Book trailer

Tiền từ Hitler & Trái tim mù lòa: Mảnh ghép độc đáo cho dòng văn Holocaust

Published

on

Dòng văn viết về nạn Diệt chủng của Đức Quốc xã dĩ nhiên không hiếm, vì có thể nói đây là một trong những sự kiện phi nhân nhất trong lịch sử loài người. Từ những áng văn mô tả một cách chân thật những gì xảy ra trong Trại Lò hơi, cho đến những tác phẩm giả tưởng đặt giả thiết nếu các chính sách Hitler thành sự thật… thì những tưởng không còn gì mới để khai thác. Thế nhưng như một tấm vải sặc sỡ của sự thật, những tác phẩm như Tiền từ Hitler hay Trái tim mù lòa đã khai thác được những góc nhìn thú vị, góp vào cho dòng văn chương này một hơi thở mới. 

*

Cùng đoạt giải sách hay của Đức và Séc năm 2007, hai tác phẩm này có thể nói đã khai thác được những đề tài thú vị, mà trước đó rất ít tác giả để ý thấy. Nếu Radka Denemarkova nhấn sâu vào những thương tổn của nạn nhân sau kì hậu chiến khi trở về nhà và không còn gì như cũ; thì Julia Franck lại làm một khảo sát về tính nữ vừa nghiêm chỉnh lại rất công phu, giữa hai cuộc Đại chiến Thế giới. Nếu từng đọc qua Bí ẩn nữ tính của Betty Friedman chắc hẳn độc giả sẽ thấy cuốn sách của Julia Franck như phiên bản tiểu thuyết hóa của cuốn non-fic ấy, lồng lộng và sâu sắc.

Tiền từ Hitler

Sơ qua một chút nội dung. Tiền từ Hitler kể về Gita – cô gái 16 tuổi người Séc đã phải trải qua những biến động lịch sử cùng gia đình mình, khi bị Đức quốc xã bắt vì là người Do Thái; đến khi thoát về lại Séc, thì lại bị quy là thành phần của Đức Quốc xã. Bị hành hạ thậm chí gần như bị giết chết, được sự giúp đỡ của nhiều người tốt, cô về lại Praha, để 60 năm sau xuất hiện trở lại với nhân dáng là một bà già, để trả lại sự trong sạch cho cha mình, không muốn lấy lại gia sản mà điều duy nhất bà cần là một bức tượng cho cha mình.

Thế nhưng, những người dân ở Puklice lúc này là hậu duệ của chính những người từng hành hạ bà – không đồng ý với điều đó, và vu khống rằng bà muốn lấy lại tài sản cũng như mảnh đất nơi họ đang ở. Cuối truyện, Gita già lão khép lại một câu “Cuộc đời là chuyến đi điên loạn trên chính chiếc đu quay ấy. Rốt cuộc, thực ra, đó cũng là tiền từ Hitler” như ám chỉ tội ác vẫn còn đó, con người là giống loại tị hiềm và bị chia rẻ từ trong bản chất.

Trái tim mù lòa

Còn với Trái tim mù lòa, bám theo nhân vật Helene từ thủa ấu thời cho đến trưởng thành, Julia Franck đã khắc họa được hình tượng người phụ nữ nằm giữa hai cuộc thế chiến. Từ một người bị từ chối được giáo dục như bao trẻ em gái khác, giờ đây khi có cơ hội được đến Berlin để học Y và hòa vào xã hội tiến bộ, Helene đã không bỏ qua cơ hội này. Lấy Wilhelm – một kĩ sư phục vụ cho chính quyền Quốc trưởng – để rồi bị y bỏ rơi vì không còn trong trắng, Trái tim mù lòa là bản cáo trạng về tình trạng yếm thế của phụ nữ, cũng như những gì mà họ phải chịu trong một thời kỳ đảo điên.

*

Nói về điểm mới, cả hai tác phẩm trên đều hướng về những đối tượng rất ít được nhắc đến trong dòng văn chiến tranh, là phụ nữ và những người dễ tổn thương. Trong các tiểu thuyết phản chiến, dễ thấy được sự xuất hiện của hình tượng một người anh hùng đứng lên khởi nghĩa, vùng lên đấu tranh, hoặc khôn ngoan hơn là nằm yên chờ thời. Do đó ít khi ta thấy phụ nữ giữ vị trí trung tâm và được khắc họa. Phụ nữ trong các tác phẩm này cũng thường gắn liền với những khó khăn và bất hạnh của thời đoạn; cho nên Trái tim mù lòa với những mô tả sâu sắc về hình tượng phụ nữ Đức khi Liên Xô bắt đầu bao vây, là một hướng đi mới mẻ.

