Chuyện người cầm bút

Phạm Công Luận: “Sách dọc đường đời”

Một bạn trẻ dọn về sống trong căn hộ độc thân, kể rằng trong nơi ở mới anh luôn có cảm giác trống trải cho đến khi các thùng sách được đưa về và tủ sách được bày biện xong. Anh nhìn lên kệ, thấy những tựa sách thân thuộc, nhớ lại những câu chuyện đã khiến anh rung động, những triết lý mà anh đã thích thú trong khi đọc sách… Cảm giác chông chênh lúc ấy mới biến mất và anh mới thật sự cảm thấy đang sống trong nhà của mình.

Published

on

Có những người xem sự hiện diện của sách đối với con người như là cây cối trong rừng đối với loài dã thú. Con thú có thể trốn trên cành hoặc nấp sau thân cây để tránh kẻ thù, có thể tìm thấy mùi hương và dấu vết những loài khác trên một thân cây và cũng có thể hái lượm trái chín để ăn, uống nước đọng trên lá và trong dây leo. Con người cũng có thể nấp sau trang sách để quên đi nỗi lo và tìm sự bình yên, có thể học bao nhiêu điều trong sách mà người đời không dạy và có thể kiếm sống nhờ học qua sách vở. Đối với nhiều người, sách là một hệ sinh thái để sống.              

Ngày nay, không khó để lập một tủ sách nhưng cách nay trên dưới nửa thế kỷ không dễ. Lý do chính là việc thường xuyên mua sách khá tốn kém. Một tủ sách giá trị không thể làm nên từ vài trăm cuốn sách mà phải gây dựng trong thời gian dài, có khi cả đời.

Lúc nào cũng vậy, sách nghiên cứu nhập từ nước ngoài luôn cao giá, ví dụ như từ điển hay sách chuyên khảo. Thời Pháp thuộc và trước 1975, có những người học giỏi nhưng vì nhà nghèo nên không dám học lên cao vì không mua nổi sách học của Tây. Cho nên, trong giới đọc sách và nghiên cứu, mượn nhau đọc là điều bình thường. Có người để mất tình bạn vì không trả sách hay vì mượn sách không biết giữ gìn để sứt gáy, mất trang. Ai có sách quý, nhất là tự điển, sách nghệ thuật, sách dịch tác phẩm của tác giả nổi tiếng tậu về ắt được chủ nhân nâng niu, bọc nhựa trong, đóng bìa cứng và làm sổ theo dõi ai mượn để đòi. Ai ghiền đọc chỉ có cách là đi mướn sách mới mong  đọc được nhiều sách trên thị trường chữ nghĩa.

Nhiều người “chữ nhiều tiền ít” cố gắng tạo cho mình một “gia tài” nho nhỏ bằng việc gom từng cuốn sách mình có, mua ở tiệm sách hay vỉa hè. Ban đầu chỉ có vài cuốn sách đặt bên gối. Khá hơn chút thì cất trong rương. Nhiều hơn nữa thì bày trên kệ dài gắn trên tường bằng dây kẽm. Cuối cùng là cố tậu tủ bằng gỗ cứng có cửa kính để chứa sách, có thể chống mối mọt và bụi bặm.

Sách bán dạo và bày bán như hàng chạp phô

Các món ăn và những đồ vật thường dùng như chiếc chiếu, cây chổi lông gà… được bán dạo trên đường phố vì đó là nhu cầu hàng ngày. Khi trở thành nhu cầu thường xuyên của nhiều người ở một không gian nào đó, sách được đưa đi bán dạo như bán vé số hay đậu phộng rang. Hoặc có khi được bày bán chung với hàng chạp phô.

Những năm 1990, ở các bến xe đò thường thấy có những người bán sách dạo. Họ ôm bằng hai tay một chồng sách cao gần tới cổ, rảo quanh bến xe mời khách mua sách. Sách gồm những tựa dễ đọc, tác giả dễ đọc. Nếu không là truyện của Hồ Biểu Chánh, thì là những cuốn sách giật gân ăn khách kiểu như “Vụ án đêm giao thừa”, “Lửa hận rừng xanh”, “Một thời ngang dọc”. Ai cần mua cứ gọi họ đến ngay, đặt chồng sách xuống, tay rút vài cuốn đang ăn khách để mời. Khách sẽ chọn một cuốn ưng ý để giết thời giờ trên chiếc xe đò liên tỉnh chạy chậm rì. Lâu lâu có người mua vài cuốn làm quà cho người ở quê. Kiểu bán sách dạo này không phổ biến so với bán báo dạo, nhưng không phải mới mẻ mà đã có từ lâu 

Nhà văn Nguyễn Hiến Lê kể trong bài viết “Kỷ nguyên tiêu thụ và nghề viết văn” (giai phẩm Bách Khoa số kỷ niệm 16 năm và Xuân Quí Sửu 1973)  kể là quê ông ngoài miền Bắc ngày xưa còn có những người bán sách dạo mà ông thấy chỉ được một hai lần. “Họ gánh một đôi bồ chứa đầy sách ghé vào nhà bác tôi ở quê. Có lẽ mỗi năm họ mới ghé một lần, bán sách thì ít mà đổi sách thì nhiều: đổi sách lấy giấy đã viết rồi để ra tỉnh bán ra cho những nhà làm lọng làm quạt. họ cũng như hạng người di mua giấy báo cũ bây giờ. Về sau số người cần sách mỗi ngày một hiếm, họ không đổi sách mà đổi kẹo mạch nha lấy giấy: rồi sau nữa người học chữ Nho mỗi ngày một hiếm, giấy cũ cũng không có, nghề đó dẹp luôn”.

Trong báo Sài Gòn, Số 14344, ra ngày 8 Tháng Tư 1940, bài viết “Nghề xuất bản sách” (không ghi tên tác giả) cho biết tình hình bán sách báo lúc đó đầy chán ngán nhưng thực tế có hai người biết cách bán sách rất hay dù không làm xuất bản. Đó là hai ông Phạm Đình Khương và Phạm Văn Thình. Hai ông chỉ phát hành thơ, truyện, tuồng, bài ca thôi mà làm ăn khấm khá. Khắp các chợ nhỏ từ thành thị ở thôn quê đều có tiệm bán sách của hai ông. Các loại sách này thường để chung các đồ vật vụn vặt của người bán dạo bày trên chiếc chiếu trải dướt đất: dao, kéo, gương soi, thuốc phong tình, thơ Chàng Nhái, vọng cổ ân tình v.v… Tác giả đi xuống Cà Mau thấy có năm người bán sách của hai ông này. Còn ở chợ các tỉnh khác ở miền Nam có khá đông người hai bên dãy phố quanh chợ. Ông tả: “nhiều nơi, họ choán một góc trong nhà chợ, dăng dây bốn phía và treo loại sách này lên như thầy pháp lập đàn trận. Những tranh bìa các sách này sặc sỡ, màu in phủ tràn, nét vẽ ngoằn ngoèo, người không ra người, nhà không ra nhà, cây không ra cây, như bùa chú của pháp sư phá đàn, trông rất buồn cười. Anh chèo ghe, người phát cỏ, người bán hàng gánh đều có thể mua được, đọc được, ngâm nga được”.

