Uncategorized
0xce7d5172
0xce7d5172
Trích đăng
Những ngày cuối cùng trước sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn – Trích “Rời khỏi Sài Gòn”
Trích từ: Rời Khỏi Sài Gòn - Hành Trình Một Nhân Viên Ngân Hàng Đưa 113 Thường Dân Rời Đi Vào Tháng 4/1975
Tác giả: Ralph White
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 06.2025
Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.
./.
GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ
Ngoài những hồi ức của tôi về các sự kiện, nguồn tư liệu chính cho cuốn sách này là một bản ghi nhớ dài chín trang mà tôi đã viết vào tháng 5/1975 gửi đến James Bish, phó chủ tịch cấp cao của Ngân hàng Chase Manhattan đặc trách khu vực Đông Nam Á, mô tả khá chi tiết những sự kiện tạo nên cuốn sách này. Khi mô tả các sự kiện, tôi tuân thủ những quy ước của hồi ký, vốn đòi hỏi phải đạt tiêu chuẩn cao về tính trung thực, đồng thời cho phép quyền sáng tạo trong việc tái hiện những cuộc hội thoại. Những câu từ trong dấu ngoặc kép là những lời đã được nói ra trước mặt tôi. Những sự kiện liên quan ở đây hoàn toàn đúng sự thật.
ĐIỆN TÍN CUỐI CÙNG VỚI NGÂN HÀNG CHASE MANHATTAN, CHI NHÁNH SÀI GÒN
VĂN PHÒNG HỘI SỞ CHASE CLG CHASE SÀI GÒN CÓ AI Ở ĐÓ KHÔNG
CÓ TÔI WHITE.
CẬU ĐANG LÀM GÌ Ở ĐÓ VÀ TẠI SAO CẬU KHÔNG RỜI ĐI TERMIJN BÂY GIỜ CÒN AI ĐANG Ở ĐÓ
TÔI LÀ WHITE STOP SÀI GÒN VẪN KHÁ YÊN TĨNH VÀ AN TOÀN VÀ NGÒI RA1
CÒN NGƯỜI NÀO KHÁC Ở ĐÓ KHÔNG
CÓ NHIỀU NGƯỜI ĐANG Ở ĐÂY STOP
BAO NHIÊU ĐÃ RỜI ĐI
SÁU MƯƠI HAI THƯA NGÀI VÀ NĂM MƯƠI SÁU CHO HÔM NAY STOP TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI KHÁC ĐÃ CHỌN Ở LẠI STOP CÓ VẺ KHÔNG CÓ VẤN ĐỀ GÌ VỀ CHUYỆN NÀY STOP ELLERMAN RẤT LO NGẠI VỀ VIỆC NGƯỜI GỬI SẼ NHẬN LẠI TIỀN NHƯ THẾ NÀO STOP ANH TA KHÔNG MUỐN KHÁCH HÀNG BỊ THIỆT HẠI VÌ GIAO DỊCH VỚI NGÂN HÀNG MỸ STOP HIỆN TẠI CHỨNG TỪ VÀ MÃ GIAO DỊCH ĐANG Ở ĐẠI SỨ QUÁN PHÁP THEO CHỈ THỊ CỦA NGÀI STOP NGÀI CÓ MUỐN TÔI ĐẾN GẶP THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG QUỐC GIA VỚI ELLERMAN VÀ CỐ GẮNG CHUYỂN TÀI KHOẢN SANG CÁC NGÂN HÀNG KHÁC KHÔNG STOP TÔI TIN RẰNG MÌNH VẪN CÒN THỜI GIAN ĐỂ LÀM MÀ KHÔNG GÂY TỔN HẠI CHO MỤC TIÊU KHÁC
DỪNG NGAY CHUYỆN VÔ NGHĨA ĐÓ LẠI VÀ CẬU ĐƯỢC CHỈ THỊ RỜI KHỎI VIỆT NAM CÙNG VỚI NHÓM CÒN LẠI NGAY HÔM NAY STOP TỔNG HỘI SẼ THÔNG BÁO CHO NGÂN HÀNG QUỐC GIA CẦN PHẢI LÀM GÌ STOP TÔI LẶP LẠI HÃY RỜI KHỎI ĐÓ NGAY TERMIJN
VÂNG THƯA NGÀI TÔI HIỂU STOP RÕ HOÀN TOÀN
THÔNG ĐIỆP TỪ ÔNG KLIMM GỬI ÔNG WHITE
VUI LÒNG ĐẢM BẢO MÃ GIAO DỊCH ĐÃ BỊ HỦY VÀ ĐÍCH THÂN MANG THEO TẤT CẢ VI PHIM CÓ SẴN TỐI NAY STOP
TÔI CÓ THỂ GỬI VI PHIM VÀ CHỨNG TỪ CỦA NGÀY CUỐI CÙNG QUA TÚI NGOẠI GIAO KHÔNG
CHỈ KHI ANH KHÔNG THỂ TỰ MANG THEO CHÚNG TÔI CHƯA NHẬN ĐƯỢC BẤT KỲ TÚI NÀO TRƯỚC ĐÓ STOP
ĐỒNG Ý SẼ MANG THEO STOP CÒN GÌ NỮA KHÔNG
CẢM ƠN VÀ VUI LÒNG ĐIỆN THOẠI HOẶC GỬI ĐIỆN TÍN THÔNG BÁO CHO CHÚNG TÔI TẠI ĐIỂM ĐẾN STOP TẠM BIỆT
TẠM BIỆT CAM ON
– Điện văn giữa tác giả với Văn phòng Hội sở Hong Kong của Ngân hàng Chase Manhattan ngày 25/4/1975

Chương 1
CHỦ NHẬT, 6/4 –
THỨ HAI, 14/4/1975
Phải mất nhiều thời gian hơn dự kiến tôi mới nhận ra những thay đổi kể từ khi tôi sống ở Sài Gòn bốn năm trước. Để biện minh cho mình, nơi chốn này quả là một đối tượng nghiên cứu về tình trạng quá tải giác quan. Năm 1971, tôi quản lý Ngân hàng American Express ở Pleiku, miền Nam Việt Nam, công việc đầu tiên của tôi sau khi tốt nghiệp đại học. Giờ đây, vào tháng 4 năm 1975, tôi quay trở lại để nhận một nhiệm vụ tạm thời ở Ngân hàng Chase Manhattan. Còn tạm thời như thế nào, không ai rõ cả.
Sài Gòn nhìn chung vẫn thế: tiếng rít chói tai của những chiếc xe máy hai bánh, những mảnh kính vỡ sắc nhọn trên chóp tường bao quanh các khu dân cư, những âm vị lảnh lót của tiếng Việt. Cái nóng và độ ẩm khiến người ta có cảm giác như những tấm áo khoác nặng nề. Tôi đăng ký lưu trú tại khách sạn Majestic, và trong khi đang tìm hiểu lại khu bờ sông thì chợt nhận ra: vào năm 1971, luôn có một đám mây bụi cao ngang ngực lơ lửng khắp thành phố. Giờ đây, bụi chỉ cao đến mắt cá chân. Tôi tự hỏi có bao nhiêu người đã nhận ra điều đó.
