Nối kết với chúng tôi

Cafe sáng

Nhật Bản thay đổi hình ảnh trên tờ tiền mệnh giá 10.000 yên

Để kỉ niệm dấu mốc Nhật hoàng mới lên ngôi, Nhật Bản sẽ thay đổi hình ảnh trên mệnh giá tờ tiền 10.000 yên, 5.000 yên và 1.000 yên. Được biết, đây là lần đầu tiên Nhật Bản thay đổi mẫu tiền từ năm 2004.

Published

on

Theo đài NHK, Nhật Bản vừa công bố 3 mẫu tiền giấy mới. Theo đó, chân dung nhà tư bản Shibusawa Eiichi (1840-1931) sẽ xuất hiện trên tờ tiền mệnh giá 10.000 yên.

Shibusawa Eiichi được mệnh danh là “Cha đẻ của chủ nghĩa tư bản Nhật”. Tầm quan trọng của ông đối với nền kinh tế, văn hóa Nhật có thể so sánh với sức ảnh hưởng của vua thép Dale Carnegie hay trùm xe hơi Henry Ford đến Hoa Kì. Ông là người đặt nền móng xây dựng cho hầu hết ngành nghệ kinh doanh hiện đại của Nhật Bản, đặc biệt là hệ thống ngân hàng. Ông giúp thành lập và khởi nghiệp hơn năm trăm công ty lớn nhỏ theo mô hình cổ phần hóa, tiền đề của nhiều tập đoàn lớn mạnh hiện nay.

Nguồn ảnh: Nippon.com

Các bạn đọc yêu sách Việt Nam, nếu muốn tìm hiểu thêm về cuộc đời ông, có thể tìm đọc cuốn Nhà tư bản lỗi lạc thời Minh Trị Shibusawa Eiichi. Tác giả Shimada Masakazu với nguồn tư liệu và phương pháp cẩn trọng đã phác họa cuộc đời Shibusawa Eiichi, từ khi ông còn là một cậu bé nông dân cuối thời Mạc phủ Tokugawa cho đến khi ông trở thành một nhân vật trọng yếu về kinh tế của nước Nhật thời Minh Trị, đồng thời phân tích những đóng góp lớn lao của Shibusawa trong quản trị, tổ chức doanh nghiệp, chính sách kinh tế, giáo dục, và đặc biệt là xây dựng ý thức về trách nhiệm xã hội trong giới doanh nghiệp Nhật từ rất sớm.

Nhà tư bản lỗi lạc thời Minh Trị Shibusawa Eiichi

“Có rất nhiều người đã đóng góp cho sự hình thành một đất nước Nhật Bản hiện đại trong các lĩnh vực như chính trị và tư tưởng, nhưng chỉ có rất ít người có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh. Trong bối cảnh đó, Shibusawa Eiichi (1840-1931) là một trường hợp ngoại lệ. Theo nhà kinh tế học Tsuchiya Takao (1896-1988), người được xem là một chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về Shibusawa: Shibusawa đã đạt được danh tiếng là “nhà lãnh đạo tối cao của nền tư bản Nhật Bản”, với ấn tượng phổ biến về ông như là một “nhà lãnh đạo cao quý và vị tha đã chủ trương kết hợp luân lý và đạo đức kinh doanh”.

(Shimada Masakazu)

Trước Shibusawa Eiichi, danh nhân được minh họa trên tờ 10.000 yên Nhật là nhà tư tưởng Yukichi Fukuzawa, người đã rất quen thuộc với bạn đọc Việt Nam qua cuốn sách Khuyến học.

Khuyến học

Bên cạnh đó, hình ảnh nhà giáo dục Tsuda Umeko (1864-1929) và bác sĩ – nhà vi khuẩn học Kitasato Shibasaburo (1853-1931) cũng sẽ lần lượt xuất hiện trên tờ 5.000 yên và 1.000 yên.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Cafe sáng

Nobel Văn học 2021 gọi tên Abdulrazak Gurnah – nhà văn da đen thứ hai nhận vinh dự này

Abdulrazak Gurnah, nhà văn người Tanzania được vinh danh vì những đào sâu không khoan nhượng và đầy trắc ẩn về tác động của chủ nghĩa thực dân, và số phận của những người tị nạn tại lằn ranh chông chênh giữa các nền văn hóa và lục địa.

