Trà chiều

Personal Shopper: Nỗi sợ hãi là thứ để quan sát và nghi vấn

Published

on

Nếu trong văn học, thông qua tác phẩm The New York Trilogy, Paul Auster đã tạo ra một thể loại mà nhiều người gọi là giả trinh thám thì trong điện ảnh, Olivier Assayas cũng đã làm điều tương tự với Personal Shopper, chỉ khác là ở đây chúng ta có phim giả kinh dị chứ không phải truyện giả trinh thám. Tuy nhiên, cả hai đều hướng đến việc chuyển hóa câu hỏi “Ai đã làm việc đó?” thành “Tôi là ai?” trong tác phẩm của mình. Và vì vậy, Personal Shopper là cuộc truy cầu về cái tôi bên trong hơn là khách thể bên ngoài.

Cảnh đầu tiên của phim là cảnh một chiếc xe hơi dần tiến vào bên trong ngôi nhà hoang vắng nằm trên sườn núi. Maureen (Kristen Stewart) chia tay với cô chủ nhà Lara (Sigrid Bouaziz) để vào ngủ qua đêm một mình tại ngôi nhà. Đây là cảnh mở đầu rất thường gặp trong phim kinh dị. Không để khán giả phải đợi lâu, vài phút sau đó, Maureen cảm nhận điều kì lạ trong ngôi nhà vào tối hôm ấy. Cô dường như đang cố gắng tìm cách liên lạc với linh hồn nào đó. Và ngay trong cảnh này – cảnh nội về đêm đầu tiên của phim, chúng ta có thể nhận thấy một số điều trái với cách xử lí thông thường của phim kinh dị. Ở cảnh này, bóng tối tràn ngập khắp khung hình đến nỗi hậu cảnh hoàn toàn tối đen trong thời gian khá dài; và do đó, khán giả chỉ thấy được khuôn mặt Maureen khi cô dò dẫm bước đi trong nhà. Với những phim kinh dị khác, dù nhân vật có bước vào nơi tối tăm thế nào, hậu cảnh cũng không bao giờ hoàn toàn đen tuyền mà khán giả vẫn có thể thấy lờ mờ đồ vật, không gian xung quanh – chính điều này tạo ra sự sợ hãi, duy trì sự hồi hộp khi ta vừa mơ hồ cảm nhận mối nguy hiểm, vừa thấy được một chút ngoại cảnh xung quanh song lại không nắm rõ được hết tất cả những góc khuất mà từ đó, một thế lực tàn ác sẽ thình lình lao vào tấn công ta. Cũng chính vì điều này, khi hậu cảnh đã mất đi hay bị đồng hóa với bóng tối nguyên sơ, công tắc nỗi sợ hãi đã được gạt xuống; thay vào đó, sự tập trung dành cho tiền cảnh – tức nhân vật chính của chúng ta được tăng cường hơn bao giờ hết. Nỗi sợ hãi không tồn tại mà chỉ có sự quan sát nỗi sợ hãi, hay gần như sợ hãi từ người bạn chúng ta vừa quen và chưa biết nhiều thông tin về cô. Thông qua cảnh này, có lẽ Assayas muốn ẩn ý với khán giả rằng cuộc tìm kiếm đối tượng siêu nhiên thực chất không quan trọng, thứ chúng ta hay Maureen cần tập trung hơn chính là bản ngã của cô. Và tinh thần ấy được duy trì suốt phim.