Tình hình quân sự đầu năm 1975 vốn dĩ đã hai năm rõ mười. Sau năm 1973, 70.000 quân từ miền Bắc tiến vào miền Nam Việt Nam. Đây là lực lượng chính quy có kỷ luật cao, được huấn luyện bài bản và được trang bị đầy đủ. Những người này mang quân phục, điều mà du kích quân địa phương thường không làm. Họ là quân chủ lực. Khi vượt qua vùng phi quân sự, DMZ, phân định Bắc – Nam, lực lượng này chẳng vấp phải sự kháng cự nào từ các đồng minh miền Nam Việt Nam của chúng ta, và khi quân đội miền Nam đứng lên chiến đấu, họ đã bị loại khỏi vòng chiến đấu. Cuộc rút lui của họ đã trở thành huyền thoại vì sự hỗn loạn và ô nhục. Vào ngày tôi đến, xe tăng của quân đội miền Bắc Việt Nam nằm phục ở vùng phụ cận và cách Sài Gòn chỉ một ngày dợt xe nhàn nhã. Không một người có lý trí nào lại nghĩ rằng Sài Gòn có thể cầm cự được lâu hơn. Chính suy nghĩ đó của Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin đã khiến cho sự tỉnh táo của ông ta trở thành đề tài bàn tán hằng ngày. Ngân hàng Chase Manhattan không có chiến lược rút khỏi Việt Nam, trừ khi các anh tính đến tôi.
Chúng tôi có 39 nhân viên người Việt và phải giả định rằng họ sẽ gặp rắc rối nếu chúng tôi để họ ở lại. Chuyện đó đã xảy ra với nhân viên các doanh nghiệp nước ngoài ở Campuchia khi Khmer Đỏ giành quyền kiểm soát. Hơn nữa, giám đốc Chi nhánh Sài Gòn của chúng tôi, Cornelis Termijn, mang hộ chiếu Hà Lan và không chịu tin rằng chính phủ Mỹ sẽ sơ tán anh ta nếu tình hình trở nên căng thẳng. Về mặt chính thức, chúng tôi vẫn nói nếu. Chase cần một người Mỹ để duy trì hoạt động của Chi nhánh Sài Gòn trong khoảng thời gian chừng nào có thể. Ứng cử viên lý tưởng để thay thế Termijn tốt nhất là ở gần đó, còn trẻ, độc thân và, nói một cách huỵch toẹt, là biết chịu thiệt. Có kinh nghiệm làm việc ở Việt Nam, giống như tôi, lại càng nhất cử lưỡng tiện.
Giám đốc điều hành cấp cao của Chase tại Văn phòng Hội sở châu Á – Thái Bình Dương ở Hong Kong là John Linker. Ban đầu, John đã tiếp cận một viên chức khác của Chase, Gael Blake, về việc giải vây cho Cor Termijn ở Sài Gòn, và câu trả lời của người này là một tiếng cười khùng khục đầy lo lắng, có lẽ đã phản ánh rõ khả năng biết chịu thiệt của đề xuất. Cái họ Blake vốn bắt nguồn từ tiếng Anh cổ nghĩa là đen đủi. Lựa chọn thứ hai của Linker là một gã trai tên White.
John Linker có dáng người mảnh khảnh và điển trai, hoạt bát và tự tin, có tố chất lãnh đạo và là một nhân vật đầy triển vọng trong ngân hàng. Tôi chưa từng gặp John trước khi anh ta đến Bangkok để tuyển mộ tôi cho sứ mệnh này; tôi ngờ là anh ta thậm chí còn chưa từng nghe nhắc đến tên tôi. Mà tìm tôi cũng chẳng dễ gì. Nếu nắm bắt thông tin tốt hơn thì anh ta đã không bắt đầu tìm kiếm tôi vào dịp cuối tuần. Như thường lệ, tôi lại ở ngôi làng ven biển Pattaya, chèo thuyền và lặn biển vào ban ngày, rồi đắm mình vào việc học tiếng Thái chuyên sâu đến tận khuya.
Tôi vừa mới được phân nhiệm ở Chi nhánh Bangkok của Chase vài tháng trước với tư cách là nhân viên thẩm định tín dụng doanh nghiệp cấp thấp. Một chương trình đào tạo kéo dài một năm ở New York đã dạy cho tôi cách phân tích báo cáo tài chính và kế toán chỉ vừa đủ để phân biệt một khách vay thương mại vững mạnh với một khách vay rủi ro cao. Mục tiêu của hệ đào tạo là loại bỏ các khoản tín dụng xấu, nhưng ban quản lý địa phương ở Bangkok lại có cái nhìn toàn diện hơn. Họ nói với tôi rằng anh không thể xoay trở ở Bangkok mà không gặp phải một doanh nghiệp đáng ngờ nào đó sẵn lòng trả tiền để có được đặc quyền hợp tác làm ăn với Chase. Họ cũng chỉ ra rằng tiền thưởng được trả cho việc ghi các khoản vay vào sổ sách chứ không phải để giữ chúng lại. Tôi còn đang tìm cách xoay trở với chuyện đó thì Tướng Văn Tiến Dũng của quân đội miền Bắc Việt Nam đã nghe thấy tiếng gọi của định mệnh và dẫn quân vượt qua vùng phi quân sự bị bỏ ngỏ của Việt Nam.
* * *
Đó là một buổi chiều muộn ngày Chủ nhật, 6/4/1975, khi Amat, một trong những tài xế của ngân hàng, gõ lên cánh cửa gỗ tếch chắc chắn ở căn hộ của tôi tại Bangkok. Tôi nói rất rõ với Amat kế hoạch hòa nhập văn hóa của mình, và anh ta biết phải nói chuyện với tôi một cách chậm rãi bằng tiếng mẹ đẻ của mình. “Sếp lớn bảo đưa anh đến nhà ông ấy ngay bây giờ.”
