Book trailer

Tiền từ Hitler & Trái tim mù lòa: Mảnh ghép độc đáo cho dòng văn Holocaust

Published

on

Dòng văn viết về nạn Diệt chủng của Đức Quốc xã dĩ nhiên không hiếm, vì có thể nói đây là một trong những sự kiện phi nhân nhất trong lịch sử loài người. Từ những áng văn mô tả một cách chân thật những gì xảy ra trong Trại Lò hơi, cho đến những tác phẩm giả tưởng đặt giả thiết nếu các chính sách Hitler thành sự thật… thì những tưởng không còn gì mới để khai thác. Thế nhưng như một tấm vải sặc sỡ của sự thật, những tác phẩm như Tiền từ Hitler hay Trái tim mù lòa đã khai thác được những góc nhìn thú vị, góp vào cho dòng văn chương này một hơi thở mới. 

*

Cùng đoạt giải sách hay của Đức và Séc năm 2007, hai tác phẩm này có thể nói đã khai thác được những đề tài thú vị, mà trước đó rất ít tác giả để ý thấy. Nếu Radka Denemarkova nhấn sâu vào những thương tổn của nạn nhân sau kì hậu chiến khi trở về nhà và không còn gì như cũ; thì Julia Franck lại làm một khảo sát về tính nữ vừa nghiêm chỉnh lại rất công phu, giữa hai cuộc Đại chiến Thế giới. Nếu từng đọc qua Bí ẩn nữ tính của Betty Friedman chắc hẳn độc giả sẽ thấy cuốn sách của Julia Franck như phiên bản tiểu thuyết hóa của cuốn non-fic ấy, lồng lộng và sâu sắc.

Tiền từ Hitler

Sơ qua một chút nội dung. Tiền từ Hitler kể về Gita – cô gái 16 tuổi người Séc đã phải trải qua những biến động lịch sử cùng gia đình mình, khi bị Đức quốc xã bắt vì là người Do Thái; đến khi thoát về lại Séc, thì lại bị quy là thành phần của Đức Quốc xã. Bị hành hạ thậm chí gần như bị giết chết, được sự giúp đỡ của nhiều người tốt, cô về lại Praha, để 60 năm sau xuất hiện trở lại với nhân dáng là một bà già, để trả lại sự trong sạch cho cha mình, không muốn lấy lại gia sản mà điều duy nhất bà cần là một bức tượng cho cha mình.

Thế nhưng, những người dân ở Puklice lúc này là hậu duệ của chính những người từng hành hạ bà – không đồng ý với điều đó, và vu khống rằng bà muốn lấy lại tài sản cũng như mảnh đất nơi họ đang ở. Cuối truyện, Gita già lão khép lại một câu “Cuộc đời là chuyến đi điên loạn trên chính chiếc đu quay ấy. Rốt cuộc, thực ra, đó cũng là tiền từ Hitler” như ám chỉ tội ác vẫn còn đó, con người là giống loại tị hiềm và bị chia rẻ từ trong bản chất.

Trái tim mù lòa

Còn với Trái tim mù lòa, bám theo nhân vật Helene từ thủa ấu thời cho đến trưởng thành, Julia Franck đã khắc họa được hình tượng người phụ nữ nằm giữa hai cuộc thế chiến. Từ một người bị từ chối được giáo dục như bao trẻ em gái khác, giờ đây khi có cơ hội được đến Berlin để học Y và hòa vào xã hội tiến bộ, Helene đã không bỏ qua cơ hội này. Lấy Wilhelm – một kĩ sư phục vụ cho chính quyền Quốc trưởng – để rồi bị y bỏ rơi vì không còn trong trắng, Trái tim mù lòa là bản cáo trạng về tình trạng yếm thế của phụ nữ, cũng như những gì mà họ phải chịu trong một thời kỳ đảo điên.