Sau đó, ta biết được Maureen có người anh trai sinh đôi mắc bệnh tim hiếm gặp đã chết vì đột quị và Maureen cũng mắc căn bệnh tương tự, cần được theo dõi thường xuyên. Lewis – anh trai của Maureen có khả năng ngoại cảm, anh tin rằng Maureen cũng có khả năng đó, hai người lập giao ước nếu một trong hai chết trước, người chết phải tìm cách liên lạc với người còn sống trong vòng ba tháng. Maureen tuy không tự tin vào khả năng ngoại cảm của mình nhưng luôn chờ đợi anh. Ban ngày, cô làm trợ lí thời trang cho người mẫu Kyra (Nora von Waldstätten); về đêm, đôi khi cô ngủ lại nhà cũ của Lewis để chờ đợi những tín hiệu. Như những phim tâm lí thông thường của Pháp, Personal Shopper kiệm lời thoại, những tình huống kịch tính và không có cú hook đầu phim hay inciting incident để lôi khán giả hòa vào câu chuyện với những thách thức, bí ẩn được đặt ra cho nhân vật. Vì vậy, lớp truyện trên không phải được khám phá qua hồi một của phim theo kiểu cấu trúc Hollywood chia ba hồi rõ ràng; ngược lại, nó là sự góp nhặt từng mảnh vụn chi tiết thông qua sinh hoạt của nhân vật và đối thoại rải rác trong phim. Điều đó cũng có nghĩa là chẳng có bất kì sự kiện nào trong phim bị đặt vào tình thế cấp bách, cần phải giải quyết khẩn trương trong khoảng thời gian có hạn (một quả bom cài giờ đặt dưới bàn, như cách nói của Hitchcock). Việc này khiến cho cảm giác về thời gian trong phim không còn quan trọng nữa. Vì được kéo dài tùy ý, thời gian trở thành thứ chậm chạp, uể oải – nơi mọi thứ diễn ra mà không thực sự diễn ra; do đó, khi có ai hỏi Maureen rằng cô đang làm gì, cô đều ngần ngừ trả lời rằng: “Tôi đang đợi.” Tuy rằng, cô biết mình chờ đợi điều gì nhưng lại không chắc chắn về điều mình chờ đợi; điều đó khiến cho cái chờ của cô phần nào đó tương tự như “chờ Godot”. Và như thế, dù có rất nhiều sự kiện diễn ra trong Personal Shopper, chúng thật sự không dẫn đến kết quả nào cụ thể vì mục tiêu của chúng đều là để chờ đợi; để bị nhốt, bị giới hạn trong nhà tù có tên chờ đợi; để là một thành phần trong tổ hợp chờ đợi và không bao giờ vượt thoát khỏi nó. Vậy nên, Personal Shopper được kể ra không phải để thấy kết quả của sự chờ đợi, nó chỉ trình hiện sự chờ đợi.     

Phong cách giả tài liệu mà các nhà làm phim Pháp thường theo đuổi: không kể chuyện bằng việc tập trung vào một biến cố kịch tính mà tản mác giữa các sự kiện đặc biệt là những sinh hoạt đời thường của nhân vật; đã tạo ra sự đa thanh cho Personal Shopper. Ở những phân cảnh Maureen đi shopping, chìm đắm trong cuộc sống chán chường với công việc cô không thực sự thích nhưng lại không thể từ bỏ khiến bộ phim mang màu sắc tâm lí xã hội kể về cô gái trẻ cô độc. Những phân cảnh Maureen cố gắng tìm cách liên lạc với anh trai về đêm, như đã phân tích, lại khiến bộ phim mang màu sắc semi-horror hay mystery. Cuối cùng, những phân cảnh Maureen nhắn tin qua lại với một người người ẩn danh dường như đang quan sát rất rõ cuộc sống của cô khiến bộ phim mang màu sắc thriller. Điều quan trọng là, không một thể loại nào giữ vai trò chủ đạo trong phim, tất cả như những nhân cách bình đẳng với nhau, thay phiên nhau bước ra sân khấu trong bộ phim đa nhân cách này. Với một số người, đây có thể là nguyên nhân khiến họ không thích Personal Shopper vì sự rời rạc ấy. Tuy nhiên, tôi lại thích chính sự rời rạc đó, nó cho tôi cảm giác lạc lõng, hoang mang, chán nản, muốn buông xuôi tất cả mọi thứ của Maureen. Dường như, tôi cũng đang trải qua giai đoạn giống như chính cô. Tôi không biết mình thực sự muốn làm điều gì, hay tôi biết mình muốn làm điều gì nhưng vẫn còn đang chờ đợi điều gì đó khác nằm ngoài mình mà chính tôi cũng không rõ đó là điều gì. Mọi thứ rời rạc và mỏi mệt trong khi chính bản thân tôi lại không có quyết tâm để đi theo bất cứ con đường nào, trong lòng luôn mấp mé suy nghĩ về sự lựa chọn tối hậu là buông xuôi tất cả, mặc ngày mai ra sao. Tôi xem Personal Shopper trong một cơn sốt, người tôi hơi nóng, cổ họng đau ran, mũi cứ nhập nhèm nước. Chính vì vậy, có lẽ bản thân cơn bệnh đó đã góp phần phủ thêm lớp màu buồn bã khi tôi xem phim, khiến cho bộ phim trong tôi trở nên buồn hơn mức nó có thể tác động nếu như tôi xem trong tình trạng cơ thể bình thường. Nhưng xem phim khi bị bệnh cũng có cái hay: nó khiến ta hoàn toàn bấu víu vào màn hình như loài kí sinh trùng để tìm một cơ thể khỏe mạnh khác ngõ hầu làm nguồn sống cho sự sinh tồn rã rời của mình. Vậy nên, tôi rất thích cách Maureen trả lời ấp úng nhưng thường xuyên lặp đi lặp lại câu: “Tôi đang đợi.”