Published

on

Abdulrazak Gurnah, năm nay 72 tuổi, là nhà văn da đen đầu tiên nhận giải Nobel Văn học sau Toni Morrison (1993). Không ít người cho rằng việc trao giải cho ông là nỗ lực đền bù quá đỗi muộn màng sau nhiều năm chỉ tập trung vào các tác giả Âu-Mỹ. Đồng thời, sau hơn một thập kỷ dài chờ đợi, ông cũng là người châu Phi đầu tiên nhận được vinh dự này, sau Wole Soyinka (Nigeria, 1986), Naguib Mahfouz (Ai Cập, 1988), Nadine Gordimer (Nam Phi, 1991), John Maxwell Coetzee (Nam Phi, 2003) và Doris Lessing (Anh-Zimbabwe, 2007).

© Niklas Elmehed, Nobel Prize Outreach

Trong cuộc họp báo diễn ra ngày 08.10.2021, Anders Olsson - chủ tịch ủy ban trao giải năm nay - đã phát biểu: Gurnah “với sự kiên định và tấm lòng nhân ái cao cả, đã thấu hiểu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân lên mảnh đất Đông Phi và những tác động của nó lên cuộc sống của người dân buộc phải xa xứ”.

Adbulrazak Gurnah là ai trên bản đồ văn chương thế giới?

Lớn lên tại Zanzibar - một quần đảo ngoài khơi Tanzania, chưa bao giờ Gurnah nghĩ đến chuyện một ngày nào đó mình sẽ trở thành nhà văn. Ông luôn tin rằng mình sẽ làm “một cái nghề hữu ích, đại loại như là một kỹ sư vậy”.

Tuy nhiên, cuộc nổi dậy bạo lực vào năm 1964 đã buộc Gurnah - ở tuổi 18 - phải trốn sang Anh Quốc. Khổ sở, nghèo đói, nhớ nhà, ông bắt đầu viết những dòng vụn vặt về quê hương vào nhật ký, rồi phát triển thành những câu chuyện dài hơn, rồi về trải nghiệm của những con người khác. Những suy tư tản mạn đó, cùng thói quen viết để thấu hiểu và ghi chép lại tình cảnh tha hương của bản thân, cuối cùng đã tạo nên cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông, sau đó là chín cuốn nữa - những tác phẩm khám phá đau thương kéo dài của chủ nghĩa thực dân, chiến tranh và ly hương.

“Điều thúc đẩy toàn bộ trải nghiệm viết lách đối với tôi là ý niệm đánh mất vị trí của mình trên tấm bản đồ thế giới,” ông nói.

Gurnah thường đào sâu khám phá các chủ đề về sự tha hương và bản chất của gắn kết. 10 tác phẩm của ông bao gồm Memory of Departure (tạm dịch Ký ức của cuộc xa rời), Pilgrims Way (tạm dịch Con đường hành hương) và Dottie, tất cả đều đề cập đến trải nghiệm của người nhập cư tại Anh; Paradise (tạm dịch Thiên đường) lọt vào danh sách rút gọn Giải thưởng Booker năm 1994, viết về một cậu bé sống tại quốc gia Đông Phi bị thực dân xâm lược; và Admiring Silence (tạm dịch Sự im lặng đáng ngưỡng mộ), kể về một thanh niên rời Zanzibar đến Anh, nơi anh kết hôn và trở thành một giáo viên. Tác phẩm gần đây nhất của ông, Afterlives (tạm dịch Những kiếp sau), khám phá những ảnh hưởng kéo dài nhiều thế hệ của chủ nghĩa thực dân Đức tại Tanzania và cách thức nó chia rẽ các cộng đồng.

Ảnh: The Independent

Olsson phát biểu, các nhân vật trong tiểu thuyết của ông “thấy bản thân đứng trong hố sâu ngăn cách giữa các nền văn hóa và lục địa, giữa cuộc sống bị bỏ lại phía sau và cuộc sống mai này, đương đầu với sự phân biệt và định kiến chủng tộc, nhưng cũng buộc bản thân phải im lặng trước sự thật hoặc tự viết lại lịch sử để tránh xung đột với thực tế.”

Thông qua các tác phẩm học thuật và hư cấu của mình, ông luôn cố gắng thấu hiểu “cách thức mà chủ nghĩa thực dân đã biến đổi thế giới, và cách những người sống sót vẫn đang lý giải trải nghiệm ấy và những vết thương nó gây nên”.