Cũng như thế, Tiền từ Hitler là nỗ lực cho thấy những tổn thương thời kì hậu chiến. Đó là tâm lý, khi lần đầu Gita về lại Puklice, nhưng cũng là liên tục những lần sau đó khi bà hồi tưởng những gì mình đã chịu đựng. Ba trục Đức-Séc-Do thái được Radka Denemarkova dựng lên có phần nhạy cảm, nhưng cần thiết cho những ai cho biết về vấn đề này. Cũng như Natascha Wodin viết nên Người đến từ Mariupol để cho thấy có tồn tại những người Ukraine bị bắt ép đi cưỡng bức lao động, nỗ lực của Radka Denemarkova là vô cùng cần thiết.

Radka Denemarkova

Về nghệ thuật viết, Radka Denemarkova mang đến một sự mới lạ khi dùng chính sự thô thiển và táo bạo của ngôn ngữ để khắc họa nỗi đau mà nhân vật gặp phải. Từ ngữ và những hình tượng ẩn dụ hay tưởng tượng của bà chứa đầy sức mạnh và có phần bạo lực, thế nhưng thông qua đó, người đọc hiểu được, cảm được những gì đang chảy trong máu cuốn sách, mà có thể những thế hệ chưa tham chiến không thể hiểu được. Hình tượng “ăn tươi nuốt sống” hậu duệ của những thế hệ từng hành hạ bà, hay quy nó thành trận đấu quyền anh; hay chứng kiến những con lợn lớn sục sạo ăn cả con non của mình… là những liên tưởng độc đáo nhưng không kém sức nặng cũng như thể hiện được hết những gì tình cảm dồn nén.

Julia Franck

Còn với Julia Franck, bằng giọng văn điềm tĩnh và dịu dàng như một khúc sông, qua gần 400 trang sách, cả một thế hệ người vợ – người mẹ được hiện lên, từ một đứa bé với đầy ước mơ, cho đến bị ngăn cản, trước những thách thức cũng như trò chơi xã hội xô bồ. Franck không chỉ tập trung vào riêng Helene, mà đó còn là mẹ cô – người đàn bà sống mà như đã chết khi sinh ra 4 người con trai chết yểu; hay chị cô, Martha – một người nỗ lực tìm lại bản sắc qua tình yêu “lệch chuẩn” với Leontine hay morphine, các buổi tiệc chìm đắm… Ở đây, tác phẩm này như bao trọn hết cả thời kì đó, với nhiều góc nhìn thú vị cũng như khái quát một cách toàn diện được một thời kì.

Cả hai nhân vật Helene và Gita đều mang đến cho độc giả một tính nữ dịu dàng, nhưng cùng với đó là những khó khăn trong bước đường trưởng thành của họ. Nếu Helene được đặt trong bối cảnh trưởng giả của một nước Đức hùng mạnh nhưng vẫn luôn bị kềm nén trong việc làm vợ làm mẹ; thì với Gita đó là chiến tranh, là bạo lực và trả thù. Những gì Gita trải qua có thể khiến cho người đọc sởn hết da gà, nhưng đó là những gì thật nhất, rõ nhất và cũng hùng hồn nhất cho thời đại mà giá trị con người xuống thấp nhất.

Cùng nói về lòng tham quyền lực và những mưu mô đớn hèn để giành được điều đó, Franck quy Helene về trong bản chất gia đình, với Carl – người yêu cô hết mực nhưng yếm thế, và Wilhelm – anh chàng yêu cô say đắm, nhưng chỉ là lớp vỏ ngoài. Trong cả hai trường hợp, người đàn ông mà Franck khắc họa đều giữ cho mình một vị trí tối thượng để nhìn người phụ nữ của mình. Và họ, cũng như Gita, không thể làm gì khác là chấp nhận số phận, hướng tới tương lai, biết buông tha những gì không thể giữ cũng như chờ đợi. Vì đó là thứ sau cùng họ có thể làm, một cách chủ động hướng về tương lai.