Diễn xuất của Kristen Stewart trong Personal Shopper bị một số nhà phê bình trên Rotten Tomatoes chê là còn nhiều hạn chế. Tôi có thể hiểu vì sao có luồng ý kiến này. Khuôn mặt cô không có nhiều biểu cảm trong phim; hơn nữa, các phân đoạn đẩy cảm xúc lên mức kịch tính trong Personal Shopper cũng không nhiều. Tuy nhiên, tôi lại thích sự ít biểu cảm này bởi vì Kristen diễn tả được một sắc thái rất quan trọng trong cuộc sống của Maureen: sự lờ đờ thẫn thờ, thiếu ý chí, mất tập trung. Và, với một người đang chán nản cuộc sống, làm sao họ có thể có biểu cảm đa dạng khi nhìn ngắm mọi thứ xung quanh?

Trong Personal Shopper, Assayas thường xuyên dùng hiệu ứng fade out cảnh sang khung hình đen để chuyển giữa ngày này với ngày kia, sự kiện này với sự kiện kia. Đây là điều mà thông thường các nhà làm phim sẽ cố gắng tránh vì cách chuyển cảnh đơn giản này dễ gây ngắt mạch cảm xúc, khiến bộ phim tựa như sân khấu. Tuy nhiên, chính cách chuyển này lại tạo ra sự phân mảnh, góp phần vào cảm giác rời rạc dành cho phim. Personal Shopper cũng áp dụng thủ pháp tỉnh lược ở một sự kiện – có lẽ là quan trọng nhất trong phim, bằng cách chuyển cảnh đột ngột và sau đó, sự kiện này chỉ được nhắc lại qua lời kể của nhân vật. Việc này có lẽ không gì khác ngoài mục đích tạo thêm sự mờ ảo cho phim.   

Màu sắc trong Personal Shopper rất tối, không chỉ nội cảnh ban đêm mà còn là ngoại cảnh ban ngày. Nghĩa là, màu sắc được chỉnh ở mức low contrast; và chính sự ít tương phản hay chỉ tương phản vừa đủ ấy trong phong cách flat color grading lại khiến cho mọi thứ mang cảm giác thực tế khi nhân vật như chìm vào cảnh vật, hoàn toàn không quá nổi bật.

Ở một trong những cảnh gần cuối phim, Olivier Assayas có cách xử lí khiến tôi nhớ đến It Follows của đạo diễn David Robert Mitchell. Đó là cảnh trung cho thấy Maureen đang ngồi trong vườn thẫn thờ trầm tư, đằng sau cô là dáng người bình thường cầm chiếc ly đi qua khung cửa sổ nhà bếp, và khi đến gần cánh cửa, người xem chỉ còn thấy mỗi chiếc ly lơ lửng trên không vài giây rồi vỡ tan tành xuống đất. Tuy nhiên, khác với It Follows, cảnh ấy không gây cảm giác đáng sợ, chỉ là chút kì lạ và nỗi buồn mơ hồ gợn lên trong lòng khi ta biết rằng mình chẳng bao giờ thấy được rõ ràng điều mình muốn thấy – trong trường hợp của Maureen là bằng chứng cho sự tồn tại của người anh trai đã mất.

“Anh đang ở đây phải không?”

“Hay chỉ có một mình em thôi?”