*

Nói về điểm mới, cả hai tác phẩm trên đều hướng về những đối tượng rất ít được nhắc đến trong dòng văn chiến tranh, là phụ nữ và những người dễ tổn thương. Trong các tiểu thuyết phản chiến, dễ thấy được sự xuất hiện của hình tượng một người anh hùng đứng lên khởi nghĩa, vùng lên đấu tranh, hoặc khôn ngoan hơn là nằm yên chờ thời. Do đó ít khi ta thấy phụ nữ giữ vị trí trung tâm và được khắc họa. Phụ nữ trong các tác phẩm này cũng thường gắn liền với những khó khăn và bất hạnh của thời đoạn; cho nên Trái tim mù lòa với những mô tả sâu sắc về hình tượng phụ nữ Đức khi Liên Xô bắt đầu bao vây, là một hướng đi mới mẻ.

Cũng như thế, Tiền từ Hitler là nỗ lực cho thấy những tổn thương thời kì hậu chiến. Đó là tâm lý, khi lần đầu Gita về lại Puklice, nhưng cũng là liên tục những lần sau đó khi bà hồi tưởng những gì mình đã chịu đựng. Ba trục Đức-Séc-Do thái được Radka Denemarkova dựng lên có phần nhạy cảm, nhưng cần thiết cho những ai cho biết về vấn đề này. Cũng như Natascha Wodin viết nên Người đến từ Mariupol để cho thấy có tồn tại những người Ukraine bị bắt ép đi cưỡng bức lao động, nỗ lực của Radka Denemarkova là vô cùng cần thiết.

Radka Denemarkova

Về nghệ thuật viết, Radka Denemarkova mang đến một sự mới lạ khi dùng chính sự thô thiển và táo bạo của ngôn ngữ để khắc họa nỗi đau mà nhân vật gặp phải. Từ ngữ và những hình tượng ẩn dụ hay tưởng tượng của bà chứa đầy sức mạnh và có phần bạo lực, thế nhưng thông qua đó, người đọc hiểu được, cảm được những gì đang chảy trong máu cuốn sách, mà có thể những thế hệ chưa tham chiến không thể hiểu được. Hình tượng “ăn tươi nuốt sống” hậu duệ của những thế hệ từng hành hạ bà, hay quy nó thành trận đấu quyền anh; hay chứng kiến những con lợn lớn sục sạo ăn cả con non của mình… là những liên tưởng độc đáo nhưng không kém sức nặng cũng như thể hiện được hết những gì tình cảm dồn nén.

Julia Franck

Còn với Julia Franck, bằng giọng văn điềm tĩnh và dịu dàng như một khúc sông, qua gần 400 trang sách, cả một thế hệ người vợ – người mẹ được hiện lên, từ một đứa bé với đầy ước mơ, cho đến bị ngăn cản, trước những thách thức cũng như trò chơi xã hội xô bồ. Franck không chỉ tập trung vào riêng Helene, mà đó còn là mẹ cô – người đàn bà sống mà như đã chết khi sinh ra 4 người con trai chết yểu; hay chị cô, Martha – một người nỗ lực tìm lại bản sắc qua tình yêu “lệch chuẩn” với Leontine hay morphine, các buổi tiệc chìm đắm… Ở đây, tác phẩm này như bao trọn hết cả thời kì đó, với nhiều góc nhìn thú vị cũng như khái quát một cách toàn diện được một thời kì.

Cả hai nhân vật Helene và Gita đều mang đến cho độc giả một tính nữ dịu dàng, nhưng cùng với đó là những khó khăn trong bước đường trưởng thành của họ. Nếu Helene được đặt trong bối cảnh trưởng giả của một nước Đức hùng mạnh nhưng vẫn luôn bị kềm nén trong việc làm vợ làm mẹ; thì với Gita đó là chiến tranh, là bạo lực và trả thù. Những gì Gita trải qua có thể khiến cho người đọc sởn hết da gà, nhưng đó là những gì thật nhất, rõ nhất và cũng hùng hồn nhất cho thời đại mà giá trị con người xuống thấp nhất.