*

Với hai tác phẩm đoạt giải sách Đức cũng như Magnesia Litera – giải thưởng văn chương danh giá nhất của Séc; nhà văn Radka Denemarkova và Julia Franck đã mang đến người đọc một góc rất riêng về những thân phận lạc loài, từ đó làm dày thêm bức tranh tái hiện lịch sử của một thời đoạn không thể nào quên. Với hai tác phẩm đoạt giải sách Đức cũng như Magnesia Litera – giải thưởng văn chương danh giá nhất của Séc; nhà văn Radka Denemarkova và Julia Franck đã mang đến người đọc một góc rất riêng về những thân phận lạc loài, từ đó làm dày thêm bức tranh tái hiện lịch sử của một thời đoạn không thể nào quên. Kịch tích, độc đáo và đầy riêng biệt. Hai tác phẩm hay và giàu cảm xúc.

Hết.

minh.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giới thiệu sách

Bức thư tình gửi đến Việt Nam từ một nhà thơ người Mỹ

Published

on

By

Dưới Tán Chò Nâu Sài Gòn là tuyển tập bút ký điền dã của một nhà thơ, nhà báo người Mỹ viết về Sài Gòn, được xuất bản dưới dạng sách song ngữ. Tuyển tập gồm 8 đoản khúc, xoay quanh những điều bình dị như cây chò nâu, tiệm tạp hóa, lục bình, sở thú… cho đến những chủ đề “khó nhằn” như tục thờ cá Ông, đồn điền cao su, nghề nấu rượu… Tất cả được viết bằng giọng văn vừa dí dỏm, khoa học nhưng không kém phần thơ mộng.

Việt Nam qua góc nhìn của thi sĩ Mỹ

Nhà thơ Paul Christiansen sinh năm 1986, quốc tịch Mỹ, tốt nghiệp cử nhân Đại học St Olaf và có bằng thạc sĩ nghệ thuật Đại học Quốc tế Florida (Mỹ).

Nhận học bổng chương trình Fulbright, anh sang Quy Nhơn năm 2015 rồi sau đó chuyển hẳn đến Việt Nam làm việc. Anh hiện là Giám đốc Nội dung của tạp chí Saigoneer và đang miệt mài chuyển ngữ nhiều tác phẩm văn học Việt Nam để giới thiệu với bạn bè quốc tế.

Thơ của Paul Christiansen đã xuất hiện trên các tạp chí văn học nghệ thuật uy tín như Atlanta Review, Pleiades, Quarter After Eight, Threepenny Review, Zone Three và đã đoạt hai giải thưởng thi ca của Viện Hàn Lâm Thi Ca Mỹ.

Tài năng của Trần Thị NgH trong vai trò dịch giả

Chịu trách nhiệm chuyển ngữ tập bút ký của Christiansen là Trần Thị NgH - nữ văn sĩ từng gây tiếng vang với những truyện ngắn được viết trước 1975. Năm 2012, nhiều truyện ngắn của Trần Thị NgH được tập hợp lại thành sách và giới thiệu với độc giả trong nước, như Nhà có cửa khóa trái, Lạc đạn, Nhăn Rúm và các truyện ngắn khác. Vào năm 2018, tác phẩm gần đây nhất của bà là Ác tính được xuất bản, gây xôn xao văn đàn. 

Vắng bóng một thời gian trong tư cách người cầm bút, Trần Thị NgH bất ngờ trở lại với cuốn sách Dưới Tán Chò Nâu, nhưng trong một vai trò mới: dịch giả.

Đọc qua phần mục lục, ta có thể thấy tài năng của Trần Thị NgH qua việc chuyển ngữ những tiêu đề tiếng Anh sang tiếng Việt rất mượt mà:

  • SỞ THÚ SÀI GÒN – Vẫn yêu dù có thế nào (On Loving the Saigon Zoo Despite Its Flaws)
  • LỤC BÌNH: Người đẹp thủy sinh, kẻ phá hoại đáng ghét, quân xâm lược xấu xa (An Invasive, Destructive, Beautiful Aquatic Villain)

Bà cũng là người biên dịch nhiều tác phẩm của John Steinbeck, Anton Chekhov, Paolo Giordano, Franck Thilliez, Guillaume Musso,...

Về việc dịch tác phẩm này, bà cho biết: “Thách thức trong khi dịch Paul Christiansen không chỉ đòi hỏi nỗ lực Việt hóa tác phẩm sao cho không còn là văn dịch đồng thời đảm bảo trung thực ý nghĩa từng câu chữ so với bản gốc, mà còn phải làm thế nào để giữ cho được cái giọng châm biếm ở nhiều ngữ cảnh của tác phẩm, đặc biệt giọng văn rất thơ của tác giả”.

