Phía sau trang sách

Ác mộng 3096 ngày: Nghị lực vượt nghịch cảnh phi thường của một cô gái trẻ

Published

on

Ngày 2/3/1988, cô bé 10 tuổi Natascha Kampusch đã bị một người lạ mặt bắt cóc ngay trên đường phố Vienna và tống lên một chiếc xe thùng màu trắng. Vài giờ sau, cô thấy mình đang nằm trên sàn nhà của một căn hầm lạnh lẽo, bị cuộn trong chăn. Năm 2006, Natascha trốn thoát khỏi nơi giam cầm, kết thúc một trong những vụ bắt cóc dài nhất trong lịch sử hiện đại, tuổi thơ của cô đã trôi qua.

Trong Ác mộng 3096 ngày, Natascha lần đầu tiên kể lại câu chuyện chấn động của mình: những năm tháng tuổi thơ trắc trở, câu chuyện đã diễn ra vào buổi sáng định mệnh ấy khi cô đang trên đường đến trường, cuộc giam cầm đằng đẵng trong căn hầm năm mét vuông, sự lạm dụng về thể xác và tinh thần mà kẻ bắt cóc – Wolfgang Priklopil – đã gây ra cho cô.

Một kết thúc có hậu xứng đáng đã đến với Natascha. Thậm chí, điều còn tuyệt vời hơn là vào năm 2010, ở độ tuổi 22, Natascha đã tốt nghiệp đại học. Đối với, một cô gái không nhận được sự giáo dục chính qui nào từ năm 10 đến 18 tuổi, đó là một thành tích đáng kinh ngạc. Làm sao cô có thể làm được việc ấy? Câu trả lời nằm trong cuốn sách này.

Natascha Kampusch là một cô gái người Áo sinh ra trong gia đình không có hạnh phúc trọn vẹn. Cha cô tiêu tiền như nước và mẹ cô phải đối mặt với việc làm thế nào để gia đình có đủ tiền sống, chi trả nổi những hóa đơn dồn dập. Đôi lúc áp lực trong cuộc sống khiến bà trút giận lên con gái mình. Chẳng may là Natascha lại tìm kiếm sự an ủi trong thức ăn đến mức cô trở thành một cô bé thừa cân quá mức. Cuộc sống của cô có lẽ không thể gọi là lí tưởng nhưng ít nhất vẫn còn nằm trong chuẩn mực bình thường. Tất cả mọi thứ đều thay đổi khi Natascha 10 tuổi và bị bắt cóc. Điều trớ trêu là ngay ngày bị bắt cóc cũng là ngày đầu tiên cô đến trường một mình. Mẹ cô luôn bảo vệ cô quá mức và Natascha muốn, cần cảm giác độc lập nhưng bất hạnh thay, cô đã chọn nhầm ngày. Cô không biết rằng chỉ một quyết định nhỏ đó đã khiến cô phải chịu đựng nhiều năm trời bị nhốt trong căn hầm bí mật.

Nếu như có bao giờ người ta đặt câu hỏi nghi vấn về chức năng của văn học thiếu nhi, có lẽ câu chuyện về Natascha Kampusch là một trong những bằng chứng hùng hồn nhất. Những người bạn đồng hành duy nhất mà Kampusch tin tưởng trong suốt thời gian tù ngục dài, nghiệt ngã trong căn hầm chính là những cuốn sách: Robinson CrusoeTreasure IslandTom SawyerThe Jungle Book và Alice in Wonderland – những cuốn sách được kẻ bắt giam mang đến cho cô.

“Phương tiện quan trọng nhất mà tôi được tùy ý sử dụng để chống lại sự nhàm chán và giữ cho mình không bị điên chính là những cuốn sách,” cô viết về kí ức của mình trong những ngày giam cầm qua Ác mộng 3096 ngày như thếVà rồi một ngày Kampusch được tự do sau khi bị đánh đập, bỏ đói, sau tám năm không được nhìn thấy hoàng hôn và bình minh, cô giống như một cánh bướm đến thời kì bung mình ra khỏi vỏ kén. Tự truyện của cô là một bằng chứng cho thấy sức mạnh lớn lao của trí tưởng tượng trong hoàn cảnh người ta phải đối mặt với khoảng thời gian khắc nghiệt kinh khủng nhất. Người ta có thể thấy Kampusch giống như cô bé quàng khăn đỏ, bị mất tích khi mặc áo khoác đỏ trên chuyến đi bộ đầu tiên đến trường, bị bắt để làm thú tiêu khiển cho người đàn ông có tên là Wolfgang; thế nhưng quyển tự truyện lại cho thấy cô giống một Robinson Crusoe hơn, một người có tài xoay sở khi trôi nổi trên hòn đảo của sự điên loạn. Giống như nhân vật của Defoe, dù thường xuyên sợ hãi và đau khổ, cô vẫn vững vàng đặt kế hoạch tiến về phía trước.

Do tự đọc sách, tự học, tự viết trong khoảng thời bị giam cầm, dù Kampusch mất đến 8 năm thời gian giáo dục quan trọng nhất của một đời người nhưng cô vẫn khiến nhiều người đọc bất ngờ bởi kĩ năng viết, kể chuyện tài tình. Câu chuyện của Kampusch vừa truyền thông điệp về lòng dũng cảm, vừa như một bài ca buồn về những cuộc đời hoang vắng bị bỏ rơi. Điều này khiến cô trở nên khác biệt với những nạn nhân bị bắt cóc và viết lại tự truyện khác như Elizabeth Smart hay Jaycee Lee Dugard, cách thuật lại câu chuyện của họ thiếu sức thuyết phục vì kĩ năng viết còn non kém – điều mà độc giả hoàn toàn chấp nhận được bởi họ không phải là người viết chuyên nghiệp. Thế nhưng, Kampusch viết không chỉ có bản sắc riêng mà cô còn viết như một nhà tâm lí học, cô không chỉ kể lại câu chuyện mình bị giam cầm và hành hạ thế nào mà còn vừa viết vừa tự phân tích tâm lí của mình, của cả kẻ bắt cóc. Vì thế, cuốn sách cũng trở thành một nguồn tư liệu nghiên cứu hữu ích cho những học giả, những ai quan tâm đến lĩnh vực tâm lí học, đặc biệt là tâm lí học về tội phạm và nạn nhân. Cô bình tĩnh nhớ lại không chỉ những chiêu trò bạo hành của tên bắt cóc như cách hắn nhấn mạnh với cô rằng hắn là người tử tế nhất so với những tên đầu gấu dữ tợn bên ngoài, đồng thời cô còn cho độc giả nếm trải những thứ tưởng tượng như trong một cơn ác mộng luôn đeo bám tâm trí cô. Những vấn đề bạo lực, bỏ đói, đe dọa, mất cảm giác… được Kampusch mô tả như cách làm sao để cô thích ứng “bằng trực giác” những “phong tục” mới này khi mình đang ở trong một đất nước xa lạ.

Trước khi bị bắt cóc, cô gái nghèo khổ nhỏ bé này đã từng ước mơ trở thành một diễn viên, cô say sưa với loạt phim truyền hình về những thiếu nữ bị mất tích ở Áo. Và câu chuyện đời cô đã chạm đến điểm đối ngược hoàn toàn với bộ phim truyền hình ấy: cô bị bắt cóc khi còn là một đứa trẻ – tình huống hiếm khi xảy ra ở đất nước cô, và trốn thoát khi đã trưởng thành.

Sau khi được tự do, sự tức giận của cô lại hướng về những người bị sốc trước mong muốn nói về kẻ bắt cóc mình của cô. Cô khẳng định hắn là một người quan trọng với mình. Rằng hắn không phải là tên ác quỷ, hắn chỉ là một gã đàn ông đáng thương. Đó cũng là một điều khiến độc giả ấn tượng về Ác mộng 3096 ngày của Kampusch: sự thấu hiểu sâu sắc cô dành cho Priklopil từ con người hắn và căn bệnh tâm thần hắn mắc phải cho đến mối quan hệ bất thường giữa hắn và mẹ. Dần dần, người ta nhận ra sau tất cả những gì hắn đã làm với cô, cô vẫn có một sự kết nối đặc biệt với hắn, và làm sao mà điều đó lại không thể xảy ra được khi hắn đã từng là người duy nhất trong cuộc đời cô, người duy nhất cô nói chuyện và có sự tương tác trong khoảng thời gian 8 năm rưỡi? Điều ấy cũng chính là thứ khiến cô nhận ra hắn chỉ là một con người phức tạp vừa có mặt tử tế, dễ bị tổn thương đồng thời cũng có những mặt u tối đáng sợ luôn vây quanh làm rối loạn cuộc sống của hắn. Nhưng như cô đã từng nói, những đứa trẻ bị đối xử tệ bạc, bị hành hạ bởi cha mẹ và người giám hộ rốt cuộc vẫn luôn yêu họ. Có lẽ đó cũng là những cảm xúc cô dành cho Priklopil, có lẽ đó cũng là lí do vì sao cô khóc khi biết hắn đã buông mình dưới đoàn tàu hỏa để tự sát sau khi cô trốn thoát.

Cô không chấp nhận việc mọi người nói mình mắc Hội chứng Stockholm – một hội chứng mà giới tâm lí dùng để nói về sự thông cảm của nạn nhân dành cho người bắt cóc mình. Cô cho rằng việc dán nhãn như vậy đã làm đơn giản hóa quá mức mối quan hệ phức tạp giữa cô và Priklopil. Trong Ác mộng 3096 ngày, độc giả có thể thấy được sự cố gắng nghiên cứu tâm lí, phân tích, suy xét về những tháng ngày gian khó, những cảm xúc khi ấy của cô gái trẻ này cả sau khi cô tự do. Thay vì cố gắng quên đi 8 năm đó, cô đã nỗ lực hết sức có thể để tìm ra ý nghĩa cho tội ác tưởng chừng như phi lí mà cô là nạn nhân phải gánh chịu. Và cô tìm ra được kết luận rằng dù thế nào, xã hội cũng cần những con quái vật vì: “Cần có hình ảnh về những căn hầm giam để không còn phải thấy nhiều gia đình với sự bạo lực ẩn đằng sau những cái đầu bảo thủ, trưởng giả.” Với Ác mộng 3096 ngày, người đọc sẽ phải một lần nữa suy nghĩ về cái gọi là trắng, đen, thiện, ác… Mọi thứ đều khó có thể tách biệt rạch ròi. Tất cả đan xen lẫn nhau tạo nên cuộc sống. Đó cũng là sự nhìn nhận lí tính khách quan thật đáng quí, công tâm của cô gái dũng cảm Natascha Kampusch.

Kodaki
dịch và tổng hợp từ nhiều nguồn

Phía sau trang sách

Giải mã hạnh phúc: Khám phá nguồn gốc của niềm vui và sự hài lòng

Liệu có bí mật nào cho hạnh phúc? Đây là câu hỏi đã xuất hiện từ hàng thập kỷ trước, và nhiều triết gia, lãnh tụ tôn giáo cũng như nhà khoa học đã đưa ra câu trả lời của riêng họ. Nhưng liệu có thể dùng khoa học để giải mã sự mưu cầu hạnh phúc được không?

Published

on

Hãy cùng đến với “Giải mã hạnh phúc”. Đây là một giả thuyết được đưa ra bởi chuyên gia tâm lý Jonathan Haidt, cho rằng hạnh phúc đến từ những khao khát nội tâm và đồng thời cũng đến từ các yếu tố bên ngoài. Nói cách khác thì hạnh phúc vừa là “bẩm sinh”, vừa là “nuôi dưỡng”.

Cụ thể thì như vậy nghĩa là gì? Hãy cùng phân tích các thành phần tạo nên “Giải mã hạnh phúc”, cũng như cách ứng dụng chúng vào cuộc sống để tìm kiếm niềm vui và sự hài lòng.

Bẩm sinh

Yếu tố di truyền đóng một vai trò nhất định trong cảm nhận chung về hạnh phúc của chúng ta. Một số người sinh ra đã có cái nhìn lạc quan, trong khi những người khác có thể phải vật lộn với lo âu và trầm cảm. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là mặc dù di truyền có thể ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc cơ bản, nhưng chúng không phải là yếu tố quyết định duy nhất.

Nuôi dưỡng

Môi trường và trải nghiệm cũng định hình hạnh phúc, điều này  bao gồm các mối quan hệ, công việc và thậm chí cả cộng đồng nơi chúng ta sống. Bằng cách tạo ra một môi trường hỗ trợ và trọn vẹn, chúng ta có thể nuôi dưỡng hạnh phúc lớn hơn trong cuộc sống.

Cân bằng giữa mong muốn và hoàn cảnh: “Giải mã hạnh phúc” cho rằng chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc bằng cách cân bằng giữa mong muốn bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Ví dụ, nếu bạn có mong muốn mạnh mẽ về an ninh tài chính, có thể bạn cần tìm một công việc mang đến nguồn thu nhập ổn định. Mặt khác, nếu bạn có niềm đam mê sâu sắc với sự sáng tạo, việc theo đuổi một sự nghiệp cho phép niềm đam mê đó phát triển có thể quan trọng hơn.

Vậy, làm cách nào để áp dụng “Giải mã hạnh phúc” vào thực tiễn? Dưới đây là một vài mẹo giúp bạn tìm thấy niềm vui và sự hài lòng trong cuộc sống:

1. Xác định các giá trị của bản thân: Hiểu được điều gì thực sự quan trọng với bạn có thể giúp định hướng các quyết định và tạo ra một cuộc sống viên mãn hơn.

2. Nuôi dưỡng các mối quan hệ: Mối quan hệ bền chặt với gia đình và bạn bè có thể mang lại tình yêu thương, sự hỗ trợ và cảm giác được thuộc về.

3. Theo đuổi đam mê: Tham gia vào các hoạt động và sở thích mang lại niềm vui có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc và hài lòng.

4. Thực hành lòng biết ơn: Dành thời gian để trân trọng những điều tốt đẹp trong cuộc sống, dù nhỏ bé, có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc tổng thể của bạn.

5. Cho đi: Giúp đỡ người khác có thể mang lại ý nghĩa và sự trọn vẹn cho cuộc sống của chúng ta.

Jonathan Haidt là một nhà tâm lý học và nhà tâm lý học xã hội, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về tâm lý học đạo đức và tâm lý học tư tưởng chính trị. Ông là giáo sư ngành Lãnh đạo Đạo đức tại Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, và đã xuất bản một số cuốn sách và nhiều bài báo nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học.

Các công trình của Haidt thường tập trung vào ý tưởng rằng niềm tin và giá trị đạo đức của chúng ta được hình thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm văn hóa, sự nuôi dạy và kinh nghiệm cá nhân. Ông lập luận rằng đạo đức không chỉ là vấn đề lý trí mà còn bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và trực giác của chúng ta.

Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của Haidt cho lĩnh vực tâm lý học là mô hình “trực giác xã hội” về phán đoán đạo đức. Mô hình này cho rằng các phán đoán đạo đức thường dựa trên những đánh giá tự động, vô thức về các tình huống, thay vì lý luận có ý thức và có chủ ý. Công trình này thách thức quan điểm truyền thống cho rằng việc ra quyết định đạo đức là một quá trình hoàn toàn lý trí, và nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm xúc và trực giác trong việc hình thành niềm tin đạo đức của chúng ta.

Nghiên cứu của Haidt cũng đã khám phá vai trò của đạo đức trong hệ tư tưởng chính trị, và ông đã chỉ ra rằng những người theo chủ nghĩa bảo thủ và tự do thường có nền tảng đạo đức khác nhau. Ví dụ, những người theo chủ nghĩa bảo thủ có xu hướng coi trọng các giá trị như lòng trung thành, quyền lực và sự thiêng liêng, trong khi những người theo chủ nghĩa tự do có xu hướng coi trọng sự công bằng và chăm sóc. Haidt lập luận rằng những khác biệt về đạo đức này đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình thái độ và hành vi chính trị.

Các công trình của Haidt đã được trích dẫn rộng rãi và nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải thưởng William James Fellow từ Hiệp hội Khoa học Tâm lý. Các cuốn sách của ông được ca ngợi vì dễ tiếp cận và chứa đựng những hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người.

Nhìn chung, những đóng góp của Jonathan Haidt cho lĩnh vực tâm lý học đã làm sáng tỏ vai trò của đạo đức và cảm xúc trong việc định hình niềm tin và hành vi, đồng thời giúp mở rộng hiểu biết về sự phức tạp của tâm trí con người.

Tóm lại, “Giải mã hạnh phúc” nhắc nhở chúng ta rằng hạnh phúc là sự kết hợp của cả bẩm sinh và nuôi dưỡng. Bằng cách cân bằng những mong muốn bên trong với hoàn cảnh bên ngoài, chúng ta có thể tạo ra một cuộc sống viên mãn và vui vẻ hơn. Vậy nên, hãy thử kiểm chứng “Giải mã hạnh phúc” và xem liệu nó có khiến bạn hạnh phúc hơn không nhé!

Lam dịch từ MindfulMac

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trách nhiệm thuộc về ai khi thiên nhiên hoang dã trở thành “tội phạm”?

Gấu đen đột nhập nhà dân, cây cối bị tình nghi gây ra án mạng, con nai băng qua đường không đúng luật. Nếu thiên nhiên phạm luật thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Published

on

Trong thế giới ngày càng đô thị hóa, ranh giới giữa lãnh địa con người và thiên nhiên hoang dã trở nên mong manh hơn bao giờ hết, dẫn đến những cuộc "chạm trán" dở khóc dở cười. Mary Roach đã khám phá thế giới kỳ thú nơi luật pháp - con người giao thoa, xung đột với bản năng tự nhiên trong Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật.

Giải mã "tội ác" của thiên nhiên

Mary Roach mở đầu Fuzz bằng cách đặt ra một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng lại khơi gợi vô số vấn đề phức tạp: Điều gì xảy ra khi thiên nhiên "phạm luật"? Không chỉ là những con thú lớn như gấu hay báo sư tử gây rắc rối ở vùng ngoại ô, danh sách "tội phạm tự nhiên" của Roach còn bao gồm cả những loài chim ăn trộm nông sản, những con khỉ tinh ranh ở Ấn Độ, những hạt đậu độc gây chết người hay thậm chí là những cái cây vô tri bị xem là mối nguy hiểm tiềm tàng.

Roach không ngồi yên trong phòng viết mà xông pha thực địa. Bà tham dự một khóa học về an toàn khi gặp thú dữ, theo chân các nhà khoa học điều tra hiện trường các vụ tấn công của động vật hoang dã, thậm chí nếm thử các loại thực vật bị xem là "có vấn đề".

Sách Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật (trái) và tác giả Mary Roach.

Khi tìm hiểu về những con voi ở Bắc Bengal thích chè chén, say xỉn, bà cho biết voi uống thứ mà dân làng thường uống: haaria, loại rượu pha chế tại nhà được lên men và dự trữ với số lượng đủ để làm say một con voi. "Theo Sĩ quan Raj, có hai điều xảy ra khi voi say xỉn. Hầu hết chỉ lạc đàn và ngủ quên. Nhưng dường như mọi đàn đều có một kẻ say xỉn hung hăng, thường là con đầu đàn hoặc voi đực đang trong kỳ musth. Trên đời, dù bạn có muốn mạo hiểm thế nào chăng nữa thì cũng phải tránh xa một con voi đực say xỉn", Roach viết.

Trọng tâm của Fuzz không phải là việc kết tội thiên nhiên mà là nỗ lực giải mã những hành vi bị xem là "phạm luật" ấy dưới góc độ khoa học. Tác giả đưa độc giả đi sâu vào thế giới của sinh thái học hành vi, di truyền học bảo tồn, khoa học pháp y động thực vật và quản lý động vật hoang dã.

Cụ thể như việc tìm hiểu các nghiên cứu tập tính nhằm hiểu rõ hơn về cách động vật di chuyển, kiếm ăn, và phản ứng với sự hiện diện của con người, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, như thiết kế hàng rào chống gấu, tạo hành lang di chuyển an toàn cho động vật hoang dã...

Con người nằm ở đâu trong "tội ác" này?

Một trong những thông điệp ngầm nhưng mạnh mẽ xuyên suốt Fuzz là sự tự vấn về vai trò của con người trong các cuộc xung đột với thiên nhiên. Mary Roach đặt câu hỏi: Liệu việc phá hủy môi trường tự nhiên, thay đổi cảnh quan, để thức ăn ngoài trời, vứt rác không đúng cách đã vô tình "mời gọi" động vật hoang dã vào những tình huống rắc rối?

Theo tìm hiểu của Roach, một con gấu vào khu dân cư tìm thức ăn không phải vì nó "xấu tính". Mà có thể vì nguồn thức ăn tự nhiên của nó bị suy giảm hoặc vì thùng rác của con người quá hấp dẫn, dễ tiếp cận. Bà không đổ lỗi cực đoan nhưng chỉ ra nhiều "tội ác" của thiên nhiên thực chất là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành động của con người.

Cuốn sách cũng nhắc đến những tình huống tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, thực tiễn trong việc quản lý xung đột. Từ những người ủng hộ biện pháp cứng rắn để bảo vệ tài sản và tính mạng con người, đến những nhà bảo tồn nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhân đạo hơn, tác giả để độc giả tự suy ngẫm về sự phức tạp của việc tìm kiếm điểm cân bằng. Làm thế nào để vừa bảo vệ lợi ích của con người, vừa tôn trọng quyền sống và không gian sinh tồn của các loài khác?

Theo Nguyệt Dạ | ZNews

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Nếu từng khóc khi xem phim “Mưu cầu hạnh phúc”, thì đây là cuốn sách bạn nên đọc

Published

on

Trong bộ phim Mưu Cầu Hạnh Phúc (The Pursuit of Happyness) ra mắt vào năm 2006 của đạo diễn Gabriele Muccino, diễn viên Will Smith vào vai Chris Gardner - một người cha đơn thân thất nghiệp, vô gia cư, phải vật lộn giữa cuộc sống bấp bênh, những đêm ngủ ở nhà ga, và giấc mơ đổi đời từ một chương trình thực tập không lương. Đó là một hành trình đầy khổ đau, nước mắt, nhưng cũng là bản hùng ca của lòng kiên cường và khát khao vươn lên.

Cùng năm 2006, chuyên gia tâm lý học Jonathan Haidt cho ra đời Giải Mã Hạnh Phúc, một công trình kết nối những minh triết cổ đại với khoa học hiện đại để trả lời câu hỏi muôn thuở: Hạnh phúc là gì, và làm sao để có được nó?

Khi đặt nhân vật Chris Gardner bên cạnh các giả thuyết về hạnh phúc của Haidt, ta nhận ra: Có những chân lý không bị mài mòn bởi thời gian hay hoàn cảnh, chẳng hạn như việc hạnh phúc không đến từ việc trốn tránh khổ đau, mà từ cách ta bước xuyên qua nó.

Will Smith và con trai Jaden Smith trong Mưu Cầu Hạnh Phúc.

"Con voi" và "người cưỡi voi": Cảm xúc và lý trí trong hành trình sinh tồn

Tác giả Jonathan Haidt dùng hình ảnh “con voi và người cưỡi voi” để ví von mối quan hệ giữa cảm xúc (con voi) và lý trí (người cưỡi). Trong phim, Chris Gardner nhiều lần bị cảm xúc dồn vào chân tường: Khi bị đuổi khỏi nhà, khi mất chỗ ngủ, khi con trai hỏi “Chúng ta có nhà không?”. Nhưng chính trong những khoảnh khắc ấy, “người cưỡi voi” - lý trí, bản lĩnh, lòng tin của Chris - vẫn kiên định dẫn đường.

Anh không để cảm xúc giận dữ, tuyệt vọng kiểm soát mình. Anh chọn hành động, kiên trì học hỏi, giữ vững phẩm giá ngay cả khi lau dọn toilet công cộng để có thêm chút tiền. Dù cảm xúc có lúc muốn gục ngã, anh vẫn tiếp tục hành động có lý trí, không để cơn tuyệt vọng làm tê liệt mình. Những lúc phải ngủ ở ga tàu với con trai, Chris vẫn giữ lòng tự trọng và tiếp tục cố gắng, giống như một người cưỡi đang cố gắng điều khiển một con voi đầy hoảng loạn.

Điều kiện ngoại cảnh và “ngưỡng hạnh phúc”

Sách Giải Mã Hạnh Phúc chỉ ra rằng con người có “mức độ hạnh phúc” nhất định. Ta có thể vui hoặc buồn nhất thời vì sự kiện bên ngoài, nhưng sau đó sẽ quay về mức hạnh phúc trung bình của mình. Thế nhưng, Haidt cũng lưu ý rằng có những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lâu dài đến hạnh phúc: nghèo đói, cô lập, hoặc bị sỉ nhục kéo dài.

Chris Gardner trải qua gần như tất cả những điều này, nhưng thay vì cam chịu, anh đã cố gắng tìm nhiều cách khác nhau để xoay chuyển số phận của bản thân, dẫu có những lúc rơi vào cảnh nghèo túng đến mức chỉ còn vỏn vẹn 30 đô la trong ví. Vì đã nỗ lực tự mình thay đổi hoàn cảnh nên khi thành công đến, anh không chỉ nhận được phần thưởng vật chất mà kèm theo đó còn là cảm giác xứng đáng, sự gắn kết với con trai, và lòng tự tôn được củng cố.

Ý nghĩa và mục đích sống: Cội nguồn của hạnh phúc bền vững

Haidt cho rằng hạnh phúc bền vững không đến từ việc theo đuổi khoái lạc (pleasure), mà đến từ việc sống có mục tiêu, có giá trị. Chris Gardner không chỉ muốn giàu mà hơn thế nữa, anh muốn trở thành một người cha xứng đáng, một con người có giá trị. Tình yêu dành cho con trai là kim chỉ nam dẫn lối, khiến anh không bỏ cuộc dù bị cả thế giới quay lưng.

Điều này khớp với một câu nói của triết gia Friedrich Nietzsche: "Nếu bạn có một lý do đủ lớn để sống, bạn có thể chịu đựng hầu hết mọi nỗi đau." (He who has a why to live for can bear almost any how).

Hạnh phúc không phải đích đến, mà là hành trình

Cuối phim, khi Chris được nhận vào làm chính thức, anh rưng rưng cố không bật khóc giữa đám đông, chạy vội đến nhà trẻ của con trai và ôm lấy con. Đó không chỉ là giây phút hạnh phúc đơn thuần, mà còn là sự giải phóng sau bao tháng ngày chịu đựng và không từ bỏ. Từ một nhân viên chào bán thiết bị y tế, cuộc đời Chris đã thay đổi. Đó là minh chứng cho giả thuyết cuối cùng của Haidt: “Hạnh phúc không phải là thứ mà bạn có thể tìm thấy, có được hoặc đạt được một cách trực tiếp. Bạn phải có được các điều kiện phù hợp và sau đó chờ đợi. Một số điều kiện đó nằm trong bạn, chẳng hạn như sự gắn kết thống nhất giữa các phần và cấp độ trong tính cách của bạn. Các điều kiện khác yêu cầu mối quan hệ với những thứ bên ngoài bạn: giống như cây cối cần mặt trời, nước và đất tốt để phát triển, con người cũng cần tình yêu, công việc và sự kết nối với một điều gì đó lớn lao hơn.”

Mưu Cầu Hạnh Phúc không kể lại con đường đạt đến thành công của một người đàn ông, mà đã khắc họa lại lòng kiên trì bền bỉ và ý chí quyết tâm vượt lên số phận. Giải Mã Hạnh Phúc không dạy ta cách để luôn hạnh phúc, mà cho ta công cụ để hiểu hạnh phúc thật sự là gì. Một bên là nhân vật trong phim, một bên là những giả thuyết được đúc kết từ hàng ngàn năm trí tuệ của nhân loại, giao nhau tại điểm giữa: sự gắn kết với cuộc sống, niềm tin vào một điều tốt đẹp và cao cả hơn chính bản thân mình.

Lam

Đọc bài viết

Cafe sáng