Tác giả cho biết thêm là cả hai “nhà xuất bản” này tái bản mỗi cuốn hơn năm lần, mỗi lần hai ngàn cuốn, tức một cuốn thơ bán ra mười ngàn cuốn, bán giá năm xu, một cắc hay lên tới hai cắc tùy cuốn. Người mua về bán lại, theo giá trăm, tức giá sỉ. Họ mua mỗi lần cả trăm cuốn, “lạm xạm đủ thứ”, nhất là bài ca bán rất được.

Giữ sách: từ “cặp” sách đến tủ sách

Nhà văn Nguyễn Hiến Lê trong bài viết dẫn ở trên kể về cách lưu trữ sách ngày xưa, hầu như là sách chữ Hán, ở miền Bắc khoảng thập niên 1920: “Hồi tôi còn để chỏm, nhà tôi không có tủ sách mà chỉ có hai cặp sách. Cặp sách của chúng tôi cao độ tám tấc gồm bốn cái cọc một tấm ván gọi là đế, bề mặt bằng khổ tờ giấy bản gấp đôi, nghĩa là chiều dài độ ba tấc, chiều ngang hơn hai tấc (tôi nhớ phỏng chừng như vậy), đóng hai quai để treo lên, hoặc xách hoặc khiêng, thêm một tấm ván nữa ở phía trên để dằn sách xuống. Khi đổi chỗ ở thì có người gánh, y như trong truyện Kiều: “Túi dàn cặp sách đề huề dọn sang”. Một cái cặp như vậy chứa Tứ thư ngũ kinh, ít bộ Bắc sử và bộ Khang Hi tự điển thì vừa đủ. Còn cái nữa chứa một ít sách thuộc, địa lý (tức sách phong thủy), tử vi, bói, vài bộ ngoại thư: Tình sử, Liêu trai, Đường thi, Tống thi, Văn tâm Điêu long và ít cuốn sách Nôm: Kiều, Hoa Tiên”.

Truyện Kiều, tái bản tháng 06.2018 bởi NXB Văn học và Minh Long

Ông kể có một ông bác chỉ có hai cặp sách gồm sáu bảy chục bộ mà đã nhiều sách nhất Tổng. Khi ấy muốn mua sách thì xuống Hà Nội đến một tiệm ở phố Hàng Gai. Khoảng năm 1925 ở đó còn có dăm bảy tiệm bầy những sách in mộc bản ở trên một tấm phản kê hơi cao. Có chừng trăm thứ sách rẻ tiền, còn sách quí cất riêng ở trong. Ít năm sau các tiệm đó cũng dẹp luôn, thay vào là những tiệm bazar.

Liêu trai chí dị, phiên bản phát hành tháng 10/2015 bởi NXB Văn học & Nhã Nam

Trên đất nước có khi hậu nóng ẩm, sách trong tủ thường phải đem ra phơi. Báo Phụ Nữ Tân Văn, Số 198, 4 Tháng Năm 1933 có bài Tản văn “Phơi sách” của Phanh-Ni khá điệu đàng, có đoạn: “Lại ngồi trên chiếu, chung quanh ngổn ngang những sách chinh chòng, tôi ngó qua một vòng, hay trong lòng hơi cảm động như đi tình cờ gặp lại bạn cũ, mắt nhìn nhau chan chứa cảm tình. Bao nhiêu sách gợi bao nhiêu ngày xưa, bao nhiêu tình cũ. Có đủ cả sách đấy: sách bằng thưởng cuối năm ở trường học, từ lớp nhỏ đến lớp lớn, sách in đẹp thay, sơn son thếp vàng, trên bìa đầy những bông hoa chạy lẫn chỉ vàng, cầm lên lại bâng khuâng nhớ những ngày… những ngày xưa, buổi mình đưa tay lãnh sách, trái tim đập mạnh như vỡ ra nhồi máu trong đấy như xung hết lên mặt, nóng đến hai tay…”. Bà Tùng Long, nhà văn nữ viết truyện xã hội nổi tiếng trước 1975 kể trong Hồi ký về thú đọc sách của mình hồi còn nhỏ trong gia đình. Có cha là công chức Sở Thương chánh thích đọc sách báo và có viết bài gửi cho báo Nam Phong, Hữu Thanh, mua rất nhiều sách báo nên bà may mắn từ nhỏ đã sống với sách báo thơ văn. Sách của người cha để đầy các tủ, mẹ của bà lãnh phần chăm sóc đống sách báo không để mối mọt gặm nhấm. Mỗi tháng một lần, người mẹ chọn ngày nắng ráo đem sách ra phơi, bà Tùng Long còn làm một bé gái lãnh phần trông sách. Vừa trông vừa đọc báo, đọc sách có khi say mê đến nỗi ngồi ngoài nắng mà không biết. 

Giang san nhà chồng, tác phẩm của Bà Tùng Long được phát hành tháng 06/2015 bởi NXB Văn học và Phương Nam Book

Đối với những người có điều kiện kinh tế, sách báo được mua về vẫn được xem là thứ vật chất quý giá để giữ gìn. Tôi có đọc câu chuyện trong một cuốn bút ký sau 1975, về một anh trí thức Sài Gòn nhà giàu Tây học bỏ nhà theo kháng chiến. Nói về sự kiên quyết dứt bỏ giàu sang của anh ta, tác giả kể anh không hề tiếc ngôi biệt thự, cái tủ rượu và một tủ sách đồ sộ. Bộ ba này được coi là những thứ phong lưu bậc nhất mà người thời ấy có được.

*

Trong gia đình tôi, hầu như ai cũng thích đọc sách từ ba mẹ đến các con, dù đã đi làm hay còn đi học. Tuy vậy,  cách nay năm mươi năm, số sách trong nhà chỉ độ vài chục cuốn đọc đi đọc lại. Quý nhất chỉ là vài bộ truyện Tàu, bộ Việt Nam Thi nhân tiền chiến, vài tập thơ và vài sách bình luận văn chương của ông anh học Văn khoa. Góp chung chỉ đủ một kệ sách dài khoảng hai mét. Chỉ nhờ các tiệm cho mướn sách, từ giữa thập niên 1960 anh em chúng tôi mới có thể đọc được nhiều sách.

Sinh thời, ba tôi còn giữ ký ức về chợ sách trên lề đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần khu chợ Đũi) khoảng 1954. Đọc cuốn Một mảnh tình riêng của nhà văn  Sơn Nam, thấy ông nhắc tới chợ sách lề đường này và cho đó là “nét đẹp nhất vào màn chót của việc chấm dứt một thế kỷ đô hộ của người Pháp”. Ở đó bán nhiều cuốn sách quý một thời của những người sưu tập cất trong thư viện gia đình, mạ chữ vàng. Ông kể : “Nhiều quyển nhất là sách khảo cứu bán rẻ, thí dụ như sách cơ bản để tham khảo về văn minh Chăm, điện Ăng-ko, đạo thiền, toàn tập văn chương của những bậc lừng danh Pháp, hoặc Đức, Anh dịch sang chữ Pháp. Sách của những luật sư kỹ nghệ gia Pháp từng lưu trú lâu đời ở Sài Gòn, già rồi họ về xứ để nhắm mắt. Lại còn sách lấy ra từ các thư viện các câu lạc bộ sĩ quan Pháp, câu lạc bộ thể thao, đồn điền cao su”. Đây là cơ hội hiếm hoi để sở đắc những cuốn sách đẹp và quý với kỹ thuật đóng sách cao cấp hơn hẳn thời sau này. Tuy vậy, dù là sách vỉa hè, dù giá bán rẻ hơn trước nhưng theo ba tôi, giới bình dân không mua nổi vì giá vẫn còn khá cao so với thu nhập của họ.

Đầu thập niên 1960, đại lộ Lê Lợi trở thành thiên đường của giới ham đọc và ham học. Ở đó, ngoài khu bán sách vỉa hè phía bên vỉa hè gần nhà thương Sài Gòn và các  quán bán sách báo và bưu ảnh, còn có khoảng chục nhà sách, lớn nhất là Khai Trí, và các nhà sách Tự Lực, Việt Bằng, Vĩnh Bảo, Dân Trí, Khai Trí, Phúc Thành, Lê Thành Tuân, Việt Hương, Nguyễn Văn Trung, Văn Hữu, Lê Phan, Hoa San, Thu Tâm… Người đọc  lúc ấy ra đến đó là mê mẩn, nhưng mua phải dè sẻn. Nhà sách Khai Trí có cho đọc tại chỗ nên có  rất nhiều người tranh thủ coi cọp, tranh thủ nạp cho nhanh cho nhiều chữ nghĩa vào đầu không mất tiền.

Trong hành lang Eden khoảng thời gian này có ba nhà sách bán sách báo ngoại quốc, nổi bật là một tiệm sách tiếng Anh tuy nhỏ nhưng khá nổi tiếng lấy tên là Book Shop. Lúc đó, phong trào học Anh ngữ đang lên, người Sài Gòn đến học các trường tư dạy tiếng Anh để mong tìm được việc làm thư ký hay phiên dịch ở các hãng buôn ngoại quốc, các sở thông tin hay các tòa Đại sứ Anh Mỹ. Lúc đó chỉ có sách dạy tiếng Anh cho người Pháp, người Mã Lai, người Thổ Nhĩ Kỳ .v.v… Hiệu sách này ra đời đáp ứng như cầu đa dạng hơn về sách tiếng Anh. Được nơi thành lập là Hội Ái hữu Phụ nữ Hoa Kỳ đứng ra nhập sách báo xuất bản tại Mỹ về Việt Nam, hiệu sách có đủ các loại: Tiểu thuyết best-seller trong năm, sách khảo cứu đủ loại từ làm vườn, trang hoàng nhà cửa, nuôi con… cho đến sách hội họa, văn chương, chính trị. Ngoài ra, có cả các tuần san, nguyệt san như Life, Saturday’s Evening Post, Esquire, Photography v.v… Riêng sách học tiếng Anh có đủ sách dành cho các cấp độ, từ Tự điển bỏ túi cho đến Bách khoa từ điển. Tuy nhiên mỗi tựa sách ngoại ngữ nhập về đây không nhiều lắm nên chỉ một thời gian ngắn là hết veo.

Các cuốn sách quý thật sự trở thành của cải, có giá trị mua bán trao đổi trong giới đọc và chơi sách. Trong thư viện gia đình của dân chơi sách tầm cỡ, thường là khá giả trở lên, sở hữu nhiều sách giá trị mà nhà sách hay có khi thư viện không có, hoặc không phong phú bằng.

Tôi biết trên thế giới này, có rất nhiều người không cần đọc sách vẫn có cuộc sống hạnh phúc hay yên ổn cả đời. Nên viết về chuyện đọc sách, mua sách, khen chê cái hay cái dở trong một cuốn sách hóa ra chỉ trong thế giới những người đọc sách. Tản mạn về thú đọc sách là muốn chia sẻ điều mình nghĩ trong thế giới chỉ dành riêng cho ai tìm đến niềm vui, sự thức tỉnh và thổn thức trước những trang sách.

Hồi mới lớn, sau 1975, tôi có dịp vào hai ngôi nhà mà cả nhà đã bỏ ra nước ngoài. Một ngôi nhà trong cư xá Nha Trước bạ ở Phú Nhuận của một bác sĩ, có phòng tập thiền bằng gỗ và một tủ sách nhỏ ở phòng khách. Tủ sách toàn những cuốn dày như Papillon, người tù khổ sai, Tội ác và hình phạt, Bản du ca cuối cùng của loài người không còn đất sống, bộ Thành ngữ điển tích danh nhân tự điển, cuốn Tình em vỗ cánh cùng nhiều cuốn tạp chí Thời Nay. Lần đầu tiên tôi được cầm những cuốn sách đó trên tay, mới toanh và cứng cáp, không bị đóng kẽm cứng ngắc đến mức đọc mất chữ gần phía gáy sách như các tiệm cho mướn sách hay làm. Tuy mê mẩn nhưng tôi chỉ dám mượn một cuốn để đọc. Sau đó, nó nhanh chóng vơi bởi những người giữ nhà không thích đọc sách mà dùng vào việc khác, chỉ một tháng sau đó. Tủ sách thứ hai ở một ngôi nhà phố trong hẻm của người Hoa trong Chợ Lớn. Buổi tối đứa bạn trong xóm có người chị làm ở cơ quan tiếp nhận nhà người bỏ ra nước ngoài rủ tôi đến đó tìm chị nó. Chị biết tôi thích sách nên bảo là sách chủ nhà để lại nhiều lắm, thích thì cầm về. Tôi háo hức vào xem, hoa mắt nhìn các dãy kệ có rất nhiều sách art books, các tập tranh Hoa điểu, đồ sứ cổ, đồ gốm và đồ gỗ kiểu xưa bên Tàu. Tôi chọn một cuốn vẽ các loại khủng long in màu rất đẹp, sách tiếng Hoa in ở Hồng Kông. Về nhà, giở cuốn sách dưới ánh đèn, tôi thấy rớt ra một tấm ảnh chụp năm người, hẳn là một gia đình có hai vợ chồng, cô con gái lớn và hai cậu con trai nhỏ hơn. Trong hình, cả nhà ăn mặc đẹp, dáng vẻ phong lưu và nền nếp. Tôi vẩn vơ nghĩ về gia đình đã ra đi ấy. Hẳn là ngày xưa họ đã có những ngày sống hạnh phúc bên nhau, đã có những buổi tối trong căn nhà đó, có hai cậu con trai được người cha chỉ xem và giải thích từng bức tranh các loài bò sát cổ đại trong sách. Tủ sách này hẳn đã được chắt chiu góp nhặt trong nhiều năm và là trung tâm của đời sống tinh thần của gia đình này, để rồi cuối cùng phải bỏ lại.

Phạm Công Luận
Tác giả của Phương Nam Book



Những tác phẩm nổi bật của tác giả Phạm Công Luận

Chuyện người cầm bút

Một cuộc chuyện trò với Wu Ming-yi, tác giả Người mắt kép

Published

on

By

Về Người mắt kép:

Trong cuốn tiểu thuyết Người mắt kép vừa được giới thiệu, chuyển ngữ và ra mắt gần đây; có một quy luật trên đảo Wayo Wayo rằng: người con trai thứ trong mỗi gia đình vào ngày tròn mười lăm tuổi phải dong talawaka (một kiểu thuyền độc mộc tự làm) ra biển như vật hiến tế cho Kabang - Thần Biển. Atile'i là một cậu bé như thế, với thiên tư bơi lội và tài đi biển, đã quyết tâm bất chấp vận mệnh để trở thành người đầu tiên sống sót trở về.

Cũng trong lúc đó, Alice Shih – một người phụ nữ vừa mất chồng và con trai trong một tai nạn leo núi, đang âm thầm chuẩn bị tự sát trong ngôi nhà bên bờ biển của mình. Nhưng kế hoạch ấy sẽ mãi gián đoạn, khi vòng xoáy rác ập vào bờ biển Đài Loan, cuốn theo Atile'i.

Sau sự kiện ấy, Alice nhờ sự hợp sức của Atile’i lần theo dấu vết người chồng quá cố lên núi, với hy vọng giải đáp được sự bí ẩn về việc mất tích của cậu con trai. Trong cuộc hành trình của họ, ký ức là những chướng ngại; các mối liên kết bắt đầu thành hình; trong khi những bí ẩn đen tối dần được hé lộ sẽ buộc Alice phải đặt câu hỏi về tất cả những gì cô nghĩ mình biết.

Câu chuyện hài hước và đầy đau buồn này gợi lên rất nhiều những cung bậc cảm xúc khác nhau. Nó nhắc tôi nhớ trí tưởng tượng trong các tiểu thuyết đôi khi cũng có quyền năng mang đến góc nhìn rộng mở và “vượt trội” hơn những sự thật vẫn đang diễn ra trước mắt, về biến đổi khí hậu, về môi trường… mà ta vẫn còn mù mờ. Phép ẩn dụ về đôi mắt kép cũng đồng thời ám chỉ những góc nhìn đa dạng của thiên nhiên xung quanh. Wu Ming-Yi là một trong nhiều tiểu thuyết gia mà tôi từng trò chuyện hoàn toàn không có chủ ý viết về biến đổi khí hậu ngay lúc ban đầu, nhưng những vấn đề này đã đến với anh và câu chuyện của mình vô cùng tự nhiên.

“Chúng ta chưa từng đọc thứ gì như cuốn tiểu thuyết này. Chưa bao giờ. Nam Mỹ đã trao cho chúng ta chủ nghĩa hiện thực huyền ảo – còn Đài Loan thì trao cho chúng ta gì đây? Một cách kể mới về hiện thực mới của chúng ta, đẹp đẽ, thú vị, đáng sợ, phi lý, chân thật. Hoàn toàn không ủy mị nhưng cũng chưa bao giờ tàn bạo, Wu Ming-Yi đối xử với sự yếu ớt của con người và của thế giới bằng sự dịu dàng đầy can đảm.”- Ursula K. Le Guin, tác giả của Mê cung xứ hải địa, Bến bờ xa nhất…

Đài Loan đang có nhiệt độ ấm hơn, và cũng tương tự nhiều nơi trên thế giới, được dự báo sẽ phải đối mặt với nước biển dâng cao và những cơn bão cực mạnh. Nằm trong làn sóng các nhà hoạt động vì khí hậu trẻ, Kaisanan Ahuan đến từ Thị trấn Puli, Đài Loan - một thành viên của những sắc dân thiểu số, từng chia sẻ thế này trên tờ The Guardian:

Là người dân bản địa Đài Loan, chúng tôi đặc biệt dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu. Truyền thống của chúng tôi bắt nguồn sâu xa từ sự hài hòa vốn có với tinh thần tự nhiên. Chúng tôi phải đối mặt với mất mát đau thương do các hiện tượng thời tiết ngày càng trở nên khắc nghiệt.

Trò chuyện với Wu Ming-Yi:

Mary: Người mắt kép kể về hai câu chuyện: một thần thoại và một đương đại, về những cá thể bị ảnh hưởng bởi sự nóng lên toàn cầu và những vấn đề cá nhân của bản thân họ. Đó là sự tưởng tượng mới mẻ trong cách kể chuyện đầy độc đáo. Điều gì khiến anh lựa chọn viết nó?

Wu Ming-Yi: Nhiều năm trước tôi đã nghe đến thông tin về các xoáy rác ở biển Bắc Thái Bình Dương. Ngay cả khi không có những tấm ảnh chụp, một chuỗi những cảnh tượng cứ thế vẫn ám ảnh tôi hết đêm đến ngày. Khi thời gian trôi qua, chúng trở nên gắn kết và thành một khối thống nhất trong tâm trí tôi. Nó làm tôi nhớ đến nơi mình đang sống, Hualian. Hualian là một thành phố nhỏ hướng ra bờ Thái Bình Dương. Tôi hay đứng đó ngắm nhìn những cánh chim bay. Lúc đó ý tưởng về việc rất có thể một ngày nào đó tất cả rác thải sẽ bay ngược về để gặp người đã tạo ra chúng – chính chúng ta. Ngoài ra, với sự hiểu biết về biến đổi khí hậu và sự đam mê với biển, tôi bắt đầu chương đầu tiên của Người mắt kép.