Tập bút ký điền dã với nhiều suy tư sâu sắc

Vốn là người yêu thiên nhiên và thơ ca, dễ thấy rằng Paul Christiansen đặc biệt quan tâm đến những điều tạo nên nét đẹp mộc mạc, bình dị của mảnh đất hình chữ S. Tác giả tìm thấy cảm hứng từ việc đi dạo dưới bóng cây râm mát của sở thú, trăn trở về cá voi ngoài đại dương lẫn những con thú bị nhốt trong chuồng, thích thú ngắm nhìn lục bình trôi và những quả chò nâu xoay vòng trong gió…

Những bài viết của Paul Christiansen độc đáo ở chỗ có sự đan xen giữa óc quan sát tinh tế của một nhà thơ và góc nhìn chuyên sâu của một nhà nghiên cứu về những cảnh quan, nghi lễ, sự thật lịch sử vẫn còn bị dân bản địa thờ ơ.

Hai bài viết đầu tiên, Sở thú Sài Gòn, Tạp hóa và cửa hàng tiện lợi, đưa người đọc tái khám phá những địa điểm quen thuộc dưới một lăng kính mới. Trong mắt nhà thơ người Mỹ, ngay cả những dây dầu gội, sữa tắm treo trước các tiệm tạp hóa trông thật lạ lẫm, được anh ví như “rêu bằng nhôm mọc trên cây hay những tấm màn bằng xâu chuỗi để che hậu cảnh”.

Nhưng Paul Christiansen không chỉ khám phá Việt Nam qua những điều mà ai cũng dễ dàng nhìn thấy. Nghề nấu rượu, Tục thờ cá Ông, Đồn điền cao su Việt Nam… khai thác những chủ đề tưởng chừng khô khan, khó nhằn thậm chí đối với người bản địa.

Nghề nấu rượu xoay quanh món rượu gạo truyền thống của Việt Nam và những thăng trầm mà người làm rượu theo cách thủ công phải trải qua trong suốt thời kỳ Pháp đô hộ.

Tục thờ cá Ông viết về tín ngưỡng thờ cúng cá voi ở các làng chài Việt Nam, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đồng thời cũng là nỗi băn khoăn của tác giả trước thực tế cá voi đang dần tuyệt chủng.

Đồn điền cao su điểm lại một trang sử bi thương của người Việt Nam, nhìn thẳng vào hệ quả hậu thuộc địa mà các nước thực dân gây ra.

Bảo tàng Địa chất, Lục bình, Chò nâu Sài Gòn viết về những vật, những người vẫn luôn ở đó nhưng dễ bị lãng quên giữa guồng quay cuộc sống: một bảo tàng khiêm tốn nằm ở góc quận 1, thảm xanh lục bình trôi trên sông, hay vẻ đẹp của cây chò nâu mọc ven đường…

Dưới Tán Chò Nâu Sài Gòn là tập bút ký dành cho người yêu Sài Gòn, yêu Việt Nam, và cả những người muốn yêu lại từ đầu với thành phố, với mảnh đất này…

Trích đoạn

“Trong khi tản bộ xuống đường Nguyễn Đình Chiểu, tôi chợt thấy một thác chò đổ tuôn sau cơn gió hè. Những quả khô bay vòng vèo xuống rồi đáp bất lực trên nền bê tông. Vô phương bám rễ, những đôi cánh xụi lơ, giống như vây cá voi sát thủ yếu quặt vì bị giam cầm. Có một thứ gì đó trong tôi cũng tả tơi như thế.”

(trích Chò nâu Sài Gòn)

“… tôi đến viếng bàn thờ cá Ông và thắp một nén nhang cầu xin cho cá voi được trường tồn, cho làng chài được sung túc và cho những ao ước riêng tư của mình thành hiện thực – những khát vọng này không nhất thiết phải loại trừ lẫn nhau. Khói nhang bay tỏa lên không trung, giống như tiếng hát cá voi vang vọng vào cõi tĩnh lặng lúc nó ngoi lên từ vực nước thẳm sâu”.

(trích Tục thờ cá Ông)

Nhận xét

Paul Christiansen thích đi bộ để thấy và nghe. Anh lắng nghe tâm tình của động vật và cây cỏ trong Thảo Cầm Viên, ngồi ngắm lục bình trôi trên sông Sài Gòn, mua nhu yếu phẩm từ tiệm tạp hóa góc phố, uống rượu gạo với dân làng chài, thắp nhang vái lạy trước bàn thờ cá Ông làng Phước Hải, băn khoăn về những dòng máu trắng chảy trong rừng cao su thời thuộc địa, ray rứt với từng viên thạch anh trưng bày ở Bảo tàng Địa chất, ngắm nhìn cánh chò xoay xoay trong gió…

– Dịch giả Trần Thị NgH

Hết.