Sếp lớn hẳn là Henk Steenbergen, một trong những công dân Hà Lan, cũng giống như Cor Termijn ở Sài Gòn, người đã được Chase tuyển dụng sau khi chúng tôi kiếm được giấy phép hoạt động ngân hàng ở Đông Nam Á từ Nationale Handelsbank vào năm 1962. Với rất ít ngoại lệ, các nhà quản lý người Hà Lan hầu hết đều là những kẻ vô dụng. Nhìn chung, họ là con trai thứ hai hoặc thứ ba của những người nông dân trồng hoa tulip, được điều đến một số múi giờ ít người biết đến để tìm kiếm vận may sau khi người anh cả thừa hưởng trang trại của gia đình. Những người Hà Lan lớn tuổi này nói chung đã kiếm được một số tiền lớn cho ngân hàng khi nền kinh tế địa phương bùng nổ, nhưng cũng đánh mất đi khoản lợi nhuận đó trong thời kỳ suy thoái. Kế hoạch kinh doanh mới của Chase kêu gọi lợi nhuận ít biến động hơn, mở ra làn sóng các MBA đầu tiên của Ivy League2 đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Chúng tôi phải ngừng gọi nơi này là Viễn Đông khi người dân địa phương chỉ ra rằng họ chẳng ở xa thứ gì cả. Chúng tôi, những người nước ngoài, có thể là dân lưu vong, chứ họ thì đang ở nhà.
Hầu hết các giám đốc điều hành người Hà Lan đều xem Chase như an dưỡng đường trong những năm tháng yên ổn trước khi về hưu. Một đội ngũ đông đảo các nhân viên sẽ cung cấp sự trợ giúp. Ngoài tài xế, họ còn có bảo vệ, đầu bếp, nhân viên hồ bơi, người làm vườn, quản gia và bảo mẫu chăm sóc đám cháu chắt đến thăm. Họ còn có cả hỗ trợ viên, thường là các cựu cảnh sát đã nghỉ hưu với mạng lưới rộng khắp và hồ sơ ghi chép tỉ mỉ các khoản ân huệ phải thu. Cần một cuộc hẹn với Bộ trưởng Tài chính ư? Gọi cho hỗ trợ viên. Bị đụng xe sao? Hỗ trợ viên. Bệnh lậu à? Hỗ trợ viên.
Henk Steenbergen hưởng lợi từ nền kinh tế Thái Lan vững mạnh với một vài tay đầu cơ đẳng cấp thế giới lượn quanh. Không một ai, kể cả bản thân Henk, biết ông ta sẽ đứng ở đâu trên bậc thang năng lực nếu không có vận may và nền kinh tế phát đạt.
Amat dừng lại ở lối vào nhà của giám đốc điều hành quốc gia, và một người hầu mở cánh cổng sắt cọt kẹt dẫn vào Thiên đường. Những viên đá lát trên bãi cỏ được cắt gọt cẩn thận theo hình dạng hồ bơi uốn lượn bao quanh bởi những cây cọ dừa. Một lối đi quá gần mặt nước như vậy sẽ không an toàn cho những ai không quen nồng độ của bia Thái, chứ đừng nói đến ganja3 Thái, đang loạng choạng về nhà dưới ánh trăng.
Henk Steenbergen, 51 tuổi, và một người đàn ông khác, hơn tôi không quá bảy tuổi, nhỏm dậy khỏi ghế hồ bơi khi tôi bước ra từ hàng cọ. Giọng Hà Lan là một trong những giọng nói có đặc điểm riêng biệt tùy vào từng người. Nó có thể truyền cảm hoặc lịch duyệt, trơn tuột hay thân thiện. Đó là một chất giọng thực sự linh hoạt. Giọng Steenbergen rõ là đang ngượng nghịu. Sự trái ngược giữa ông ta và John Linker, người đàn ông còn lại, chẳng thể nào sinh động hơn.
John quan sát tôi, chăm chú và soi mói đến độ tôi đoán là chẳng có gì nhiều về bản thân tôi mà anh ta chưa từng nghe nói, đọc vị hoặc cảm nhận được. Anh ta tiếp tục đánh giá trong lúc đôi bên bắt tay nhau và cả khi chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn ngoài trời. Khi nhớ lại, đôi mắt của John chính là thứ tôi lưu tâm nhất, chúng vô hồn, giống như nụ cười của Mèo Cheshire4.
Một người phục vụ trao cho tôi ly nước chanh và tôi kín đáo hỏi bằng ngôn ngữ của cô ta xem nó có muối không, vì rằng phong tục ở đây cho rằng muối có lợi cho sức khỏe trong khi nền văn minh phương Tây chưa khám phá ra điều đó. Cô ta: Có. Tôi: Tôi thích không có hơn. Cô ta: Chờ xíu. Đó là một cuộc trò chuyện vỏn vẹn bảy giây, trong một khuôn khổ từ vựng rất thô sơ.
John nói: “Ấn tượng đấy. Cậu ở đây bao lâu rồi?”
“Hai tháng.”
“Rất ấn tượng. Tiếng Việt của cậu thế nào?”
“Vài trăm từ, có thể là ba trăm.” Nhìn lại thì việc cuộc gặp này sẽ đi về đâu vốn dĩ đã rõ rành rành, nhưng ngay lúc đó nó chỉ là cuộc nói chuyện xã giao dưới vòm dừa cọ xào xạc.
“Thử nói thêm gì đó bằng tiếng Việt đi.”
Ly nước chanh không muối của tôi đã đến và tôi nhấp một ngụm. “Được thôi.” Những cụm từ chắp vá có được từ nhiều năm trước ở Tây Nguyên lại vọng về trong tôi. Một nụ hôn thôi mà. Tôi phải về nhà. Hai lon bia. Tôi ngại. Ngậm đi. Tôi không biết. Đẹp trai. Chả giò chấm nước mắm. 10.000 piastre5. Tên sở khanh. Xin lỗi. Tôi nhấp thêm một ngụm nước chanh nữa, bỗng dưng lại thấy lo lắng, biết đâu John cũng biết đôi chút tiếng Việt đủ để nhận ra tôi là một cậu học sinh chểnh mảng đến mức nào.
Cùng với việc triệu hồi những từ ngữ bị xếp xó đã lâu là sự xuất hiện của những hình ảnh đầy cảm xúc ngày đó. Những đàn bướm khổng lồ bay dập dờn trên cánh đồng. Những chiếc xe Renault cổ rong ruổi trên đường phố. Những tên trộm chạy xe máy. Hương vị ngọt ngào thum thủm của quả sầu riêng. Ván bài bị gián đoạn bởi tiếng ầm ầm của những đợt ném bom B-52 xa xa. Một bà già ngồi dưới đất mải mê chà xát lòng bàn chân mình. Vết nứt dài trên mặt bàn bi-da ở câu lạc bộ sĩ quan Pleiku, tạo nên sân chơi gồ ghề cho cả hai cơ thủ.
“Tôi được biết cậu có giấy phép lái máy bay và chứng chỉ thuyền trưởng du thuyền.”
Rõ là John đã làm một số bài tập về nhà. Tôi có thể lái máy bay. Tôi có thể chỉ huy một con thuyền. Tôi có thể nói ngậm đi bằng thứ ngôn ngữ mà chỉ những người mang dép tông đi làm mới hiểu được. Tôi tự hỏi anh ta còn biết gì nữa không. Anh ta có biết rằng tôi phải mất năm năm mới học xong đại học không, hay cha tôi đã đánh mất phòng mạch của mình chỉ vì ông thích Demerol6 hơn là làm cha? Chẳng phải ngẫu nhiên mà chuyện đó đã đặt tôi ở cách xa cha mình nửa quả địa cầu.