Mary: Tôi thích câu chuyện về Atile'i và hòn đảo Wayo Wayo. Điều này có điểm chung nào với các truyền thuyết có thật của Đài Loan không?

Wu Ming-Yi: Về mạch truyện này, tôi đã nghiên cứu rất nhiều cuốn sách trong lĩnh vực dân tộc học, và dĩ nhiên, có tồn tại một hòn đảo xinh đẹp mang tên Lanyu và những cư dân của nó là người bản địa Tao. Do đó, Wayo Wayo được tôi phôi thai như là một nhóm dân cư sống đời tập trung vào biển, có một khả năng nào đó sẽ giao tiếp được với các nền văn minh khác dựa trên đất liền. Tôi cũng tham vọng mô tả sự phức tạp của các chủng tộc và sắc tộc Đài Loan bản địa. Do đó, tôi đã thêm bộ tộc Bunun vào câu chuyện của mình.

Mary: Câu chuyện về Alice cũng thú vị không kém. Ngôi nhà của cô ấy thực sự đang chìm trong nước biển dâng, và đồng thời cũng phải đối mặt với sự mất mát và đau buồn tột độ. Điều gì đã khiến anh nghĩ mình phải tạo nên được nhân vật này?

Wu Ming-Yi: Tôi sống giữa Đài Bắc và Hualian. Đài Bắc là thành phố lớn mà mọi người đang cố quên đi bản thân vẫn được che chở dưới bàn tay của tự nhiên; trong khi Hualian là một vùng đất khá nhỏ nằm ở khúc giao giữa một ngọn núi cao 3.000 foot và biển Thái Bình Dương. Những người sống gần tự nhiên có thể cảm nhận được ​​những thay đổi và xúc động hơn trước thực tế môi trường ngày càng xấu đi. Sự tuyệt vọng trong đời sống cá nhân đan xen với nỗi thất vọng gấp bội khi nhận thức về môi trường. Tôi đã xây dựng Alice vì muốn bày tỏ cảm giác này.

Mary: Người mắt kép đề cập đến một số tác động môi trường như biến đổi khí hậu, xoáy rác, săn bắt cá voi, xây dựng – quy hoạch và săn hải cẩu. Thật ngạc nhiên khi anh xây dựng những vấn đề này thành một cuốn tiểu thuyết trong khi chỉ như đang kể về một câu chuyện tuyệt vời. Anh có nghĩ tiểu thuyết có thể trở thành công cụ để khám phá các vấn đề về môi trường không?

Wu Ming-Yi: Những vấn đề này đến với câu chuyện một cách tự nhiên. Trên thực tế, tôi không chủ ý cho thêm chúng vào. Trong quá trình tạo ra các nhân vật, những sự kiện trên chỉ đơn giản là có xuất hiện trong cuộc sống của họ, vì vậy tôi buộc mình xem xét sự thật ẩn sâu trong những vấn đề mà bạn đề cập. Bản thân tôi cũng từng tham gia một số nhóm hoạt động về môi trường, và mặc dù có vài chủ đề vẫn còn lạ lẫm với độc giả đại chúng, nhưng tôi hiểu rõ và muốn được giới thiệu đến đông đảo độc giả hơn.

Mary: Anh thấy Đài Loan thay đổi thế nào trong thời kỳ môi trường ô nhiễm, trái đất nóng lên...?

Wu Ming-Yi: Đài Loan đang trở thành nạn nhân của biến đổi môi trường do các doanh nghiệp phương Tây thiết lập các ngành công nghiệp ô nhiễm cao ở đây. Tất nhiên, Đài Loan phải tự trách mình vì chính phủ không chú ý đến việc bảo vệ môi trường. Hiện tại, Đài Loan đang đứng trước một sự lựa chọn: đó là trở thành điển hình về môi trường cho Đông Nam Á; hoặc, bị bỏ rơi trên con đường tăng trưởng kinh tế. Một số người cho rằng mục tiêu kép này có thể đạt được đồng thời, nhưng là một quốc gia có nguồn lực hạn chế, với thực tế là dân số đang giảm nhanh chóng, cũng như sức ép từ phía Trung Quốc hiện tại; thì có thể nói ý tưởng này như đang mơ hảo. Đài Loan phải tìm bằng được giá trị của mình như một phần của nền văn minh nhân loại, đồng thời phải quan tâm hơn đến những vẻ đẹp tự nhiên. Đài Loan do đó rất nên quyết tâm chống ô nhiễm để tạo ra tác động tích cực chống lại sự nóng lên toàn cầu.

*

Wu Ming-Yi sinh năm 1971 tại Đài Loan, và cũng là nơi anh hiện sinh sống. Là một nhà văn, nhà thiết kế, nhiếp ảnh gia, giáo sư văn chương, nhà sưu tầm bướm và nhà hoạt động về môi trường; anh giảng dạy môn viết sáng tạo tại Đại học Quốc gia Dong Hwa từ năm 2000 và hiện là giáo sư Khoa tiếng Trung. Wu Ming-Yi là tác giả của nhiều cuốn sách viết về thiên nhiên, trong đó Người Mắt KépChiếc xe đạp mất cắp đã được dịch và giới thiệu tại Việt Nam. Cuốn tiểu thuyết thứ hai, The Way of Butterflies (tạm dịch: Đường bay của những con bướm) đã được trao Giải Sách mở rộng của Thời báo Trung Hoa (China Times Open Book Award) vào năm 2003. Cuốn tiểu thuyết đầu tay, Routes in the Dream (Tạm dịch: Đường về trong những giấc mơ) cũng được vinh danh là một trong mười cuốn sách viết bằng tiếng Trung hay nhất do tạp chí Asian Weekly bình chọn. Trong khi đó Chiếc xe đạp mất cắp đã đưa anh trở thành người Đài Loan đầu tiên lọt vào danh sách để cử Man Booker Quốc tế. Người Mắt Kép là cuốn sách đầu tiên của anh được dịch sang tiếng Anh.

Hết.

Cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi Mary Woodbury cho tờ dragonfly.eco.
minh dịch.
Đọc bài viết

Bookish Best 2021

Lê Khải Việt và những cảm hứng mong được kể lại

“Trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.”

Published

on

By

Tôi đọc Chuyến bay tháng ba tình cờ vào đúng những ngày cuối tháng Tư đỏ lửa, nhưng không phải của hơn 45 năm trước mà là ở thời, ngày và giờ hiện tại. Thật trùng hợp khi mà đây cũng là một cuốn sách (phần nhiều) nói về chiến tranh, và hơn hết, còn về những điều đến nay ta vẫn không thể biết ai đúng, ai sai, ai phải, ai trái. Những dòng đầu của Lê Khải Việt làm tôi nhớ nhiều tới The Sympathizer của Viet Thanh Nguyen. Đơn cử cả hai đều viết về chiến tranh, đều là hành trình lội ngược về ký ức; nhưng còn hơn thế, đó là nỗ lực nhằm lộn trái cái tôi, đi sâu vào trong câu hỏi muôn đời của cái căn bản nhất và cốt tủy nhất khi sinh ra dưới nhân dáng con người.

Tôi cũng rất thích Austerlitz của W. G. Sebald vì những dòng hồi tưởng dài ngoằng, về những nhà ga và những con người nay đã chìm vào dĩ vãng. Càng thích hơn nữa những tấm ảnh trong cuốn sách ấy, vì đó là những hiện-thực-hóa câu văn để cho tâm trí bớt phần mỏi mệt vì những tưởng tượng phải vắt kiệt ra để tiêu hóa chúng. Và trong cuốn sách này, ngôi miếu cũ với ký hiệu EE vòng ngoài chữ C, tấm ảnh về chiếc trực thăng trên nóc chuồng cu vào ngày 29 tháng Tư hay cảnh chạy loạn của một gia đình đông đúc từ An Lộc chạy ra Sài Gòn… thực sự khiến tôi thích thú. Tôi hỏi anh về cảm hứng viết nên cuốn sách này, bởi nhẽ, những tấm ảnh, tư liệu hay những tưởng tượng khơi nguồn ngòi bút là một ấn tượng vô cùng sâu xa mà ta không thể chối cãi, dẫu ở vị thế nào hay chịu ảnh hưởng ra sao.

*

Dễ thấy một vài câu chuyện trong Chuyến bay tháng ba được khơi nguồn dựa trên những tư liệu lịch sử. Vậy quá trình sáng tạo nên cuốn sách này diễn ra thế nào, thưa anh?

Tôi khởi viết những truyện ngắn trong tập này từ cảm hứng của người viết, chứ không phải từ tư liệu lịch sử. Đương nhiên, khi viết tôi dựa trên những tư liệu lịch sử nhất định chứ không hoàn toàn hư cấu. Ví dụ như chi tiết về người đội trưởng toán biệt kích là dựa theo chuyện có thật của một vị cựu binh Mỹ ở Việt Nam mà vài năm trước người ta bàn tán khá sôi nổi. Ngoài cuốn sách của tác giả Vistica (The Education of Lieutenant Kerrey – Người viết) về chuyện này, tôi còn đọc một vài cuốn hồi ký khác của những biệt kích Navy SEAL để hy vọng miêu tả chân thực hơn.

Những chi tiết trong những truyện khác đều dựa vào những gì tôi đã đọc được trong sách lịch sử. Đó là phần tư liệu. Quay trở lại câu hỏi chính. Tôi viết những truyện ngắn trong cuốn sách này hoàn toàn dựa vào cảm hứng muốn kể lại cái gì đó, bằng cách nào đó, về một cuộc chiến và một thực tại mà tôi hình dung được. Về chuyện sáng tạo, thông thường trước khi viết tôi hay đọc lại vài trang của những tác giả ưa thích. Điều đó đem lại một chút kích thích để tay mình đỡ ngại ngùng hơn trên bàn phím.

*

Và cũng phải khẳng định rằng, đối với tôi, đây dường như không phải là một tuyển tập truyện ngắn dẫu cho dung lượng vừa phải của những kết cấu cấu thành nên nó. Mà cách gọi khác (có vẻ toàn diện và đầy đủ hơn) rằng chính nhưng văn bản này của Lê Khải Việt đã xây nên một bức tranh khớp nối hoàn hảo giữa ba thành tố - ký ức, thời gian và sự chuyển dời, để làm nên một cõi nhân tình thế thái mênh mông và đầy chuyển động. Trong đây ẩn chứa những câu chuyện tình của anh bộ đội và cô học sinh, những mưu mô tiếm quyền tự sâu bản chất hay những mối quan hệ đời sống đã đến hồi kết… mà anh gọi rằng là những “đoản văn vô thưởng vô phạt”. Nhưng rốt cuộc rồi liệu có hay không cũng không quan trọng, bởi lẽ, cái lững thững, lơ lửng; cái mất kết nối hay vô căn cước này đã xuất hiện tràn khắp một vùng không gian – có thể là những đặc trưng chiến tranh, mà cũng có thể rất là con người; không chút ngơi nghỉ hay khi vắng bóng.

*

Nói về thể loại của Chuyến bay tháng ba, liệu có thể cho rằng đây là một “tập truyện ngắn” bởi những sợi dây liên kết dẫu cho mong manh nhưng có tồn tại giữa các văn bản?

Nếu có một liên kết chung nào, như một chất liệu nền, thì đó là chiến tranh. Thật ra cũng có một hai truyện trong tập này chỉ là những đoản văn vô thưởng vô phạt, không dính dáng gì đến chiến tranh.

Nhân vật trong các câu chuyện của anh thường không có một căn cước xác định. Liệu đó là đặc tính của ký ức – sự bất định, hay ngầm ý rằng ai rồi cũng sẽ trở thành “nạn nhân” trong chính “trang sử” riêng bản thân mình?

Tôi cũng không rõ nữa. Có lẽ trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.

*

Là tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, thế nhưng Chuyến bay tháng ba đưa tôi đi vào nhiều vùng từ trường khác nhau của các cách viết mới lạ. Tôi phát hiện một chút Kafka trong Đấu tranh, một chút George Saunders trong Căn phòng, và sau này, cả một chút lửng lơ của Sâm Thương hay Phan Triều Hải (như anh trả lời trong cuộc phỏng vấn) ở Ăn tối hay Ba điều ước. Nếu một người ngủ dậy bỗng chốc biến thành gián, thì ở đây bạn sẽ thấy loài rồng trên nóc miếu thờ trở về trong mơ. Nếu cặp đôi bị đưa vào phòng thí nghiệm thử loại Verbaluce ™ của một nhà khoa học dở hơi nào đó; thì căn phòng và một chỗ trũng trong cuốn sách này sẽ là điểm tụ phối cảnh làm trầm trọng hơn não trạng đã phân hai cực bởi do chiến tranh.