Đọc bài viết

Giới thiệu sách

Khỉ Đột Vô Hình Và Cú Lừa Của Trực Giác – tác phẩm về một thí nghiệm tâm lý gây chấn động

Published

on

By

Tác phẩm được viết bởi hai nhà tâm lý học đoạt giải Ig Nobel 2004

Hai nhà tâm lý học Christopher Chabris và Daniel Simons gặp nhau tại Viện Đại học Harvard vào năm 1997 và bắt đầu trở thành cộng sự trong lĩnh vực nghiên cứu.

Christopher Chabris là một giáo sư tâm lí học và cũng là giám đốc điều hành của một chương trình về khoa học thần kinh tại Đại học Union ở Schenectady, New York (Mỹ). Daniel Simons là nhà tâm lý học thực nghiệm, nhà khoa học nhận thức, và là giáo sư Khoa Tâm lý học ở Viện Beckman về Phát triển khoa học và công nghệ tại Đại học Illinois (Mỹ).

Năm 2004, họ cùng thắng giải Ig Nobel tâm lý học – một giải thưởng nhại lại giải Nobel được trao cho “những thành tựu ban đầu làm người ta phì cười, nhưng sau đó lại khiến họ suy nghĩ”. Khỉ Đột Vô Hình Và Cú Lừa Của Trực Giác được lấy cảm hứng từ đây.

Hiện tượng “nhìn mà không thấy” trong thí nghiệm “khỉ đột vô hình”

Mọi chuyện bắt đầu từ một thí nghiệm kinh điển của Chabris và Simons. Hai nhà tâm lý học nhờ các tình nguyện viên trường Harvard xem đoạn phim ngắn về trận bóng giữa hai đội mặc áo đen và trắng, yêu cầu họ đếm số lần chuyền bóng của hai đội. Sau khi hết video, các đối tượng tham gia thí nghiệm nêu ra con số mà mình đếm được.

Nhưng nhiệm vụ đếm số lần chuyền bóng chỉ là cái cớ để giữ cho những tình nguyện viên phân tâm khỏi sự kiện chính trong đoạn video. Giữa lúc trận bóng diễn ra, một người mặc bộ đồ hóa trang khỉ đột lặng lẽ đi vào hiện trường, nhìn về phía camera, lấy tay đấm lên ngực rồi bước ra. Cảnh này diễn ra trong vòng 9 giây.

https://youtu.be/vJG698U2Mvo

Kết quả thật đáng ngạc nhiên: khoảng phân nửa đối tượng tham gia thí nghiệm, vì quá chú tâm đến nhiệm vụ của mình, đã không chú ý tới chú khỉ đột!

Thí nghiệm này là xuất phát điểm để Christopher Chabrisvà Daniel Simons phát triển công trình nghiên cứu gây tiếng vang của mình. Khoa học gọi đây là hiện tượng “mù vô ý” (inattentional blindness) có thể xảy ra hằng ngày trong mọi khía cạnh của đời sống, nhưng những điều trên mới chỉ là bề nổi của tảng băng trôi.

Chúng ta không biết nhiều về thế giới như ta vẫn nghĩ

Từ một thí nghiệm về tình trạng mù vô ý, Christopher Chabrisvà Daniel Simons đã dẫn chứng hàng loạt câu chuyện có thật nhằm chứng minh rằng nhận thức con người đầy rẫy những lỗ hổng.

Khi tham gia giao thông, bạn hoàn toàn có thể rơi vào tình trạng mù vô ý và không thể tránh kịp chiếc xe đang ở phía trước, dù nó nằm ngay trong tầm nhìn của bạn.

Cuốn sách đưa ra những trường hợp chứng tỏ con người thường vô ý bỏ qua những gì ở ngay trước mắt khi quá tập trung vào một việc cụ thể, dẫn tới hậu quả khôn lường: như một cảnh sát chạy ngang qua hiện trường một vụ hành hung nhưng không nhận ra, một vị hạm trưởng tàu ngầm không thấy chiếc ngư thuyền trong tầm mắt, một tài xế không chú ý tới người chạy xe máy, một phi công không thấy chướng ngại vật trên đường băng…

Không dừng lại ở những gì tai nghe mắt thấy, Chabris và Simons đi sâu vào phân tích nhiều cái bẫy ảo tưởng tinh vi hơn, chẳng hạn ảo tưởng về ký ức, ảo tưởng về kiến thức hay ảo tưởng về sự tự tin. Bộ đôi nhà tâm lý học chỉ ra rằng, bộ nhớ của chúng ta thường cố tình bóp méo những ký ức về sự kiện trong quá khứ, rằng một chuyên gia vẫn có thể mắc sai lầm… Tất cả đều xuất phát từ niềm tin mù quáng vào kinh nghiệm và nhận thức của bản thân.

