Phía sau trang sách

Chim chóc chưa bao giờ ngốc: Một giống nòi thiên tài

Published

on

Chim chóc với kích thước nhỏ bé từ trước đến nay vẫn gây nhầm lẫn cho con người về khả năng của mình. Đôi khi ta thấy một con chim cứ mổ mãi vào phản ảnh của mình trong gương; hay đôi lần khác, chúng còn bạo gan bay vào trong căn phòng của một ai đó rồi… không thấy đường ra. Thế nhưng nếu bỏ qua những sự cố trên, thật ra chim chóc còn làm được nhiều hơn thế.

Bạn có bao giờ tự hỏi làm thế nào một con chim bồ câu có thể giao thư đến khoảng cách hàng trăm dặm trong các phim thời trung cổ và cổ trang? Cũng như vậy, có bao giờ bạn hỏi tại sao Dodo lại tuyệt diệt, dù cho hình dáng bên ngoài của nó khá… nực cười?

Trong cuốn Chim chóc chưa bao giờ ngốc, nhà nghiên cứu Jennifer Ackerman đã không ngần ngại gọi các đối tượng chim của mình bằng từ “thiên tài”, và dĩ nhiên khi đi sâu vào trong bản chất, chim chóc xứng đáng với cái tên đó.

Những bộ óc siêu việt

“Động vật và con người có sức mạnh trí tuệ chỉ khác nhau ở mức độ chứ không phải ở giống loài” – Darwin

Trong các câu chuyện đồng dao về việc quạ đổ đá ngập bình để uống nước hay cò mang những đứa bé đến với dân làng, không phải ngẫu nhiên mà các tích dân gian tràn ngập bóng dáng loài chim. Thực hiện nghiên cứu sâu rộng từ những nơi xa xôi như rừng mưa trên núi của đảo New Caledonia phía Tây Nam Thái Bình Dương giữa Úc và Fiji, cho đến quần đảo Barbados, Borneo hay thậm chí gần gũi hơn, bên bờ biển Delaware hay các bang quan trọng của Hoa Kỳ, nhà nghiên cứu Jennifer Ackerman đã cho thấy vì sao chim chóc trở nên quan trọng – và dĩ nhiên – không bao giờ ngốc như loài người vẫn nghĩ.

Trước các thực tế về việc loài quạ có thể chế tạo công cụ để rồi thực hành các nhiệm vụ đa công cụ để lấy thức ăn – những thứ chỉ từng được nhìn thấy ở các loài vượn lớn, cũng như nguyên nhân tuyệt diệt của Dodo, Jennifer Ackerman đã đi tìm về một thang đo chung nhất cho trí tuệ của các loài chim. Dĩ nhiên, thể tích não bộ có thể là tiêu chí đầu tiên, thế nhưng nếu so sánh một con Dodo khổng lồ và một con quạ, não Dodo lớn hơn thế nhưng nó lại… ngốc đến mức không sợ con người, và là nguyên nhân tuyệt diệt.

Trên đảo Barbados, với sự trợ giúp của giáo sư Lefebvre – một chuyên gia quan sát chim chóc, ông đã lần đầu chia sẻ về cấu tạo thang đo của mình. Theo đó, để thực tế với môi trường sống tự nhiên, thang đo được hình thành dựa trên 2000 mẫu hành vi bất thường mà các quan sát báo cáo lại, để tránh những yếu tố gây nhiễu trong phòng thí nghiệm trước đó. Kết cục thì quạ, sẻ, chim di, bạc má, vẹc… là những loài được xếp trên thang đo có trí thông minh cao nhất, và xếp hạng chót là những con kagu, nối tiếp người tiền nhiệm Dodo, chưa bao giờ sợ con người.

Một vấn đề tiếp tục được đặt ra, đâu là lý giải cho trí thông minh? Dựa theo các giải phẫu và nghiên cứu chuyên sâu, não chim thật ra có cấu tạo và hoạt động gần giống với loài người. Việc so sánh động vật với con người thường được cho là phóng chiếu, thế nhưng với việc tách ra từ một tổ tiên chung từ hơn 300 triệu năm trước, hóa ra chim chóc lại sở hữu những đặc điểm đặc biệt: bộ gen súc tích, phổi thông suốt, tinh giảm những cơ quan không cần thiết như bàng quang, gan teo và tim nhỏ. Điều này không những giúp chúng dần dần tách khỏi mặt đất như tổ tiên loài khủng long, mà mặt khác, các vùng não và sự liên kết cũng tương tự loài người.

