Phía sau trang sách

Biên sử nước: Tới thời thoát thai

Published

on

Chẳng cách nào đóng lại được cơn hồng thủy đã mở – Biên sử nước

Không thể dừng lại được. Tiếng nước trầm trầm miên man. Lạnh lùng và bí ẩn – Thoạt kỳ thủy

Văn chương đương đại Việt Nam những năm gần đây có thể nói không nhiều đột phá. Từ những thế hệ tinh hoa cũ như Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Huy Thiệp, Châu Diên, Dương Hướng; thế hệ cải tiến và tiếp nối sau này ngoài Nguyễn Bình Phương, Phan Triều Hải, Tạ Duy Anh và một số nhà văn gốc Việt bên kia bán cầu thì có thể nói là khá ảm đạm. Nguyễn Ngọc Tư từ lâu góp mặt vào văn đàn với tư cách một tiếng nói miền Tây, người phổ quát cái mùi phèn phèn chua chua của sông nước, phù sa thành ra bán chạy; người trở thành bảo chứng cho hàng ngàn bản in được ra mắt mà ngoài Nguyễn Nhật Ánh, chắc không ai khác ngoài chị làm được. Thế nhưng thế giới văn chương của Nguyễn Ngọc Tư, ngoài cái mặn mòi chua xót cho phận đàn bà, ngoài cái không khí miền Tây phóng khoáng mà cù bất cù bơ, thì còn gì khác? Đôi khi ta thấy, chị lặp lại bản thân mình trong cái vùng đất cũng nhỏ bé chỉ như một chấm trên bản đồ. Với Biên sử nước, ít nhiều chị đã thay đổi. Vẫn bối cảnh ấy, vẫn câu chuyện ấy – nhưng cách tiếp cận đã khác hơn, đã sâu sát hơn và dấn thân hơn.

Những địa ngục song song

Cái tên Biên sử nước dễ gợi nên thứ gì đó dài đằng đẵng mà hào nhoáng tự trong chính bản thân nó, dù nghịch lý ở chỗ tiểu thuyết này chỉ dài đúng 125 trang về mặt ngoại vi. Điều này dễ hiểu, dễ cảm mà cũng không bất ngờ, vì hầu hết tiểu thuyết, truyện ngắn cũng như tản văn trước đó của chị – tất cả đều khinh thị độ dài. Dường như chị đương trở thành nhân vật của chính mình, biến hóa thành kẻ ăn chữ, ăn hết những gì thừa thãi, không cần thiết. Với độ dài và cái tên ấy, nó liền gợi nhớ một tác phẩm khác của Nguyễn Bình Phương – Thoạt kỳ thủy – khi cũng tương tự những mặt ngoại vi đó. Nếu Nguyễn Ngọc Tư làm nên không khí miền Tây hòa trộn bằng văn xuôi, câu văn tuy dài nhưng không thừa thãi mà ướp kĩ bằng nỗi xót xa đồng cảm cho phận đàn bà; thì Nguyễn Bình Phương biến hóa khôn lường với lối song tấu khi hình thức là văn xuôi nhưng nhịp điệu thực chất là thơ. Thoạt kỳ thủy là một tiểu thuyết, cũng là bài trường thơ với những câu ngắn, gọn, sắc, gấp gáp, thôi thúc mà đầy gợi hình. Hai người, hai cá tính, hai cách thể hiện; thế nhưng không gian của Nguyễn Bình Phương và Nguyễn Ngọc Tư dường như đã gặp và giao hòa nhau, chuếch choáng giữa một thế giới nội tâm và những hiển hình bên ngoài. Dù sâu dù nông, ít ra cả hai là một bàn tiệc đầy ắp vặn xoắn tinh thần, một phút nhìn lại, một phút ngó ngang.