Tiếng mẹ đẻ của Gurnah là tiếng Swahili, nhưng ông đã sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ văn học của mình, và cách hành văn của ông thường mang dấu vết của tiếng Swahili, tiếng Ả Rập và tiếng Đức. Ông mượn những hình ảnh và giai thoại từ Kinh Qur’an, cũng như từ thơ Ả Rập và Ba Tư, đặc biệt là Nghìn lẻ một đêm. Đôi khi, ông phải lên tiếng phản đối việc các nhà xuất bản muốn in nghiêng hoặc Anh ngữ hóa các tham chiếu và cụm từ tiếng Swahili và Ả Rập trong sách của mình.

Ông nói: “Có một cách mà nhà xuất bản Anh, và có lẽ cả nhà xuất bản Mỹ, luôn muốn làm cho những điều xa lạ vĩnh viên là những điều xa lạ. Họ muốn tôi in nghiêng nó hoặc thậm chí viết cả một bảng chú giải. Và tôi nghĩ không, không, không, không.”

Phản ứng của giới mộ điệu văn chương

Tin tức về giải Nobel năm nay được các tiểu thuyết gia và giới học giả tán thành - những người từ lâu đã lập luận rằng tác phẩm của Gurnah xứng đáng nhận được sự quan tâm từ đông đảo các độc giả.

Tiểu thuyết gia Maaza Mengiste mô tả văn chương của ông “giống một lưỡi dao nhẹ nhàng, chậm rãi đâm vào”. “Những câu văn của ông thoạt nhìn rất mềm mại, nhưng lực tích lũy của nó có tác động hệt như búa tạ vậy”.

Laura Winters, viết trên tờ The New York Times vào năm 1996, gọi Paradise là “một câu chuyện ngụ ngôn coming-of-age lung linh, xiêu vẹo,” còn Admiring Silence là tác phẩm “miêu tả khéo léo nỗi thống khổ của một người đàn ông bị kẹt giữa hai nền văn hóa, mỗi nền văn hóa sẽ chối bỏ anh vì liên kết của anh với nền văn hóa còn lại.”

Nhưng mặc dù được tác giả Giles Foden ca ngợi là “một trong những nhà văn vĩ đại nhất châu Phi còn sống”, sách của Gurnah hiếm khi nhận được thành công thương mại như một số tác phẩm đoạt giải trước đó.

Lola Shoneyin, giám đốc Liên hoan Sách và Nghệ thuật Ake ở Nigeria, chia sẻ rằng bà hy vọng giải Nobel sẽ thu hút lượng lớn độc giả tại lục địa Phi châu quan tâm đến Gurnah, nơi tác phẩm của ông không được nhiều người biết đến. Bà đồng thời hy vọng các tiểu thuyết lịch sử của ông có thể truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ suy ngẫm sâu sắc hơn về quá khứ của đất nước mình.

“Nếu chúng ta không chủ động nhìn nhận kỹ lưỡng về những gì đã xảy ra trong quá khứ, thì làm sao chúng ta có thể xây dựng một tương lai rạng rỡ cho bản thân tại châu lục này?”

Ngày nay, những chủ đề trong văn chương của Gurnah đặc biệt mang ý nghĩa cấp bách không kém, khi cả châu Âu và châu Mỹ đang hứng chịu những chỉ trích dữ dội khi áp dụng những chính sách chống người nhập cư và người tị nạn, khi bất ổn chính trị và chiến tranh đã khiến nhiều người phải tha hương. “Khi những quốc gia thịnh vượng này phát biểu: chúng tôi không muốn nhận thêm người nhập cư, chẳng khác gì một kiểu hèn hạ và keo kiệt. So sánh với số lượng những người nhập cư gốc Âu thì họ chỉ phải nhận một nhúm người - theo đúng nghĩa đen - thôi”.

Những ai đã nhận giải thưởng Nobel Văn học những năm gần đây?

Năm ngoái, nhà thơ người Mỹ Louise Glück đã được trao giải Nobel Văn học vì những vần thơ “với vẻ đẹp khổ hạnh khiến sự tồn tại của cá nhân trở thành sự tồn tại phổ quát”. Giải thưởng của bà được coi là sự tái lập cần thiết sau nhiều năm bê bối của hội đồng Nobel.

Louise Glück là ai mà đạt giải Nobel Văn chương 2020?

Năm 2018, hội đồng đã hoãn trao giải sau khi chồng của một thành viên bị cáo buộc có hành vi sai phạm tình dục và để lộ tên cách ứng viên cho nhà cái. Chồng của thành viên hội đồng này, Jean-Claude Arnault, sau đó đã bị kết án hai năm tù vì tội hiếp dâm.

Năm 2019, hội đồng trao giải Nobel 2018 cho Olga Tokarczuk, một tiểu thuyết gia phong cách thể nghiệm người Ba Lan. Nhưng viện hàn lâm đã phải đối mặt với những lời chỉ trích vì đã trao giải thưởng năm 2019 cho Peter Handke - một tác giả và nhà viết kịch người Áo, người từng bị cáo buộc tội diệt chủng vì lên tiếng hoài nghi các sự kiện trong Chiến tranh Balkan những năm 1990 - bao gồm cả vụ thảm sát Srebrenica, trong đó có khoảng 8.000 người đàn ông Hồi giáo và các bé trai bị sát hại.

Một góc nhìn chính trị về Giải Nobel Văn chương 2019

Những nhà lập pháp ở Albania, Bosnia và Kosovo, cũng như một số tiểu thuyết gia nổi tiếng (bao gồm Jennifer Egan và Hari Kunzru) đã lên án quyết định này.

Hết.

Mèo Heo lược dịch từ tạp chí The New York Times.

Đọc bài viết

Cafe sáng

Bookish kỉ niệm 100 năm sinh nhật cố nhạc sĩ Phạm Duy

Published

on

*Tính đến tháng 01.2014
Đọc bài viết

Cafe sáng

Mừng kỉ niệm 100 năm sinh nhật cố nhạc sĩ Phạm Duy, cây đại thụ của làng âm nhạc Việt Nam

Trải qua những bể dâu của tiến trình lịch sử, những ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy vẫn có sức sống bền bỉ và kết nối với trái tim những người yêu nhạc. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm sinh nhật ông, hãy cùng Phương Nam điểm lại những dấu son trong cuộc đời và sự nghiệp của một nghệ sĩ tài hoa, người đã để lại cho đời một gia tài âm nhạc và nghiên cứu đồ sộ.

Published

on

By

Phạm Duy (05.10.1921 - 27.01.2013) là một trong những nhạc sĩ lớn của nền Tân nhạc Việt Nam. Âm nhạc của ông là sự kết hợp độc đáo giữa nền tảng âm nhạc cổ truyền Việt Nam với kỹ thuật, phong cách của nhạc hàn lâm Tây phương, tạo nên nhiều tác phẩm có tính đột phá và giàu sức ảnh hưởng đối với các nhạc sĩ thuộc nhiều thế hệ. Ngoài ra, ông còn là một nhà nghiên cứu âm nhạc thực thụ với những công trình khảo cứu về âm nhạc Việt Nam có giá trị.

Chân dung Nhạc sĩ Phạm Duy.

Qua hơn 70 năm sự nghiệp, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước, Phạm Duy đã để lại cho đời gia tài âm nhạc khổng lồ với hơn 1000 ca khúc do ông sáng tác hoặc viết lời. Những sáng tác của ông không chỉ nhận được sự tán thưởng của người trong giới mà còn giành được nhiều tình cảm của công chúng. Điều đó không hề dễ đạt được đối với một tác giả.

Từ sau sáng tác đầu tay Cô hái mơ (phổ thơ Nguyễn Bính, 1942), Phạm Duy bằng sự tự học nhạc, tự tập đệm đàn guitare và đi hát đã chính thức góp mặt vào sinh hoạt âm nhạc nước nhà. Để rồi từ đó, âm nhạc Phạm Duy được ngân vang trên toàn cõi Việt Nam. Ca khúc của ông len lỏi từ khắp làng xóm của thôn quê, cho đến mọi ngõ ngách của thành thị. Người ta hát những Tình ca, Nghìn trùng xa cách, Áo anh sứt chỉ đường tà; nâng niu những Nương chiều, Quê nghèo,  Bà mẹ Gio Linh, Bà mẹ quê, và yêu mến những Nụ tầm xuân, Đưa em tìm động hoa vàng, Ngậm ngùi, Kiếp nào có yêu nhau,… Có thể người ta không nhớ tên, không thuộc hết lời ca khúc, nhưng tất cả đều có chung sự rung cảm khi nghe giai điệu nhạc của Phạm Duy, cảm nhận được tình người, tình yêu quê hương thấm đẫm trong từng câu hát.

Một người yêu nhạc – thi sĩ Nguyễn Đình Toàn đã viết: “Khi người ta cố giữ giọt nước mắt trong lòng hay để nó lăn dài trên má; khi người ta cười nụ nhỏ hay cất tiếng hát to; khi người ta quỵ ngã hay lúc hăng hái dấn bước trên đường; người ta đều có cho mình một câu hát của Phạm Duy.”

Bắt đầu từ năm 2005, Công ty CP Văn hóa Phương Nam PNC (đơn vị chủ quản của Phương Nam Phim, Phương Nam Book, Nhà Sách Phương Nam) đã ký hợp đồng độc quyền khai thác tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy tại Việt Nam, không chỉ giới hạn trong sự nghiệp âm nhạc (các ca khúc do Phạm Duy sáng tác, các ca khúc nhạc ngoại do Phạm Duy đặt lời Việt) mà còn mở rộng ra các công trình biên khảo, sách hồi ký,… Trong đó, Phương Nam Phim đã ra mắt công chúng yêu nhạc series Phạm Duy gồm 8 CD album với những giọng ca quen thuộc như Duy Quang, Ánh Tuyết, Quang Linh, Thu Minh, Quang Dũng, Đức Tuấn. Album vol.3, chủ đề “Tình Hoài Hương” là CD đặc biệt nhất khi có sự góp mặt của nữ danh ca Thái Hiền - cô con gái đầu tiên của nhạc sĩ Phạm Duy.

Phương Nam Book đã xuất bản nhiều ấn phẩm nghiên cứu, biên khảo hay và có giá trị của Phạm Duy như Tính Dân Tộc Trong Âm Nhạc Phạm Duy, Tân Nhạc Việt Nam Thở Ban Đầu, Âm Nhạc Học Và Hành, đặc biệt là tác phẩm Đặc Khảo Về Dân Nhạc Ở Việt Nam được in lần đầu từ hơn 50 năm trước, đã và đang được nhiều thế hệ yêu âm nhạc dân gian, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều thế hệ sinh viên chuyên ngành âm nhạc dân gian đã sử dụng sách này để làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu của họ. Ngoài ra, Phương Nam Book còn xuất bản sách nhạc gồm tập hợp những bản nhạc quen thuộc của nhạc sĩ Phạm Duy như sách nhạc Vang Vọng Một Thời, tình ca Phạm Duy - Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng,… Bên cạnh đó, Phương Nam đã tổ chức nhiều liveshow biểu diễn sân khấu nghệ thuật với những tuyệt phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy, diễn ra tại Nhà hát Hòa Bình dưới sự chỉ đạo và hòa âm phối khí của các ê-kíp và nhạc sĩ tên tuổi tại Việt Nam.

Mối quan hệ thân tình giữa Phương Nam và gia đình nhạc sĩ Phạm Duy được xây dựng trên nền tảng tôn trọng, chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau. Thuở còn sinh thời, nhạc sĩ Phạm Duy đã đồng hành cùng Phương Nam trong nhiều hoạt động, sự kiện, cũng như hỗ trợ Phương Nam vượt qua những giai đoạn khó khăn và cùng Phương Nam tạo dựng nhiều chương trình đáng nhớ trong làng nhạc Việt.

Nhạc sĩ Trần Văn Khê đã nhận xét “âm nhạc Phạm Duy mang một dấu ấn khó phai trong dòng chảy âm nhạc Việt, và hạnh phúc hiếm có nhất: vẫn vững chãi trước ba đào thời gian”. Tại cột mốc quan trọng này, Công ty CP Văn hóa Phương Nam đã lên kế hoạch tổ chức nhiều sự kiện bao gồm liveshow biểu diễn mừng kỉ niệm 100 năm ngày sinh, phát hành album mới và sách ảnh kỉ niệm 100 năm sinh nhật nhạc sĩ Phạm Duy. Tuy nhiên, đợt bùng phát của đại dịch covid-19 từ tháng 5 đến nay đã ảnh hưởng nhiều đến tiến độ thực hiện những kế hoạch này.

Nhân 100 năm ngày sinh cố nhạc sĩ, các tác phẩm nhạc (gồm CD, nhạc hòa tấu, DVD liveshow) và sách biên khảo, sách nhạc của ông hiện đang được giảm giá tại hệ thống Nhà Sách Phương Nam trên toàn quốc và website thương mại điện tử nhasachphuongnam.com.
Chương trình kéo dài từ ngày 05.10 đến hết ngày 07.10.2021.

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng