Chuyện người cầm bút

Phạm Công Luận: “Sách dọc đường đời”

Một bạn trẻ dọn về sống trong căn hộ độc thân, kể rằng trong nơi ở mới anh luôn có cảm giác trống trải cho đến khi các thùng sách được đưa về và tủ sách được bày biện xong. Anh nhìn lên kệ, thấy những tựa sách thân thuộc, nhớ lại những câu chuyện đã khiến anh rung động, những triết lý mà anh đã thích thú trong khi đọc sách… Cảm giác chông chênh lúc ấy mới biến mất và anh mới thật sự cảm thấy đang sống trong nhà của mình.

Published

on

Có những người xem sự hiện diện của sách đối với con người như là cây cối trong rừng đối với loài dã thú. Con thú có thể trốn trên cành hoặc nấp sau thân cây để tránh kẻ thù, có thể tìm thấy mùi hương và dấu vết những loài khác trên một thân cây và cũng có thể hái lượm trái chín để ăn, uống nước đọng trên lá và trong dây leo. Con người cũng có thể nấp sau trang sách để quên đi nỗi lo và tìm sự bình yên, có thể học bao nhiêu điều trong sách mà người đời không dạy và có thể kiếm sống nhờ học qua sách vở. Đối với nhiều người, sách là một hệ sinh thái để sống.              

Ngày nay, không khó để lập một tủ sách nhưng cách nay trên dưới nửa thế kỷ không dễ. Lý do chính là việc thường xuyên mua sách khá tốn kém. Một tủ sách giá trị không thể làm nên từ vài trăm cuốn sách mà phải gây dựng trong thời gian dài, có khi cả đời.

Lúc nào cũng vậy, sách nghiên cứu nhập từ nước ngoài luôn cao giá, ví dụ như từ điển hay sách chuyên khảo. Thời Pháp thuộc và trước 1975, có những người học giỏi nhưng vì nhà nghèo nên không dám học lên cao vì không mua nổi sách học của Tây. Cho nên, trong giới đọc sách và nghiên cứu, mượn nhau đọc là điều bình thường. Có người để mất tình bạn vì không trả sách hay vì mượn sách không biết giữ gìn để sứt gáy, mất trang. Ai có sách quý, nhất là tự điển, sách nghệ thuật, sách dịch tác phẩm của tác giả nổi tiếng tậu về ắt được chủ nhân nâng niu, bọc nhựa trong, đóng bìa cứng và làm sổ theo dõi ai mượn để đòi. Ai ghiền đọc chỉ có cách là đi mướn sách mới mong  đọc được nhiều sách trên thị trường chữ nghĩa.

Nhiều người “chữ nhiều tiền ít” cố gắng tạo cho mình một “gia tài” nho nhỏ bằng việc gom từng cuốn sách mình có, mua ở tiệm sách hay vỉa hè. Ban đầu chỉ có vài cuốn sách đặt bên gối. Khá hơn chút thì cất trong rương. Nhiều hơn nữa thì bày trên kệ dài gắn trên tường bằng dây kẽm. Cuối cùng là cố tậu tủ bằng gỗ cứng có cửa kính để chứa sách, có thể chống mối mọt và bụi bặm.

Sách bán dạo và bày bán như hàng chạp phô

Các món ăn và những đồ vật thường dùng như chiếc chiếu, cây chổi lông gà… được bán dạo trên đường phố vì đó là nhu cầu hàng ngày. Khi trở thành nhu cầu thường xuyên của nhiều người ở một không gian nào đó, sách được đưa đi bán dạo như bán vé số hay đậu phộng rang. Hoặc có khi được bày bán chung với hàng chạp phô.

Những năm 1990, ở các bến xe đò thường thấy có những người bán sách dạo. Họ ôm bằng hai tay một chồng sách cao gần tới cổ, rảo quanh bến xe mời khách mua sách. Sách gồm những tựa dễ đọc, tác giả dễ đọc. Nếu không là truyện của Hồ Biểu Chánh, thì là những cuốn sách giật gân ăn khách kiểu như “Vụ án đêm giao thừa”, “Lửa hận rừng xanh”, “Một thời ngang dọc”. Ai cần mua cứ gọi họ đến ngay, đặt chồng sách xuống, tay rút vài cuốn đang ăn khách để mời. Khách sẽ chọn một cuốn ưng ý để giết thời giờ trên chiếc xe đò liên tỉnh chạy chậm rì. Lâu lâu có người mua vài cuốn làm quà cho người ở quê. Kiểu bán sách dạo này không phổ biến so với bán báo dạo, nhưng không phải mới mẻ mà đã có từ lâu 

Nhà văn Nguyễn Hiến Lê kể trong bài viết “Kỷ nguyên tiêu thụ và nghề viết văn” (giai phẩm Bách Khoa số kỷ niệm 16 năm và Xuân Quí Sửu 1973)  kể là quê ông ngoài miền Bắc ngày xưa còn có những người bán sách dạo mà ông thấy chỉ được một hai lần. “Họ gánh một đôi bồ chứa đầy sách ghé vào nhà bác tôi ở quê. Có lẽ mỗi năm họ mới ghé một lần, bán sách thì ít mà đổi sách thì nhiều: đổi sách lấy giấy đã viết rồi để ra tỉnh bán ra cho những nhà làm lọng làm quạt. họ cũng như hạng người di mua giấy báo cũ bây giờ. Về sau số người cần sách mỗi ngày một hiếm, họ không đổi sách mà đổi kẹo mạch nha lấy giấy: rồi sau nữa người học chữ Nho mỗi ngày một hiếm, giấy cũ cũng không có, nghề đó dẹp luôn”.

Trong báo Sài Gòn, Số 14344, ra ngày 8 Tháng Tư 1940, bài viết “Nghề xuất bản sách” (không ghi tên tác giả) cho biết tình hình bán sách báo lúc đó đầy chán ngán nhưng thực tế có hai người biết cách bán sách rất hay dù không làm xuất bản. Đó là hai ông Phạm Đình Khương và Phạm Văn Thình. Hai ông chỉ phát hành thơ, truyện, tuồng, bài ca thôi mà làm ăn khấm khá. Khắp các chợ nhỏ từ thành thị ở thôn quê đều có tiệm bán sách của hai ông. Các loại sách này thường để chung các đồ vật vụn vặt của người bán dạo bày trên chiếc chiếu trải dướt đất: dao, kéo, gương soi, thuốc phong tình, thơ Chàng Nhái, vọng cổ ân tình v.v… Tác giả đi xuống Cà Mau thấy có năm người bán sách của hai ông này. Còn ở chợ các tỉnh khác ở miền Nam có khá đông người hai bên dãy phố quanh chợ. Ông tả: “nhiều nơi, họ choán một góc trong nhà chợ, dăng dây bốn phía và treo loại sách này lên như thầy pháp lập đàn trận. Những tranh bìa các sách này sặc sỡ, màu in phủ tràn, nét vẽ ngoằn ngoèo, người không ra người, nhà không ra nhà, cây không ra cây, như bùa chú của pháp sư phá đàn, trông rất buồn cười. Anh chèo ghe, người phát cỏ, người bán hàng gánh đều có thể mua được, đọc được, ngâm nga được”.

Tác giả cho biết thêm là cả hai “nhà xuất bản” này tái bản mỗi cuốn hơn năm lần, mỗi lần hai ngàn cuốn, tức một cuốn thơ bán ra mười ngàn cuốn, bán giá năm xu, một cắc hay lên tới hai cắc tùy cuốn. Người mua về bán lại, theo giá trăm, tức giá sỉ. Họ mua mỗi lần cả trăm cuốn, “lạm xạm đủ thứ”, nhất là bài ca bán rất được.

Giữ sách: từ “cặp” sách đến tủ sách

Nhà văn Nguyễn Hiến Lê trong bài viết dẫn ở trên kể về cách lưu trữ sách ngày xưa, hầu như là sách chữ Hán, ở miền Bắc khoảng thập niên 1920: “Hồi tôi còn để chỏm, nhà tôi không có tủ sách mà chỉ có hai cặp sách. Cặp sách của chúng tôi cao độ tám tấc gồm bốn cái cọc một tấm ván gọi là đế, bề mặt bằng khổ tờ giấy bản gấp đôi, nghĩa là chiều dài độ ba tấc, chiều ngang hơn hai tấc (tôi nhớ phỏng chừng như vậy), đóng hai quai để treo lên, hoặc xách hoặc khiêng, thêm một tấm ván nữa ở phía trên để dằn sách xuống. Khi đổi chỗ ở thì có người gánh, y như trong truyện Kiều: “Túi dàn cặp sách đề huề dọn sang”. Một cái cặp như vậy chứa Tứ thư ngũ kinh, ít bộ Bắc sử và bộ Khang Hi tự điển thì vừa đủ. Còn cái nữa chứa một ít sách thuộc, địa lý (tức sách phong thủy), tử vi, bói, vài bộ ngoại thư: Tình sử, Liêu trai, Đường thi, Tống thi, Văn tâm Điêu long và ít cuốn sách Nôm: Kiều, Hoa Tiên”.

Truyện Kiều, tái bản tháng 06.2018 bởi NXB Văn học và Minh Long

Ông kể có một ông bác chỉ có hai cặp sách gồm sáu bảy chục bộ mà đã nhiều sách nhất Tổng. Khi ấy muốn mua sách thì xuống Hà Nội đến một tiệm ở phố Hàng Gai. Khoảng năm 1925 ở đó còn có dăm bảy tiệm bầy những sách in mộc bản ở trên một tấm phản kê hơi cao. Có chừng trăm thứ sách rẻ tiền, còn sách quí cất riêng ở trong. Ít năm sau các tiệm đó cũng dẹp luôn, thay vào là những tiệm bazar.

Liêu trai chí dị, phiên bản phát hành tháng 10/2015 bởi NXB Văn học & Nhã Nam

Trên đất nước có khi hậu nóng ẩm, sách trong tủ thường phải đem ra phơi. Báo Phụ Nữ Tân Văn, Số 198, 4 Tháng Năm 1933 có bài Tản văn “Phơi sách” của Phanh-Ni khá điệu đàng, có đoạn: “Lại ngồi trên chiếu, chung quanh ngổn ngang những sách chinh chòng, tôi ngó qua một vòng, hay trong lòng hơi cảm động như đi tình cờ gặp lại bạn cũ, mắt nhìn nhau chan chứa cảm tình. Bao nhiêu sách gợi bao nhiêu ngày xưa, bao nhiêu tình cũ. Có đủ cả sách đấy: sách bằng thưởng cuối năm ở trường học, từ lớp nhỏ đến lớp lớn, sách in đẹp thay, sơn son thếp vàng, trên bìa đầy những bông hoa chạy lẫn chỉ vàng, cầm lên lại bâng khuâng nhớ những ngày… những ngày xưa, buổi mình đưa tay lãnh sách, trái tim đập mạnh như vỡ ra nhồi máu trong đấy như xung hết lên mặt, nóng đến hai tay…”. Bà Tùng Long, nhà văn nữ viết truyện xã hội nổi tiếng trước 1975 kể trong Hồi ký về thú đọc sách của mình hồi còn nhỏ trong gia đình. Có cha là công chức Sở Thương chánh thích đọc sách báo và có viết bài gửi cho báo Nam Phong, Hữu Thanh, mua rất nhiều sách báo nên bà may mắn từ nhỏ đã sống với sách báo thơ văn. Sách của người cha để đầy các tủ, mẹ của bà lãnh phần chăm sóc đống sách báo không để mối mọt gặm nhấm. Mỗi tháng một lần, người mẹ chọn ngày nắng ráo đem sách ra phơi, bà Tùng Long còn làm một bé gái lãnh phần trông sách. Vừa trông vừa đọc báo, đọc sách có khi say mê đến nỗi ngồi ngoài nắng mà không biết. 

Giang san nhà chồng, tác phẩm của Bà Tùng Long được phát hành tháng 06/2015 bởi NXB Văn học và Phương Nam Book

Đối với những người có điều kiện kinh tế, sách báo được mua về vẫn được xem là thứ vật chất quý giá để giữ gìn. Tôi có đọc câu chuyện trong một cuốn bút ký sau 1975, về một anh trí thức Sài Gòn nhà giàu Tây học bỏ nhà theo kháng chiến. Nói về sự kiên quyết dứt bỏ giàu sang của anh ta, tác giả kể anh không hề tiếc ngôi biệt thự, cái tủ rượu và một tủ sách đồ sộ. Bộ ba này được coi là những thứ phong lưu bậc nhất mà người thời ấy có được.