Làn nước trong xanh gợn sóng lăn tăn trên mặt hồ. Những người phục vụ lén lút liếc nhìn về phía chúng tôi trong lúc lăng xăng quanh khu nhà. Và lá cọ không ngừng vặn mình trên đầu, xào xạc.
“Cậu có biết Cor Termijn không?” Mắt John lại chuyển sang chế độ chụp X-quang.
“Chỉ mới nghe nói qua về anh ta thôi. Giám đốc điều hành quốc gia tại Chi nhánh Sài Gòn. Một tay cừ, tôi nghe nói thế”. Trên thực tế, qua nguồn thông tin đáng tin cậy, tôi biết Cor là một người có thói quen cố hữu và năng lực tiềm ẩn. Một trong những người Hà Lan có thực tài.
Steenbergen lên giọng. “Đó là đồng nghiệp cũ của tôi ở Handelsbank”. Một sự xác nhận không cần bảo chứng thật hoàn hảo.
Ngay lúc đó, tôi biết rõ lý do tại sao mình lại được mời đến bữa tiệc nước chanh của Steenbergen. Tôi vẫy người phục vụ lại, đưa cho cô ta chiếc ly rỗng của mình và lắp ráp một câu hoàn chỉnh đầu tiên tôi từng nói bằng tiếng Thái, Vui lòng cho thêm một suất đúp rượu whisky Mekong vào ly nước chanh tiếp theo của tôi. Những gã khốn này đang lăm le gửi tôi đến Việt Nam! Phe cộng sản đang đưa Tướng Dũng từ miền Bắc vào, còn phe tư bản rắp tâm gửi tôi đến miền Nam. Tôi gọi với theo người phục vụ sắp rời đi, Cho gấp ba luôn đi! Ngay cả địch thủ của Tướng Dũng cũng phải thừa nhận ông ta là một thiên tài chiến lược. Những người bạn thân nhất của tôi biết rằng tôi đã chơi chiêu để lấy được bằng phi công. Khi nhân viên của Cục Hàng không Liên bang yêu cầu tôi che một mắt và đọc bảng chữ trên tường, cái bảng có chữ E to đùng ở trên cùng, tôi bảo rằng mình sẽ bắt đầu với dòng chữ nhỏ xíu ở dưới cùng. “P-E-Z-O-LC-F-T-D.” Tôi đã thuộc lòng dòng chữ này trên bảng thị lực tiêu chuẩn sau khi bị mất mắt phải trong một tai nạn quần vợt. Khi ban tuyển quân yêu cầu tôi đọc bảng chữ tương tự, tôi đã nói, “Bảng thị lực nào?” Tôi phải thừa nhận rằng có gì đó hơi hèn hèn khi cùng một lúc vừa có bằng phi công vừa được hoãn quân dịch vì bị chột.
Người phục vụ quay lại với ly Mekong chua của tôi. Tôi đã phát minh ra thứ đồ uống tuyệt cú mèo đấy chứ.
John nói, “Cor sẽ rời Sài Gòn vào cuối tuần này. Vợ anh ta đã đi trước rồi, đồ đạc trong nhà cũng đang được chuyển đi”.
“Nếu vậy thì chi nhánh có lẽ sắp đóng cửa.”
Tôi khó lòng tưởng tượng ra việc Chase lại để một chi nhánh hoạt động mà không có giám đốc quốc gia là người nước ngoài. Đây là một cuộc trò chuyện kỳ lạ giữa nhân viên cấp thấp nhất mà Chase tuyển dụng ở Đông Nam Á với giám đốc điều hành cấp cao nhất. Điều này không khác nào việc một tay trung úy quèn đang chém gió với một vị tướng vậy. Những người phục vụ đi lại khẽ khàng và khung cảnh quyến rũ bên hồ bơi càng làm tăng thêm sự phi lý. Ly rượu whisky Mekong chua rõ là có ích nhưng chưa đủ.
“Chúng ta có đội ngũ nhân viên địa phương rất đắc lực ở đó”, John nói. “Chi nhánh tự vận hành hằng ngày. Vấn đề là các nhân viên còn lại đều là người Việt Nam. Nếu Cor rời đi, họ sẽ không còn động lực để tiếp tục làm việc. Họ sẽ tin rằng chúng ta đã bỏ rơi họ và cố gắng rời đi ngay khi có thể. Điều đó trên thực tế sẽ dẫn đến việc đóng cửa chi nhánh, và thêm vào đó là sự rối loạn đáng xấu hổ. Chính tôi sẽ là người quyết định xem có đóng cửa chi nhánh hay không và khi nào, chứ không phải là đám nhân viên bỏ việc.”
Tôi lăm le muốn chỉ ra cho vị sếp lớn của mình hiểu rằng đó chính xác là chuyện sẽ xảy ra trong thời chiến. Nhưng một lần nữa, John Linker không mời tôi trình bày quan điểm của mình. Anh ta đang chờ đợi câu trả lời Được hay Không. Tôi thì vẫn còn lăn tăn về chuyện đó. Tôi nói: “Tôi vẫn đang lắng nghe.”
John gọi người phục vụ đến, chỉ vào đồ uống của tôi và nói: “Cho tôi một ly giống vậy.”
Thứ đó còn khuya mới giống được. Tôi bảo cô ta, “Đưa cho anh ta loại còn zin ấy.” Khi cô ta cười khúc khích, tôi nhận ra người Thái không dùng từ này theo nghĩa đồ uống không chứa cồn. Thế nhưng cô ta vẫn hiểu. Ly nước chanh của John sẽ không bị pha tạp bởi rượu whisky Mekong.
“Cậu nói gì với cô ta đấy?”
“Nhớ đừng cho muối. Họ thường pha nó với muối”. John cần được đưa trở lại trọng tâm câu chuyện. “Ít nhiều thì anh cũng cần một người Mỹ ngồi vào bàn làm việc của giám đốc điều hành quốc gia, cho đến cùng”. Cho đến cùng là tiếng lóng quân sự thay thế cụm cho đến khi chiến tranh kết thúc. Kể từ năm 1965, nó đã được thay thế cho từ vô hạn định. Tướng Dũng đã lên kế hoạch cải tiến định nghĩa đó.
John nói: “Đấy chính là vấn đề”.
“Anh muốn tôi ở đó để khuyến khích nhân viên tiếp tục làm việc…” Lời nói khựng lại trên cửa miệng tôi… bằng cách mang lại cho họ cảm giác an toàn giả tạo ư. Cả hai chúng tôi đều không cần phải nói ra điều đó. John biết tôi biết, và tôi biết anh ta cũng biết. Ai mà biết được Henk nắm những gì? John đã không nói rõ kế hoạch của mình, vì nó chẳng khác nào việc gửi tôi đi làm con tin. Có tôi ở đó, đội ngũ nhân viên người Việt sẽ không tẩu tán và Chi nhánh Sài Gòn vẫn tiếp tục hoạt động – trong một khoảng thời gian mới được định nghĩa.