Về mặt không gian, cả Nguyễn Ngọc Tư và Nguyễn Bình Phương đều an toàn trong khoảng không thường thấy của mình. Nếu Nguyễn Bình Phương trải suốt các tiểu thuyết từ Những đứa trẻ chết già, Kể xong rồi đi cho đến Thoạt kỳ thủy là vùng Thái Nguyên với làng quê Bắc Bộ nhợt nhạt mà sôi âm ỉ lùng bùng; thì Nguyễn Ngọc Tư vẫn cù lao, sông rạch, bùn đất, sông con tẻ ra nhiều nhánh. Thế nhưng về mặt ngoại vi, đó dường như chỉ là bao tải chứa đựng nhân vật, cung cấp điểm nhìn cho độc giả dễ bề cảm nhận. Nhìn sâu một chút, đó còn là những điều khác. Linh Sơn, núi Hột hoàn toàn có thật ở đất Thái Nguyên; còn Cù lao Lẻ, còn vùng Yên Xuyên chỉ là hư cấu. Thế nhưng thật hay không, cả hai tác giả đều dựng nên đằng sau một phông nền hoàn chỉnh khác nhau cho sự cảm nhận.

Nếu Nguyễn Bình Phương viết về lãnh địa của nghề đập đá, mổ heo, giết lợn – nơi người bình thường và đám người điên sống cùng với nhau, thì Nguyễn Ngọc Tư mơ hồ và nhạt phai hơn về một nơi không có gió. Juan Rulfo đã khởi đầu Pedro Páramo bằng nơi không có gió, nơi nóng ngột ngạt và đi xuống mãi, thì cũng tương tự, Nguyễn Ngọc Tư và vùng đất của mình cùng chung đặc điểm như thế. Ở cái cù lao trống hoác, khó mà nhận biết có thứ như gió tồn tại. Không có tấm tôn sứt đinh để giật giũ từng chặp, không có quần áo phơi trên sào cho gió thao túng, không ngọn cỏ nào ngã rạp […] Không gió mà nghe lạnh, trời kín bưng. Có thể độc giả chỉ mơ hồ tưởng tượng về vùng cù lao vô danh – nơi mọi chi tiết nếu có trùng hợp chỉ là vô tình; thì cũng rất có thể, nó là một không gian thực, nhiều hơn hai chiều, mà một chiều trong đó là chiều các nhân vật này đã đi xuống mãi, xuống mãi để rồi bặt tích.

Những nhân vật trong cả hai tiểu thuyết đều mang trong mình những ám ảnh nhất định đối với cuộc sống. Nếu Nguyễn Ngọc Tư cho rất nhiều Phúc bồng bế con theo tìm đường hành hương về với Đức Ngài, thì với Nguyễn Bình Phương là cái ngột ngạt, tù túng, kìm nén, sục sôi của những nỗi niềm không được bày tỏ. Hành trình ôm con chạy đi chữa bệnh, quãng đường chạy trốn khỏi những ác tâm… tất cả tụ về nơi cù lao lẻ. Tính sông nước, bùn đất của Biên sử nước phá tan cái không khí ngột ngạt tương đồng của Nguyễn Bình Phương, mà có thể nói, không gian của Biên sử nước là một địa ngục miền Tây – nơi đó có sông, có nước, có mùi; khác xa với những địa ngục của Rulfo hay Nguyễn Bình Phương chỉ lửa, chỉ trăng và cái nóng ngột ngạt.

Những thân phận kìm nén

Những người đàn bà của cả hai tiểu thuyết đều kìm nén trong mình một nỗi tự do mong muốn giải thoát. Trong Thoạt kỳ thủy, những tình cảnh này thông qua bạo lực, dục tính, điên cuồng; còn với Biên sử nước điều đó nhẹ nhàng hơn, bình dị hơn mà cũng Tây phương hơn, như hình ảnh Đức mẹ sầu bi ôm thi hài Chúa. Ở đây, Nguyễn Ngọc Tư tạo ra một thế đối ngẫu đối với người đọc về mặt động cơ của cuộc chạy trốn. Rốt cuộc rồi thì, mục đích của việc chạy trốn là vì đứa con hay chính người mẹ? Chị Tùy theo Viễn để quên khóa nước, chị Cẩm và sự thờ ơ ghét bỏ của người sống chung, cô Phúc nhà ở trại mộc vì sự nhẫn tâm, chị Phúc phóng viên vì cuộc điều tra để rồi trở thành một người đàn bà đến với Đức Ngài. Đứng bên bến đò nhìn qua cái cù lao đang thoi thóp, giày lem bụi, ẵm con búp bê không biết của ai. Tôi người Yên Xuyên, tên Phúc.