Cùng nói về lòng tham quyền lực và những mưu mô đớn hèn để giành được điều đó, Franck quy Helene về trong bản chất gia đình, với Carl – người yêu cô hết mực nhưng yếm thế, và Wilhelm – anh chàng yêu cô say đắm, nhưng chỉ là lớp vỏ ngoài. Trong cả hai trường hợp, người đàn ông mà Franck khắc họa đều giữ cho mình một vị trí tối thượng để nhìn người phụ nữ của mình. Và họ, cũng như Gita, không thể làm gì khác là chấp nhận số phận, hướng tới tương lai, biết buông tha những gì không thể giữ cũng như chờ đợi. Vì đó là thứ sau cùng họ có thể làm, một cách chủ động hướng về tương lai.

*

Với hai tác phẩm đoạt giải sách Đức cũng như Magnesia Litera – giải thưởng văn chương danh giá nhất của Séc; nhà văn Radka Denemarkova và Julia Franck đã mang đến người đọc một góc rất riêng về những thân phận lạc loài, từ đó làm dày thêm bức tranh tái hiện lịch sử của một thời đoạn không thể nào quên. Với hai tác phẩm đoạt giải sách Đức cũng như Magnesia Litera – giải thưởng văn chương danh giá nhất của Séc; nhà văn Radka Denemarkova và Julia Franck đã mang đến người đọc một góc rất riêng về những thân phận lạc loài, từ đó làm dày thêm bức tranh tái hiện lịch sử của một thời đoạn không thể nào quên. Kịch tích, độc đáo và đầy riêng biệt. Hai tác phẩm hay và giàu cảm xúc.

Hết.

minh.

Click to comment

Viết bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Book trailer

“Giải mật” hồ sơ về chất độc màu da cam

Published

on

By

Qua ‘Mùa xuân vắng lặng – Mùa thu chết chóc của chiến tranh Việt Nam’, tác giả Patrick Hogan đã phơi bày bức tranh tổng thể về các hóa chất mà Mỹ rải xuống miền Trung và miền Nam Việt Nam trong thập niên 1960 với sức tàn phá vẫn còn hiện diện cho đến ngày nay.

Chiến tranh qua đi nhưng những di chứng mà nó để lại vẫn còn hiện diện. Trong khi tổn thương vật chất có thể tái thiết, thì những ảnh hưởng về mặt tinh thần vẫn còn dai dẳng, đeo bám không thôi. Một trong số đó là các tổn thương được gây ra bởi chất độc màu da cam (dioxin) cho nhiều thế hệ người dân Việt Nam.

Thế nhưng ít người biết rằng ngay cả những cựu binh Mỹ cũng bị ảnh hưởng bởi hành động ấy. Bằng trải nghiệm của bản thân cũng như nỗ lực lần giở các tư liệu, nghiên cứu khoa học cũng như các hồ sơ đã được giải mật… tác giả Patrick Hogan đã tái hiện lại những diễn biến lịch sử, qua đó lên án hành động phi nhân, kêu gọi thêm các nỗ lực để những hy sinh của các người lính được đền đáp xứng đáng.

Patrick Hogan là một cựu chiến binh đã từng đóng quân tại Việt Nam từ tháng 9.1966 đến tháng 6.1969. Khi mới nhập ngũ, ông nhận nhiệm vụ tiếp nhận và quản lý hàng hóa thiết yếu ở Tổng kho Cam Ranh (Khánh Hòa). Trong thời gian này, ông thường chứng kiến những lần máy bay phun rải hóa chất mà vào lúc ấy ông không thể biết đó là chất gì. Sau khi rời Việt Nam, ông trở về Mỹ và đảm nhận công việc cảnh sát.

Kể từ những năm 1970, ông thấy cơ thể đang suy yếu dần, kết hợp cùng với cái chết của người đồng đội Larry, hạt mầm hoài nghi sâu bên trong ông bắt đầu thức dậy. Năm 2012, sau khi nghe bài diễn thuyết của cựu tổng thống Barack Obama về chiến tranh Việt Nam, Hogan thôi thúc phải điều tra về hậu quả của việc tiếp xúc với chất độc da cam, từ đó ý tưởng về Mùa xuân vắng lặng – Mùa thu chết chóc của chiến tranh Việt Nam dần được thành hình.

Được viết bởi một cựu binh từng tham gia tham chiến, cuốn sách mang dáng dấp hồi ký, ghi lại những năm đầu tiên mà tác giả đặt chân đến Việt Nam. Ông đã tái hiện lại những thiếu thốn như phải ở trong những căn nhà đơn sơ gọi là “chuồng ngựa”, xung quanh chỉ toàn là cát, nhiệt độ thì tương đối cao… cũng như những áp lực mà người lính phải chịu, từ lối đánh du kích của bộ đội ta, cho đến thổ nhưỡng, các căn bệnh nhiệt đới cũng như đa dạng sinh vật mà côn trùng là một trong những lý do khiến chính quyền Mỹ tiến hành phun rải chất dioxin.

Song song cùng đó, tác giả cũng quay trở về những ngày hiện tại, mô tả lại những chứng bệnh ông đã và đang gặp phải, từ tiểu đường tuýp 2, bệnh tim cho đến rối loạn tiêu hóa, rối loạn hô hấp… Theo Patrick Hogan, đây đều là các di chứng mà các hóa chất do chính phủ Mỹ rải xuống gây ra. Thế nhưng khi đòi bồi thường từ DVA - Bộ Cựu chiến binh Mỹ, thì những kết quả trả về cho ông là không có đủ bằng chứng để khẳng định những căn bệnh đó do các hóa chất mà Mỹ rải xuống Việt Nam những năm 1960 gây ra.

Nhận thấy điều vô lý ấy, Hogan đã tìm hiểu sâu về các khía cạnh sinh học, hóa học của các hóa chất đã được rải xuống và kết hợp với các nghiên cứu mới nhất về chúng, để khẳng định cho lập luận của mình. Là một sĩ quan cảnh sát, ông cũng tận dụng thế mạnh điều tra để lần tìm về những hồ sơ được giải mật, qua đó cho thấy bức tranh chung nhất về bối cảnh lịch sử của những ngày ấy.

Nói về tác phẩm, tác giả chia sẻ: “Đây là câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về sự giận dữ và cuồng nộ, một cuốn biên niên sử được viết trong đau buồn và hy vọng. Đó là câu chuyện của vô số cựu binh từng phục vụ tại Việt Nam. Đó là một cuốn sách đi sâu vào các hóa chất chết người đã được sử dụng trong suốt cuộc chiến và ảnh hưởng của chúng lên các cựu binh. Nhiều trong số đó vẫn đang được sử dụng trên khắp nước Mỹ, thậm chí cho đến ngày nay. Đó là hành trình phơi bày mọi điều mà chính phủ Hoa Kỳ chưa từng và chưa bao giờ muốn phơi bày ra ánh sáng”.

Liệu các công ty hóa chất và chính phủ Mỹ có biết hóa chất mà họ rải xuống sẽ gây tác hại cho binh lính của mình? Liệu có cách nào đạt cùng mục đích mà không sử dụng hóa chất? Ngoài chất da cam thì các hóa chất còn gồm những gì? Liệu có những ai đã từng chống lại phương án nói trên?... Tất cả sẽ được giải đáp trong tác phẩm sâu sắc, chi tiết và đầy mạnh mẽ về những tội ác chiến tranh này, từ đó cảnh báo cho ngày hiện tại, khi các hóa chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu có độc tính tương tự đang được sử dụng không bị kiềm chế trong nông nghiệp hiện đại.

Trong thời gian qua, Phương Nam Books cũng cho ra mắt các sách thuộc tủ “Người Việt năm châu” như Gã du đãng chúng ta đang lùng kiếm (Le Thi Diem Thuy), Những kẻ tuyệt vọng (Minh Tran Huy), Người tị nạn (Viet Thanh Nguyen), Người cha im lặng (Doan Bui)...

Ngoài ra, các tựa sách về môi trường như Khát khao cây cỏ (Michael Pollan), Mùa xuân vắng lặng (Rachel Carson), Niên lịch miền gió cát (Aldo Leopold), Giành lại không khí sạch (Tim Smedley), Đời sống bí ẩn của cây (Peter Wohlleben)... cũng để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc.

THÔNG TIN TÁC GIẢ

Patrick Hogan là cựu chiến binh từng đóng quân tại Việt Nam từ tháng 9.1966 đến tháng 6.1969. Sau khi rời khỏi Việt Nam, Patrick Hogan được phong cấp bậc Trung sĩ Tham mưu E-6 và được Bộ trưởng Lục quân Hoa Kỳ Stanley Resor trao cho huy chương Army Commendation Medal. Ngoài ra, ông còn được trao: National Defense Medal, Vietnam Service Medal, Vietnam Campaign Medal.

Đọc bài viết

Book trailer

Niên lịch miền gió cát bàn cách sống hòa hợp thiên nhiên

Published

on

Sách Niên lịch miền gió cát là ghi chép của Aldo Leopold - nhà sinh thái học hoang dã - về các con người tôn trọng thiên nhiên.

Aldo Leopold là nhà địa chất học, nhà môi trường học. Năm 1935, gia đình ông mua một trang trại cũ gần sông Wisconsin (Mỹ), trồng cây và cứu sống cánh đồng đã chết. Ông ghi nhận những thay đổi của sinh, thực vật trong quá trình phục hồi. Các bản thảo sau đó được tập hợp thành quyển Niên lịch miền gió cátxuất bản tháng 4/1948, một tuần sau khi tác giả mất do đau tim.

Niên lịch miền gió cát do Dương Mạnh Hùng chuyển ngữ. Sách Phương Nam phát hành. Ảnh: Phương Nam Book.

Sách gồm ba phần. Phần một là quan sát sinh vật thay đổi theo từng tháng tại trang trại ở Wisconsin. Phần hai là ghi chép hành trình khám phá đời sống hoang dã của ông trong 40 năm. Phần cuối là nhận định về việc bảo tồn thiên nhiên. Thông qua thể văn xuôi đậm chất hóm hỉnh kết hợp yếu tố lịch sử, khoa học, Leopold truyền tải ý nghĩa về mối liên hệ giữa con người với môi trường, hy vọng độc giả yêu, tôn trọng thiên nhiên.

Ông đề ra đạo đức môi trường tự nhiên (land ethic): "Một hành động là đúng đắn là khi hướng tới bảo tồn tính toàn vẹn, ổn định của cộng đồng sinh vật". Leopold viết: "Con người sẽ có ý thức bảo tồn khi tiếp xúc, hiểu, cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên". Khi sống gần các sinh, thực vật, mỗi người sẽ hình thành đạo đức - cơ chế tự kiểm duyệt trước khi hành động tổn hại môi trường. Con người cần khám phá, kết nối với tự nhiên để có lòng yêu thương, quan tâm thế giới tạo hóa ban tặng.

Theo Buddy Huffaker, chủ tịch của Aldo Leopold Foundation (tổ chức nâng cao ý thức bảo vệ môi trường dựa trên lý luận của Leopold): "Nhờ lập luận về đạo đức môi trường tự nhiên nên Niên lịch miền gió cát được săn đón vào năm 1970 - lần đầu tiên tổ chức Ngày Trái đất. Các ghi chép về đạo đức của tác giả được áp dụng rộng rãi và vô tình trở thành chuẩn mực ứng xử với thiên nhiên". The Boston Globe nhận định sách là "một trong những tác phẩm có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào môi trường".

Aldo Leopold là nhà khoa học, nhà địa chất học, nhà triết học, nhà môi trường học người Mỹ. Ảnh: aldoleopold.

Aldo Leopold (1887-1948) trải qua thời thơ ấu tại Burlington, gần dòng sông Mississippi - nơi dấu chân của ông trải khắp các khu rừng, đồng cỏ. Leopold học lâm nghiệp tại trường dạy về rừng của Yale. Sau khi tốt nghiêp năm 1909, ông làm việc tại Cục Kiểm lâm Mỹ, đồng thời nghiên cứu sinh thái học, đề ra đạo đức môi trường tự nhiên. Năm 1933, tập sách về quản lý động vật hoang dã Game Management được xuất bản. Năm 1982, vợ và năm người con thành lập The Aldo Leopold Foundation nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường hoang dã dựa trên di sản trí tuệ tác giả để lại.

Theo VNexpress

Đọc bài viết

Book trailer

Người đẹp ngủ mê – tiểu thuyết kinh điển về nỗi buồn

Published

on

Người đẹp ngủ mê của nhà văn Nhật Kawabata Yasunari khắc họa nỗi buồn qua những suy nghĩ về sự sống và hoài niệm.

Người đẹp ngủ mê do dịch giả Quế Sơn chuyển ngữ, tái bản trong nước cuối tháng 11. Tác phẩm xuất bản lần đầu năm 1961, dựa trên kịch bản sân khấu kabuki Những mỹ nữ, công diễn vào khoảng thế kỷ 17 ở Nhật Bản.

Bìa sách Người đẹp ngủ mê. Tác phẩm dày 160 trang, tái bản trong nước cuối tháng 11. Ảnh: Phương Nam Book
Bìa sách Người đẹp ngủ mê. Tác phẩm dày 160 trang, tái bản trong nước. Ảnh: Phương Nam Book

Tác phẩm xoay quanh năm lần ông lão Eguchi ghé thăm ngôi nhà của những trinh nữ xinh đẹp tuổi chưa đầy 20. Họ bị gây mê bằng thuốc ngủ liều cao, khỏa thân trong tình trạng ngủ say. "Nếu chỉ cần lay nhẹ mà cô gái đã thức dậy thì ngôi nhà này đâu còn gì bí ẩn nữa. Các vị khách đến đây 'giống như ngủ với một ông Bụt vô hình'. Đối với các ông già, ngủ với một người đẹp không khi nào tỉnh thức là một mối cám dỗ, một cuộc phiêu lưu, một niềm vui thú mà họ tin mình còn thực hiện được", tác giả viết.

Mỗi chương là một lần Eguchi đến ngôi nhà ngủ cùng cô gái khác nhau. Khi màn đêm buông xuống, nhiều tiếng động kết hợp tạo nên bản nhạc của thiên nhiên, con người. Hơi thở của những cô gái, cộng với tiếng gió thổi qua mái nhà và âm thanh sóng biển đập vào vách đá. Từ đó, Eguchi hồi tưởng quá khứ, nhớ về những người đàn bà đi qua đời ông.

Tác giả lấy những hoài niệm để ẩn dụ cho sự tiếc nuối vẻ đẹp văn hóa Nhật Bản. Kỷ niệm tái hiện qua không gian, hình ảnh thiên nhiên xung quanh ngôi nhà của các mỹ nữ. Việc ngủ cạnh những cô gái khiến Eguchi khám phá nhiều cung bậc cảm xúc, đồng thời nhận ra sự cô đơn của mình. "Một nỗi cô đơn buồn bã trào lên. Nhưng hơn cả nỗi cô đơn hay nỗi buồn rầu, chính là nỗi cô chiếc tuyệt vọng của tuổi già như thể đông lạnh hẳn trong ông", Kawabata viết.

Tác phẩm không chỉ tràn ngập những mỹ từ, như "bàn tay mịn và đẹp, mái tóc trinh trắng, đôi má ửng đỏ, cổ và vai trông tươi và trẻ", mà còn suy tưởng về quy luật của thời gian, sự sống và cái chết, nỗi hoài niệm quá khứ, khao khát tương lai. Đời sống xã hội mang nhiều tổn thương, khiến con người dễ rơi vào tâm trạng cô đơn, tiếc nhớ những tháng ngày quá khứ.

Bìa trong của tác phẩm Người đẹp ngủ mê năm 2023. Ảnh: Phương Nam Book
Bìa trong của tác phẩm Người đẹp ngủ mê năm 2023. Ảnh: Phương Nam Book

Càng về cuối, Kawabata càng đào sâu ký ức của nhân vật chính, nhằm giúp Eguchi tìm lại được cảm xúc thuần túy nhất. Eguchi tin những lão già như mình, khi có dịp trú ngụ tại ngôi nhà của các mỹ nữ, không chỉ nhìn lại thời trai trẻ mà cố quên đi những việc tiêu cực xảy ra trong cuộc đời. Từ khía cạnh này, Eguchi liên tưởng những người đẹp ngủ mê là hiện thân của thần tiên trong các truyền thuyết.

"Cô gái ngủ mê man như chết nhưng thời gian sinh tồn của nàng đâu có ngưng chảy, vậy nàng có giữ được thời gian đó không hay là nó chảy tuột vào một vực sâu không đáy? Nàng không phải là một búp bê sống, vì không thể có búp bê sống trên thế gian này; nàng được biến thành một đồ chơi sống, để các cụ già đã mất năng lực đàn ông không bị cảm thấy xấu hổ. Không, không phải một đồ chơi: đối với các cụ, nàng chính là cuộc sống. Một cuộc sống người ta có thể sờ mó được, một cách tự tin", Kawabata nhận định.

Trong một số tác phẩm, Kawabata thường lồng ghép quan điểm của mình để gợi nhớ cuộc sống mồ côi và những khó khăn thời trẻ tuổi trẻ. Đồng thời, nhà văn để lại nhiều khoảng trống để độc giả tự khám phá. Bằng sự khéo léo biến hóa ngôn từ, Kawabata dẫn dắt người đọc qua nhiều tình huống, tạo nên cảm nhận khác nhau khi đọc tác phẩm.

Tác phẩm được giới chuyên môn và nhiều độc giả đánh giá cao. Năm 1968, Người đẹp ngủ mê giúp Kawabata Yasunari trở thành tiểu thuyết gia người Nhật đầu tiên đoạt giải Nobel Văn học. Đại diện Viện Hàn lâm Thụy Điển nhận xét: "Tác giả tôn vinh cái đẹp hư ảo, đồng thời khắc họa nỗi buồn hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và định mệnh con người".

Trên trang đánh giá sách Goodreads, độc giả Jim Fonseca viết: "Những dòng văn mở đầu câu chuyện góp phần che đậy nỗi khao khát và ký ức tình yêu trong quá khứ của nhân vật. Tác phẩm có chút kinh dị nhưng hấp dẫn, khắc sâu vào tâm trí tôi".

Nhà văn Kawabata Yasunari. Ảnh: Estate of Yousuf Karsh
Nhà văn Kawabata Yasunari. Ảnh: Estate of Yousuf Karsh

Kawabata Yasunari (1899-1972) sinh ra ở Osaka, mồ côi năm lên hai tuổi. Từ đó, ông và người chị ruột sống cùng ông bà ngoại và gia đình người dì. Qua thời gian, những sáng tác văn chương, tiểu luận mỹ học và phê bình văn học của Kawabata vẫn luôn hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu văn học khắp thế giới, do phản ánh nhiều phương diện văn hóa và đề cao tinh thần người Nhật. Nhiều tác phẩm của Kawabata từng xuất bản trong nước, gồm: Đẹp và buồnHồTiếng núiXứ tuyếtBồ công anh.

Theo Vnexpress

Đọc bài viết

Cafe sáng