*

Trong gia đình tôi, hầu như ai cũng thích đọc sách từ ba mẹ đến các con, dù đã đi làm hay còn đi học. Tuy vậy,  cách nay năm mươi năm, số sách trong nhà chỉ độ vài chục cuốn đọc đi đọc lại. Quý nhất chỉ là vài bộ truyện Tàu, bộ Việt Nam Thi nhân tiền chiến, vài tập thơ và vài sách bình luận văn chương của ông anh học Văn khoa. Góp chung chỉ đủ một kệ sách dài khoảng hai mét. Chỉ nhờ các tiệm cho mướn sách, từ giữa thập niên 1960 anh em chúng tôi mới có thể đọc được nhiều sách.

Sinh thời, ba tôi còn giữ ký ức về chợ sách trên lề đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần khu chợ Đũi) khoảng 1954. Đọc cuốn Một mảnh tình riêng của nhà văn  Sơn Nam, thấy ông nhắc tới chợ sách lề đường này và cho đó là “nét đẹp nhất vào màn chót của việc chấm dứt một thế kỷ đô hộ của người Pháp”. Ở đó bán nhiều cuốn sách quý một thời của những người sưu tập cất trong thư viện gia đình, mạ chữ vàng. Ông kể : “Nhiều quyển nhất là sách khảo cứu bán rẻ, thí dụ như sách cơ bản để tham khảo về văn minh Chăm, điện Ăng-ko, đạo thiền, toàn tập văn chương của những bậc lừng danh Pháp, hoặc Đức, Anh dịch sang chữ Pháp. Sách của những luật sư kỹ nghệ gia Pháp từng lưu trú lâu đời ở Sài Gòn, già rồi họ về xứ để nhắm mắt. Lại còn sách lấy ra từ các thư viện các câu lạc bộ sĩ quan Pháp, câu lạc bộ thể thao, đồn điền cao su”. Đây là cơ hội hiếm hoi để sở đắc những cuốn sách đẹp và quý với kỹ thuật đóng sách cao cấp hơn hẳn thời sau này. Tuy vậy, dù là sách vỉa hè, dù giá bán rẻ hơn trước nhưng theo ba tôi, giới bình dân không mua nổi vì giá vẫn còn khá cao so với thu nhập của họ.

Đầu thập niên 1960, đại lộ Lê Lợi trở thành thiên đường của giới ham đọc và ham học. Ở đó, ngoài khu bán sách vỉa hè phía bên vỉa hè gần nhà thương Sài Gòn và các  quán bán sách báo và bưu ảnh, còn có khoảng chục nhà sách, lớn nhất là Khai Trí, và các nhà sách Tự Lực, Việt Bằng, Vĩnh Bảo, Dân Trí, Khai Trí, Phúc Thành, Lê Thành Tuân, Việt Hương, Nguyễn Văn Trung, Văn Hữu, Lê Phan, Hoa San, Thu Tâm… Người đọc  lúc ấy ra đến đó là mê mẩn, nhưng mua phải dè sẻn. Nhà sách Khai Trí có cho đọc tại chỗ nên có  rất nhiều người tranh thủ coi cọp, tranh thủ nạp cho nhanh cho nhiều chữ nghĩa vào đầu không mất tiền.

Trong hành lang Eden khoảng thời gian này có ba nhà sách bán sách báo ngoại quốc, nổi bật là một tiệm sách tiếng Anh tuy nhỏ nhưng khá nổi tiếng lấy tên là Book Shop. Lúc đó, phong trào học Anh ngữ đang lên, người Sài Gòn đến học các trường tư dạy tiếng Anh để mong tìm được việc làm thư ký hay phiên dịch ở các hãng buôn ngoại quốc, các sở thông tin hay các tòa Đại sứ Anh Mỹ. Lúc đó chỉ có sách dạy tiếng Anh cho người Pháp, người Mã Lai, người Thổ Nhĩ Kỳ .v.v… Hiệu sách này ra đời đáp ứng như cầu đa dạng hơn về sách tiếng Anh. Được nơi thành lập là Hội Ái hữu Phụ nữ Hoa Kỳ đứng ra nhập sách báo xuất bản tại Mỹ về Việt Nam, hiệu sách có đủ các loại: Tiểu thuyết best-seller trong năm, sách khảo cứu đủ loại từ làm vườn, trang hoàng nhà cửa, nuôi con… cho đến sách hội họa, văn chương, chính trị. Ngoài ra, có cả các tuần san, nguyệt san như Life, Saturday’s Evening Post, Esquire, Photography v.v… Riêng sách học tiếng Anh có đủ sách dành cho các cấp độ, từ Tự điển bỏ túi cho đến Bách khoa từ điển. Tuy nhiên mỗi tựa sách ngoại ngữ nhập về đây không nhiều lắm nên chỉ một thời gian ngắn là hết veo.

Các cuốn sách quý thật sự trở thành của cải, có giá trị mua bán trao đổi trong giới đọc và chơi sách. Trong thư viện gia đình của dân chơi sách tầm cỡ, thường là khá giả trở lên, sở hữu nhiều sách giá trị mà nhà sách hay có khi thư viện không có, hoặc không phong phú bằng.

Tôi biết trên thế giới này, có rất nhiều người không cần đọc sách vẫn có cuộc sống hạnh phúc hay yên ổn cả đời. Nên viết về chuyện đọc sách, mua sách, khen chê cái hay cái dở trong một cuốn sách hóa ra chỉ trong thế giới những người đọc sách. Tản mạn về thú đọc sách là muốn chia sẻ điều mình nghĩ trong thế giới chỉ dành riêng cho ai tìm đến niềm vui, sự thức tỉnh và thổn thức trước những trang sách.