Lần giở những lần tụ hội về cùng Đức Ngài của những cô Phúc, điều trở thành động cơ sau này của các chị gái đều là cấm đoán hay nỗi buông xuôi phó mặt cho đời. Trong nguồn cơn của cơn khởi thủy, chị Tùy sau khi chạy trốn đã nhận ra rằng Thứ hạnh phúc khiến người ta điên tiết. Chẳng người đàn bà nào thích ai đó hạnh phúc hơn mình. Không những đàn bà, mà cả đàn ông và cả loài người. Những người đàn bà của miền sông nước chạy đến để xin móng tay, buồng phổi, đôi mắt, cỏ cây, đất cát thuộc về Đức Ngài nhằm muốn thoát xác, trở thành những con bướm xinh tung tăng cả đời như chính chị Thu; nhưng họ cũng không thể ngờ, chính Đức Ngài và bản thể ấy cũng là dối lừa, là mất tự do, là ngọn lửa thù bởi Báo dành cho Cô Long. Đến cuối rồi thì, chẳng ai hạnh phúc, chẳng ai được gì; bởi toàn dối lừa, bởi toàn trêu ngươi và cơn hồng thủy một khi đã mở thì chẳng dừng lại được.

Trong Thoạt kỳ thủy, Nguyễn Bình Phương xây dựng nên nhân vật Tính với phong cách vô cùng kỳ lạ. Có những nhận định bảo Tính mắc chứng tâm thần nặng. Thế nhưng hãy nhìn xa hơn và thật bao quát, liệu Tính có đang bị điên trong cơn thảm sát đầy những ám ảnh? Theo tôi, thật ra Tính tỉnh hơn rất nhiều người, và anh chủ tâm chọn lựa cuộc sống trong vùng từ trường ấy. Chẳng kẻ tâm thần nào thơ mộng đến độ nhận thức được trăng, được máu, được rắn như chính y cả. Cả một xã hội bao quanh cậu Tính được Nguyễn Bình Phương tạo ra đều sống ức chế, không vì cái này, cũng vì cái khác. Trong đấy ít ra lũ điên, Tính và Hưng là tự do nhất, là thỏa mãn nhất. Cũng như Nguyễn Ngọc Tư vậy. Rốt cuộc đến cuối, những người đàn bà không căn cước lại sống đúng nhất và sung sướng nhất. Không kể chị Khùng, cô Phúc mắt bò không còn gắn chặt cửa hàng tiện lợi, chị Phúc thợ mộc không còn căm ghét chịu sự nhẫn tâm, cô Phúc phóng viên không còn thấy cha nhanh nhảu xả tang đến với vợ khác, cô Phúc mà cái bóng chỉ đẻ ra bóng, chỉ có ăn tim người mới đẻ ra người ai biết đẻ bóng hay người? Đó dường như là sự giải thoát.

Những hình tượng chính

Về phong cách viết – như đã nói trên, Nguyễn Bình Phương viết ngắn, gọn, mạch nhanh. Tưởng chừng lời văn trở thành lời thơ, vì nó vừa đủ, không dư, không thiếu, có vận động ngầm, ẩn dụ, hình tượng. Giữa những u mê tưởng chừng không kết thúc ấy, ít nhiều nỗi đau chiến tranh lần lượt hiện lên. Chi tiết Hưng mang gà gô về thờ cúng mẹ hay thằng điên chia đường phèn cho Tính, tất cả cho thấy rốt cuộc dở dở ương ương không đến mức tệ. Hình ảnh ở đây đạt được mức độ ám ảnh, thế nhưng dễ hình dung, liên kết và tưởng tượng – máu tây máu ta, máu anh máu chú, máu người máu vật cuối cùng rồi thì cũng là máu thôi – máu chiến tranh, máu ngục tù, máu đè nén, máu chia xa. Cũng cái máu vô hình ấy, Nguyễn Ngọc Tư thu lại như cơn mưa tới, tống vào đường ống, xả tràn không thôi từ chính xô nước đầy ngập xà phòng, mà chỉ ai vặn mới có thể tắt, trước khi con tàu vờn tới chỉ chờ thả khói. Chị Tùy cũng như anh Tính, không ai muốn quay đầu lại. Chị biết, anh biết những gì xảy ra nhưng rồi bất lực cuốn phăng mọi thứ. Một thế giới mới, một ngọn lửa tham, một vùng biển nước – xóa trắng, thành hình và tái sinh.