Những ảo tưởng sai lầm có thể khiến chúng ta bị “dắt mũi”

Có nhiều doanh nghiệp đã tạo ra hàng triệu USD nhờ tận dụng những ảo tưởng phổ biến của con người.

Một trong số đó là việc quảng cáo loại headset đeo tai để nghe điện thoại trong lúc lái xe.  Luật giao thông cấm tài xế sử dụng điện thoại di động cầm tay khi đang chạy xe trên đường, nhưng không cấm tài xế đeo headset. Tờ quảng cáo của công ty AT&T Wireless đã tuyên bố: “Nếu sử dụng điện thoại không dây trong khi lái xe, bạn có thể giữ cả hai bàn tay trên tay lái”.

Chabris và Simons cho rằng không có nhiều khác biệt giữa khả năng gây phân tâm của điện thoại cầm tay và điện thoại rảnh tay, vì bản chất việc nói chuyện điện thoại trong lúc lái xe đòi hỏi khả năng đa nhiệm của người sử dụng. Càng chú tâm vào cuộc nói chuyện, tài xế sẽ càng xao lãng những gì diễn ra trước mắt, dễ dẫn đến tình trạng mù vô ý, thế nên quảng cáo headset đeo tai an toàn hơn điện thoại cầm tay là hoàn toàn sai lầm và lợi dụng niềm tin của người dùng.

Bằng cách nhận ra khi nào và tại sao các ảo tưởng này lại ảnh hưởng tới mình, hậu quả mà chúng gây ra cho những vấn đề của con người, Chabris và Simons tin rằng Khỉ Đột Vô Hình Và Cú Lừa Của Trực Giác sẽ giúp người đọc có cái nhìn thấu đáo hơn về cách tâm trí hoạt động, vượt qua hoặc giảm thiểu tác động của những ảo tưởng ở mức tối đa, từ đó sống và đưa ra quyết định một cách sáng suốt hơn.

Trích đoạn

“Mỗi khi nói chuyện điện thoại trong lúc lái xe, và tin rằng mình vẫn đang chú ý đủ trên đường, chúng ta bị ảnh hưởng bởi một trong những ảo tưởng này. Mỗi khi giả định rằng người nhớ sai quá khứ của họ thì chắc là đang dối trá, chúng ta đầu hàng một ảo tưởng. Mỗi lúc chọn vị lãnh đạo cho một đội ngũ, do người đó thể hiện sự tự tin nhiều nhất, chúng ta bị ảo tưởng tác động. Mỗi lúc bắt đầu một dự án mới và tin rằng mình biết nó sẽ hoàn thành trong bao lâu, chúng ta lại bị một ảo tưởng. Thực vậy, hầu như không có lĩnh vực nào của hành vi con người là không chạm tới ảo tưởng hàng ngày”.

Nhận xét của độc giả

“Một cuốn sách khai nhãn. Sau khi đọc, bạn sẽ nhìn vào chính mình và thế giới xung quanh một cách khác biệt.” - Joseph T. Hallinan

“Khỉ đột vô hình và cú lừa của trực giác khiến chúng ta khôn ngoan hơn bằng cách tự nhắc nhở rằng mình hiểu biết ít như thế nào.” - Amanda Ripley

“Một hành trình hấp dẫn và sâu sắc đi qua những ảo tưởng có sức ảnh hưởng tới mỗi khoảnh khắc của cuộc sống.” - Richard Wiseman

Hết.

Đọc bài viết

Giới thiệu sách

Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn chạm mốc 10 năm tuổi với 30 lần tái bản

Published

on

By

Xuất bản lần đầu năm 2012, Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn đã chạm mốc 10 năm tuổi, với 30 lần tái bản và luôn nằm trong danh sách best-seller của Phương Nam Book.

Hành trình 10 năm với 30 lần tái bản

10 năm tuổi, 30 lần tái bản, thế nhưng những suy tư, chiêm nghiệm trong Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn chưa bao giờ lỗi thời mà ngược lại còn tiếp tục chứng minh sức sống cùng với thời gian.