Hồi mới lớn, sau 1975, tôi có dịp vào hai ngôi nhà mà cả nhà đã bỏ ra nước ngoài. Một ngôi nhà trong cư xá Nha Trước bạ ở Phú Nhuận của một bác sĩ, có phòng tập thiền bằng gỗ và một tủ sách nhỏ ở phòng khách. Tủ sách toàn những cuốn dày như Papillon, người tù khổ sai, Tội ác và hình phạt, Bản du ca cuối cùng của loài người không còn đất sống, bộ Thành ngữ điển tích danh nhân tự điển, cuốn Tình em vỗ cánh cùng nhiều cuốn tạp chí Thời Nay. Lần đầu tiên tôi được cầm những cuốn sách đó trên tay, mới toanh và cứng cáp, không bị đóng kẽm cứng ngắc đến mức đọc mất chữ gần phía gáy sách như các tiệm cho mướn sách hay làm. Tuy mê mẩn nhưng tôi chỉ dám mượn một cuốn để đọc. Sau đó, nó nhanh chóng vơi bởi những người giữ nhà không thích đọc sách mà dùng vào việc khác, chỉ một tháng sau đó. Tủ sách thứ hai ở một ngôi nhà phố trong hẻm của người Hoa trong Chợ Lớn. Buổi tối đứa bạn trong xóm có người chị làm ở cơ quan tiếp nhận nhà người bỏ ra nước ngoài rủ tôi đến đó tìm chị nó. Chị biết tôi thích sách nên bảo là sách chủ nhà để lại nhiều lắm, thích thì cầm về. Tôi háo hức vào xem, hoa mắt nhìn các dãy kệ có rất nhiều sách art books, các tập tranh Hoa điểu, đồ sứ cổ, đồ gốm và đồ gỗ kiểu xưa bên Tàu. Tôi chọn một cuốn vẽ các loại khủng long in màu rất đẹp, sách tiếng Hoa in ở Hồng Kông. Về nhà, giở cuốn sách dưới ánh đèn, tôi thấy rớt ra một tấm ảnh chụp năm người, hẳn là một gia đình có hai vợ chồng, cô con gái lớn và hai cậu con trai nhỏ hơn. Trong hình, cả nhà ăn mặc đẹp, dáng vẻ phong lưu và nền nếp. Tôi vẩn vơ nghĩ về gia đình đã ra đi ấy. Hẳn là ngày xưa họ đã có những ngày sống hạnh phúc bên nhau, đã có những buổi tối trong căn nhà đó, có hai cậu con trai được người cha chỉ xem và giải thích từng bức tranh các loài bò sát cổ đại trong sách. Tủ sách này hẳn đã được chắt chiu góp nhặt trong nhiều năm và là trung tâm của đời sống tinh thần của gia đình này, để rồi cuối cùng phải bỏ lại.

Phạm Công Luận
Tác giả của Phương Nam Book



Những tác phẩm nổi bật của tác giả Phạm Công Luận

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Abdulrazak Gurnah – nhà văn đoạt giải Nobel không ai biết tới

Published

on

Tôi muốn viết một chút về việc Abdulrazak Gurnah – nhà văn đã đoạt giải Nobel năm 2021. Như hầu hết mọi người ở đây, tôi chưa bao giờ nghe nói về ông trước đây. Cũng không sao cả, có điều tôi tự nhận mình là người đọc nhiều, và tôi bị hấp dẫn bởi những tác giả/tác phẩm/thể loại không quen thuộc với số đông, bao gồm cả văn học châu Phi.

Nhưng có một điều thú vị là chưa ai từng nghe nói đến Abdulrazak Gurnah. Ông không nằm trong shortlist những tác giả nổi bật nào cả (dù rõ ràng tên ông xuất hiện trong list lưu hành nội bộ của giải Nobel). Cược Stephen King thắng còn dễ hiểu hơn. Nhưng cũng chẳng sao. Đã có nhiều tác giả gây ra cú sốc lớn khi đoạt giải Nobel. Tôi nghĩ đến Kertesz (2002). Tương tự với Tranströmer (2011). Có điều là chắc chắn, giờ đây, Gurnah sẽ được biết đến nhiều hơn khi ông thắng giải Nobel.

Và có rất nhiều nhà văn lớn hội đủ các yếu tố nhưng không giành được giải, bao gồm: Joyce, Tolstoy, Twain, Ibsen, Zola và Proust. Tôi xin mạnh miệng khẳng định rằng tất cả họ đều đóng góp cho văn chương nhiều hơn Winston Churchill (người đoạt giải Nobel năm 1953). Vì vậy, nếu nhà văn yêu thích của bạn không thắng giải, dù đó là Atwood hay Ngugi, thì họ cũng không đơn độc. Đã có khoảng 120 giải Nobel được trao kể từ khi Sully Prudhomme thắng giải lần đầu tiên năm 1901 (không có giải nào được trao trong Thế chiến 2). Và một lần nữa, hiện nay, hầu hết mọi người cũng chưa từng nghe đến cái tên Sully Prudhomme.

Gurnah có xứng đáng không? Tôi không biết. Tôi chưa đọc bất kì tác phẩm nào của ông. Nhưng dường như ông đã gây ấn tượng với nhiều người. Sự lựa chọn này có phải vì lý do chính trị? Có lẽ. Sự thật là vô số tác phẩm ở các quốc gia khác đã bị làm ngơ trong nhiều năm trời vì Nobel được xem là giải thưởng của giới tinh bông châu Âu. Bao nhiêu tác giả Ấn Độ đã thắng giải kể từ thời của Tagore năm 1913? Zero. Bao nhiêu tác giả Trung Quốc được xướng tên kể từ khi Cao Hành Kiện đoạt giải năm 2000? Một – Mạc Ngôn. (Công bằng mà nói, tôi kiểu đã hy vọng Tàn Tuyết sẽ là người phụ nữ châu Á đầu tiên giành giải này. Một ngày nào đó. Biết đâu…). Tuy nhiên, Ấn Độ và Trung Quốc chiếm đến một phần tư dân số thế giới và cả hai quốc gia này đều có truyền thống văn học lâu đời, phong phú. Thực tế mà nói, truyền thống văn học Trung Quốc có lẽ cũng phong phú và đa dạng như phương Tây. Chỉ là không được tiếp cận rộng rãi.

Vậy, đây là quyết định mang tính chính trị? Vâng, theo một giác độ nào đó thì tất cả những tác phẩm hay đều mang tính chính trị. Nó phản ánh đời sống và các chuẩn mực xã hội, nó là tấm gương phản chiếu thế giới mà chúng ta đã tạo ra.

Thế thì Abdulrazak Gurnah có xứng đáng không? Có thể. Ủy ban Nobel đã công bố rằng Gurnah giành giải vì “sự thâm nhập không khoan nhượng và nhân ái của ông đối với những tác động của chủ nghĩa thực dân và số phận của những người tị nạn trong hố sâu ngăn cách giữa các nền văn hóa và lục địa.” Số phận của những người tị nạn và những người bị gạt ra bên lề xã hội là một trong những vấn đề lớn trong thế giới của chúng ta, và tôi tin rằng nó sẽ còn trở nên quan trọng hơn do hậu quả của tình trạng quá tải dân số và biến đổi khí hậu. Đây chắc chắn là một vấn đề ở Hoa Kỳ. Ở châu Âu vấn đề này thậm chí còn đáng chú ý hơn. Châu Âu đang thay đổi. Scandinavia đang thay đổi (hai bộ phim tôi làm gần đây nói về một người tị nạn Afghanistan ở Đan Mạch và một người tị nạn Chile ở Thụy Điển). Chúng ta đang thay đổi. Thế giới của chúng ta đang thay đổi. Và những người hàng xóm mới của chúng ta cũng đang thay đổi.