Tôi uống cạn ly đồ uống của mình và người phục vụ lập tức tiến lại gần. Cô ta có thân hình cân đối độ chừng 40 tuổi, duyên dáng và trang điểm đậm. Cô ta liếc mắt đưa tình với tôi.
“Thêm nhé?”
“Ừ.”
“Một ly bốc lửa chứ?”
“Hẳn rồi, cảm ơn.”
Cho đến nay, điều thiếu sót trong chiến lược của John chính là cái cách anh ta định thuyết phục con tin của mình bằng một hi vọng không đâu, điều được cho là sẽ lan tỏa đến các nhân viên bản địa. Rồi tôi chợt nhận ra anh ta không yêu cầu tôi làm gì cả. Anh ta chỉ đơn giản là gán sứ mệnh ấy cho tôi. Tại trận Gettysburg7, Tướng Longstreet có lẽ cũng đã nhìn Tướng Pickett giống như cách John Linker vừa nhìn tôi. Đó là cái nhìn mang ý nghĩa, tôi sẽ không có mặt ở đó, Pickett, vì thế mọi chuyện anh sẽ phải tùy cơ ứng biến đấy nhé. Có cố gắng thế nào đi nữa tôi cũng chẳng thể đồng cảm với Tướng Pickett được.
Thế nhưng, tôi vẫn hào hứng với lời đề nghị này. Nói theo một cách nào đó thì điều này cho thấy sự xem trọng của anh ta. Tôi có một tình cảm ban sơ với Sài Gòn. Và sẽ nối gót Somerset Maugham8, Graham Greene9, Joseph Conrad10. Người Việt Nam là một dân tộc thú vị và dễ mến. Còn quán cà phê sân hiên của khách sạn Continental thì phục vụ món bánh sừng bò thơm nức mùi bơ. Tôi gục gặc đáp: “Tôi nhận lời”.
Tôi không rõ chính xác là mình đã nhận lời làm gì, ngoài việc trông nom một đám nhân viên nào đó. John trông nhẹ nhõm hẳn ra. Giờ thì anh ta có thể báo cáo với Tổng hội rằng mình đã kiểm soát được tình hình. Anh ta vừa “thả dù” một gã người Mỹ trẻ tuổi có kinh nghiệm ở Sài Gòn đến thay thế cho tay giám đốc điều hành quốc gia sắp đào tẩu nhằm ngăn cản nhân viên đóng cửa chi nhánh. John sẽ thổi phồng khả năng nói tiếng Việt lưu loát của tôi. Anh ta cũng có thể đề cập đến chuyện tôi vẫn chưa đóng góp gì nhiều cho Chi nhánh Bangkok. Việc thông tin với Tổng hội rằng Henk Steenbergen chẳng cần gì ở tôi sẽ là phần trung thực nhất trong báo cáo của John.
* * *
Tuy nhiên, hẳn sẽ có ai đó nhớ tôi – đó là cô bạn gái Oie. Người Thái ai cũng có biệt danh vì ngay cả đối với người bản xứ, tên họ cũng có quá nhiều âm tiết. Trong tiếng Thái, từ oie có nghĩa là món mía ghim, và cô nàng thực sự là một người rất đáng yêu. Oie là người Thái gốc Hoa và tiếng Anh của cô rất hoàn hảo vì đã từng học đại học ở Hoa Kỳ. Cô có một khuôn mặt đẹp lạ thường và, với chiếc xu chiêng cúp ngực độn dày của mình, ai cũng phải ngoái lại nhìn cô. Cô ấy còn sáng dạ nữa. Oie là một nhà báo. Và là một cô gái đoan trang, hơn hẳn bất cứ cô gái nào trông đợi cặp kè với tôi.
Chính Oie là người đã đặt cho tôi biệt danh tiếng Thái là Seua Cao, hay Bạch Hổ. Biệt danh này không mấy khi được chú ý, mặc dù các đồng nghiệp của tôi ở ngân hàng đôi khi cũng sử dụng nó một cách châm biếm. Oie nghĩ chuyện đến Việt Nam trong lúc nơi đó đang rơi tự do là một việc điên rồ nhưng cũng đầy mạo hiểm. Tôi đã không nói với cô ấy rằng đó chỉ là công việc trông trẻ hay chức danh thực sự của tôi trong công ty sẽ là “con tin”.
* * *
Thời gian tiêu chuẩn để một người Mỹ nhận được thị thực nhập cảnh Việt Nam tại Bangkok là hai tuần. Đã đến lúc gọi cho hỗ trợ viên của Chase. Tên ông ta đã bị quên lãng trong lịch sử, nhưng đó là một ông già bảnh bao, nhăn nheo và ăn nói nhỏ nhẹ, với nghiệp vụ phân tích chữ viết tay. Tiếng Thái có 44 phụ âm 12 nguyên âm, 5 thanh điệu, một vài dấu phụ và những tiêu chuẩn chính tả vùng miền, tất cả tạo nên một câu đố đa chiều cho người phân tích chữ viết. Không có gì ngạc nhiên khi ông ta lại được xem trọng đến vậy. Người của chúng tôi là một hỗ trợ viên lành nghề. Để lấy thị thực Việt Nam cho tôi, ông ta đã hứa hẹn với người Việt là sẽ cấp một thị thực Thái Lan cho bất kỳ ai mà phía họ chỉ định, và thế là tôi đã nhận được thị thực chỉ sau ba ngày. Đó là một thỏa thuận có lợi cho người Việt, vì nhu cầu rời khỏi Việt Nam nhiều hơn là vào.
* * *
Tôi là một du khách gọn nhẹ với chiếc cặp nhỏ chứa đồ vệ sinh cá nhân, một chiếc áo sơ mi và một chiếc quần dài. Tôi sẽ mặc sơ mi và quần dài trên người nên thành ra mỗi thứ sẽ có hai chiếc. Quần ống loe hiện đang là mốt và cái của tôi thì rộng đến mười một inch11. Vớ và quần lót. Chúng chiếm khoảng một nửa diện tích trong chiếc cặp da nhỏ của tôi. Để nhường chỗ cho một món hàng cồng kềnh mà ngân hàng muốn tôi mang theo, và một món vật dụng cá nhân khác mà tôi tự thêm vào.