Mỗi loài chim có một bộ não khác nhau, và hóa ra mức độ thông minh phụ thuộc vào số neuron và các phản ứng liên kết hơn là kích thước. Vẫn còn một câu hỏi mà đến nay chưa ai trả lời được, liệu khả năng nhận thức trong việc sáng tạo các loại công cụ kiếm ăn làm nảy sinh nhận thức, hay ngược lại, từ nhận thức hình thành các khả năng khác? Thế lưỡng nan này đến nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi, nhưng dù sao thì bởi những tranh cãi ấy người đọc cũng được nhìn chim chóc theo một góc nhìn rất khác. Kích thước bộ não cũng khác nhau ở từng loài chim, phụ thuộc vào đặc tính con non, sự di cư hay môi trường sống có thuận lợi không. Những con chim có thời gian trưởng thành dài thường có não nhỏ, ngược với loài có con non trưởng thành sau khi nở.

Đời sống phong phú của chim

8 chương sách là 8 mảnh ghép làm nên những điều mới mẻ về các loài chim. Jennifer Ackerman dùng các thuyết riêng biệt để giúp chúng ta hiểu thêm về loài có những đôi cánh này. Theo đó hai chương về thuyết tâm trí giao phối đã đưa những lý giải thú vị về các hành vi chọn con trống thú vị. Nếu chim đinh vi sa tanh mái chọn con trống dựa trên cách xây dựng tổ cũng như điệu múa; thì những loài khác lại chọn sự đồng nhất và chính xác trong các lần hót, hoặc chiến lược “tái kết đôi” – lăng nhăng với nhiều cá thể khác nhau, như một hình thức đảm bảo cho cả cộng động được hưởng lợi bởi trách nhiệm của con trống. Tuy chưa thể xác định được việc hót một cách chính xác có vai trò gì trong việc bảo vệ lãnh thổ hay nguồn gen tốt, thế nhưng qua các hành vi ghép đôi chúng ta thấy được một sự thú vị ở các loài chim.

Hành vi xã hội của chúng cũng được đưa vào nghiên cứu. Việc những chú quạ tặng quà và thích lựa chọn cái đẹp, loài gà phân cấp thành viên dựa vào thứ tự mổ… hình thành nên nhiều hoài nghi rằng liệu chim chóc có tồn tại trí thông minh xã hội không, khi việc lan truyền di sản hiểu biết sang xung quanh đã được chứng thực ở loài quạ, rằng thế hệ con cháu vẫn nhận diện được mối nguy hiểm là các khuôn mặt đe dọa chúng trong một thí nghiệm cách nhau 9 năm. Các thí nghiệm chuyên sâu cũng cho thấy các loại peptide như mesotocin có ảnh hưởng trực tiếp đến tính gắn kết xã hội, làm nên những vụ việc khó giải thích, như thể đám tang kiểu Ireland đặc biệt của loài quạ.

Việc định hướng như một bí ẩn vốn bao lâu nay của chim chóc cũng được Jennifer Ackerman đặt ra giả thiết vì sao bồ câu hay những loài chim di cư lại có khả năng định hướng được mình ở đâu. Nếu loài người phải dùng đến GPS, thì tổ hợp sóng hạ âm, thuyết định hướng khướu giác cũng như từ trường là những nhân tố quan trọng giúp loài này tìm được đường về.

Cuối cùng, vì sao tồn tại một nghịch lý là các loài chim ngoại lai thường đến và phát triển một cách mạnh mẽ? Ở bất kì đâu trên thế giới này, bạn đều dễ thấy thấy được những chú chim sẻ. Nhưng không phải ai cũng biết loài sẻ ban đầu là chim nhập cư, và chỉ mới đây thôi trong một khoảng thời gian rất ngắn chúng đã bao phủ gần như trái đất. Với bản chất mới mẻ, sáng tạo, bạo gan và bầy đàn hỗn tạp; cộng với đặc điểm giải phẫu não lớn và thích nghi tốt, giỏi xâm lấn, điều này lý giải vì sao chim chóc lại dày đặc trên thế giới này.

Thế nhưng trước thực tế là môi trường đang dần biến đổi, khiến giống loài này phải tiến hóa hoặc nhanh hơn, hoặc phải điều chỉnh hành vi của mình. Các chú chim di cư giờ đây phải đối mặt với việc thức ăn trên biển của mình không đúng mùa, bởi thực tế khi nhiệt độ tăng lên, thời gian sinh trưởng của các trật tự sinh học khác đảo loạn, và có thể chúng phải chết giữa đường không có thức ăn. Trong rừng rậm sâu, những con chim mẹ cũng phải đẻ trứng ngược với chu trình ngàn đời tự nhiên, nhằm đảm bảo nguồn sâu phong phú để nuôi nấng thế hệ sau của mình.