Nhưng tôi bận tâm điều gì? Đó là Gurnah rất khó tìm. Tôi đã tìm trên eBay. Chỉ có duy nhất hai bản của cuốn sách nổi tiếng nhất của ông – Paradise (được đề cử giải thưởng Booker và Whitbread ở Hoa Kỳ) với giá là 127 đô la. Tôi chắc rằng sớm muộn gì cũng sẽ thay đổi thôi, nhưng hiện tại, rất khó tiếp cận Gurnah.

Vì vậy, tôi khá vui khi ông chiến thắng. Ông mở ra cánh cửa đi vào một phần thế giới đang thay đổi của chúng ta – thế giới mà đã bị che khuất quá lâu. Và điều này ngày càng trở nên quan trọng hơn. Tôi đang bắt đầu cuộc hành trình vào thế giới của Gurnah với cuốn “Memory of Departure”. Đây là cuốn sách đầu tiên ông viết và tôi thích cái bìa của nó – đây là cách tôi thường dùng để đánh giá một cuốn sách… Tôi tự hỏi không biết có ai muốn đọc chung với tôi không?

Nguyễn Bích Trâm
dịch từ bài viết của Danny Wool
Tiêu đề do dịch giả tự đặt.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Về thơ

Thơ với tôi là không khí của những buổi trưa ấy. Máy điều hòa chạy lặng lẽ, tĩnh tại và một ánh mắt dõi nhìn những dòng thơ. Thế giới rời rạc nhưng được kết nối.

Published

on

By

Tôi muốn viết về thơ vào những ngày đầu tiên của tuổi mới. Thực ra, tôi muốn viết về thơ vào những ngày cuối cùng của tuổi cũ. Chính xác hơn thì tôi muốn viết về thơ vào ngày 15.6 khi vừa viết xong hai bài thơ mới sau khoảng thời gian khá lâu không viết được dòng thơ nào thì ý tứ cho hai bài thơ ấy bất ngờ đến với tôi vào một ngày thứ sáu buồn bã, nhiều nước mắt và tôi viết một mạch là xong không những một mà hai bài. Điều này đối với tôi thật đặc biệt. Vì từ trước đến nay, tôi luôn viết thơ rất chậm, cũng giống như viết bất kì thứ gì khác, review về sách hay phim, truyện ngắn hay tiểu thuyết (đã quá lâu rồi tôi không viết tiểu thuyết, đã năm năm có chẵn). Tôi đã không thể viết được thơ một mạch trong vòng vài chục phút hay vài tiếng đồng hồ như bao người. Đa phần những bài thơ tôi viết nhanh thì mất một, hai ngày hay một tuần, lâu thì có khi mất cả tháng hoặc đến hai, ba tháng cũng có nếu tính từ lúc hình thành ý tưởng cho đến khi thận trọng viết một câu rồi hai câu, rồi gọt giũa lại câu từ, hình ảnh và rồi hoàn tất cả bài. Tôi viết thơ mà chậm như người ta viết truyện ngắn vậy, thế nên đến ngày nay, nhiều khi tôi vẫn còn phân vân không biết những gì mình viết ra có phải là thơ không, bởi lẽ dường như thơ là chỗ cho những khoảnh khắc và cảm xúc, hoặc suy tưởng trong những khoảnh khắc, một lát cắt thời gian ngắn gọn hơn là một dòng chảy chậm chạp, rề rà, trôi ngắc ngoải lâu lắc lâu lơ như thế. Càng ngày tôi càng làm mọi thứ một cách chậm chạp và trì hoãn. Chẳng hạn như những dòng này cũng là một ví dụ điển hình cho sự chậm chạp và trì hoãn ấy, lẽ ra tôi đã phải viết nó từ cách nay một tháng hơn, ngay lúc cảm xúc còn mãnh liệt, cuồng nhiệt, dữ dội, hân hoan và buồn bã rồi lại được giải phóng khỏi buồn bã sau khi viết hai bài thơ ấy. Nhưng tôi đã trì hoãn, để rồi bây giờ sau một tháng mới khởi sự viết lại, tôi giống như một người thấy cơm ngon, nóng hổi trước mặt lại không chịu ăn ngay, để khi nó nguội rồi lại dụng công hâm nóng mặc cho việc thưởng thức sự nguội lạnh đôi khi cũng là một cái hay, nó nhắc nhở ta về những điều đã mất nhưng không mất đi hoàn toàn đôi lúc còn tạo ra những cảm xúc ngang trái hơn là việc phải chịu cảnh nó vĩnh viễn không còn hiện diện nữa: cơm vẫn còn đó, nó không thay đổi về lượng, những phép tính về vật chất, nhưng nó thay đổi về tính, nó không còn nóng nữa, nó đã nguội, dù hâm nóng nó thì trạng thái nóng sau khi đã từng nguội lạnh vẫn rất khác so với cái nóng nguyên sơ ban đầu. Vậy nên, tôi không đoan chắc những gì tôi sắp viết dưới đây còn giữ được đầy đủ tinh chất của cái nóng trong hạt cơm vào tháng sáu ngày hôm ấy hay không; nhưng chí ít, tôi sẽ cố gắng tái tạo lại hình dạng vật chất của nó, hình dạng của bát cơm ấy, của thơ, của nỗi buồn, của bầu trời màu cam đỏ ngoài khung cửa sổ như muốn đốt cháy hết những tòa nhà nó bao trùm.

Vì sao tôi muốn viết về thơ?

Đơn giản vì tôi chợt nhận ra mình đã viết kha khá về sách, phim, nhạc, về việc viết, việc đọc, về ti tỉ những thứ vụn vặt tôi góp nhặt trong cuộc sống, nhưng hình như tôi chưa từng một lần nghiêm túc viết về thơ, về việc viết thơ của tôi, một lần trải lòng dông dài về nó thật sự theo kiểu cách của tôi. Trước đây, tôi chỉ viết vài ba phiến đoạn lắn ngắn về thơ vào khoảng năm 2012 khi đang buồn tình. Không hẳn là bây giờ, tôi đã có thêm những suy nghĩ mới, nghiêm túc hơn về thơ so với hồi đó. Có lẽ, tư duy trong thơ tôi vẫn vậy. Chỉ là đột nhiên tôi muốn hồi tưởng lại mối quan hệ giữa tôi và thơ, những gì chúng tôi đã trải qua cùng nhau để suy nghĩ về tương lai. Nếu không viết ra thì tôi sẽ khó lòng hệ thống được những suy nghĩ trong đầu mình.

Hồi học cấp hai và cấp ba, đôi lúc tôi cảm thấy mình thích viết thơ còn hơn cả truyện ngắn hay tiểu thuyết. Với suy nghĩ trẻ con khi đó thì lí do chỉ đơn giản là vì thơ viết nhanh, dễ, thiên về cảm xúc hơn so với hai thứ kia: vừa mất thời gian hơn, vừa khó hơn, vừa dụng công và tính toán nhiều hơn. Tôi vẫn còn nhớ vào những năm cuối cấp hai, tôi mua một loạt tuyển tập thơ in thành cuốn nhỏ do nhà xuất bản Đồng Nai làm, với những nhà thơ Việt Nam chủ yếu từ phong trào Thơ Mới. Tôi đọc say sưa và có những bài thích quá, còn cố gắng lẩm nhẩm đọc nhiều lần để học thuộc, không hiểu sao khi ấy tôi rất thích việc có thể đọc làu làu những bài thơ mình thích cho người khác nghe, tôi cũng thích hình ảnh một người tri thức hễ đụng đến nhà thơ nào là đều có thể trích dẫn ra vài câu thơ của nhà thơ đó, tôi cho rằng việc ấy rất ngầu và muốn mình cũng làm được. Thời ấy, tôi vẫn còn sến súa (có lẽ bây giờ vẫn vậy) và hay mơ mộng yêu đương nên một trong những bài thơ mà tôi thích nhất lúc chuyển giao giữa học cấp hai và cấp ba là bài Em gần gũi, em xa xôi của Tế Hanh. Không hiểu sao tôi lại thấy rất đồng cảm khi đọc bài này, có lẽ vì khi ấy tôi yêu đơn phương nhiều quá chăng.

Vào năm cấp ba, không nhớ rõ là lớp 10 hay 11, tôi làm thơ liên tục, kiểu thơ tình con cóc nhảy ra nhảy vào mà đến bây giờ đọc lại, tôi vẫn còn thấy xấu hổ, chỉ muốn độn thổ, không hiểu sao lúc ấy mình lại có thể viết như thế. Chính vì là thơ tình (có lẽ không thể gọi là thơ) nên tôi viết rất nhanh, chỉ cần có cảm xúc thì ào ào mấy chục phút là xong. Khi ấy, tôi không hề biết đến việc gọt giũa câu chữ, chọn từ cho thật kĩ, hình ảnh cho thật đắt, tôi chỉ viết theo cảm xúc và khi đọc lại thì sửa sao cho nghe có tí vần điệu là được. Tôi vẫn còn nhớ mình lấy một xấp giấy khổ A4 có kẻ sẵn hàng ngang đã ố vàng được kế thừa từ hai bà chị để viết lên đó những bài thơ tình sến súa bằng chữ viết tay nguệch ngoạc xấu xí của mình. Tôi viết có lẽ cũng khoảng vài chục bài với xấp giấy đó. Không phải khi ấy tôi không biết gõ máy tính, sự thực thì tôi đã viết thơ trên máy tính được một khoảng thời gian trước đó, nhưng tự tôi cũng nhận thấy chúng thật sự dở. Rồi tôi nghe nói rằng quay về viết tay có khi sẽ viết hay hơn vì khi viết tay, bạn được kết nối trực tiếp với những gì bạn viết, con chữ không phải đột nhiên hiện lên như nhảy xổ vào bạn trên màn hình trắng với con chuột nhấp nháy đằng sau, tôi nhớ rằng có ai đó đã nói viết tay như một dòng chảy, bạn tạo ra một dòng chảy xuyên suốt từ não xuống bàn tay, xuống những đầu ngón tay cầm bút, xuống cây bút, xuống ngòi bút, xuống những dòng mực, và những dòng mực truyền xuống những trang giấy, miên man, bất tận không ngừng. Chính sự liên tục và kết nối mật thiết này sẽ khiến cho bạn có khả năng xuất thần hơn khi viết bằng tay so với đánh máy, bạn dễ nảy ra những ý tưởng táo bạo hơn vì dòng chảy mạnh mẽ đó đôi khi sẽ cuốn trôi bạn đến những bến bờ bạn không thể ngờ tới. Vân vân và mây mây. Vì những lập luận hết sức thuyết phục đó, tôi cũng thử thay đổi một phen, trong vòng một, hai tháng viết liền tù tì mấy chục bài thơ bằng tay lên giấy. Tôi cố gắng không đọc lại chúng quá nhiều khi vừa viết xong để giữ cho bản thân sự bất ngờ trong tương lai khi đọc lại lúc nhập liệu vào máy tính. Và khi nhận thấy đã viết đủ nhiều, tôi quyết định đánh máy lại. Khoảnh khắc đó, tôi nhận ra một sự thật chua chát: dù đã viết tay, thơ tôi dở vẫn hoàn dở; thậm chí, có vẻ như vì chữ viết tay của tôi xấu quá, tôi khiến chính tôi mất đi cảm hứng, những bài thơ viết tay dường như còn dở tệ hơn so với những bài thơ đánh máy. Tôi vốn ghét sự xấu xí và nguệch ngoạc, tôi thích sự cẩn thận, chỉn chu, tươm tất, vì thế tôi ghét chữ viết của chính mình bởi nó luôn chỉ ra điều ngược lại. Vừa viết và vừa liên tục nhìn thấy thứ mình ghét mỗi lúc một xuất hiện dày đặc thêm có lẽ là nguyên nhân khiến tôi cảm thấy thơ viết tay của mình dở hơn thơ đánh máy. Chưa kể, vấn đề còn nhọc nhằn hơn khi giờ đây tôi phải rị mọ đọc lại những dòng chữ xấu xí của mình, cố đoán già đoán non ở một số chỗ xem tôi đã viết gì, và rồi phải nhập lại những dòng thơ chính mình cũng không thấy có gì thú vị. Nhưng tôi không thể bỏ phứt nó đi luôn mà không nhập, với bản tính cố hữu là một người thích sưu tầm, nhặt nhạnh, thích giữ lại hơn là vứt đi, tôi vẫn cứ gõ lại những gì chính tôi cũng không thích lắm, nỗi thất vọng của tôi, sự kì vọng hoài công. Trải nghiệm không mấy vui vẻ đó khiến tôi quyết định sau này, tôi sẽ đánh máy trong hầu hết các trường hợp có thể nếu không bị bắt buộc phải viết tay. Với nét chữ xấu xí của mình, tôi vừa khiến cho việc viết tay dở hơn đánh máy, vừa khiến cho mình mất thời gian nhiều hơn khi phải gõ lại những gì mình đã viết. Đương nhiên, đó chỉ là sự bao biện của tôi: viết dở là viết dở, chẳng liên quan gì đến tay hay máy, vấn đề nằm ở tư duy và trải nghiệm đọc, sự chịu khó tìm tòi học hỏi – đó là tất cả những thứ tôi đã thiếu vào năm cấp ba (bây giờ, cũng không hẳn là tôi đã có vẹn toàn những phẩm tính này mọi lúc, mọi nơi).

Tôi vẫn còn nhớ vào năm cấp hai, khi tôi cố gắng viết truyện, cố gắng viết sao cho hay và hấp dẫn, đồng thời cũng cố gắng cải thiện điểm văn lẹt đẹt năm phẩy mấy ở trường để không bị khống chế học sinh giỏi thì tôi đã rất thất vọng khi hai bà chị - những độc giả duy nhất của tôi lúc đó bảo truyện tôi chán, còn điểm văn trong trường thì chính thức biến tôi thành học sinh khá dù điểm trung bình các môn cộng lại là trên tám phẩy. Mọi thứ dường như khựng lại, ở yên một chỗ, không sao tiến triển được. Chị ba khi ấy khuyên tôi: “Muốn viết hay, trước hết em cần phải đọc nhiều đã. Không cần phải cố gắng viết quá nhiều đâu, cứ đọc nhiều rồi tự dưng một lúc nào đó sẽ viết hay.” Tôi biết lời khuyên này cũng chí lí (sau này thì tôi nhận ra rằng nó quá chính xác, đến nỗi gần như một thứ chân lí), nhưng không hiểu sao đứa tôi lúc đó lại không chịu nghe theo. Tôi đã ham viết hơn ham đọc. Tôi nhớ ngày ấy mình có thích một ca sĩ nào đó, và người ấy có nói câu này (chẳng biết có phải là Đàm Vĩnh Hưng không): “Hát hay không bằng hay hát.” Thế là tôi cũng đem câu ấy áp dụng y hệt vào việc viết: “Viết hay không bằng hay viết.” Đó giống như câu thần chú của tôi mỗi lần tôi buồn vì bị điểm văn kém, mỗi lần tôi nản lòng không muốn viết truyện nữa khi về nhà sau những giờ học hay trong suốt ba tháng hè lủi thủi một mình. Tôi đã niệm câu thần chú đó để trấn an mình, để tiếp tục viết những câu chuyện cứ đè nén trong đầu, những câu chuyện mà tôi nghĩ mình không thể không viết ra (ngày nay, khi đọc lại những truyện tôi đã viết hồi cấp hai, cấp ba và thậm chí là cấp một, tôi cảm thấy rất xấu hổ, tôi sẽ chỉ giữ lại nó cho riêng mình như một tập album lưu lại những hình ảnh về đời sống văn chương đã xa xưa của tôi). Nhưng đương nhiên, kì tích không thể xảy ra ngay trong những năm cấp ba ấy chỉ vì tôi cố gắng viết nhiều, cứ cắm đầu cắm cổ mà viết trong khi chẳng chịu đọc gì, chất dinh dưỡng nạp vào không đủ thì những gì xuất ra làm sao thơm ngon được. Giá mà lúc ấy, tôi có thể thay câu: “Viết hay không bằng hay viết” thành “Viết hay không bằng hay đọc” sớm hơn. Vào những năm đại học, khi tôi cố gắng dành thời gian để đọc nhiều hơn, kiềm nén ham muốn viết thì khi viết trở lại, tôi thấy kết quả thay đổi rõ rệt. Sự thay đổi đó đến với tôi thật bất ngờ. Tôi bỏ viết hẳn năm đầu đại học chỉ để đọc, rồi khi so sánh những gì mình vừa viết với những gì đã viết một năm trước đó, tôi gần như không tin được là lối viết của mình đã thay đổi nhiều như thế. Tôi có cảm giác giống như một kì tích, giống như một năm đã qua không hề tồn tại, nó chỉ là cái chớp mắt, đêm trước tôi vẫn còn viết rất ngô nghê, ngủ một giấc tỉnh dậy và thử viết thì chợt nhận ra sự ngô nghê đó đã bớt đi chút ít, theo một cách không ngờ tới, tôi bỗng dưng biết được mình sẽ viết như thế nào, sắp xếp câu chữ ra sao. Nhưng dù có cảm giác như thế, tôi biết nó không phải là một kì tích, nó là sự hồi đáp của văn chương khi tôi bỏ ra đủ cố gắng cần phải có để bước qua giai đoạn mới. Tôi nhận ra rằng cũng giống như viết, khi bạn đọc, thời gian trôi qua rất nhanh. Việc đọc dường như vừa kéo dài vừa rút ngắn lại dòng thời gian tự nhiên.

Chuyện ít đọc tạo ra một cục diện dở tệ với tôi những năm trung học: viết văn trong trường điểm kém, viết truyện dở và đương nhiên là viết thơ cũng dở. Việc chỉ đọc những nhà thơ tình viết theo thể thơ tự do trong phong trào Thơ Mới khiến định nghĩa của tôi về thơ bị bó hẹp đi rất nhiều. Tôi không biết cách triển khai một bài thơ như thế nào ngoài việc dùng thật nhiều tính từ mĩ miều để miêu tả cảm xúc rồi cường điệu nó lên. Đương nhiên, đến ngày nay tôi vẫn không cho rằng phong cách của Thơ Mới là như vậy. Chỉ đơn giản là lúc đó tôi không biết làm một bài thơ cũng cần chút tư duy lí trí, một ý nghĩ làm nền để bài thơ có thể đứng vững – hoặc có thể thơ không cần đứng vững, nó có thể điên cuồng nghiêng ngả chuệch choạc như một người lướt khướt say nhưng lối viết của tôi luôn cần giữ lại chút tỉnh táo, tôi không thể hoàn toàn điên nên khi chỉ viết theo cảm xúc thuần nhất, thơ của tôi dễ bị rơi vào trạng thái sến một cách vô duyên. Vào năm đầu đại học, sau khi dành hẳn một năm đọc sách (chỉ truyện ngắn và tiểu thuyết), tôi gần như bỏ hẳn viết thơ trong ba năm: 2008, 2009, 2010. Đơn giản vì khi ấy, truyện ngắn và tiểu thuyết khiến tôi thích thú hơn, tôi vẫn không đọc thơ đủ nhiều để biết cách viết một bài thơ.

Tôi không muốn viết chi tiết về năm 2011 dù chính năm ấy đã tạo ra sự biến chuyển lớn trong cách suy nghĩ của tôi về thơ, là năm tôi đã viết ra được một số bài thơ dù chỉ đếm trên đầu ngón tay nhưng sau này tôi không có cảm giác xấu hổ khi đọc lại. Đó là năm tôi đã gặp em. Trước khi gặp em, như một cơ duyên, tôi đã đọc hết toàn bộ khoảng trăm bài thơ em viết được đăng trên mạng. Nếu không gặp em năm đó, tôi nghĩ mình đã bỏ hẳn thơ vì trong suốt ba năm chỉ tập trung vào truyện ngắn và tiểu thuyết, tôi nhận thấy thơ không thú vị bằng hai thứ kia bởi tôi vẫn không biết cách triển khai thơ khác đi. Tôi đã nghĩ thơ không thật sự phù hợp với nhịp sống và cách tư duy của tôi – đến bây giờ tôi vẫn cho là như vậy. Nhưng mùa hè năm ấy, em đã chỉ tôi lối để thỉnh thoảng bước vào thơ, nhìn ngắm khung cảnh đẹp đẽ nơi ấy bằng Wislawa Szymborska, Joseph Brodsky, Charles Bukowski… và bằng chính em. Bỗng dưng tôi biết cách viết một bài thơ như thế nào dù việc ấy chỉ xảy ra đôi khi.

Năm 2012 có lẽ là năm tôi đọc thơ nhiều nhất tính cả đến thời điểm hiện tại. Đó là lúc em đã bỏ đi. Sau những trận khóc vào sáng sớm khi vừa tỉnh dậy, sau những lần cầu nguyện được gặp em trong mơ mỗi tối trước khi ngủ, đến tháng chín năm ấy, tôi quyết định gạt đi những ủ rũ tiêu cực để tìm em trong thơ, bằng cách đọc thơ theo tên tác giả từ A – Z như em đã có lần nói rằng đó là cách em đọc. Tôi tìm em thật tích cực như thế cũng là để lần cuối cùng chia tay em thật tích cực trong tư tưởng. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ấy, tôi tranh thủ đọc thơ vào những buổi trưa tĩnh lặng khi đèn đã tắt, khi mọi người đã ngủ, một không khí không khác gì buổi đêm được tạo dựng trong phòng. Thơ với tôi là không khí của những buổi trưa ấy. Máy điều hòa chạy lặng lẽ, tĩnh tại và một ánh mắt dõi nhìn những dòng thơ. Thế giới rời rạc nhưng được kết nối. Và quả thực, khi đọc nhiều ta có thể viết nhiều. Đó là khoảng thời gian tôi đã làm được điều tưởng chừng không thể: viết ba mươi bài thơ trong vòng một tháng. Đến nay, vẫn chưa khi nào tôi viết được thơ nhiều như thế.

Trong một ngày tháng sáu năm 2018, tôi nằm trên băng ghế dựng tạm từ ba chiếc ghế rời, tắt hết đèn vào lúc năm rưỡi hơn, dõi mắt nhìn ra khung cửa với bầu trời xanh vương chút xám, tiếng mưa rơi xối xả bên ngoài làm âm thanh nền cho cảnh tượng ấy. Tôi suy nghĩ về thơ trong sự cô tịch bình yên đó. Thế giới như đang phân mảnh khi tôi nằm trên ba chiếc ghế rời, ngoài kia là tiếng mưa rơi. Bỗng nhiên tôi có cảm giác thơ chính là như thế, là cảnh tượng này, không gian này, thời gian này, là tôi đang nằm đây. Thơ là một dòng chảy kết nối tất cả sự rời rạc lại với nhau. Như căn phòng những buổi trưa ấy. Như căn phòng buổi chiều mưa này. Nhưng không phải theo phương pháp cơ học. Cũng không phải theo cơ cấu cắt ghép như một môn thủ công nào đó. Và khả thể mới do thơ tạo ra từ những mảnh vụn cũng không hề vững chãi và thực tế, cũng không có tham vọng vững chãi hay thậm chí là trường tồn. Nó chờ đợi để tiếp tục được phân mảnh và tạo ra những mối liên kết khác: như cách những hạt mưa rơi độc lập nhưng hòa quyện vào nhau, như những chiếc ghế tuy có vẻ là cố định nhưng vị trí của chúng chỉ là tạm bợ, người ta có thể dễ dàng dịch chuyển chúng đến bất cứ nơi đâu, kết hợp chúng với bất cứ thứ gì để tạo ra những ngữ cảnh mới, những cách hiểu mới cho một cái ghế. Thơ cũng giống như thế. Nó ở đó nhưng không ở đó. Người ta thường nói một nửa sự thật không phải là sự thật, một nửa tình yêu không phải là tình yêu. Nhưng với tôi, một nửa thơ thì vẫn là thơ. Bởi lẽ khác với những thứ kia – những thứ đòi hỏi một sự vẹn toàn thì mới đích thực là nó, thơ chối bỏ sự toàn bích như một thể thống nhất. Bạn chỉ có thể nắm một phần và rồi hình dung thể thống nhất của nó theo cách nghĩ của bạn. Hình dáng một bài thơ tùy biến trong đầu mỗi người theo cách như thế. Chính sự nửa vời ấy là vẻ đẹp của thơ. Vẻ đẹp của nỗi mơ hồ mênh mông xa vắng.

Trong buổi chiều mưa đơn độc tưởng chừng như vô tận ấy, khi nằm trên những chiếc ghế rời và ngước nhìn bầu trời xanh xám ngoài kia, tôi đã viết những dòng-có-lẽ-là-thơ này:

“tôi thu mình trong màu xanh ô cửa sổ
nằm trên ba chiếc ghế xếp cạnh nhau
giang sơn nhỏ hình thành khi ngoài kia
tiếng mưa rơi tựa sóng vỗ
căn phòng này sẽ trôi cùng tôi đến đâu
giữa thành phố mười triệu dân này”

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Cafe sáng