạn, chẳng hạn như sự gắn kết thống nhất giữa các phần và cấp độ trong tính cách của bạn. Các điều kiện khác yêu cầu mối quan hệ với những thứ bên ngoài bạn: giống như cây cối cần mặt trời, nước và đất tốt để phát triển, con người cũng cần tình yêu, công việc và sự kết nối với một điều gì đó lớn lao hơn.”

Mưu Cầu Hạnh Phúc không kể lại con đường đạt đến thành công của một người đàn ông, mà đã khắc họa lại lòng kiên trì bền bỉ và ý chí quyết tâm vượt lên số phận. Giải Mã Hạnh Phúc không dạy ta cách để luôn hạnh phúc, mà cho ta công cụ để hiểu hạnh phúc thật sự là gì. Một bên là nhân vật trong phim, một bên là những giả thuyết được đúc kết từ hàng ngàn năm trí tuệ của nhân loại, giao nhau tại điểm giữa: sự gắn kết với cuộc sống, niềm tin vào một điều tốt đẹp và cao cả hơn chính bản thân mình.

Lam

Đọc bài viết

Cafe sáng