*

Chim chóc chưa bao giờ ngốc của Jennifer Ackerman là một cuốn sách vô cùng thú vị. Nó gợi mở cho độc giả những khả năng siêu phàm của loài chim mà rất có thể ta chưa bao giờ biết. Tuy chỉ cung cấp các góc nhìn chung là các quan sát thú vị, và còn chưa có nhiều nhiều thí nghiệm chứng minh tính xác thực về trí thông minh, thế nhưng tác phẩm này đã góp phần khẳng định một lần nữa tư tưởng của Darwin, về trí thông minh và những khả năng đặc biệt khác, mà không duy loài người làm được.

Hết.

minh.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Lịch sử ra đời Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records) ít người biết

Published

on

By

Nguồn gốc của cuốn sách Kỷ lục thế giới Guinness (Guinness Word Records) được lấy cảm hứng từ ông Hugh Beaver trong một cuộc đi săn ở County Wexford, Ireland năm 1951.

Vào thời điểm ấy, ông Hugh Beaver đang là giám đốc Nhà máy bia Guinness. Sau khi bắn hụt một con chim choi choi vàng (Pluvialis squatarola), Beaver và các thành viên trong nhóm săn của mình đã tranh luận liệu sinh vật này có phải là loài chim nhanh nhất Châu Âu hay không. Thậm chí, họ đã tra cứu rất nhiều loại Bách khoa toàn thư nhưng họ chẳng thể tìm ra một cuốn sách có chứa câu trả lời.

Sau cuộc tranh luận, Hugh Beaver Nghĩ nhận ra những khách quen của các quán rượu tại Anh sẽ cần một phương án để giải quyết kiểu bất đồng này. Nếu có thể xuất bản một cuốn sách phân định được những cuộc tranh luận như thế thì nhất định cuốn sách sẽ được chào đón.

Chân dung ông Hugh Beaver, cha đẻ của cuốn Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records)

Qua sự giới thiệu của vận động viên từng lập kỷ lục thế giới Chris Chataway người đang làm việc ở Nhà máy bia Park Royal tại London (thuộc Công ty Guinness), ông Hugo Beaver đã mời hai anh em Ross và Norris McWhirter cộng tác để biến ý tưởng đó thành hiện thực. Họ bắt tay vào biên tập một cuốn gồm 198 trang và đặt tên là The Guinness book of records.

Hai anh em Ross và Norris McWhirter

Vào ngày 27/8/1955 ấn bản đầu tiên của sách Kỷ lục Guinness đã được xuất bản tại Vương quốc Anh. Họ dự định tặng miễn phí cuốn sách tại các quán rượu nhằm quảng bá thương hiệu cho Guinness. Đúng như suy nghĩ của Hugh Beaver, cuốn sách ngay lần xuất bản đầu tiên đã lọt vào danh sách ấn phẩm bán chạy nhất nước Anh lúc đó, bán được bán được 50.000 bản trong 3 tháng đầu tiên.

Vào giữa những năm 1970 bắt đầu có một phong trào danh tiếng như “Làm thế nào để được ghi danh vào Sách kỷ lục Guinness”. Nắm bắt trào lưu đó, năm 1975, Norrison Macverter đã đưa thêm chương “Những kỷ lục của con người”. Chính vì thế mà từ đó đến nay có nhiều người không những mong muốn mình không chỉ là độc giả, mà còn khao khát được là nhân vật của cuốn sách best seller này.

Đến nay, Sách Kỷ Lục Guinness đã có mặt ở 100 quốc gia trên thế giới và được dịch sang 23 ngôn ngữ, trở thành một trong những loạt sách có bản quyền bán chạy nhất thế giới. Trong nhiều năm, cuốn sách đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người, khiến người đọc không ít lần ngạc nhiên, thích thú với kiến thức rộng lớn về thế giới xung quanh.

Mặc dù đã lâu trong các quán rượu nước Anh, những cuộc thi tài trên Sách kỷ lục Guinness cũng không còn là mốt nữa, nhưng cuốn sách cho đến bây giờ vẫn là một trong số những loại sách tra cứu được phổ biến nhất trên khắp thế giới. 

Guinness World Records 2023 được Nhà Sách Phương Nam làm đại diện ở Việt Nam phát hành cùng lúc với thế giới vào ngày 15.9.2022. 

Nhân dịp mới phát hành, Nhà Sách Phương Nam đang có ưu đãi đặc biệt cho những bạn đọc đầu tiên:

Sách hiện đang có mặt trên website: www.nhasachphuongnam.com và hệ thống nhà sách Phương Nam toàn quốc.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Thánh đường của những lầm lỗi

Published

on

By

“Một lỗi lầm nếu như được lặp đi lặp lại nhiều lần, đó không phải là lỗi lầm nữa. Đó là sự lựa chọn.”
(Relationship Rules)

Từ lúc vô tình đọc được câu nói này trên Facebook của trang Relationship Rules, thỉnh thoảng tôi lại nghe chính tiếng nói của mình lặp lại những từ ngữ đó trong đầu. Có lẽ vì tôi thường gặp phải những vấn đề về cái gọi là sự lựa chọn, lỗi lầm và thói quen. Dù như thế, tôi vẫn không lường trước được, hay không tin mình đang ở trong những nỗi buồn do thói quen tạo ra. Cho đến khi tôi đọc Thánh đường của Raymond Carver vào năm vừa rồi, tôi mới chợt nhận ra thói quen có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng như thế nào đến những tổn thương tâm lí mà mỗi người chúng ta phải gánh chịu trong cuộc sống hằng ngày.

Điều khiến tôi ngưỡng mộ Raymond Carver nhất khi đọc Thánh đường nằm ở việc ông không tập trung vào hành động tức thời của nhân vật trước những sự cố để thúc đẩy tiến trình câu chuyện, thứ ông tập trung là hành vi của họ-những hành vi bắt nguồn từ việc lặp đi lặp lại một hành động nào đó và hành động đó trở thành thói quen. Để một câu chuyện hài hòa, hấp dẫn, thông thường hành động và hành vi phải xen kẽ nhau đều đặn. Hành động là thứ thúc đẩy câu chuyện; trong khi đó, hành vi là thứ tạo nên nét tính cách đặc trưng của nhân vật. Trước đây, tôi cứ nghĩ hành vi chỉ có một vai trò là khắc họa chân dung nhân vật qua những thói quen: điển hình là trong truyện của Murakami Haruki, ông xây dựng cho nhận vật nhiều hành vi đặc trưng như thích nghe nhạc jazz, thích nấu ăn, thích mì spaghetti… Có thể thấy, trong tác phẩm của Haruki, những hành vi ấy không hề là thứ thúc đẩy câu chuyện. Tôi đã khó mà tưởng tượng hành vi có thể làm một nhiệm vụ nào đó khác ngoài việc khắc họa nhân vật. Và Raymond Carver đã khiến tôi phải thay đổi suy nghĩ vì đa phần những truyện trong Thánh đường đều được xây dựng bởi hành vi của nhân vật hơn là hành động.

Trong Thánh đường, đa phần những truyện của Carver được mở đầu rất đơn giản, ông đi trực tiếp vào cảnh sinh hoạt thường ngày hay một vấn đề khó khăn chính mà nhân vật đang phải đối đầu. Ông ít khi nào viết những đoạn mở đầu mang tính chất dẫn nhập từ từ để người đọc có thời gian đi vào thế giới của nhân vật. Ngay khi đọc những dòng đầu tiên một truyện ngắn của ông, lát cắt về mảnh đời nào đó của nhân vật ngay lập tức đập vào người đọc. Ta không kịp có thời gian để chuẩn bị, ta chỉ có thể tiếp tục đọc để dần dần hiểu ra những vấn đề mà nhân vật đang đối đầu; điều này cũng giống như việc không phải lúc nào chúng ta cũng có thể phòng bị được trước những bất ngờ trong cuộc sống.

Sau màn dạo đầu trực tiếp, đột ngột ấy, chúng ta dần nhận ra những nhân vật của Carver đều đang sống trong những chiếc lồng của các hành vi lặp đi lặp lại. Ban đầu, tất cả dường như chỉ là một hành động bình thường như việc chồng của Sandy từ sau khi mất việc luôn ngồi trước ghế sofa xem tivi (Bảo quản), việc Carlyle bất đồng với ý kiến của vợ qua điện thoại (Cơn sốt), việc Lloyd nằm nghiêng một bên khi ngủ (Cẩn thận)… Carver không thay đổi những hành vi đó của nhân vật trong suốt câu chuyện. Nhưng ông thay đổi tình huống diễn ra hành vi, ông tạo ra các xung đột khiến người ta nghĩ nhân vật phải thay đổi hành vi. Tuy nhiên, cuối cùng các nhân vật của ông thường chỉ thay đổi suy nghĩ về hành vi của mình mà vẫn chưa thay đổi được chính bản thân hành vi ấy. Điều đó khiến cho các nhân vật xa rời nhau, khiến cho thế giới của họ vỡ vụn và khiến cho chính chúng ta đau lòng bởi một khi lỗi lầm đã thành thói quen, mấy ai có thể thay đổi được thói quen của mình? Và phải chăng, chính những lỗi lầm ấy cũng là sự lựa chọn của chúng ta?