Hình tượng con cú bị thương quắp đi con rắn mơ hồ là dòng sông quê trong Thoạt kỳ thủy như kéo biển nước từ dòng sông máu phủ lên tất cả. Con cú bị thương ở ngay ngực ấy được nước nuôi dưỡng, cũng như con tim Đức Ngài đã bị cắm phặp xuống dưới đáy bùn sình. Nước bao quát, phủ khắp trang văn của Nguyễn Ngọc Tư, nước đến cuối xuất hiện để rồi vỡ oà dưới những móng vuốt của loài cú đêm trong Nguyễn Bình Phương đều là khởi thủy làm lại từ đầu. Cả hai tác giả đã mượn chính cơn hồng thủy tuôn trào kéo tới xóa đi cái ngột ngạt tự do, xóa đi kìm hãm tột cùng ẩn sâu để đến một thế giới mới, thanh tẩy, xóa trắng và làm lại. Chẳng cách nào đóng lại được cơn hồng thủy đã mở. Không thể dừng lại được. Tiếng nước trầm trầm miên man. Lạnh lùng và bí ẩn. Mắt chó vàng như trăng.

*

Khép lại cả hai cuốn sách, Nguyễn Bình Phương và Nguyễn Ngọc Tư đã mang đến được một góc nhìn khác cho văn chương đương đại Việt Nam của những ngày này. Nguyễn Bình Phương vẫn thế, đứng đó chứng tỏ vị thế của mình với lối viết đẹp, phong cách mới lạ mà đầy thách thức. Không gian của Nguyễn Bình Phương luôn là ranh giới giữa mơ và thực để rồi vỡ toang trong cơn ám ảnh của những kìm nén đến thời ào ra. Và với Biên sử nước, Nguyễn Ngọc Tư cũng dấn thân vào đó, viết như mơ, như trôi; về con nước cuốn phăng làm lại từ đầu.

Hai cuộc giải phóng, hai cuộc thoát thai; với Biên sử nước và Thoạt kỳ thủy, một Nguyễn Bình Phương luôn được công nhận, và một Nguyễn Ngọc Tư trên con đường mới, tìm ra hướng đi cho văn chương mình. Thoạt kỳ thủy đậm đặc, Biên sử nước pha loãng; nhưng đều quan trọng và ghi dấu mình. Rất xứng đáng.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Đọc những bài viết của Ngô Thuật Phát


Phía sau trang sách

Giải mã hạnh phúc: Khám phá nguồn gốc của niềm vui và sự hài lòng

Liệu có bí mật nào cho hạnh phúc? Đây là câu hỏi đã xuất hiện từ hàng thập kỷ trước, và nhiều triết gia, lãnh tụ tôn giáo cũng như nhà khoa học đã đưa ra câu trả lời của riêng họ. Nhưng liệu có thể dùng khoa học để giải mã sự mưu cầu hạnh phúc được không?

Published

on

Hãy cùng đến với “Giải mã hạnh phúc”. Đây là một giả thuyết được đưa ra bởi chuyên gia tâm lý Jonathan Haidt, cho rằng hạnh phúc đến từ những khao khát nội tâm và đồng thời cũng đến từ các yếu tố bên ngoài. Nói cách khác thì hạnh phúc vừa là “bẩm sinh”, vừa là “nuôi dưỡng”.

Cụ thể thì như vậy nghĩa là gì? Hãy cùng phân tích các thành phần tạo nên “Giải mã hạnh phúc”, cũng như cách ứng dụng chúng vào cuộc sống để tìm kiếm niềm vui và sự hài lòng.

Bẩm sinh

Yếu tố di truyền đóng một vai trò nhất định trong cảm nhận chung về hạnh phúc của chúng ta. Một số người sinh ra đã có cái nhìn lạc quan, trong khi những người khác có thể phải vật lộn với lo âu và trầm cảm. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là mặc dù di truyền có thể ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc cơ bản, nhưng chúng không phải là yếu tố quyết định duy nhất.