1 Tác giả gõ sai chính tả và có nhắc đến chi tiết này trong phần sau. [ND]
2 Ivy League là tên gọi một nhóm các trường đại học hàng đầu ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ.
3 Một tên gọi khác của cần sa, chất gây nghiện có nguồn gốc từ cây gai dầu (Cannabis Sativa).
4 Nhân vật hư cấu trong tác phẩm Alice ở xứ sở thần tiên của Lewis Carroll.
5 Đồng Đông Dương (tiếng Pháp). Là đơn vị tiền tệ lưu thông tại Đông Dương thời kỳ Pháp thuộc, từ năm 1885 đến 1954. Tương đương với một đô-la, hoặc một peso.
6 Demerol thuộc nhóm thuốc giảm đau opioid. Demerol được dùng để kiểm soát các cơn đau cấp tính khi các phương pháp giảm đau khác không đủ đáp ứng điều trị.
7 Trận Gettysburg được xem là trận chiến đẫm máu nhất và là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ.
8 William Somerset Maugham (1874-1965): nhà văn, kịch gia nổi tiếng người Anh.
9 Graham Henry Greene (1904-1991): tiểu thuyết gia người Anh. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông là The Quiet American (Người Mỹ trầm lặng).
10 Joseph Conrad (1857-1924) là tiểu thuyết gia và nhà văn viết truyện ngắn người Anh gốc Ba Lan. Conrad được xem là một trong những tiểu thuyết gia viết tiếng Anh vĩ đại nhất.
11 1 inch = 2.54 cm.
Chúng tôi đọc gì
“Phù thuỷ tranh giả mạo”: Khi nghệ thuật bước ra từ bóng tối của sự dối trá
Trong tác phẩm Cộng hòa, Plato từng cảnh báo về nguy cơ của mimesis - mô phỏng - như một hình thức giả thực (false reality), dẫn con người rời xa bản chất của cái thiện. Thế nhưng đến hậu hiện đại, triết gia Jean Baudrillard đảo ngược hoàn toàn luận điểm ấy khi cho rằng ta không còn sống trong thực tại mà trong mô phỏng của mô phỏng (hyperreality), nơi mimesis bị đẩy xa tới mức thực tại bị thay thế bởi mô phỏng.
Phù thuỷ tranh giả mạo của Edward Dolnick là một quyển sách quan trọng, nhất là trong thời đại nơi mọi giá trị đều có thể bị sao chép và chỉnh sửa. Quyển sách kể lại một trong những vụ giả mạo nghệ thuật tinh vi nhất lịch sử châu Âu hiện đại, hơn nữa còn mở ra một không gian triết học nơi cái thật và cái giả không còn là đối cực, mà trở thành hai hình thái song hành của một bản thể lưỡng diện.
Vụ lừa đảo nghệ thuật lớn nhất châu Âu
Phù thủy tranh giả mạo kể lại câu chuyện có thật ly kỳ về Han van Meegeren, một họa sĩ Hà Lan tầm thường nhưng đầy mưu lược, người đã thực hiện một trong những vụ lừa đảo nghệ thuật táo bạo nhất thế kỷ 20. Trong bối cảnh hỗn loạn của châu Âu thời Thế chiến II, Van Meegeren đã làm giả các bức tranh theo phong cách danh họa Johannes Vermeer và bán chúng cho giới sưu tầm - trong đó có cả tướng quốc xã Hermann Göring. Cuốn sách không chỉ là một tiểu sử tội phạm hấp dẫn, mà còn là một hành trình khám phá sức mạnh của niềm tin, sự tự huyễn hoặc và những định kiến trong giới nghệ thuật. Với lối kể chuyện sống động, Edward Dolnick dẫn dắt người đọc bước vào thế giới nơi ranh giới giữa thiên tài và kẻ lừa đảo mong manh đến khó ngờ.
Han van Meegeren: Thiên tài hay kẻ lừa đảo?
Han van Meegeren không được xem là một tài năng hội họa lớn trong thời đại của mình. Ông không được giới phê bình tôn vinh, cũng chẳng tạo được dấu ấn nghệ thuật riêng. Cũng bởi lẽ đó, ông nuôi dưỡng một sự phẫn nộ âm thầm với thế giới nghệ thuật tinh hoa, và từ đó nảy sinh khát khao mãnh liệt được thừa nhận.
Ông chọn Vermeer làm mục tiêu: Danh họa Hà Lan thế kỷ XVII với sự nghiệp đỉnh cao - một cơ hội hoàn hảo để “tái phát hiện” những kiệt tác bị lãng quên. Van Meegeren nghiên cứu kỹ thuật vẽ, vật liệu cổ rồi giả mạo một loạt tác phẩm hoàn hảo đến mức đánh lừa cả giới chuyên gia lẫn bảo tàng hàng đầu. Đỉnh cao là khi một bức tranh “Vermeer giả” được bán cho Hermann Göring - cánh tay phải của Đức Quốc xã với giá trị tương đương hàng triệu đô. Bức tranh trở thành biểu tượng chiến lợi phẩm văn hóa trong tay phát xít. Nhưng trớ trêu thay, chính điều đó đã đẩy Van Meegeren vào vòng lao lý sau chiến tranh, khi ông bị cáo buộc bán báu vật dân tộc cho kẻ thù.
Bị kẹt giữa thế tiến thoái lưỡng nan, Van Meegeren buộc phải thú nhận trong một phiên tòa: Bức tranh ấy không phải là Vermeer mà là của tôi. Và để chứng minh mình không phản quốc mà chỉ là một kẻ lừa đảo nghệ thuật, ông đã vẽ một bức tranh giả khác ngay tại phòng giam.
Niềm tin và sự huyễn hoặc tập thể
Vậy điều gì khiến một bức tranh giả mạo lại được ca tụng như kiệt tác? Tại sao những con mắt tinh tường nhất từ bảo tàng cho đến chuyên gia đều bị qua mặt? Câu trả lời nằm ở thứ dễ bị thao túng nhất: Niềm tin.
Tác giả Edward Dolnick khéo léo vạch trần một sự thật khó nuốt: Giá trị nghệ thuật không phải lúc nào cũng nằm ở chính tác phẩm mà còn ở những gì chúng ta muốn tin về nó. Khi một bức tranh được gắn nhãn "Vermeer", đôi mắt và lí trí bỗng trở nên dễ dãi. Những nét vẽ có phần cứng nhắc được ca ngợi là kiểu cách, màu sắc có phần gượng ép được diễn giải là một phép thử nghiệm táo bạo.
Những bức tranh của Van Meegeren không còn đơn thuần là giả mạo, mà chúng trở thành biểu tượng, vượt xa thực tại mà chúng sao chép. Quyển sách của Dolnick cũng khiến độc giả nhận ra rằng nghệ thuật không hoàn toàn là lãnh địa thuần khiết mà là một thị trường, một hệ sinh thái đầy định kiến, quyền lực, và thẩm quyền được thiết lập bằng tiếng nói của số đông và thương hiệu cá nhân.
Thị trường nghệ thuật và nền kinh tế của niềm tin
Qua một phân tích sâu sắc về cơ chế định giá nghệ thuật, Dolnick cho thấy: cái làm nên giá trị của một bức tranh không chỉ là chất lượng thẩm mỹ, mà còn là thẩm quyền của chuyên gia, của bảo tàng và danh tiếng của nghệ sĩ. Van Meegeren, hiểu rõ điều đó, đã khéo léo thao túng toàn bộ hệ thống niềm tin ấy để nâng tầm một sản phẩm giả mạo thành cổ vật đáng giá triệu đô của thế kỷ 17.
Ở đây, nghệ thuật không đơn thuần là sáng tạo - nó là nghi thức chuyển hóa từ vô danh thành thiêng liêng, một quá trình được thực hiện bằng ngôn ngữ, danh tính và sự hợp thức hóa của giới học thuật. Chính điều đó khiến vụ lừa đảo trở thành một nghi lễ nghịch đảo - nơi nghệ thuật bước ra từ bóng tối của dối trá.
Chủ nghĩa phát xít và tác phẩm nghệ thuật như những chiến lợi phẩm
Dolnick không chỉ viết về mỹ học và lịch sử. Ông viết về quyền lực và về cách nghệ thuật trở thành công cụ của quyền lực. Việc Hermann Göring - một trong những nhân vật cấp cao của Đức Quốc Xã - bị Van Meegeren lừa bán một bức tranh giả là cao trào đạo đức của toàn bộ cuốn sách: Khi cái đẹp được sử dụng để phục vụ cái ác, thì liệu việc làm giả cái đẹp có trở thành một hành động phản kháng chính trị?
Hành động giả mạo không còn là tội ác, mà là một hình thức chiếm đoạt ngược - “phản địa chính trị” (Counter-hegemonic aesthetics). Van Meegeren vô tình đã lật ngược mối quan hệ giữa kẻ xâm lược và nghệ thuật bản địa. Trong tay ông, cái giả trở thành một hình thức kháng cự đầy mỉa mai - cái đẹp cũng có thể là vũ khí.
Trong một thế giới đầy deepfake, tranh AI, quyển sách của Dolnick mang tính tiên tri đáng sợ. Nó đặt ra câu hỏi: Chúng ta còn có khả năng phân biệt giữa sáng tạo chân thực và thao tác kỹ thuật không? Tác phẩm ấy đã tác động đến trải nghiệm thẩm mỹ của chúng ta như thế nào?
Phù thủy tranh giả mạo không chỉ là một tác phẩm kể chuyện xuất sắc, mà còn là một nghiên cứu sâu sắc về bản chất con người. Edward Dolnick không vội sa vào việc kết tội hay biện hộ cho Van Meegeren, thay vào đó ông mổ xẻ sự kiện này như một hiện tượng văn hóa - nơi cái giả không đơn thuần là dối trá, mà là lời thách thức đối với những gì ta từng cho là thật. Lối kể chuyện của Dolnick sống động, hấp dẫn như một tiểu thuyết trinh thám, nhưng vẫn đầy chất liệu học thuật. Ông kết nối nghệ thuật, lịch sử, chiến tranh, và tâm lý học trong một cấu trúc chặt chẽ khiến người đọc vừa cảm thấy giải trí vừa buộc phải trả lời các câu hỏi đầy tính phản tư.
Nguyệt Cầm
Book trailer
CHŌWA – Ổn định nội tâm sống cân bằng như người Nhật
Việc giữ được sự tâm bình an giữa dòng đời vạn biến là điều không hề dễ dàng. Tác phẩm Chōwa – Ổn định nội tâm sống cân bằng như người Nhật của tác giả Akemi Tanaka vừa được Phương Nam Book phát hành, chính là lời giải cho bài toán cân bằng cuộc sống từ triết lý chōwa – tinh thần sống hài hòa của người Nhật.
Chōwa là một khái niệm quen thuộc trong văn hóa Nhật Bản. Khác với lối sống hướng đến thành tích, triết lý chōwa được xây dựng dựa trên sự dung hòa, cân bằng giữa những áp lực luôn hiện hữu trong cuộc sống như: môi trường gia đình, công việc, học tập cho đến các mối quan hệ cá nhân. Nắm vững tinh thần chōwa, người thực hành sẽ có thể tìm thấy điểm tựa vững chắc giữa sóng gió cuộc đời.

Hơn cả một khái niệm, chōwa là lối sống
Dòng sách lấy đề tài về văn hóa, triết lý sống của người Nhật đã xuất hiện nhiều trên thị trường và luôn được đông đảo độc giả quan tâm. Thế nhưng, tác phẩm Chōwa vẫn có vô số điểm độc đáo khi vừa kế thừa, vừa phá vỡ những công thức cũ. Tác giả Akemi Tanaka đã rất tài tình khi kết hợp những triết lý truyền thống cùng các quan sát sâu sắc và thực tế về xã hội Nhật Bản đương đại.
Ngay từ những trang đầu, Akemi Tanaka đã làm rõ: chōwa không đơn thuần là một khái niệm trừu tượng, mà là một triết lý sống được người Nhật vận dụng vào mọi mặt của đời sống, từ cách bài trí nhà cửa, cách họ tương tác với đồng nghiệp, đối tác cho đến cách họ gìn giữ các mối quan hệ gia đình.
Từ đó, tác giả khéo léo dẫn dắt người đọc bước vào thế giới quan của người Nhật để thấy rằng họ luôn đề cao sự cân bằng. Đó là sự cân bằng giữa con người với thiên nhiên, giữa cá nhân và tập thể, giữa công việc và nghỉ ngơi, giữa đời sống vật chất và tinh thần. Tác giả chỉ ra rằng, chính sự kết nối giữa các yếu tố tưởng chừng như đối lập này đã tạo nên một tổng thể hài hòa, giúp con người tìm thấy sự bình yên từ bên trong.

Xây dựng không gian sinh hoạt dựa trên triết lý cân bằng
Tác phẩm Chōwa được chia thành ba phần với các tiêu đề lần lượt là: Tìm kiếm sự cân bằng tự thân, Sống hòa hợp với người khác, Cân bằng điều quan trọng nhất. Từng chương nhỏ trong mỗi phần của cuốn sách đều mở đầu bằng trích dẫn từ các nhân vật lịch sử nổi tiếng, hoặc những câu ngạn ngữ quen thuộc ở Nhật, giúp độc giả nắm bắt được tinh thần khái quát của cả chương sách trước khi đọc. Kết thúc mỗi chương, tác giả còn đặt ra một loạt câu hỏi nhằm khuyến khích độc giả suy ngẫm và hình dung về quá trình phát triển bản thân để có thể áp dụng tinh thần chōwa vào cuộc sống của chính mình.