Dù ra mắt năm 2012 dưới dạng tuyển tập tản văn, những trang viết đầu tiên trong Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn thực chất đã nhen nhóm từ các bài đăng trên chuyên mục Cảm Thức của Bán nguyệt san 2! (số Chuyên đề của báo Sinh Viên Việt Nam), lặng lẽ chinh phục những độc giả trẻ đang loay hoay định vị bản thân giữa cuộc sống bộn bề, và cả những độc giả có tuổi muốn nhìn lại cuộc đời dưới một lăng kính mới…

Khi chính thức xuất bản thành sách, tập tản văn đã tạo nên một hiện tượng đặc biệt trong văn hóa đọc Việt Nam. Các bài viết của bộ đôi tác giả lấy bút danh Phạm Lữ Ân có thời được đăng tải, trích dẫn trên những nền tảng mạng xã hội, tạo cảm hứng cho nhiều bài hát, kịch bản phim. Các trích đoạn trong sách thậm chí còn được đưa vào đề thi ngữ văn tại một số trường trung học phổ thông.

Bìa sách cho độc giả tự thiết kế

Ở mỗi cột mốc tái bản, Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn lại khoác lên chiếc áo mới, khi thì thay bìa, lúc lại có thêm ấn bản bìa cứng và minh họa màu…

Để kỷ niệm “sinh nhật” 10 năm cùng lần tái bản 30, Phương Nam Book mang đến ấn bản với một hình thức hoàn toàn mới, đó là phần bìa được thiết kế theo dạng khung tranh để độc giả có thể tùy ý lựa chọn, thay đổi bìa sách theo 4 tranh rời được đính kèm.

Trong đó, 3 tranh bìa rời đã được thiết kế sẵn với phong cách trẻ trung, bắt mắt, còn bìa trắng để độc giả có thể tự do vẽ vời, sáng tạo theo phong cách riêng.

Các bìa rời này đồng thời cũng là Postcard được in hai mặt, có tem thư và câu trích dẫn ý nghĩa làm quà tặng độc giả. Bên trong sách có tranh minh họa trắng đen sinh động, dễ thương.

Tập tản văn đồng hành cùng độc giả mọi lứa tuổi

Ban đầu, các bài viết trong Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn được viết như những lời gửi gắm, tâm tình dành cho người trẻ. Nhưng theo thời gian, sức lan tỏa của tác phẩm đã vượt qua kỳ vọng ban đầu của người viết và chạm đến trái tim độc giả ở mọi lứa tuổi.

Cuốn sách tập hợp 40 tản văn xoay quanh các chủ đề như tình yêu, tình bạn, gia đình… với những góc nhìn sâu sắc về sự vô thường của cuộc đời – đúng như tên sách đã gợi ra. Đó có thể là cái nhìn thông tuệ về tình yêu, về những thành bại trong cuộc đời, hay về quá trình trưởng thành gian nan của mỗi người…

Nhiều bài viết trong sách được chấp bút cách đây hơn 10 năm nhưng luôn giữ được tính phổ quát và thời sự. Khi dịch Covid-19 bùng phát mở đầu cho giai đoạn giãn cách xã hội, tác giả Phạm Công Luận đã kịp thời chia sẻ lại bài viết “Có một cuốn sách bên trong bạn” như một cách động viên mọi người vượt qua suy nghĩ tiêu cực và tận dụng khoảng thời gian này để tự khám phá những tố chất bên trong. Hay các bài viết về tuổi mới lớn như “Những khoảng trống không thể lấp đầy”, “Ngược dòng nước mắt”…  vẫn đủ sức nói lên tâm tư của những người trẻ hiện nay. 

Nhiều độc giả chia sẻ rằng mình đã nhận được vô số bài học quý giá từ các trang viết của bộ đôi tác giả Phạm Lữ Ân. Có người còn cho rằng mỗi lần đọc lại sách đều có thể tự đúc kết thêm những ý nghĩa mới.  

Một cuốn sách dù có giá trị vượt thời gian cách mấy cũng không thể tránh những khuyết điểm, thiên kiến từ chính người viết, nhất là đối với một tác phẩm được tái bản hàng chục lần và được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt như Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn.

Vào đợt kỷ niệm lần tái bản thứ 20, tác giả Phạm Công Luận từng chia sẻ trên trang Facebook cá nhân: “Có lúc Đông Vy (người viết chính) muốn sửa chữa lại vài từ, vài câu hay chỉnh lại vài ý trong sách nhưng tôi cho rằng cứ để nguyên vì nó đã được cảm nhận nguyên bản như vậy rồi”.

Sau này, tác giả Đông Vy chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn: “Mình viết những suy nghĩ thành thật của mình trong thời điểm đó. Nếu chưa toàn diện và còn những thiên kiến của riêng mình thì nó thể hiện bản thân mình lúc đó chưa hoàn hảo”.