Một tiếng giậm chân không rõ nguồn cơn vang lên trong không trung.

Đó là sự đồng ý cho câu hỏi nào, hay thậm chí, có thể là cho cả hai câu hỏi trái ngược đến mức triệt tiêu nhau như thế, điều ấy sẽ phụ thuộc vào sự lựa chọn riêng của mỗi người.   

Điểm đánh giá: 7/10
Kodaki

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Một đốm diêm tàn

Ngày tuyển U22 giành huy chương vàng SEA Games và phủ kín sóng truyền thông, có một chuyện quan trọng khác xảy ra – Công ty Diêm Thống Nhất chính thức thông báo dừng sản xuất.

Published

on

Thật khó diễn đạt cảm xúc của tôi trong buổi sáng ấy. Làn sóng ký ức ập tới, ồ ạt vỗ vào từng góc não, lớp sau xô lớp trước. Mùi diêm sinh ngắn ngủi và mong manh đã góp phần định hình tuổi thơ. Từ ngọn nến sinh nhật đến câu đố vui trên báo Thiếu Niên Tiền Phong, từ tủ hàng của mẹ đến nơi bố ngồi xem thời sự, từ lúc ngây ngô đến khi nổi loạn.

Biểu tượng con chim bồ câu ngậm bông hồng, sải cánh bay trên nền trời xanh đã ăn sâu vào tâm khảm tôi, tưởng chừng không thể tan biến. Chúng đáng lẽ phải luôn hiện hữu trong thực tế, dù tôi mỗi năm lại già đi và cuộc sống vốn luôn đổi thay.

Đợt sóng ký ức dừng lại ở tuổi 20, nơi bức ảnh này ra đời. Đó là một ngày Hà Nội mùa Đông tại cà phê Cộng. Hộp diêm Thống Nhất trên bàn, ba ly nước, hai chiếc gạt tàn.

Và tôi sực nhớ ra nhiều điều khác, những mảnh rời rạc được chắp vá, tạo thành bức tranh quá vãng hoàn chỉnh. 20 tuổi, tôi từng coi Anything but Ordinary của Avril Lavigne là ca khúc phản thân.

“Sometimes I get so weird
I even freak myself out
I laugh myself to sleep
It’s my lullaby

Sometimes I drive so fast
Just to feel the danger
I want to scream
It makes me feel alive…”

Bị khùng bị điên là đặc quyền của tuổi 20 phải không? Chặng đường nào đã dẫn tôi rời khỏi Anything but Ordinary, những cuộc trò chuyện bất tận về truyện của Haruki Murakami, tình yêu và tình bạn trong năm tháng ấy?

https://www.youtube.com/watch?v=0pdOTyk5azQ

Gần đây, tôi có cuộc nói chuyện dài sau nhiều năm với một trong những người bạn thân ở tuổi 20. Haruki Murakami thật sự có biệt tài đưa mọi viễn cảnh mờ nhạt và tế vi nhất phô diễn trên câu chữ. Tôi đã quên gần hết nội dung cuốn Tazaki Tsukuru Không Màu, nhưng màn tái ngộ đập vào mặt tôi ký ức về một cuộc hội thoại trong sách. Chính là khi Tsukuru gặp lại Xanh, thành viên thuộc nhóm bạn tâm giao thời niên thiếu của anh, nay đã thành sales xịn trong hãng xe Lexus. Xanh phệ bụng, mỗi tuần đi đánh golf một lần để tiếp khách. Xanh chỉ làm việc với giới thượng lưu. Kết thúc của chương sách như sau:

“Khoảng thời gian ba mươi phút có thể là ngắn ngủi đối với hai người bạn cũ sau mười sáu năm hội ngộ. Chắc chắn còn nhiều chuyện chưa nói hết. Nhưng đồng thời, Tsukuru cũng cảm thấy giữa hai người đã gần như chẳng còn gì quan trọng để nói với nhau hơn nữa”.

Cái cách diêm Thống Nhất có thể khơi dậy tất cả những điều này mới thật sống động và kỳ quặc. Trong đêm, khi ngoài phố là tiếng reo hò và chiêng trống của đoàn xe đi bão, tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất: “Những người bạn năm 20 của tôi, các bạn có khỏe không?”.