Kodaki

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi việc đọc gần với ái ân

Published

on

By

Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu tự nhận mình là người mê say văn chương của Italo Calvino (nhà văn Ý, 1923-1985). Ông có thể dành hàng giờ để chia sẻ cảm nhận qua việc đọc từng tác phẩm của nhà văn này. Dưới đây là những nhận định của ông về tiểu thuyết Nếu một đêm đông có người lữ khách của Italo Calvino (Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học).

Salman Rushdie nói về Italo Calvino: “Nếu như tôi cần một tác giả bên cạnh mình khi mà Ý nổ tung, Anh bốc cháy và thế giới này đã tận thì không tác giả nào tuyệt hơn Italo Calvino.” Có thể nói rằng tôi gần như đồng ý với ông. Vì Italo Calvino đem lại cho tôi biết bao niềm vui từ Nếu một đêm đông có người lữ khách, Palomar, Nam tước trên cây đến Những thành phố vô hình, Tiếu ngạo càn khôn… Cái đáng nói ở Italo Calvino là ông luôn luôn tìm tòi, thể nghiệm cách viết. Mỗi tác phẩm của ông có thể nói là một khám phá. Từ tân hiện thực, truyện cổ, truyện ngụ ngôn, truyện kì ảo, truyện viễn tưởng khoa học, truyện viết theo cỗ bài Tarot, siêu tiểu thuyết…

Đặc biệt ở Nếu một đêm đông có người lữ khách, ta có thể thấy rõ sự đa dạng đó. Những chương có tiêu đề trong tiểu thuyết này được xem như là 10 tiểu thuyết dang dở dang hay 10 chương mở đầu của 10 cuốn tiểu thuyết khác nhau mà mỗi tiểu thuyết xảy ra ở những thời điểm, không gian khác nhau. Từ truyện trinh thám kiểu phương Tây mang màu sắc gián điệp, đến chuyện tình erotic kiểu Nhật… Thể loại nào ông cũng viết ra được cái chất của nó. Ông làm ta nhớ đến Picasso trong hội họa. Ông là người khổng lồ của văn học thế kỉ XX.

Tôi thích tác phẩm này ở mặt cấu trúc. Trước tiên, nó là một siêu tiểu thuyết. Đây là loại tiểu thuyết có khuynh hướng hậu hiện đại, là tiểu thuyết viết về tiểu thuyết. Có nghĩa là, tiểu thuyết về việc đọc và viết tiểu thuyết. Đọc và viết ở đây trở thành chủ đề. Cho nên, ta không đọc một tiểu thuyết bình thường có cấu trúc theo kiểu mở đầu, phát triển, đỉnh điểm, tháo gỡ và kết thúc. Do đó, câu chuyện dường như giẫm chân tại chỗ. Tác giả đưa người đọc trở thành nhân vật trung tâm và có thể nói người viết cũng trở thành nhân vật trung tâm với tên họ thật: Italo Calvino. Nhưng “khái niệm trung tâm” ở đây cũng chẳng phải là trung tâm, mà nó gần như là giải trung tâm.

Như vậy, văn chương ở đây là một cái gì đó tự qui chiếu. Cho nên, cũng có thể gọi tác phẩm này là tiểu thuyết tự qui chiếu. Tức là văn chương tự hướng về chính nó, tiểu thuyết thay vì hướng ra ngoài lại quay vào trong, như một vòng tròn trong lễ hội nguyên thủy.

Cái mà tôi tâm đắc ở Italo Calvino cũng như ở triết gia tân thực dụng Richard Rorty đó là ngôn ngữ tiểu thuyết như những hiện hữu sống động nhất. Do đó, nó là một tiếng nói không hề thứ yếu bên cạnh triết học. Thậm chí, dường như tiểu thuyết có nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn, bao dung hơn cũng giống như “vầng trăng truyện” trong Haroun và Biển truyện của Salman Rushdie thì truyện – nó không đưa ra một chân lí tối hậu nào, nó mãi mãi là dang dở, là câu hỏi và nó dạy cho chúng ta biết hỏi, biết rằng không có gì bất biến.

Chỉ có tiểu thuyết mới gợi cho ta sống với niềm vui, một niềm hoan lạc tràn trề và việc đọc gần với ái ân hơn cả.

Theo một cuộc trò chuyện với nhà văn Nhật Chiêu
Kodaki ghi

Đọc bài viết

Cafe sáng