Nuôi dưỡng

Môi trường và trải nghiệm cũng định hình hạnh phúc, điều này  bao gồm các mối quan hệ, công việc và thậm chí cả cộng đồng nơi chúng ta sống. Bằng cách tạo ra một môi trường hỗ trợ và trọn vẹn, chúng ta có thể nuôi dưỡng hạnh phúc lớn hơn trong cuộc sống.

Cân bằng giữa mong muốn và hoàn cảnh: “Giải mã hạnh phúc” cho rằng chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc bằng cách cân bằng giữa mong muốn bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Ví dụ, nếu bạn có mong muốn mạnh mẽ về an ninh tài chính, có thể bạn cần tìm một công việc mang đến nguồn thu nhập ổn định. Mặt khác, nếu bạn có niềm đam mê sâu sắc với sự sáng tạo, việc theo đuổi một sự nghiệp cho phép niềm đam mê đó phát triển có thể quan trọng hơn.

Vậy, làm cách nào để áp dụng “Giải mã hạnh phúc” vào thực tiễn? Dưới đây là một vài mẹo giúp bạn tìm thấy niềm vui và sự hài lòng trong cuộc sống:

1. Xác định các giá trị của bản thân: Hiểu được điều gì thực sự quan trọng với bạn có thể giúp định hướng các quyết định và tạo ra một cuộc sống viên mãn hơn.

2. Nuôi dưỡng các mối quan hệ: Mối quan hệ bền chặt với gia đình và bạn bè có thể mang lại tình yêu thương, sự hỗ trợ và cảm giác được thuộc về.

3. Theo đuổi đam mê: Tham gia vào các hoạt động và sở thích mang lại niềm vui có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc và hài lòng.

4. Thực hành lòng biết ơn: Dành thời gian để trân trọng những điều tốt đẹp trong cuộc sống, dù nhỏ bé, có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc tổng thể của bạn.

5. Cho đi: Giúp đỡ người khác có thể mang lại ý nghĩa và sự trọn vẹn cho cuộc sống của chúng ta.

Jonathan Haidt là một nhà tâm lý học và nhà tâm lý học xã hội, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về tâm lý học đạo đức và tâm lý học tư tưởng chính trị. Ông là giáo sư ngành Lãnh đạo Đạo đức tại Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, và đã xuất bản một số cuốn sách và nhiều bài báo nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học.

Các công trình của Haidt thường tập trung vào ý tưởng rằng niềm tin và giá trị đạo đức của chúng ta được hình thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm văn hóa, sự nuôi dạy và kinh nghiệm cá nhân. Ông lập luận rằng đạo đức không chỉ là vấn đề lý trí mà còn bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và trực giác của chúng ta.

Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của Haidt cho lĩnh vực tâm lý học là mô hình “trực giác xã hội” về phán đoán đạo đức. Mô hình này cho rằng các phán đoán đạo đức thường dựa trên những đánh giá tự động, vô thức về các tình huống, thay vì lý luận có ý thức và có chủ ý. Công trình này thách thức quan điểm truyền thống cho rằng việc ra quyết định đạo đức là một quá trình hoàn toàn lý trí, và nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm xúc và trực giác trong việc hình thành niềm tin đạo đức của chúng ta.

Nghiên cứu của Haidt cũng đã khám phá vai trò của đạo đức trong hệ tư tưởng chính trị, và ông đã chỉ ra rằng những người theo chủ nghĩa bảo thủ và tự do thường có nền tảng đạo đức khác nhau. Ví dụ, những người theo chủ nghĩa bảo thủ có xu hướng coi trọng các giá trị như lòng trung thành, quyền lực và sự thiêng liêng, trong khi những người theo chủ nghĩa tự do có xu hướng coi trọng sự công bằng và chăm sóc. Haidt lập luận rằng những khác biệt về đạo đức này đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình thái độ và hành vi chính trị.