Nhưng theo Đông Vy, chính vì chưa hoàn hảo nên tác giả có thể tiếp tục suy tư về những vấn đề được viết trong sách và đồng hành cùng độc giả trên hành trình chiêm nghiệm cuộc đời.

Không phải ngẫu nhiên mà tác phẩm này nhận được nhiều sự yêu mến đến vậy, khi tái bản lên tới con số 30 lần. Những trang viết của Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn suốt bao nhiêu năm qua vẫn như người bạn tâm tình cùng bao thế hệ bạn đọc, xứng đáng trở thành một trong những cuốn sách được yêu thích nhất ở Việt Nam.

Trích đoạn

“Người ta gọi tuổi mới lớn là “tuổi biết buồn”. “Biết buồn” tức là chạm ngõ cuộc đời rồi đó. Biết buồn tức là bắt đầu nhận ra sự hiện hữu của những khoảng trống trong tâm hồn. Biết buồn là khi nhận ra rằng có những lúc mình cảm thấy cô độc. Khi đó, hãy dành cho sự cô độc một khoảng riêng, hãy đóng khung sự cô đơn trong giới hạn của nó, như một căn phòng  trống trong ngôi nhà  tâm hồn. Mỗi lần vào căn phòng ấy, dù tự nguyện hay bị xô đẩy, thì bạn vẫn có thể điềm tĩnh khám phá bản thân trong sự tĩnh lặng. để rồi sau đó, bạn bình thản bước ra, khép cánh cửa lại và trở về với cuộc sống bề bộn thường ngày, vốn lắm nỗi buồn nhưng cũng không bao giờ thiếu niềm ”

(Trích “Những khoảng trống không phải để lấp đầy”)

“Ồ, cuộc đời cũng như hơi thở vậy thôi. Ta không thể hít một hơi dài quá khả năng của mình. Nhưng ta có thể hít sâu hết khả năng của mình trong từng hơi thở. Tôi vẫn tin rằng nếu bạn thực sự biết hưởng thụ, bạn luôn thấy mình đã sống rất sâu.

Nếu đã biết trăm năm là hữu hạn, cớ gì ta không sống thật sâu…?”

(Trích “Nếu biết trăm năm là hữu hạn”)

Nhận xét của bạn đọc

“Đọc nó, ta như tìm được lời giải đáp cho những suy tư của chính mình. Đọc nó, ta như tìm lại được chốn bình yên trong tâm hồn mình. Để rồi ta nhìn cuộc đời bao dung hơn, nhìn con người vị tha hơn, và bản thân ta cũng dũng cảm hơn trong cuộc sống. Khi đó, ta chính là ta, và sống một cuộc đời chân thực nhất.”

– Cao Hạnh Quyên

“Đây là cuốn sách giúp mình tiết kiệm đến nửa cuộc đời.”

– Nguyễn Khánh

“Đây xứng đáng là một quyển sách có ở mỗi gia đình, để khi người ta cảm thấy mất phương hướng có thể tìm lại ở đó, phát hiện ra chút hy vọng của hạnh phúc trong cuộc đời mình.”

– Đặng Ngọc Tú

Về tác giả

Phạm Lữ Ân là bút danh chung của hai tác giả đồng thời là một cặp vợ chồng được rất nhiều bạn đọc trẻ yêu mến: Đặng Nguyễn Đông VyPhạm Công Luận. Ngoài Nếu biết trăm năm là hữu hạn, họ còn có những tác phẩm viết chung như Những lối về ấu thơ, bộ tản văn Lạc giữa nhân gian – Trên đường rong ruổi

Nhà báo Phạm Công Luận là tác giả của những tựa sách gây tiếng vang và được tái bản nhiều lần như Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Những lối về ấu thơ, Chú bé Thất Sơn. Không chỉ nổi bật trong thể loại tản văn, ông còn là một cây bút gạo cội sở hữu lượng tác phẩm dồi dào, mang đến cho độc giả nhiều tập sách chuyên khảo, hồi ký về Sài Gòn giàu giá trị như Sài Gòn – Chuyện đời của phố (5 tập), Phong vị báo xuân xưa, Sài Gòn – Ngoảnh lại trăm năm

Tác giả Đặng Nguyễn Đông Vy được biết đến qua tập tản văn Hãy tìm tôi giữa cánh đồng, hoặc tác phẩm biên dịch Làm ơn hãy để con yên

Đọc bài viết

Cafe sáng