Phần đầu tiên của Chōwa giới thiệu về không gian sống. Thông qua hình ảnh ngôi nhà truyền thống – một biểu tượng văn hóa đặc trưng ở Nhật Bản – tác giả đã miêu tả chi tiết cấu trúc và phân tích ảnh hưởng của không gian này đến lối sống của người Nhật. Từ cách bố trí phòng ốc, lựa chọn vật liệu cho đến việc sử dụng ánh sáng tự nhiên, tất cả đều toát lên tinh thần chōwa, hướng đến sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên.
Tuy nhiên, do áp lực của cuộc sống hiện đại, nhiều người đã lựa chọn rời bỏ làng quê để lên thành phố, khiến cho những ngôi nhà truyền thống dần trở nên mai một. Vì vậy, có thể nói hình ảnh ngôi nhà trong sách không còn phản ánh đúng với cuộc sống của người Nhật ở thành thị. Tuy nhiên, ngôi nhà của chính gia đình tác giả – vốn được xây dựng trên tinh thần chōwa – vẫn gợi lên vệt ký ức xa xăm về một nền văn hóa Nhật Bản truyền thống, khiến người đọc vừa cảm thấy ấm áp, gần gũi vừa có một cái nhìn thực tế về xã hội đương đại.
Cân bằng nội tâm trong một thế giới đầy biến động
Phần hai của Chōwa xoay quanh mối quan hệ giữa con người với xã hội, từ mối quan hệ trong gia đình đến địa vị cá nhân. Nhật Bản được biết đến là một xã hội tập thể, nơi mà tinh thần đồng lòng, tương trợ được đề cao. Tác giả minh họa rõ nét điều này qua những hoạt động cộng đồng đặc trưng, như bài tập thể dục buổi sáng – rajio taiso – được phát trên đài NHK từ năm 1928 cho mọi người cùng tập đã trở thành một nét đẹp văn hóa ở Nhật.
Đến phần cuối cùng của cuốn sách, Akemi Tanaka đặt ra những câu hỏi lớn hơn về cách chúng ta tồn tại trong một thế giới đang phải đối mặt với nhiều thách thức như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, khủng hoảng năng lượng... Từ đó, tác giả giới thiệu về văn hóa ẩm thực Nhật Bản – washoku – như một ví dụ điển hình cho tinh thần chōwa trong việc kết nối giữa con người và thiên nhiên. Washoku không chỉ đơn thuần là ẩm thực để sinh tồn, mà còn là một nghệ thuật tinh tế, thể hiện sự tôn trọng đối với thiên nhiên, với mùa màng và với chính những nguyên liệu tạo nên một món ăn.
Tuy nhiên, Akemi Tanaka đã chỉ ra rằng ngay cả ở Nhật Bản, nơi sinh ra triết lý chōwa, cũng không tránh khỏi những sai lầm trong việc ứng phó với các vấn đề môi trường. Thảm họa hạt nhân Fukushima là một bài học đắt giá cho thấy rằng việc phát triển kinh tế mà không cân nhắc đến yếu tố môi trường, không tôn trọng thiên nhiên sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường. Từ đó, cuốn sách truyền tải một thông điệp rất rõ ràng rằng: tinh thần sống hài hòa theo triết lý chōwa là chìa khóa để chúng ta tìm kiếm sự cân bằng trong một xã hội hiện đại đầy biến động.

Trích đoạn
“Ở Nhật, chúng tôi tin rằng mỗi lĩnh vực trong cuộc sống đều có những yêu cầu đặc trưng và điều này phần nào được phản ánh qua cung cách ăn mặc. Người phương Tây mặc vest và mang giày lịch sự khi đi làm ở văn phòng vào ban ngày và mặc đồ thoải mái hơn sau khi về nhà vào buổi tối, nhưng sự phân chia giữa các bộ trang phục cho những nhiệm vụ khác nhau, ở những nơi sinh sống khác nhau, đối với người Nhật lại có phần phức tạp hơn. Quần áo bảo hộ lao động thường nghiêm túc hơn. Quần áo mặc trong nhà được thiết kế thoải mái hơn. Tôi có thói quen thay quần áo ít nhất ba lần một ngày khi ở Nhật.”
***
“Trong lĩnh vực trang trí nội thất ở Nhật Bản, sự cân bằng là vấn đề sống còn thực sự. Tủ quần áo nặng và những ngăn kệ xếp chống chất lên nhau có thể đổ sụp xuống khi có động đất. Một chiếc gương treo hoặc khung tranh có thể rơi vỡ và các mảnh thủy tỉnh sẽ văng khắp phòng. Ngay cả khi chúng ta không cần phải chuẩn bị đối phó với thảm họa, tôi tin rằng việc suy nghĩ về sự cân bằng vật chất – trọng lượng và số lượng đồ gia dụng – có thể giúp ta ứng phó với nhiều thách thức và thay đổi hằng ngày dẫu có bất ngờ đến đâu chăng nữa.”
***
“Bạn có thể tự cho mình một đặc ân. Như mặt trời, mặt trăng nhìn mặt đất, bạn hãy thử lùi lại, tự tách ra để khách quan nhìn mình từ vị trí trên cao. Chỉ cần dành một chút thời gian để tưởng tượng lại cuộc sống, bạn sẽ dân cảm thấy bản thân bình tĩnh và tự chủ hơn. Bạn đã ngừng chiến đấu, ngừng đâm đầu vào ngõ cụt như con ếch ở đáy giếng, và bắt đầu thực sự nhận ra điều gì đang diễn tiến trong cuộc sống của mình.”
Nhận xét của báo chí
“Sâu sắc, trung thực và mạnh mẽ, Chōwa là một quyển sách đáng đọc. Mỗi chương đều chứa đựng những bài học có thể áp dụng ngay vào cuộc sống hằng ngày. Sau khi đọc sách, tôi cảm thấy như thể mình đã nhìn ra một khía cạnh khác của nền văn hóa Nhật Bản mà trước đây tôi chưa từng biết đến.”
– Book Reviews, Yamato Magazine
“Cách giản đơn để bắt đầu hành trình tự cân bằng cuộc sống là hãy làm theo những điều Tanaka khuyên bạn.”
– The Independent
Về tác giả
Akemi Tanaka xuất thân từ gia đình có truyền thống võ sĩ đạo. Cô lớn lên ở Nhật Bàn, sau đó cùng con gái chuyển đến London. Akemi là người kết nối văn hóa có uy tín tại Anh, thường xuyên dẫn dắt các chương trình tìm hiểu văn hóa quê nhà, thuyết trình tại các trường, đại học và trung tâm văn hóa. Năm 2011, Akemi thành lập tổ chức Aid For Japan và đã nhận được giải thưởng của chính phủ Anh vinh danh hoạt động từ thiện của cô dành cho trẻ mồ côi sau thảm họa sóng thần. Bên cạnh đó, Akemi cũng là chuyên gia truyền đạt nghệ thuật trà đạo cổ điển thông qua các lớp học chuyên đề.
Mua ngay tại đây.