Các công trình của Haidt đã được trích dẫn rộng rãi và nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải thưởng William James Fellow từ Hiệp hội Khoa học Tâm lý. Các cuốn sách của ông được ca ngợi vì dễ tiếp cận và chứa đựng những hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người.

Nhìn chung, những đóng góp của Jonathan Haidt cho lĩnh vực tâm lý học đã làm sáng tỏ vai trò của đạo đức và cảm xúc trong việc định hình niềm tin và hành vi, đồng thời giúp mở rộng hiểu biết về sự phức tạp của tâm trí con người.

Tóm lại, “Giải mã hạnh phúc” nhắc nhở chúng ta rằng hạnh phúc là sự kết hợp của cả bẩm sinh và nuôi dưỡng. Bằng cách cân bằng những mong muốn bên trong với hoàn cảnh bên ngoài, chúng ta có thể tạo ra một cuộc sống viên mãn và vui vẻ hơn. Vậy nên, hãy thử kiểm chứng “Giải mã hạnh phúc” và xem liệu nó có khiến bạn hạnh phúc hơn không nhé!

Lam dịch từ MindfulMac

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trách nhiệm thuộc về ai khi thiên nhiên hoang dã trở thành “tội phạm”?

Gấu đen đột nhập nhà dân, cây cối bị tình nghi gây ra án mạng, con nai băng qua đường không đúng luật. Nếu thiên nhiên phạm luật thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Published

on

Trong thế giới ngày càng đô thị hóa, ranh giới giữa lãnh địa con người và thiên nhiên hoang dã trở nên mong manh hơn bao giờ hết, dẫn đến những cuộc "chạm trán" dở khóc dở cười. Mary Roach đã khám phá thế giới kỳ thú nơi luật pháp - con người giao thoa, xung đột với bản năng tự nhiên trong Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật.

Giải mã "tội ác" của thiên nhiên

Mary Roach mở đầu Fuzz bằng cách đặt ra một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng lại khơi gợi vô số vấn đề phức tạp: Điều gì xảy ra khi thiên nhiên "phạm luật"? Không chỉ là những con thú lớn như gấu hay báo sư tử gây rắc rối ở vùng ngoại ô, danh sách "tội phạm tự nhiên" của Roach còn bao gồm cả những loài chim ăn trộm nông sản, những con khỉ tinh ranh ở Ấn Độ, những hạt đậu độc gây chết người hay thậm chí là những cái cây vô tri bị xem là mối nguy hiểm tiềm tàng.

Roach không ngồi yên trong phòng viết mà xông pha thực địa. Bà tham dự một khóa học về an toàn khi gặp thú dữ, theo chân các nhà khoa học điều tra hiện trường các vụ tấn công của động vật hoang dã, thậm chí nếm thử các loại thực vật bị xem là "có vấn đề".

Sách Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật (trái) và tác giả Mary Roach.

Khi tìm hiểu về những con voi ở Bắc Bengal thích chè chén, say xỉn, bà cho biết voi uống thứ mà dân làng thường uống: haaria, loại rượu pha chế tại nhà được lên men và dự trữ với số lượng đủ để làm say một con voi. "Theo Sĩ quan Raj, có hai điều xảy ra khi voi say xỉn. Hầu hết chỉ lạc đàn và ngủ quên. Nhưng dường như mọi đàn đều có một kẻ say xỉn hung hăng, thường là con đầu đàn hoặc voi đực đang trong kỳ musth. Trên đời, dù bạn có muốn mạo hiểm thế nào chăng nữa thì cũng phải tránh xa một con voi đực say xỉn", Roach viết.

Trọng tâm của Fuzz không phải là việc kết tội thiên nhiên mà là nỗ lực giải mã những hành vi bị xem là "phạm luật" ấy dưới góc độ khoa học. Tác giả đưa độc giả đi sâu vào thế giới của sinh thái học hành vi, di truyền học bảo tồn, khoa học pháp y động thực vật và quản lý động vật hoang dã.

Cụ thể như việc tìm hiểu các nghiên cứu tập tính nhằm hiểu rõ hơn về cách động vật di chuyển, kiếm ăn, và phản ứng với sự hiện diện của con người, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, như thiết kế hàng rào chống gấu, tạo hành lang di chuyển an toàn cho động vật hoang dã...

Con người nằm ở đâu trong "tội ác" này?

Một trong những thông điệp ngầm nhưng mạnh mẽ xuyên suốt Fuzz là sự tự vấn về vai trò của con người trong các cuộc xung đột với thiên nhiên. Mary Roach đặt câu hỏi: Liệu việc phá hủy môi trường tự nhiên, thay đổi cảnh quan, để thức ăn ngoài trời, vứt rác không đúng cách đã vô tình "mời gọi" động vật hoang dã vào những tình huống rắc rối?

Theo tìm hiểu của Roach, một con gấu vào khu dân cư tìm thức ăn không phải vì nó "xấu tính". Mà có thể vì nguồn thức ăn tự nhiên của nó bị suy giảm hoặc vì thùng rác của con người quá hấp dẫn, dễ tiếp cận. Bà không đổ lỗi cực đoan nhưng chỉ ra nhiều "tội ác" của thiên nhiên thực chất là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành động của con người.

Cuốn sách cũng nhắc đến những tình huống tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, thực tiễn trong việc quản lý xung đột. Từ những người ủng hộ biện pháp cứng rắn để bảo vệ tài sản và tính mạng con người, đến những nhà bảo tồn nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhân đạo hơn, tác giả để độc giả tự suy ngẫm về sự phức tạp của việc tìm kiếm điểm cân bằng. Làm thế nào để vừa bảo vệ lợi ích của con người, vừa tôn trọng quyền sống và không gian sinh tồn của các loài khác?

Theo Nguyệt Dạ | ZNews

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Nếu từng khóc khi xem phim “Mưu cầu hạnh phúc”, thì đây là cuốn sách bạn nên đọc

Published

on

Trong bộ phim Mưu Cầu Hạnh Phúc (The Pursuit of Happyness) ra mắt vào năm 2006 của đạo diễn Gabriele Muccino, diễn viên Will Smith vào vai Chris Gardner - một người cha đơn thân thất nghiệp, vô gia cư, phải vật lộn giữa cuộc sống bấp bênh, những đêm ngủ ở nhà ga, và giấc mơ đổi đời từ một chương trình thực tập không lương. Đó là một hành trình đầy khổ đau, nước mắt, nhưng cũng là bản hùng ca của lòng kiên cường và khát khao vươn lên.

Cùng năm 2006, chuyên gia tâm lý học Jonathan Haidt cho ra đời Giải Mã Hạnh Phúc, một công trình kết nối những minh triết cổ đại với khoa học hiện đại để trả lời câu hỏi muôn thuở: Hạnh phúc là gì, và làm sao để có được nó?

Khi đặt nhân vật Chris Gardner bên cạnh các giả thuyết về hạnh phúc của Haidt, ta nhận ra: Có những chân lý không bị mài mòn bởi thời gian hay hoàn cảnh, chẳng hạn như việc hạnh phúc không đến từ việc trốn tránh khổ đau, mà từ cách ta bước xuyên qua nó.

Will Smith và con trai Jaden Smith trong Mưu Cầu Hạnh Phúc.

"Con voi" và "người cưỡi voi": Cảm xúc và lý trí trong hành trình sinh tồn

Tác giả Jonathan Haidt dùng hình ảnh “con voi và người cưỡi voi” để ví von mối quan hệ giữa cảm xúc (con voi) và lý trí (người cưỡi). Trong phim, Chris Gardner nhiều lần bị cảm xúc dồn vào chân tường: Khi bị đuổi khỏi nhà, khi mất chỗ ngủ, khi con trai hỏi “Chúng ta có nhà không?”. Nhưng chính trong những khoảnh khắc ấy, “người cưỡi voi” - lý trí, bản lĩnh, lòng tin của Chris - vẫn kiên định dẫn đường.

Anh không để cảm xúc giận dữ, tuyệt vọng kiểm soát mình. Anh chọn hành động, kiên trì học hỏi, giữ vững phẩm giá ngay cả khi lau dọn toilet công cộng để có thêm chút tiền. Dù cảm xúc có lúc muốn gục ngã, anh vẫn tiếp tục hành động có lý trí, không để cơn tuyệt vọng làm tê liệt mình. Những lúc phải ngủ ở ga tàu với con trai, Chris vẫn giữ lòng tự trọng và tiếp tục cố gắng, giống như một người cưỡi đang cố gắng điều khiển một con voi đầy hoảng loạn.

Điều kiện ngoại cảnh và “ngưỡng hạnh phúc”

Sách Giải Mã Hạnh Phúc chỉ ra rằng con người có “mức độ hạnh phúc” nhất định. Ta có thể vui hoặc buồn nhất thời vì sự kiện bên ngoài, nhưng sau đó sẽ quay về mức hạnh phúc trung bình của mình. Thế nhưng, Haidt cũng lưu ý rằng có những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lâu dài đến hạnh phúc: nghèo đói, cô lập, hoặc bị sỉ nhục kéo dài.

Chris Gardner trải qua gần như tất cả những điều này, nhưng thay vì cam chịu, anh đã cố gắng tìm nhiều cách khác nhau để xoay chuyển số phận của bản thân, dẫu có những lúc rơi vào cảnh nghèo túng đến mức chỉ còn vỏn vẹn 30 đô la trong ví. Vì đã nỗ lực tự mình thay đổi hoàn cảnh nên khi thành công đến, anh không chỉ nhận được phần thưởng vật chất mà kèm theo đó còn là cảm giác xứng đáng, sự gắn kết với con trai, và lòng tự tôn được củng cố.

Ý nghĩa và mục đích sống: Cội nguồn của hạnh phúc bền vững

Haidt cho rằng hạnh phúc bền vững không đến từ việc theo đuổi khoái lạc (pleasure), mà đến từ việc sống có mục tiêu, có giá trị. Chris Gardner không chỉ muốn giàu mà hơn thế nữa, anh muốn trở thành một người cha xứng đáng, một con người có giá trị. Tình yêu dành cho con trai là kim chỉ nam dẫn lối, khiến anh không bỏ cuộc dù bị cả thế giới quay lưng.

Điều này khớp với một câu nói của triết gia Friedrich Nietzsche: "Nếu bạn có một lý do đủ lớn để sống, bạn có thể chịu đựng hầu hết mọi nỗi đau." (He who has a why to live for can bear almost any how).

Hạnh phúc không phải đích đến, mà là hành trình

Cuối phim, khi Chris được nhận vào làm chính thức, anh rưng rưng cố không bật khóc giữa đám đông, chạy vội đến nhà trẻ của con trai và ôm lấy con. Đó không chỉ là giây phút hạnh phúc đơn thuần, mà còn là sự giải phóng sau bao tháng ngày chịu đựng và không từ bỏ. Từ một nhân viên chào bán thiết bị y tế, cuộc đời Chris đã thay đổi. Đó là minh chứng cho giả thuyết cuối cùng của Haidt: “Hạnh phúc không phải là thứ mà bạn có thể tìm thấy, có được hoặc đạt được một cách trực tiếp. Bạn phải có được các điều kiện phù hợp và sau đó chờ đợi. Một số điều kiện đó nằm trong bạn, chẳng hạn như sự gắn kết thống nhất giữa các phần và cấp độ trong tính cách của bạn. Các điều kiện khác yêu cầu mối quan hệ với những thứ bên ngoài bạn: giống như cây cối cần mặt trời, nước và đất tốt để phát triển, con người cũng cần tình yêu, công việc và sự kết nối với một điều gì đó lớn lao hơn.”

Mưu Cầu Hạnh Phúc không kể lại con đường đạt đến thành công của một người đàn ông, mà đã khắc họa lại lòng kiên trì bền bỉ và ý chí quyết tâm vượt lên số phận. Giải Mã Hạnh Phúc không dạy ta cách để luôn hạnh phúc, mà cho ta công cụ để hiểu hạnh phúc thật sự là gì. Một bên là nhân vật trong phim, một bên là những giả thuyết được đúc kết từ hàng ngàn năm trí tuệ của nhân loại, giao nhau tại điểm giữa: sự gắn kết với cuộc sống, niềm tin vào một điều tốt đẹp và cao cả hơn chính bản thân mình.

Lam

Đọc bài viết

Cafe sáng