*

Một vài khoảnh khắc anh viết dễ gợi nhớ tới màu sắc của Franz Kafka hay George Saunders. Những nhà văn nào đã có tác động rất lớn lên anh?

Chắc chắn là Franz Kafka rồi. George Saunders cũng rất hay nhưng tôi chỉ mới đọc một cuốn của ông. Gần đây thì có Ray Bradbury. Tác giả Việt Nam thì Phạm Công Thiện, Nguyễn Huy Thiệp, Phan Triều Hải.

*

Và như đã nói, bởi những ý tưởng vượt thoát ra khỏi chiến tranh, tiếm quyền, tội ác… – bỗng chốc tôi nhận ra anh chỉ đang mượn ký ức như lớp vỏ ngoài của loài tôm sông. Cái lớp nhờ nhờ, sệt sệt mà ta đem đun hay đi nướng lên thành ra đỏ tươi vô cùng bắt mắt ấy thật ra vô nghĩa. Những điều xấu xa ẩn giấu trong đây qua lớp từ ngữ nay được mài khảm thành những cổ vật chìm giấu nghìn năm, nhưng có điểm chung là dù cho chúng được xử lý theo cách nào thì, rồi cũng sẽ vô dụng như lớp vỏ ấy, không một chút lợi cho vật bị ăn và người muốn ăn. Tôi hỏi anh vì sự vô nghĩa lý của chiến tranh, nhưng ngay cả khi chiến tranh xong rồi; niềm tỵ hiềm của người Việt hải ngoại với chính sách nhập cư của Trump, việc rút ra khỏi các chương trình bảo vệ khí hậu, việc xâm chiếm của đô thị hóa… thế sao vẫn còn? Anh không trải lời nhưng tôi biết một mặt nào đó, thinh lặng là câu trả lời tốt nhất.

*

Dễ thấy anh mượn chiến tranh chỉ như bộ mặt cho những “trò con trẻ” ẩn giấu đằng sau nhân tình thế thái. Dưới góc nhìn của một tác giả văn chương, anh nghĩ chất liệu đời sống có ảnh hưởng thế nào đến một cây viết?

Rõ ràng là cuộc sống chung quanh ảnh hưởng rất lớn đến một người viết. Ví dụ gần và rõ nhất là sự khác biệt trong văn chương của hai miền đất nước khi cuộc chiến diễn ra. Ở nước ngoài, ví dụ trường hợp Raymond Carver, ta có thể thấy sự thay đổi trong văn phong những tập truyện khi đời sống của ông thay đổi xoay quanh chứng nghiện rượu và cuộc hôn nhân trễ.   

Định hình nên cách viết riêng với cuốn sách đầu tay này, tôi hỏi anh thêm về những suy nghĩ rất riêng đối với nền văn chương hiện nay. Một thời đã qua của những tài năng sáng rực như Trần Dần, Nguyễn Huy Thiệp; một thời tiếp nối của Thuận, Nguyễn Bình Phương; hay vươn ra nước ngoài ở phía bên kia địa cầu với Ocean Vương và Linda Lê. Những nhà văn Việt Nam ở ngay tại đây và thời điểm này đối với văn học trong nước dường như đang đi xa quá. Họ không đủ sâu cũng chẳng đủ sát, họ nhợt nhạt, phai mờ và chìm nghỉm trong sự chọn lựa của độc giả. Họ ca ngợi những niềm ngây ngô tưởng như khó bề gọi thành văn chương. Họ già nua, cũ kỹ, hay nói như lời Nguyễn Huy Thiệp, rằng họ “tự phát thành danh” để “tùy tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa”.

*

Văn chương phương Đông hầu như luôn hướng về những bi kịch từ trong quá khứ. Liệu anh có nghĩ đã đến lúc những cây viết trẻ nên chuyển dịch sang những vấn đề mới hơn, sát sao hơn, ngay-bây-giờ và ở-tại-đây?

Tôi không nghĩ mình đọc đủ nhiều để nhận định về chuyện này. Tuy nhiên, đề tài mà tác giả lựa chọn để viết không nên bị bó buộc trong bất cứ giới hạn hay thành kiến. Quan trọng là tác giả đó viết hay hay dở, có chạm đến người đọc được không. Ngoài ra, những tác phẩm về quá khứ cũng có thể đang nói về hiện tại.

*

Từ quá khứ xa xưa hiện về trong ký ức đến cái hiện đại ào vào đời sống hiện nay, từ những xung đột ngoại quan đến những đối lập đời sống nội vi, từ vấn đề di dân đến người Việt hải ngoại ủng hộ các chính sách hạn chế nhập cư, từ biến đổi khí hậu đến đô thị hóa... Chuyến bay tháng ba là một nỗ lực tìm về những con người chung đã kịp chuyển hóa và bị đặt vào trong cảnh huống lưỡng nan của tình thế làm người. Sau rốt, những hệ giá trị đạo đức nào còn lại? Hay thậm chí, thực chất còn không hiện diện chính khái niệm ấy? Tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, nhưng gợi mở và đầy dấu ấn.

Hết.

minh. (thực hiện)

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Trần Vân Anh: Về lòng can đảm, tôi nghĩ mình có bao la

Published

on

By

Tran Van Anh Hom nay me co vui khong

Tác giả Trần Vân Anh là một chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm: Editor-in-chief của Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt, Content Manager tại Tập đoàn CMG.Asia, Senior Beauty Editor của Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion…

Nhưng bên cạnh những chức danh đó, chị còn là một người mẹ.

Tác giả từng trải qua trầm cảm khi một mình nuôi dạy hai đứa con khiếm khuyết, rồi tự chữa lành, vượt mặc cảm khi nhận ra: bản thân phải hạnh phúc thì mới trở thành một người mẹ tốt của hai con.

Quyển sách Hôm nay mẹ có vui không? không là một cuốn sách nuôi dạy con khuôn mẫu. Nó mang dáng dấp của một cuốn nhật ký của bản thân tác giả hơn, nơi chị nhìn lại, suy ngẫm, và viết nên chính cuộc đời mình. Không đơn thuần là hành trình làm mẹ, đó còn là hành trình của người phụ nữ hiện đại, sai lầm rồi trưởng thành, sống vì con, và vì cả chính mình.

*

Chị có nhiều năm làm viết về mảng làm đẹp, sở hữu một website về làm đẹp vì sao chị lại viết cuốn sách đầu tay về chủ đề tâm lý giáo dục cho phụ nữ chứ không phải về chủ đề làm đẹp?