P/S: Và sau đó, trước những than van và nuối tiếc của cộng đồng, Công ty Diêm Thống Nhất đã quyết định tiếp tục sản xuất diêm!

Hải Âu

Đọc bài viết

Trà chiều

Tình yêu không ai bán, nhưng chúng ta lại đang mua (rất nhiều)

Published

on

Nếu bạn tình cờ có người yêu và xài mạng Viettel vào những năm 2010, tình yêu lúc đó là 3k/100 tin nhắn/ngày, giới hạn 80 kí tự một tin nhắn có dấu hoặc 160 kí tự tin nhắn không dấu. 10 năm sau, tình yêu là khung chat mạng xã hội, online 15 phút trước nhưng không đọc, seen 3 giờ trước nhưng không trả lời.

Thời gian thay đổi phương tiện biểu đạt tình cảm, nhưng đồng thời cũng thay đổi cách thức diễn giải tình yêu.

Thời cổ đại, triết gia Hy Lạp Plato tin rằng dạng thức tình yêu cao nhất là không-lãng mạn, không-sex; như tình gia đình hay tình huynh đệ. Người ta không cưới vì yêu, vì yêu làm quái gì khi kiếm cái ăn nhét vào mồm và sinh con đẻ cái mới là vấn đề sống còn. Nhiều nền văn hóa xem tình yêu như một căn bệnh không may mà tất cả chúng ta đều phải trải qua để bước vào đời, như bệnh sởi (Mark Manson).

Mãi đến thế kỉ 19, khi chủ nghĩa Lãng mạn bước ra sân khấu thế giới, cảm xúc con người mới đột nhiên có giá trị. Những cặp đôi bắt đầu mơ màng về tình yêu thiêng liêng, hạnh phúc cùng nhau đến suốt kiếp. Tình yêu kiểu đại gia Gatsby: đốt tiền hàng tuần tổ chức tiệc tùng với hy vọng người trong mộng vô tình đặt chân đến nhà. Tình yêu kiểu bà Bovary: “Tình yêu, cô tin, phải đến, bất thần, với tiếng sét đinh tai và tia chớp chói lòa, một cơn bão từ trên trời giáng xuống đời mình, như một cuộc tàn phá, tước nát lý tưởng như chiếc lá và ném linh hồn của mình xuống đáy vực sâu.”

Các nhà sinh hóa thế kỉ 20 giải thiêng tình yêu là nồi lẩu hormone của serotonin, dopamine, oxcytoxin và một nhúm các chất hóa học khác. Mọi người kêu lên: Nếu tình yêu là kết quả của hormone thì đó cũng là hormone của tôi. Việc tôi tiết hormone với người này mà không tiết hormone với người kia chứng tỏ tình yêu vẫn là định mệnh viết trong sách trời.

Mọi người chắc chưa?

Chúng ta tin tình yêu không ai bán nhưng kì thực lại đang mua một tá định nghĩa về tình yêu. Từ những nhà làm phim, nhà buôn bán, nhà marketing. Phim ảnh và mạng xã hội bán cho chúng ta tình yêu là kim cương và danh vọng, là ba vòng và sáu múi, là người sẵn sàng chết trong lòng một ít hay bán trong nhà một mớ vì ta. Dạng người khiến ta thổn thức bồi hồi, dạng người khiến ta tiết hormone tình yêu ào ạt là dạng người mà ta xem qua phim, đọc trong sách, lướt trên mạng ngày này qua tháng nọ. Chẳng có tình yêu thiên định, chỉ có tình yêu được đóng gói đẹp đẽ và bán cho ta với giá hời.

Mua những gói tình yêu có sẵn, khi yêu, chúng ta yêu ai đó không vì chính bản thân họ, mà yêu những ảo tưởng về họ mà ta dựng lên trong đầu mình. Tình yêu thăng hoa khi đối phương hành xử y hệt định nghĩa của mình về tình yêu. Nhưng ảo tưởng thì không có thật và tình yêu dựa trên ảo tưởng cũng vậy. Ngay lúc chàng soái ca bắt đầu ngoáy mũi, ngay lúc nàng kẹo ngọt bất ngờ chửi thề, tình yêu văng mảnh.

Nhưng chính thời điểm người ta vỡ mộng về nhau cũng chính là lúc tình yêu thật sự bắt đầu. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta trả lời tin nhắn sau 30 giây, và lúc họ không nhắn được một cái tin tử tế trong vài ngày. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta khiến mình tiết hormone hạnh phúc, và lúc họ gây cho mình những ức chế của hormone. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta nói yêu mình, và lúc họ nói không còn yêu mình nữa. Vì có thể loại tình yêu nào có thể bất thần chuyển thành ghét bỏ khi người ta từ chối yêu mình?

Chẳng mấy ai chịu ở lại để dọn những mảnh tình ảo tưởng vỡ và để sự thật trần trụi của yêu đương cứa vào tay. Chúng ta bỏ chạy ngay khi tình yêu vừa kịp đến, chọn mua tình yêu ăn liền thay vì bỏ công cực nhọc nấu nướng, để Bích Phương cứ phải hát đi hát lại: “Tại sao anh yêu biết bao người mà vẫn không hiểu tình yêu?”

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Trà chiều

Điều gì quan trọng hơn?

Vài ý nghĩ sau khi đọc Cỗ Máy Thời Gian của H. G. Wells.

Published

on

Cỗ máy thời gian đưa nhà du hành tới năm 802.701 sau Công Nguyên. Ở đó, con người đã chia thành hai chủng. Một chủng lao động quần quật dưới lòng đất lạnh, tăm tối và hôi thối; một chủng sống đời nhàn hạ, lụa là, biếng nhác trong ánh mặt trời. Một chủng vượt trội về ưu thế tiến hoá do phải đấu tranh, giành giật thực phẩm; một chủng ngày càng suy thoái, tàn nhược do được sống trong nền công nghiệp hoá tối ưu đến mức sức lao động của con người trở nên thừa thãi.

Năm 1895, H. G. Wells hẳn không thể hình dung nổi cái gọi là AI hay ASI. Trí tuệ nhân tạo mà Stephen Hawking và Elon Musk luôn nhắc đến như quỷ dữ đang được triệu hồi là khái niệm quá trừu tượng trong thế kỷ 19. Thậm chí vẫn chưa thật quen trong hiện tại này, thời điểm này.

H. G. Wells có thể mường tượng đến cảnh Trái Đất nóng lên nhiều lần, độ nghiêng trục quay Trái Đất thay đổi dẫn đến những biến đổi về khí hậu và hệ sinh thái. Tuy nhiên trong những tưởng tượng xa nhất của ông, con người vẫn sống và chỉ bị tuyệt diệt bởi điều kiện tự nhiên như mặt trời hết năng lượng và tàn lụi. Ông không thể hình dung ra cảnh một con robot vô tri bỗng dưng hoá thành đấng sáng tạo với IQ cao hơn con người 12.000 lần và có thể thổi bay cả hành tinh chỉ trong vài giờ.

Học thuyết Kurzweil dựa trên Luật tăng tốc theo cấp số nhân nói rằng, chỉ trong 14 năm từ 2000 tới 2014, con người đã tạo ra khối lượng phát triển tương đương với khối lượng của toàn thế kỷ 20 dồn lại. Một người ở thế kỷ 19 nếu có thể du hành đến hôm nay, anh ta sẽ chết điếng chỉ vì Siri của Apple chứ chưa nói đến những AI cao cấp và đắt đỏ hơn cả ngàn lần khác.

Chỉ cần nhắm mắt lại và suy nghĩ về tất cả những điều này, tôi lại thấy số phận con người thật quá nhạt nhẽo và bé nhỏ trong vũ trụ. Và tôi không hiểu tại sao lại phải mất thời gian hằn học một ai đó. Không phải vì tôi nhân ái, mà vì tôi còn bận ngước cổ lên tìm sao trăng và phân tích bộ gân của một cái lá cây. Tôi quan tâm tới chuyện chòm Đại Hùng Tinh đang ở đâu trên trời hơn chuyện bị ai đó nghĩ sai, thật sự.

Rảnh quá thì coi hành trình tới ngày tàn của thời gian còn hơn.

https://www.youtube.com/watch?v=uD4izuDMUQA

Hải Âu

Đọc bài viết

Cafe sáng