Tôi coi làm mẹ là sự nghiệp lớn nhất cuộc đời mình. Cho dù tôi rất yêu nghề nhưng phải thú thật là tôi luôn cố gắng cân bằng và dành ưu tiên cho việc làm mẹ nhiều hơn. Thế nên tôi luôn tìm tòi, học hỏi, khám phá bản thân cũng như từ những người xung quanh sao cho sự nghiệp làm mẹ của mình dễ chịu nhất, các con lớn lên hồn nhiên vui vẻ nhất. Cuốn sách Hôm nay mẹ có vui không? chính là những đúc kết khởi đầu chân thật nhất của tôi về sự nghiệp làm mẹ.

Là một người mẹ đơn thân, lại có công việc bận rộn, làm thế nào chị hoàn thành tốt vai trò làm mẹ đồng thời có một cuộc sống cá nhân vui vẻ?

Thời gian và lòng can đảm là hai thứ cần thiết nhất để một người mẹ đơn thân vừa có thể làm mẹ tốt vừa có thể tận hưởng cuộc sống cá nhân.

Vì thời gian là hạn hẹp trong một ngày nên tôi phải sắp xếp mọi thứ sao cho hợp lý nhất. Sai lầm lớn nhất của phụ nữ chúng ta là ôm đồm mọi thứ một mình trong khoảng thời gian hạn hẹp ấy. Tôi không như vậy, tôi sắp xếp và cùng thực hiện nó việc với các con. Có thể mọi thứ sẽ không hoàn hảo nhất, nhưng không sao, mẹ con tôi tự xoay sở và vui với những gì đang có.

Về lòng can đảm, tôi nghĩ mình có bao la. Vậy nên tôi không sợ bất cứ khó khăn, vất vả nào. 

Theo chị, điều gì là khó khăn nhất với phụ nữ hậu ly hôn?

Cảm giác chông chênh là không thể tránh khỏi. Cho dù bạn chủ động ly hôn thì cũng phải mất một thời gian để cuộc sống quay trở lại bình thường. Ngoài ra, nếu có con cái, người phụ nữ còn phải chăm sóc phần tinh thần - cảm xúc cho những đứa con của mình khi ba mẹ chúng không còn sống chung nữa.

Vậy nên, vực lại tinh thần là điều khó khăn nhất đối với phụ nữ.

Tháng 3 là tháng người ta nói về nữ quyền, chị nghĩ nữ quyền là gì?

Nữ quyền chắc chắn không phải là làm sao đẩy đàn ông vào bếp nấu nướng hoặc bắt chồng làm việc nhà. Theo tôi nữ quyền là quyền được đẹp, được độc lập tự do nhất là trong tư tưởng và cái quyền này đã có, chỉ là phụ nữ có dám dành lấy hay không thôi. Tôi cũng nghĩ rằng, nữ quyền chính là nữ tính - một đặc quyền rất riêng của phụ nữ. Ta vẫn hạnh phúc mà không phải trở thành "như đàn ông" đó mới là hay! 

Theo chị điều người đàn ông cần làm để khiến người phụ nữ hạnh phúc?

Cũng còn tuỳ xem người phụ nữ đó coi trọng điều gì nhất trong cuộc sống. Vậy nên trong cuốn sách Hôm nay mẹ có vui không? tôi có đề cập đến ngôn ngữ tình yêu. Một cô gái chỉ cảm nhận tình yêu thông qua sự chăm sóc mà người đàn ông lại chỉ biết nói lời hay thì không được. Hoặc cô vợ thích quà mà anh chồng không biết tặng quà cũng không xong.

Với riêng cá nhân tôi thì một người đàn ông cho tôi tự nhiên được là chính mình sẽ khiến tôi hạnh phúc nhất.

Đó có phải là lý do chị chọn lấy người nước ngoài sau ly hôn? Phải chăng đàn ông Việt Nam không cho chị điều ấy?

Trai tây trai ta cũng đều có ưu và nhược điểm cả. Tôi thấy xung quanh bạn bè nhiều người chồng người cha tốt, có lẽ tôi không may mắn gặp được (cười).

Nhưng phải thú nhận một điều rằng phụ nữ hiện đại thật sự sẽ có xu hướng thích đàn ông phương Tây hơn. Có thể là nền văn hoá của họ coi trọng phụ nữ hơn chúng ta, họ được sinh ra trong bầu không khí tự do phóng khoáng và bình đẳng giới. Những người đàn ông chứng kiến bà, mẹ, chị em gái của mình tự do, độc lập, không phán xét nhau, không khắc nghiệt với bản thân và người khác. Lối sống của chính những phụ nữ đó là nền tảng văn hoá để đàn ông phương Tây có cách hành xử văn minh hơn.

Chị có cho con trai đọc sách của mình không? Cảm xúc con chị như thế nào

Tôi "bắt" các con đọc sách của mẹ (cười). Tôi bảo chúng rằng các con nên biết là mẹ viết gì về các con trong sách chứ, lỡ nói xấu thì sao. Gấu Tôm đều bất ngờ về cuộc sống thời thơ ấu của mẹ. Các con tự hào vì mẹ ra sách, hai đứa còn xin mẹ kí để đem tặng cô giáo.

Dự định trong tương lai của chị sau quyển sách này?

Tôi có nhiều đam mê và dự định lắm, nhưng năm nay bên cạnh viết sách, tôi ưu tiên các cho các hoạt động cộng đồng. Đầu năm 2021 tôi vừa hoàn thành công trình thư viện cho bà con ở thôn 2, Hoà Ninh, Di Linh Lâm Đồng với 1521 quyển sách chọn lọc. Tôi tin rằng con cái học thông qua việc làm của ba mẹ. Tôi lao động chăm chỉ, tận hưởng thành quả lao động của mình và chia sẻ với những người xung quanh, các con tôi luôn đồng hành cùng mẹ trong tất cả các hoạt động ấy!

*

Kết thúc bài phỏng vấn, xin được trích cảm nhận của nhà thơ, nhà báo Khánh Chi về tác giả Trần Vân Anh cũng như về quyển sách Hôm nay mẹ có vui không:

---
“Vân Anh chia sẻ bản thân mình, như cách cô sống. Cô hạnh phúc, vui sướng khi được bày tỏ, mở rộng con người mình, bóc từng lớp tâm lý, đời sống của mình để tự hiểu mình nhiều hơn. Và người đọc cứ thế mà đi theo cô trong hành trình dẫn dắt đó. Có ai đó, bắt gặp mình trong cô, sẽ nhận về thêm những kinh nghiệm sống. Có ai đó hoàn toàn khác cô thì sẽ như có thêm biên độ mới để hiểu biết về những cuộc đời đi qua tổn thương và tự phục hồi.”
---

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng