Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 1: 1969 – 1973

Published

on

Tôi khoái nghe chuyện về những chốn xa xôi nhiều đến mức nó trở thành một loại bệnh.

Hồi ấy, quãng mười năm tươi đẹp cách bây giờ, tôi đi quanh yêu cầu mọi người kể tôi nghe về nơi họ đã sinh ra và lớn lên. Vào thời đó hẳn có một danh sách thực sự ngắn những người biết lắng nghe, vì mọi người tôi tiếp cận đều trò chuyện với tôi đầy nhiệt tình. Khi tin đồn về việc tôi đang làm lan ra, những người tôi chưa bao giờ để mắt tới bắt đầu lộ diện chỉ để kể tôi nghe chuyện của họ.

Họ luyên thuyên không dứt về bất cứ và đủ thứ chuyện hầm bà lằng, như thể đang ném đá vào trong một cái giếng cạn, rồi ra đi với cảm giác thoả mãn. Một số kể chuyện của mình đầy cao hứng, số khác thì giận dữ. Có những chuyện rõ ràng và trực tiếp, cũng có nhiều chuyện dường như không tâm điểm từ đầu chí cuối. Có những chuyện chán ngắt, những chuyện thổn thức, những chuyện đầu môi chót lưỡi, và quái đản nữa. Dù vậy, luôn luôn, tôi lắng nghe điều họ phải nói chăm chú hết sức mình có thể.  

Vì lí do gì đi nữa, hết thảy bọn họ chừng như đều buộc phải phun ra chuyện của mình–nếu không phải về một người đặc biệt nào đó, thì về thế giới nói chung. Điều đó khiến tôi nghĩ về một hộp bìa cứng lèn đầy những con khỉ. Tôi sẽ tách từng con một ra, cẩn thận phủi sạch bụi, vỗ vào mông nó, rồi thả vào những cánh rừng. Tôi chịu không biết chuyện gì sẽ xảy tới với lũ khỉ sau đó. Chắc là chúng sẽ dùng đời mình để nhai gặm hạt dẻ ở đâu đó, rồi tiêu ma. Số phận chúng vậy.

Thành thực mà nói, đó là một nhiệm vụ nặng nhọc, với phần thưởng nhỏ nhoi. Nếu có một cuộc tranh cử được tổ chức năm đó để xác định Người lắng nghe tốt nhất Thế giới, ắt tôi sẽ ẵm giải trong tay. Giải thưởng của tôi ư? Chắc là một hộp diêm làm bếp.

Một trong những người trò chuyện cùng tôi tới từ sao Thổ, còn người kia từ sao Kim. Chuyện của họ đặc biệt đáng nhớ. Tôi sẽ trích dẫn từ tay sao Thổ trước.

“Lạnh như b-băng… trên đó,” y rền rĩ. “Chỉ nghĩ tới nó thôi đủ khiến tôi phát r-rồ.”

Y thuộc nhóm cấp tiến đang đánh chiếm Giảng Khu Chín ở khuôn viên đại học của chúng ta. Khẩu hiệu của họ là “Hành động hạn định tư tưởng, chứ không phải ngược lại.” Thứ gì hạn định hành động thì y không bao giờ làm rõ với tôi, dù tôi đã hỏi. Giảng Khu Chín được trang bị một bình lọc nước uống, một điện thoại, một máy nước nóng, và, trên tầng hai, một phòng nhạc ngon lành thực sự, với hai ngàn chiếc đĩa cùng dàn loa Altec A5. So với các giảng khu đã bị đánh chiếm khác ở khuôn viên đại học (như Giảng Khu Tám, bốc mùi tởm lợm hệt phòng vệ sinh ở một trường đua xe đạp), thì nó là thiên đường. Nhóm nọ cạo râu với nước nóng mỗi sáng, thực hiện những cuộc gọi đường dài họ muốn mỗi chiều, và tụ tập nghe các đĩa nhạc mỗi tối. Vào thời điểm mùa thu đến gần, hết thảy bọn họ đều đã là những người cuồng nhạc cổ điển.       

Có đúng là họ đang tràn trề hạnh phúc với đĩa “Giao hưởng giữa hòa âm và sáng kiến/ Il cimento dell’armonia e dell’invenzione” của Vivaldi được mở to hết cỡ khi quân đoàn ba cảnh sát chống bạo động đột kích Giảng Khu Chín vào ngày tháng Mười Một quang mây hoàn hảo đó không? Dù thực tế hay hư cấu, nó tồn tại như là một trong những huyền thoại ấm lòng hơn cả xoay quanh cái năm 1969 đó.

Chính bởi vì phần nhạc đệm của những khúc nhạc xa cách trong đĩa Xô-nát dành cho Piano trong cung son thứ của Haydn mà tôi đã rón rén bước qua đống ghế dài lung lay sắp đổ được dùng như hàng rào phòng thủ cho Giảng Khu Chín. Vì lẽ nào đó cứ cảm thấy hoài nhớ, như thể tôi đang tiến bước trên con dốc phủ đầy hoa trà để tới thăm nhà một người bạn gái ở một trong những vùng xinh đẹp hơn của thành phố. Gã từ sao Thổ đẩy chiếc ghế thoải mái nhất của họ về hướng tôi, trao cho tôi một chiếc cốc chôm từ phòng thí nghiệm khoa học, đã rót đầy bia âm ấm.

“Trọng lực mạnh hơn nhiều ở trên đó,” gã nói, tiếp tục câu chuyện. “Tôi biết một gã có bàn chân bị nghiến nát khi gã phun bã kẹo su. Chỗ đó là đ-địa ngục.”

“Anh khỏi phải nói,” tôi trả lời. Tới thời điểm đó, tôi đã nằm lòng một kho tiết mục với ba trăm câu phụ xướng mà tôi có thể đưa ra để giữ cuộc trò chuyện cùng đối tượng được hỏi của mình. 

“M-mặt trời cũng bé tí. Hệt như một quả cam trên ụ nhà nhìn từ vùng giữa sân bóng chày. Nên ở đó lúc nào cũng tối đen,” gã thở dài.

“Thế sao mọi người không rời đi?” tôi hỏi. “Hẳn phải có nhiều hành tinh xinh đẹp hơn để sống chứ.”

“Chịu chết. Có lẽ vì họ được sinh ra ở đó. Đại loại thế. Như tôi, chẳng hạn. Tôi sắp về lại sao Thổ quê nhà sau khi tốt nghiệp. Để làm nó thành một nơi tốt đẹp hơn. Chính là cuộc cách mạng.”

Sao đi nữa, tôi chỉ yêu các câu chuyện về những thị trấn xa xôi. Tôi cất kín một số chuyện trong tâm trí mình, hệt như một con gấu dự trữ cho kì trú đông. Nếu nhắm mắt, tôi có thể hình dung ra những con phố, vạch ra chúng với những ngôi nhà, nghe tiếng nói của các cư dân. Thậm chí tôi còn có thể cảm giác được nhịp sống hãy còn hiền hòa không thể nhầm lẫn của họ, những người ở chốn xa có những cách lối mà tôi có thể chẳng bao giờ bắt gặp chừng nào tôi còn sống.

Ω

Đôi bận, Naoko có kể tôi nghe chuyện của cô. Tôi vẫn còn có thể nhớ rõ từng lời một.

“Em không biết nên gọi chốn đó là gì,” cô nói với giọng buồn tẻ, má tựa lên tay trong ánh nắng sáng tươi ở phòng giải lao của sinh viên. Rồi buông một tiếng cười nhẹ. Tôi chờ nàng tiếp tục. Nàng là một cô gái nói năng từ tốn và chọn lời cẩn thận.

Chúng tôi ngồi ở một chiếc bàn nhựa đỏ, một chiếc chén giấy nhét đầy mẩu thuốc lá nằm giữa. Ánh sáng dọi qua những cửa sổ cao hệt như trong một bức họa của Rubens, phân chiếc bàn chúng tôi ngồi thành hai nửa vừa khéo để tay phải của tôi được chiếu sáng còn tay trái nằm trong bóng râm.

Đấy là mùa xuân năm 1969, và bọn tôi đều hai mươi. Các tân sinh viên đang mang giày mới, mang theo những tập thời khoá mới, đầu nhồi đầy những tri thức mới, chật ních cả phòng nghỉ. Suốt cuộc trò chuyện chúng tôi nghe đủ lời phàn nàn và biện bạch khi người ta chộ mặt nhau. 

“Ý em là,” nàng tiếp tục, “anh thậm chí không thể gọi đó là một thị trấn thực sự. Chỉ có một tuyến đường sắt và một nhà ga. Một nhà ga tồi tàn đáng thương mà người lái tàu có thể vèo qua trong cơn mưa.”

Tôi gật. Suốt ba mươi giây chúng tôi thinh lặng ngồi đó, ngắm khói thuốc cuộn vòng vèo trong ánh nắng.

“Và lúc nào cũng có một con chó lững thững trên sân ga từ đầu này đến đầu kia. Loại nhà ga thế đó. Anh hình dung được chứ?”

Tôi lại gật.

“Khi anh bước khỏi nhà ga sẽ có một vòng xuyến nhỏ và một trạm buýt. Cùng một vài cửa tiệm… Những địa điểm có vẻ ngái ngủ thực sự. Đi thẳng từ đó rồi anh sẽ đến một công viên. Có cầu trượt và ba bộ xích đu.”

“Có khuôn cát không?”

“Khuôn cát ư?” Cô nghĩ một thoáng trước khi gật đầu, như thể để xác quyết hồi ức của mình. “Vâng, cũng có một trong những thứ ấy nữa.”

Chúng tôi lại rớt vào im lặng. Tôi thận trọng dụi điếu thuốc, mà tôi đã hút đến tận sát đầu lọc, vào cái chén giấy.

“Thực là một thị trấn chẳng đâu vào đâu. Sao lại có nơi buồn chán đến vậy trên quả đất này thì quả là em không hiểu nổi.”

“Thượng đế hiển lộ Chân thân trong rất nhiều hình tướng,” tôi nói.

Naoko lắc đầu và cười ra tiếng. Một kiểu cười đúng mực, loại mà bạn hẳn sẽ mong chờ từ một cô gái được tuyển thẳng vào trường; song vì một lí do lạ lùng nào đó nó còn đọng lại mãi sau khi nàng đã ngừng, hệt như nụ cười tinh quái của Mèo Cheshire trong truyện Alice ở Xứ thần tiên.

Nhưng điều kích thích tôi nhất là ý tưởng về việc gặp một con chó lững thững xuôi ngược trên sân ga.

Ω

Bốn năm sau, tháng 5 năm 1973, tôi đã một mình đến nhà ga đó. Tôi muốn gặp con chó kia. Để sửa soạn, tôi đã cạo râu, thắt cà-vạt lần đầu tiên trong sáu tháng, và mang một đôi giày da mềm.

Ω

Tôi bước xuống từ đoàn tàu vùng ngoại ô cũ kĩ thiểu não, có hai toa hành khách hoen gỉ có vẻ sẵn sàng rệu rã bất cứ lúc nào đó, và hít đầy ngực mùi cỏ mát tươi. Đấy chính là thứ hương ngát từ những cuộc dã ngoại đã lâu xưa; ngay cả ngọn gió tháng Năm kia chừng như cũng đang ùa đến tôi từ thời điểm xa xôi nào đó. Khi chăm chú lắng tai, tôi có thể nghe tiếng đàn chim chiền chiện đang hát ca trên đầu.

Tôi buông một cái ngáp dài, ngồi xuống chiếc ghế dài trên sân ga, và châm thuốc trong ngao ngán. Nguồn năng lượng tôi cảm thấy khi rời căn hộ của mình sớm đó đã biến mất. Chuyện thường lặp đi lặp lại y chang. Một ảo giác vô tận mà mỗi lúc một xấu hơn.

Có thời điểm trong đời mình mỗi đêm tôi đã nằm ngủ ngổn ngang trên sàn nhà cùng một nhóm bạn. Buổi sáng sẽ có gã nào đó bước qua đầu tôi. Xin lỗi, hắn nói. Rồi tôi nghe tiếng nước tiểu. Chuyện thường ngày ở huyện.

Với điếu thuốc lủng lẳng trên khóe miệng, tôi nới cà-vạt và bắt đầu cọ đế đôi giày mới của mình tới lui trên nền sân ga bằng bê-tông. Tôi đang cố làm dịu cái đau ở chân. Không đến nỗi chết chóc gì, nhưng sự đau nhức đang khiến tôi cảm thấy bị trật khớp, như thể cơ thể tôi đã rã lìa.

Chẳng thấy con chó đâu cả.

 Ω

Rã lìa…

Chính là một cảm giác tôi gặp rất nhiều. Như thể tôi đang cố ghép những mảnh lộn xộn của hai bảng ghép hình dị biệt vào nhau cùng một lúc. Khi tôi thấy kiểu đó giải pháp của tôi là uống whiskey rồi đi ngủ. Dù vậy, sáng hôm sau, thậm chí tôi còn thấy tệ hơn. Chuyện thường ngày ở huyện.

Khi tôi mở mắt lần này, đã có hai cô gái, song sinh, nằm trong giường với tôi, mỗi cô một bên. Tôi đã tỉnh giấc với một cô gái bên cạnh mình nhiều lần trước kia, nhưng khỏi phải nói, đây là lần đầu tiên tôi thấy mình cận kề một cặp song sinh. Họ đang thiếp ngủ, mũi chạm vào vai tôi. Một buổi sáng Chủ nhật quang mây.

Một chốc sau, họ thức dậy gần như đồng thời, nhún nhẩy tròng áo phông và quần jean đã vứt cạnh giường, kéo nhau vào bếp không một lời, pha cà phê, nướng bánh mì, lấy bơ từ tủ lạnh, và bày mọi thứ lên bàn ăn. Không một cử động thừa–trông cứ như họ đã làm chuyện này nhiều năm rồi. Ngoài cửa sổ, loài chim nào đó đang đậu trên hàng rào dây xích bao quanh sân gôn, đang liến láu hệt như súng máy.    

“Các cô tên gì nhỉ?” tôi hỏi hai cô. Bộ dạng tôi trông vô cùng thiểu não–đầu tôi đang nhức như búa bổ.

“Chả hệ trọng gì, tên tuổi ấy,” người đang ngồi bên phải tôi nói.

“Thực thế,” người ngồi bên trái nối lời. “Hầu như vô dụng. Hiểu ý tôi chứ?”

“Chắc vậy,” tôi đáp.

Chúng tôi ngồi đó, họ một bên bàn, tôi bên còn lại, gặm bánh mì và nhấm nháp cà phê. Cà phê dở tệ.

“Có rối nhiễu gì không, nếu ta không dùng tên?” một người trong bọn họ hỏi.

“Tôi không biết.”

Họ suy nghĩ chuyện đó một lúc.

“Nếu cần tên,” người kia gợi ý, “sao chúng ta không thử chọn cho mình nhỉ?”

“Gọi bọn tôi là gì tùy thích.”

Đầu tiên một người cất lời, rồi đến người kia. Hệt như một buổi thử tiếng cho chương trình phát thanh lập thể. Cơn đau đầu của tôi càng tệ hơn.

“Chẳng hạn như nào?” tôi hỏi.

“Phải và trái,” một người nói.

“Ngang và dọc,” người kia đề nghị.

“Lên và xuống.”

“Tới và lui.”

“Đông và Tây.”

“Vào và ra,” tôi gắng xen lời, không phải để ganh đua. Họ đưa mắt nhìn nhau rồi bỗng phá lên cười thoả mãn.

Ω

Nơi có một lối vào, thường sẽ có một lối ra. Chính là cách mọi thứ được tạo dựng. Các hộp thư, máy hút bụi, sở thú, lọ muối. Dĩ nhiên, có những ngoại lệ. Bẫy chuột, chẳng hạn.

Ω

Có lần tôi đã đặt một cái bẫy chuột, bên dưới bồn rửa ở căn hộ của mình. Tôi dùng kẹo cao su bạc hà làm mồi nhử. Tôi thử tìm cái gì đó tốt hơn, nhưng đấy là thứ thực phẩm tiện tay nhất mà tôi bắt gặp. Thanh kẹo nằm trong túi áo khoác mùa lạnh của tôi, cùng với một cuống vé phim.

Buổi sáng ngày thứ ba tôi thấy một chú chuột nhắt kẹt chân vào bẫy. Nó còn nhỏ, có màu của những chiếc áo len cashmere bạn thấy xếp đống trong các cửa hàng miễn thuế ở London. Chắc chừng mười lăm hay mười sáu nếu tính bằng tuổi con người. Một lứa tuổi non tơ. Dưới chân nó dính một mẩu kẹo su.

Chú chuột đã sa bẫy, nhưng tôi chẳng biết nên làm gì với nó. Tới buổi sáng ngày thứ tư thì nó chết, chân sau vẫn bị ghim chặt. Khi nhìn vào thân nó, tôi chợt ngộ ra một bài học quan trọng trong đời.

Hết thảy mọi thứ nên có cả lối vào và lối ra. Cách đúng đắn chính ra là như thế.

Ω

Đường ray chạy theo dãy đồi thành một tuyến thắng tắp đến mức trông như thể nó được vạch ra với một chiếc thước kẻ. Xa xa, hệt một mẩu giấy bị vò nhàu, tôi có thể nhận ra một bụi cây màu xanh lá sẫm. Hai thanh ray lấp loáng lờ mờ trong nắng suốt quãng đường tới điểm đó, rồi mất hút vào trong màu xanh kia. Cứ như thể phong cảnh sẽ kéo dài vĩnh viễn, dù người ta tiến xa đến mấy đi chăng nữa. Ý niệm đó khiến tôi chùn lòng. Nếu đúng là như thế, tôi đành chui vào đường xe điện ngầm ngày nào đó vậy.

Tôi hút hết điếu thuốc, duỗi người, và nhìn chong lên bầu trời. Tôi đã không ngắm trời mây ít lâu nay rồi. Thực ra, đã khá lâu tôi chẳng để mắt đến chuyện gì cả.

Chẳng thể thấy đám mây nào. Một bức màn sương lơ lửng trong không trung, như vẫn thường xảy ra vào mùa xuân, một lớp màn mỏng đang chờ bầu không xanh lơ kia thấm lọc từ trên cao. Những mảng nắng đổ li ti bụi khiết, đang dồn tụ lơ đễnh trên mặt đất. 

Trong làn gió hây hây ấm, ánh sáng chao lượn. Không khí trôi với nhịp bước thong dong, hệt như một đàn chim đang lướt cánh từ cây này sang cây khác. Chúng la đà bay trên những sườn dốc um tùm dọc theo tuyến tàu hoả, vượt đường ray, rồi băng qua lùm cây mà không lay động một phiến lá nào. Tiếng gù lảnh lót của chú chim cu nào đó cắt xuyên làn ánh sáng dịu êm hệt như một mũi tên rồi biến mất trên chóp mái xa xa. Những ngọn đồi nhấp nhô giống như một chú mèo khổng lồ đang say giấc, cuộn mình trong một vũng thời gian ấm áp.    

Ω

Cơn đau ở chân tôi càng lúc tệ hơn.

Ω

Giờ hãy cho phép tôi kể bạn nghe về những cái giếng.

Naoko đã chuyển đến khu vực đó khi nàng mười hai. Đấy là năm 1961, theo lịch Tây. Năm Ricky Nelson hát “Hello Mary Lou.” Vào thời điểm đó chẳng có bất cứ gì thu hút sự chú ý của người ta tới thung lũng xanh yên bình này. Một vài nhà nông, dăm cánh đồng rải rác, những dòng suối đầy tôm, tuyến đường sắt độc đạo với một nhà ga ngáp ngủ, chính là thế. Phần lớn các nhà nông trồng những cây hồng vàng trong sân, và nhìn kĩ vào một góc thường có thể thấy một lán nhỏ tả tơi vì mưa nắng. Neo sát bên cạnh chiếc lán đối diện với đường tàu là những tấm biển bằng thiếc được sơn vẽ sặc sỡ quảng cáo nhiều loại hàng, như là giấy vệ sinh và xà phòng. Chốn ấy đại loại là thế, Naoko bảo. Thậm chí chẳng ai nuôi chó.  

Gia đình Naoko sống trong một căn nhà hai tầng kiểu Tây xây dựng vào thời Chiến tranh Triều Tiên. Dù có kích thước vừa phải, hàng cột đồ sộ và gỗ được chọn lựa cẩn thận, cho nên trông nó vẫn vững chãi, thậm chí oai nghiêm. Mặt ngoài sơn ba sắc độ của màu xanh lá: bị phơi ra với nắng, mưa, và gió, ba sắc xanh kia đã phai dần cho đến khi chúng hòa hợp với cảnh sắc xung quanh. Vườn tược rộng rãi, với dăm bảy bụi cây và một hồ nhỏ. Náu kín giữa cây cối là một kiến trúc nhỏ xinh xắn, một xưởng vẽ hình bát giác với những tấm rèm đã bạc phai treo trên các ô cửa–màu gốc của chúng chẳng ai đoán nổi. Vô khối thủy tiên mọc lan tràn trổ bông bên cạnh hồ nước, nơi lũ chim nhỏ tụ tập tắm táp vung vãi vào buổi sáng.

Căn nhà được thiết kế bởi một họa sĩ tranh sơn dầu già cỗi đã sống ở đó cho đến khi phổi của ông suy kiệt vào mùa đông trước khi Naoko dọn đến. Đấy là năm 1960, năm Bobby Vee hát “Rubber Ball.” Trời mưa như điên mùa đông ấy. Khu vực này hiếm tuyết, nhưng mưa thì rét căm căm. Mưa phủ lên mình đất hệt như một tấm chăn giá buốt và ngấm vào lòng sâu. Lúc nào cũng thế, một nguồn dự trữ nước khoáng khổng lồ đang hình thành dưới bề mặt.

Nhà của người thợ đào giếng cách chừng năm phút đi bộ xuôi theo đường ray từ nhà ga. Một điểm lầy lội sát ngay dòng sông, bị vây hãm bởi lũ muỗi và ếch nhái trong mùa hè. Thợ đào giếng là một người đàn ông chừng năm mươi, ngoan cố và ưa càu nhàu, nhưng đó là một thiên tài đích thực có kĩ năng nghề nghiệp. Ông sẽ dành nhiều ngày lội dò quanh khu đất mình được thuê khảo sát, tự lẩm bẩm rồi thi thoảng xúc lên một nắm đất và hít thử. Khi chắc chắn mình đã tìm đúng mạch, ông sẽ gọi đôi bạn thân của mình và họ sẽ đào thẳng xuống cho đến khi thấy nước.

Đấy chính là lí do mọi người ở khu vực này có những giếng nước ngọt ngon lành có thể uống được. Sự mát lạnh và tinh khiết cảm nhận được không chỉ khi nhìn xuyên qua li nước trong suốt mà còn ở trên tay nữa. Họ gọi đó là “Nước tuyết Phú Sĩ,” nhưng chắc chỉ đùa thôi. Chẳng cách nào nó tới từ chốn xa đến vậy.

Mùa thu Naoko lên mười bảy, người thợ đào giếng bị tàu đâm. Các nguyên do của vụ tai nạn là cơn mưa dồn thúc, rượu sa-kê lạnh, và phần nào đó là lãng tai. Cảnh sát thu nhặt thi thể tan tành của người thợ đào giếng từ cánh đồng – cả thảy đúng năm xô thịt, với hàng ngàn mảnh – đã phải dùng những cây sào dài có móc ở đầu để xua đuổi lũ chó hoang kéo đến nơi xảy ra vụ việc. Dòng sông cuốn những xô còn lại vào những hồ nước khác, trở thành thức ăn cho cá.

Hai cậu con trai của người thợ đào giếng chẳng ai muốn tiếp bước cha; cả hai đã rời khỏi khu vực ngay sau vụ tai nạn. Cũng không ai khác muốn thừa kế căn nhà bỏ hoang, đã sụp xệ từng chút một qua năm tháng đó. Vậy nên những giếng cung cấp nước ngọt ngon lành càng ngày càng khó tìm.

Tôi yêu những cái giếng. Bất cứ khi nào bắt gặp tôi đều ném một viên sỏi vào. Không gì dễ chịu hơn là nghe tiếng tõm gọn khe khẽ khởi lên từ đáy một họng giếng sâu.  

Ω

Chính cha Naoko là người đã quyết định họ sẽ sẽ chuyển đến khu vực đó năm 1961. Không chỉ vì người họa sĩ đã chết là bạn thân của ông; mà cha nàng cũng bị hút đến bởi chính chốn đấy nữa.

Cha Naoko dường như đã là học giả về văn học Pháp có đôi chút tiếng tăm, nhưng vào khoảng thời gian nàng tới tuổi đến trường, không hề báo trước, ông vứt bỏ vị trí ở trường đại học để sống một đời thư nhàn và theo đuổi đam mê của mình: dịch các văn bản Pháp cổ bí hiểm, các truyện tích về những thiên thần sa ngã và các giáo sĩ, các thầy bùa và các ma cà rồng trác táng. Tôi không rõ hết chi tiết. Có lần tôi đã thấy ảnh ông trên một tạp chí, nhưng chỉ thế thôi. Theo Naoko, ông từng là một người phóng túng thực thụ thời trai trẻ. Tôi có thể ý thức đôi chút về điều đó khi nhìn bức hình, trong đó ông đeo kính đen và đội mũ cát, và đang nhìn vào một điểm nào đó chừng một thước bên trên ống kính máy ảnh. Có lẽ ông đã thấy thứ gì đó.

Ω

Có một số người lập dị về văn hoá như ông trong khu vực khi Naoko và gia đình nàng dọn đến, một khóm nhà những kẻ nửa vời kiểu đó. Hệt như các trại lao động cưỡng bức ở Siberia dành cho các tội phạm tư tưởng trong thời nước Nga đế quốc.

Nói tới các trại lao động cưỡng bức, tôi nhớ mình đã đọc về một trại trong tiểu sử của Leon Trotsky[1]. Không nhớ nhiều lắm, chỉ là những phần về gián và tuần lộc. Vậy hãy để tôi kể về tuần lộc…  

Trotsky đã trộm một cỗ xe trượt tuyết và đội tuần lộc bốn con trong bóng đêm vây phủ rồi đào thoát khỏi khu trại lao động nơi ông bị tống giam. Đội tuần lộc băng điên cuồng qua vùng hoang vu loáng ánh bạc. Hơi thở chúng đông cứng trong không khí buốt giá; móng chúng dẫm nát tuyết tinh khôi. Khi chúng đến ga xe lửa hai ngày sau đó, đội tuần lộc kiệt quệ đã sụm xuống, không bao giờ gượng dậy nổi nữa. Trotsky khóc thương ôm chầm những con vật đã chết ấy và thề độc rằng, tôi sẽ đem lại công lí, sự thật, và cuộc cách mạng cho đất nước tôi, bất cứ giá nào đi nữa! Thậm chí ngày nay, tượng đài bốn con tuần lộc đó có thể tìm thấy ở Quảng trưởng Đỏ. Một con quay mặt về đông, một bắc, một tây, và một nam. Chính Stalin cũng không thể huỷ hoại chúng. Nếu đến thăm Moscow, hãy tới quảng trường vào sớm Thứ bảy, và nhìn các học sinh trung học phổ thông vệ sinh đàn tuần lộc với những miếng giẻ lau. Những đôi má đỏ ửng và làn hơi trắng xóa của chúng là một cảnh tượng tinh tươm nhất.

Trở lại chuyện khóm lập dị kia.

Các thành viên của nó lảng tránh vùng đất bằng phẳng gần ga tàu, thay vào đó chọn xây những ngôi nhà đặc dị hoang hiu ven sườn đồi. Mỗi một khu vườn đều khoe ra một kích cỡ kì chướng, bảo lưu hết các cây cối, hồ, và đồi nguyên sơ. Có người thậm chí còn có cả một dòng suối xinh đẹp đầy những con cá hương nhỏ ngon lành.

Các thành viên của khóm đó thức giấc mỗi sáng với tiếng ca của loài cu gáy và dạo bước quanh khu vườn rụng đầy hạt dẻ sồi, nhướng mắt nhìn nắng sớm lấp lóa dọi qua kẽ lá.

Nhưng nước Nhật đang chuyển mình–Thế vận hội Tokyo được tổ chức vào khoảng thời gian đó–và một làn sóng đô thị hoá khắc nghiệt xô đến họ. Những ngôi nhà nhìn bao quát ra vùng biển trù phú những cây dâu tằm giờ đây đang bị những xe ủi đất cày nát cây cối và xới tung đất đen, một quang cảnh phố thị đơn điệu dần thành hình quanh khu nhà ga.

Cư dân mới đa phần là nhân viên văn phòng, những người làm công ăn lương ở đâu cũng có. Họ nhảy khỏi giường lúc năm giờ sáng, quáng quàng vung nước lên mặt, rồi chen mình vào những toa tàu công cộng, quay lại dở sống dở chết khi đêm đã muộn màng.

Vậy nên chỉ vào những chiều Chủ nhật họ mới có khả năng nhìn quanh nhà và cộng đồng của mình. Đồng thời, như thể có thỏa thuận chung, họ đều nuôi chó. Những con chó bắt đầu đực cái với nhau, sinh chó con rồi cứ mặc chúng trở thành chó hoang. Khi Naoko bảo rằng hồi xưa ấy ở đó chẳng có con chó nào, chính là ý này.

Ω

Tôi mất cả giờ đồng hồ chờ con chó lộ diện. Tôi hút hết mười điếu thuốc trong suốt lúc ấy, dụi từng đầu mẩu dưới chân mình. Tôi bước tới giữa sân ga để uống nước từ đầu vòi; nước lạnh ngon tuyệt. Vẫn chẳng thấy  chó đâu.

Một hồ nước rộng nằm cạnh nhà ga. Nó ngoằn ngoèo hệt như một dòng sông uốn khúc đã bị chặn lại, với đám cỏ cao ngút ở những chỗ nước nông. Thi thoảng tôi thấy một con cá nhảy. Một nhóm người câu đang ngồi cách quãng dọc bên bờ, ủ rủ nhìn vào làn nước thẳm tối. Những tia nhìn bất động chọc thủng mặt nước hệt như những cây kim bạc. Một con chó trắng lớn, chừng như đi cùng với một người trong nhóm câu cá, nô đùa loanh quanh trong ánh nắng xuân mơ màng, đang hít hít đám cỏ ba lá.

Khi chú chó đến gần tầm mười mét từ chỗ tôi đang đứng, tôi nhoài qua hàng rào và gọi to. Chú chó nhìn tôi với đôi mắt nâu cụp ướt đáng thương và vẫy đuôi hai hay ba lần gì đó. Khi tôi búng tay thì nó tiến đến, ấn mũi qua song rào, chiếc lưỡi dài thè ra liếm tay tôi.

“Ngoan nào, con,” tôi nói, lùi lại. Chú chó ngần ngại và ngoái nhìn qua vai nó, đuôi vẫn vẫy lia.

“Giờ đến đây nào–tao đã chờ đủ lâu rồi.”

Tôi rút một thỏi kẹo su từ túi áo, không cuộn lại, và đưa cho chú chó. Chàng ngẩn nhìn thanh kẹo một chốc trước khi tỉnh trí rồi chui qua dưới hàng rào. Tôi vỗ vỗ đầu chàng vài cái, cuộn tròn thỏi kẹo, rồi ném nó xa hết sức có thể về phía cuối sân ga. Chú chó phóng thẳng về hướng đó.

Tôi thoả mãn về nhà.

Ω

Thế là xong, tôi cứ tự nhủ mình trên chuyến tàu về. Giờ mày có thể quên nàng rồi. Đó chính là lí do mày đi chuyến này. Nhưng tôi không thể quên. Rằng tôi yêu Naoko. Rằng nàng đã chết và biến mất. Rằng chẳng có một thứ chết tiệt nào đã qua và xong xuôi cả.

Ω

Những đám mây bao phủ sao Kim biến bề mặt của hành tinh này thành một lò lửa. Điều đó cùng với độ ẩm của nó có nghĩa là phần lớn người sao Kim chết trẻ–đến được tuổi ba mươi nâng người ta lên địa vị huyền thoại. Nó cũng có nghĩa là trái tim của mọi người ở đó đều chan chứa tình yêu. Tất cả người Kim tinh đều yêu thương nhau; không có ngoại lệ nào. Cũng chẳng hề có mảy may thù ghét, đố kị, hay khinh miệt nào. Không ai phỉ báng ai. Chẳng có sát nhân hay tranh đấu. Nơi ngự trị của tình yêu và sự chu đáo.

“Giả như ai đó đã chết hôm nay–chúng tôi sẽ chẳng cảm thấy buồn rầu,” chàng thanh niên Kim tinh trầm lặng nói. “Chúng tôi đã yêu họ với tất cả tấm lòng của mình trong khi họ còn sống, nên đâu cần hối tiếc chi.”

“Vậy là anh yêu trong sự tiên lượng về cái chết ư?”

“Các lời lẽ như thế của người Trái đất tuột khỏi đầu tôi,” anh nói, lắc đầu.

“Theo lối đó mọi chuyện thực sự sẽ đi tới đâu?” tôi hỏi.

“Nếu họ không làm thế,” anh trả lời, “Kim tinh hẳn sẽ bị vùi chôn trong nỗi buồn.”

Ω

Khi tôi về lại căn hộ, cặp song sinh đang ôm chặt nhau trên giường như cá mòi trong hộp.

“Mừng anh về nhà,” một người nói, cười khúc khích.

“Anh đã ở đâu vậy?” người kia hỏi, cũng rúc rích cười.

“Ở nhà ga,” tôi đáp, nới cà-vạt và chui vào giữa họ. Tôi nhắm mắt. Tôi đã mệt muốn chết.

“Nhà ga nào thế?”

“Sao anh lại tới đó?”

“Một nhà ga cách xa đây. Để nhìn một con chó.”

“Loại chó nào kia?”

“Anh thích chó à?”

“Một con chó trắng lớn. Nhưng không, tôi không cuồng chó đâu.”

Hai người giữ im lặng trong khi tôi hút thuốc.

“Buồn à?” một cô hỏi.

Tôi gật.

“Vậy ngủ thôi,” cô còn lại bảo.

Thế nên tôi ngủ.

Ω

Câu chuyện này là về “tôi,” nhưng cũng là chuyện về một gã họ gọi là “Chuột.” Mùa thu đó hai chúng tôi đang sống cách nhau hơn sáu trăm cây số.

Tiểu thuyết của tôi bắt đầu vào tháng 9 năm 1973. Đấy là lối vào. Hi vọng hẳn có một lối ra. Không nhiều điểm trong toàn văn bản này nếu chẳng được thế.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen


[1] Lev Davidovich Trotsky (1879–1940), tên khai sinh Lev Davidovich Bronstein, là một trong các lãnh đạo của Cách mạng Tháng Mười Nga 1917, chỉ sau Lenin. Sau khi lãnh đạo một cuộc đấu tranh thất bại của Cánh Tả Đối lập chống lại các chính sách và sự thăng tiến của Stalin trong thập niên 1920 và sự tăng cường quan liêu tại Liên Xô, Trotsky bị đưa ra khỏi Đảng Cộng sản và bị trục xuất khỏi Liên Xô, dẫn đến việc bị ám sát tại Mexico năm 1940.

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 8: Chương 6

Published

on

Người phụ nữ bước vào phòng tắm và khép cửa lại đằng sau cô. Tiếng vòi sen theo ngay sau đó.

Chuột cố gắng kiềm chế cảm xúc của mình. Hắn rướn người khỏi mớ chăn ga, vồ lấy một điếu thuốc đặt lên môi. Nhưng bật lửa của hắn không có trên bàn hay trong túi quần. Thậm chí hắn cũng chẳng có một que diêm nào. Hắn mò mẫm trong túi xách của người phụ nữ, nhưng cũng chẳng gặp may ở đó. Bỏ cuộc, hắn bật đèn và lục tìm hết các ngăn kéo bàn làm việc cho đến khi lật thấy một hộp diêm cũ có tên của nhà hàng nào đó trên bao bì. Hắn châm thuốc.

Vớ và đồ lót của cô ấy được gấp cẩn thận và xếp trên một chiếc ghế mây của hắn, chiếc đầm màu mù tạt vàng may đo trải lên lưng ghế. Trên bàn đầu giường là chiếc đồng hồ tí xíu và chiếc túi xách hiệu La Bagagerie, không mới nữa nhưng vẫn còn tốt.

Chuột chìm người xuống chiếc ghế đối diện và nhìn chăm ra cửa sổ.

Từ chỗ tọa cao trên dốc núi kia, Chuột có thể thấy các dấu hiệu của hoạt động con người rải rác ở sườn đồi bên dưới. Đôi lúc hắn đứng đó suốt nhiều giờ, hai tay chống hông, tập trung vào quang cảnh bên dưới hệt như một gôn thủ đứng ở đỉnh của một sân gôn nghiêng xuống. Con dốc xuôi nhẹ một góc thoai thoải, tụ lại với những ánh đèn rải rác từ những ngôi nhà. Có những lùm cây sẫm tối, những đồi nhỏ, và, đây đó, những hồ bơi tư nhân lấp lóa trắng dưới các ngọn đèn thủy ngân. Chỗ con dốc bắt đầu bằng phẳng, đường cao tốc bò ngoằn ngoèo qua khung cảnh hệt như một chiếc thắt lưng được chiếu sáng; từ chân núi tới bờ biển chừng nửa dặm xa, thị trấn trải ra phẳng lì và đơn điệu. Đại dương ngoài kia tan hòa vào bầu không thẳm tối, trong khi ánh màu cam từ ngọn đèn hiệu nhỏ kia chớp sáng, biến mất, rồi lại chớp sáng. Và cắt xuyên mọi lớp địa hình, phân chúng gọn gàng làm hai, tuôn dài một luồng nước đen sẫm.

Dòng sông.

Ω

Lần đầu tiên Chuột gặp người phụ nữ ấy là vào đầu tháng Chín, khi bầu trời vẫn còn giữ được chút dấu vết rạng rỡ của mùa hè.

Hắn tìm thấy một máy đánh chữ điện được liệt kê trong mục Hàng hóa đã sử dụng của tờ báo địa phương giữa đống quảng cáo xe cũi đẩy em bé, dụng cụ học ngôn ngữ Linguaphone, xe đạp ba bánh, và đồ tạp dụng linh tinh. Người phụ nữ trẻ trả lời điện thoại nghe có vẻ rất thẳng thắn rành rọt: chiếc máy đánh chữ đã dùng được một năm và còn một năm trong hạn bảo hành; trả hết bằng tiền mặt trước (không trả góp hàng tháng); hắn phải tự mình đến nhận hàng. Họ chốt thỏa thuận, và hắn lái xe đến căn hộ của cô, trả tiền, rồi nhận chiếc máy đánh chữ. Nó đáng giá gần như tương đương với số tiền hắn kiếm được từ công việc bán thời gian vào mùa hè.

Cô nhỏ nhắn mảnh khảnh và mặc một chiếc đầm không tay đầy thu hút. Những cây cỏ xum xuê lá đủ hình dạng và màu sắc trồng trong những chiếc chậu nằm xếp hàng ở lối vào căn hộ. Cô có nét mặt dịu dàng, và tóc được buộc gọn về phía sau. Chuột không thể xác định tuổi cô. Hắn đã nghĩ rằng có thể đâu đó giữa hai mươi hai và hai mươi tám.

Ba ngày sau, cô gọi hắn bảo rằng cô có một nửa tá dải băng máy đánh chữ mà cô vui lòng tặng miễn phí cho hắn. Khi Chuột đến nhận chúng, hắn mời cô đến quán J’s để đãi cocktail thay lời cảm ơn. Dù vậy, họ không tâm đầu ý hiệp ngay từ đầu.

Lần thứ ba họ gặp gỡ là bốn ngày sau đó, ở hồ bơi trong nhà. Hắn lái xe đưa cô về căn hộ và làm tình. Tại sao lại thành ra như thế? Chuột chịu không biết nổi. Hắn đã khơi chuyện đầu tiên hay cô? Họ đã chỉ thuận theo dòng chảy.

Một vài hôm sau, Chuột có thể cảm thấy cái thực tại hữu hình trong mối quan hệ của họ đang trương nở bên trong hắn, như thể một cái nêm mềm đang lấn vào trong đời sống thường nhật của mình. Từng chút một, có điều gì đó đang truyền thông. Phần ngọt ngào, lịch thiệp hắn đã quên lâu dường như đã trải rộng ra mỗi lần hắn nghĩ đến đôi vòng tay mảnh mai gói quanh cơ thể mình kia. 

Chuột có thể thấy rằng cô đang gắng thiết lập một kiểu toàn hảo trong thế giới nhỏ của cô. Hắn cũng nhận thức rõ rằng điều đó yêu cầu một mức độ quyết tâm phi thường. Cô chỉ mặc những chiếc đầm trang nhã song thùy mị nhất bên trên những đồ lót sạch, mới, xức nước hoa loãng nhẹ có mùi hương của ruộng nho ban sớm lên cơ thể, hết mực cẩn thận lựa lời, không đời nào hỏi những câu thiếu trọng tâm, và chừng như còn đã thực hành việc mỉm cười trước gương. Song những điều đó chỉ khiến Chuột thêm buồn. Sau một số lần gặp gỡ hắn đã đoán tuổi cô là hai mươi bảy. Điều đó hóa ra lại là điểm đen.

Đôi bầu ngực cô nhỏ nhắn, và dù cơ thể thon gọn của cô rám nắng tuyệt đẹp, nó miễn cưỡng hơn là kiêu hãnh, như thể nó đã được thế mà không có sự đồng thuận của cô. Xương gò má góc cạnh và đôi môi mỏng của cô đã nói lên sự giáo dục tốt và tâm cốt cương quyết của cô, nhưng chẳng hề có chút gì ngây thơ và dễ tổn thương bên dưới bề mặt đó, thứ được phô diễn với những biến báo tinh vi trong biểu hiện.

Cô đã học ngành kiến trúc ở một trường đại học nghệ thuật và hiện làm việc trong một văn phòng kiến trúc. Nơi sinh của cô ư? Chẳng phải nơi nào gần đây, cô trả lời. Tôi đến vùng này sau khi tốt nghiệp. Cô đến hồ bơi tuần một lần và bắt tàu đến lớp học viola mỗi tối Chủ nhật.

Cả hai bọn họ hội nhau tuần một lần vào đêm Thứ Bảy. Rồi Chuột nhả khói thuốc mơ màng cả ngày Chủ nhật trong khi cô tập chơi Mozart.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 7: Chương 5

Published

on

Khi tôi còn học đại học, chẳng ai trong khu căn hộ của tôi có điện thoại. Khỉ thật, tôi ngờ là không có bất kì ai trong chúng tôi có một cục tẩy. Dù, có một cái điện thoại trả tiền màu hồng, nằm ngoài văn phòng bảo vệ trên chiếc bàn thấp đã bị quẳng đi từ trường tiểu học địa phương. Đấy là chiếc điện thoại duy nhất trong toàn bộ chốn ấy. Các bảng mạch điện thoại là thứ cuối cùng trong tâm trí chúng tôi. Những tâm trí đó là một thế giới bình yên trong một thời đoạn bình yên.

Từ khi người bảo vệ không bao giờ ở văn phòng ấy nữa, một người trong chúng tôi phải trả lời điện thoại khi nó đổ chuông và chạy ào đi thông báo cho người nhận cuộc gọi ấy. Dĩ nhiên có những lần (như là một cuộc gọi đến lúc 2 giờ sáng) thì chẳng ai nhấc máy. Hệt như một con voi nhận thức cái chết gần kề của mình, chiếc điện thoại đã đổ chuông như điên (số lần đổ chuông nhiều nhất tôi đếm được là 32) rồi chết. Tôi dùng từ chết theo nghĩa đen hẳn hoi. Thời khắc cuộc gọi cuối cùng lượn xuống hành lang dài và biến mất vào đêm đen, một sự im lặng ngự trên cả tòa nhà. Đó là một sự tịch mịch kì quái. Chúng tôi nằm đó trong giường ngủ của mình, nín thở, khi chúng tôi nghe ngóng cuộc gọi chết tươi kia.  

Những cuộc gọi vào đêm muộn luôn luôn đáng ngã lòng. Ai đó sẽ nhấc ống nghe lên và bắt đầu thấp giọng trò chuyện:

“Thôi đi… Không, anh nhầm rồi… Chuyện gì xong thì đã xong, đúng không?... Thực đấy. Sao tôi phải nói dối chứ?... Không, tôi chỉ mệt thôi… Dĩ nhiên nó làm phiền tôi… Nhưng anh thấy đó… Ừ, tôi nhận được tấm hình rồi. Nhưng tôi cần thời gian, hiểu chứ?... Tôi không thể giải thích qua điện thoại đâu…”

Mỗi chúng ta có đủ thứ rắc rối khả dĩ phải đeo mang. Chúng từ trên trời rơi xuống và ta điên cuồng chạy quanh tìm nhặt lên, cho vào túi mình. Tại sao ta lại làm thế đã bắt bí tôi, cho đến giờ. Có lẽ chúng ta đã nghĩ chúng là thứ gì đó khác.

Có cả những bức điện tín nữa. Một chiếc mô-tô sẽ gầm rú ngoài cửa trước tầm bốn giờ sáng, theo sau là tiếng những bước chân sầm sập gần tiền sảnh. Rồi một nắm đấm sẽ nện lên cửa nhà ai đó. Tiếng động kia luôn luôn nhắc tôi về Tử Thần. Bum, bum. Chúng ta đã ngả quá nhiều về phía các tai ương –những cuộc đời mất đi vì tự sát, những tâm trí đổ nát, những trái tim bị bỏ rơi trong những vũng tù của thời gian, những cơ thể bỏng cháy với các ám ảnh rời rã–và chúng ta trao cho nhau một đống rắc rối đọa đày. Một ngàn chín trăm bảy mươi là năm đại loại như thế. Song nếu cứ bám lấy niềm tin rằng thân xác con người được tạo ra để cải thiện chính nó thông qua kiểu tiến trình biện chứng nào đó, một năm khủng khiếp như năm 1970 có thể dạy ta điều gì đó.

  Ω

Phòng tôi nằm ở tầng một cạnh văn phòng bảo vệ, trong khi cô gái có mái tóc dài kia sống ở tầng hai, kế cầu thang. Bởi cô rõ ràng là người thắng khi có các cuộc gọi đến, nên tôi bị kẹt vào việc lon ton lên xuống mười lăm bậc cầu thang kia hàng ngàn lần để gọi cô nghe điện thoại. Người gọi cho cô có đủ dạng. Giọng của họ có thể lịch thiệp hay bất nhã, buồn bã hoặc trịch thượng. Lúc nào họ cũng hỏi bằng tên cô. Song tôi đã quên bẵng cái tên đó là gì. Hồi ức duy nhất của tôi là tên cô thông thường đến não lòng.

Giọng cô trên điện thoại thì thào mệt lử, gần như không nghe thấy nổi. Diện mạo cô thu hút vừa đủ, nhưng có phần nào sầu u. Mặc dù chúng tôi thi thoảng ngang qua nhau trên phố, tôi chưa bao giờ mở lời với cô. Vẻ mặt của cô khi tiến bước hệt như ai đó đang cưỡi một con voi trắng trên một lối mòn hẹp chốn rừng sâu.

Ω

Cô sống ở khu căn hộ của chúng tôi được sáu tháng. Từ lúc bắt đầu mùa thu đến hết mùa đông.

Tôi sẽ trả lời điện thoại, leo cầu thang, gõ cửa nhà cô, bảo, “Cô có điện thoại,” và một chốc sau cô sẽ nói, “Cảm ơn.” “Cảm ơn” là từ duy nhất cô từng nói với tôi. Đổi lại, “Cô có điện thoại,” là hết thảy lời tôi từng nói với cô.

Đó cũng là một mùa cô độc với tôi. Khi quay về căn hộ của mình và trút bỏ quần áo vào cuối ngày, xương cốt tôi hăm he nổ bung ra ngoài da thịt và văng bay tứ tán. Như thể một lực lượng nội tại huyền bí nào đó đang dồn thúc tôi vào sai hướng, dẫn tôi đến một thế giới khác.

Những cuộc điện thoại khiến tôi suy nghĩ. Ai đó đang cố truyền thông với một ai khác. Song hầu như chẳng có ai từng gọi cho tôi. Tuyệt không một người cố với đến tôi, và ngay cả nếu họ đã làm vậy, ắt họ đã chẳng nói điều tôi muốn nghe.

Mỗi chúng ta, với mức độ cao thấp khác nhau, đều nhất quyết sống theo đúng hệ thống của chính mình. Nếu cách suy nghĩ của người khác quá khác biệt với tôi, nó khiến tôi phát điên; quá bức bí, và tôi đâm buồn. Đấy, chỉ thế thôi.

    Ω

Khi mùa đông kết thúc chính là lúc tôi đã nhận chuyển cuộc điện thoại cuối cùng của cô. Một sáng thứ Bảy trong trẻo đầu tháng Ba. Đại để giữa buổi sáng, mười giờ, nắng mùa đông tươi sáng đang dọi khắp ngóc ngách trong căn phòng nhỏ của tôi. Lúc nhận thức được tiếng chuông, tôi đang ngồi trên giường nhìn qua cửa sổ vào vườn bắp cải cạnh cửa chính. Những mảng tuyết lóng lánh rải rác trên đất đen hệt như những vũng nước – thảy đều là di tích của trận tuyết cuối vào đợt rét đột ngột sau cùng trong năm.

Điện thoại đổ mười lần mà chẳng ai nhấc máy. Rồi năm phút sau lại bắt đầu. Tiếng chuông rầy rà nên tôi đành tròng chiếc áo len đan lên bộ đồ ngủ rồi đi bắt máy.

“Có cô… đó không?” một người đàn ông hỏi. Giọng anh ta phẳng lì, không biểu cảm. Lẩm bẩm gì đó bất đắc dĩ, tôi lê bước lên cầu thang và gõ cửa nhà cô.

“Cô có điện thoại.”

“Cảm ơn.”

Tôi về lại phòng mình, nằm xuống giường, và quan sát trần nhà. Tôi có thể nghe tiếng bước chân cô đang đi xuống, rồi tiếng thì thào đó. Một cuộc thoại ngắn bất thường đối với cô. Có lẽ chỉ mười lăm giây. Tôi nghe cô cúp máy và rồi có một sự tĩnh lặng kéo dài, không tiếng bước chân, không gì cả. Một lát sau, tôi nghe tiếng bước chân chầm chậm đến gần cửa nhà tôi, kèm theo hai tiếng gõ. Có một khoảng ngừng chừng một hơi thở sâu, rồi lại thêm hai tiếng khác.

Khi tôi mở cửa cô đang đứng đó trong bộ áo phông thùng thình và quần jean. Tôi thoáng nghĩ mình đã nhầm lẫn, rằng cuộc gọi kia được nhằm vào ai khác, nhưng cô đã chẳng nói gì cả, chỉ đứng đó run run với hai tay ôm nhau trước ngực và mắt dán vào tôi. Trông cô hệt như ai đấy trong chiếc xuồng cứu sinh đang nhìn con tàu chìm dần. Hoặc có lẽ là tình huống ngược lại cũng nên.    

“Tôi vào được không? Ngoài này rét quá.”

Tôi bị bất ngờ, nhưng vẫn để cô vào và khép cửa. Cô ngồi xuống trước lò sưởi bằng gas để hơ ấm đôi tay và nhìn quanh.

“Phòng này trống trơ kinh dị, nhỉ?”

Tôi gật. Thực sự chẳng có gì. Chỉ một chiếc giường cạnh cửa sổ, và thế thôi. Một chiếc giường quá lớn cho một người, và quá bé cho hai. Tôi cũng chẳng mua nó. Đúng hơn là, một người quen đã cho tôi. Tại sao anh ấy tặng nó cho một kẻ rõ là xa lạ thì tôi chịu. Chúng tôi hiếm khi nói chuyện. Là một chàng trai nhà giàu đến từ vùng xa xăm nào đó, anh đã bỏ trường sau khi bị các thành viên trong một nhóm chính trị đối lập đánh hội đồng, họ đá vào đầu anh khi đang mang ủng công trường, trận đánh này đã gây tác hại cho thị lực của anh. Chuyện đó diễn ra ở sân trường, và anh thổn thức suốt đường từ đó đến bệnh xá của trường, trước sự ghê tởm bàng hoàng của tôi. Một vài ngày sau anh bảo tôi rằng anh rời trường. Và tặng tôi chiếc giường.

“Có thứ gì đó âm ấm để uống không?” cô nói. Không, tôi đáp, lắc đầu. Không cà phê, không trà, thậm chí ấm đun nước cũng không. Chỉ có một cái chảo để nấu nước nóng khi tôi cạo râu vào buổi sáng. Chờ đây nhé, cô nói với một tiếng thở dài. Cô đứng lên và rời phòng, quay lại sau năm phút với một hộp giấy cứng trong tay. Bên trong là thực phẩm dự trữ đủ cho sáu tháng gồm trà túi lọc và trà xanh, hai gói bánh quy, đường cát, một bộ ấm đĩa cơ bản, cùng hai chiếc cốc có hình cún Snoopy. Đặt chiếc hộp xuống giường, cô lấy chiếc ấm ra và bắt đầu đun nước.

“Làm sao anh xoay xở được thế? Anh sống hệt như Robinson trên đảo hoang ấy!”  

“Đúng là không vui thú gì mấy.”

“Tôi cũng đoán thế.”

Chúng tôi uống trà túi lọc trong im lặng.

“Anh có thể nhận hết mấy thứ này,” cô nói.

Tôi suýt sặc trà. “Sao cô lại làm thế?”

“Cách tôi nói lời cảm ơn thôi. Cho tất cả những lần anh đã trả lời hộ điện thoại.”

“Nhưng cô không cần dùng nữa à?”

Cô lắc đầu. “Mai tôi chuyển đi rồi. Chẳng còn ích gì với tôi nữa.”

Hẳn phải có thứ gì đó giải thích được chuỗi sự kiện mới này, nhưng tôi chẳng thể hình dung được là gì.

“Đã có chuyện gì tốt đẹp sao? Hay chuyện gì đấy tệ hả?”

“Không tốt lắm, tôi cho là vậy. Ý tôi là tôi đang bỏ học và về quê.”

Ánh nắng mùa đông tràn ngập căn phòng mờ đi một thoáng, rồi hửng sáng lên lại.

“Nhưng anh chẳng muốn nghe chuyện ấy đâu, phải không? Phải tôi thì chắc sẽ không. Ai đời lại muốn dùng những chiếc đĩa mà người khác đã bỏ đi chứ!”

Sáng hôm sau, một cơn mưa lạnh lẽo bắt đầu rơi. Một cơn mưa phùn đã len lỏi rỉ qua áo mưa của tôi và ngấm vào áo phông thể thao bên dưới. Mọi thứ – chiếc rương lớn tôi đang ì ạch kéo và chiếc va-li cùng túi cô đeo vai – đều thẫm đen vì hơi ẩm. Người tài xế ta-xi chộp lấy chúng tôi chẳng cho để bất cứ món nào lên ghế ngồi. Trong xe nóng và ngột ngạt với mùi thuốc lá lưu cữu, và một bản ballad truyền thống đang rền rĩ từ đài phát thanh của xe, một giai điệu kiểu cũ như một cánh tay chỉ hướng rẽ ở các ô tô đời xưa. Những cành cây trụi lá nhiễu giọt đóng thành băng nhũ xếp hàng dọc hai bên đường trông hệt như rặng san hô dưới nước.

“Tôi chả thích Tokyo ngay lần đầu để mắt đến,” cô nói, “và đến giờ vẫn thế.”

“Thật ư?”

“Ừ. Đất thì quá đen, sông thì bẩn tởm, lại chẳng có ngọn núi nào… Anh thì sao?”

“Tôi đã chả bao giờ nghĩ về phong cảnh cả.” 

Cô thở dài. “Đấy là lí do anh sống sót được ở chốn này,” cô nói cùng một nụ cười mỉm.

Chúng tôi đến sân ga và buông đống túi xách xuống.

“Cảm ơn vì tất cả,” cô nói. “Tới đây tôi có thể tự mang được rồi.”

“Quê cô ở đâu?”

“Ngược lên phía bắc.”

“Tôi cược là lạnh lắm.”

“Cũng ổn cả. Tôi quen rồi.”

Khi đoàn tàu chuyển bánh cô vẫy chào tôi từ cửa sổ. Tôi giơ tay ngang tầm tai, nhưng khi đoàn tàu ra khỏi tầm mắt, bất thình lình tôi bỗng thấy ngượng ngập và đút tay mình vào trong túi áo mưa.

Trời mưa suốt ngày hôm đó và dai dẳng đến tận đêm. Tôi mua hai chai bia ở cửa hàng thức uống địa phương và uống cạn hết bằng một chiếc cốc cô đã cho tôi. Tôi đang lạnh cóng. Chiếc cốc in hình cún Snoopy và chim thư kí Woodstock đang chơi đùa trên mái nhà của Snoopy với một quả bong bóng có ghi, “Hạnh phúc là một người bạn ấm áp.”  

Ω

Cặp sinh đôi đã thiếp ngủ khi tôi mở mắt. Ba giờ sáng. Ánh trăng mùa thu bên ngoài cửa sổ phòng tắm sáng gượng gạo. Tôi ngồi trên rìa quầy bếp cạnh chậu rửa, uống hai cốc nước, và châm thuốc bằng bếp ga. Lớp lớp tiếng của hàng ngàn hàng vạn côn trùng trỗi lên từ sân gôn sáng trăng.

Tôi nhấc cái bảng mạch lên dựa vào quầy bếp và kiểm tra nó cẩn thận, xoay nó đủ mọi góc. Chỉ là một tấm bảng vô nghĩa, đầy bụi bặm và cũ kĩ, bất kể nhìn ngắm nó thế nào đi nữa. Từ bỏ, tôi đặt nó trở lại chỗ cũ, lau bụi bẩn trên tay, và rít một hơi thuốc khác. Mọi thứ có vẻ nhợt nhạt dưới ánh trăng. Trống rỗng cả về giá trị, nghĩa lí, hay phương hướng. Thậm chí những cái bóng cũng mờ ảo. Tôi dụi điếu thuốc vào bồn rửa và châm điếu khác.

Liệu có bao giờ tôi tìm được một chốn đích thực là của riêng tôi? Đấy có thể là đâu? Tôi cứ nghĩ mãi, song chỉ có hình ảnh buồng lái của một chiếc máy bay ném ngư lôi hai chỗ ngồi hiện ra trong tâm trí. Nhưng đó là một ý nghĩ ngu ngốc tuyệt đối. Ý tôi là, những thứ đó đã quá đát từ ba mươi năm trước rồi, phải không?

Tôi quay lại giường và len vào giữa cặp sinh đôi. Họ đang nằm cuộn mình với đầu lệch về phía hai mép giường, thở đều bình an. Tôi kéo chăn lên tận cằm và quan sát trần nhà.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 6: Chương 4

Published

on

Ngọn đèn hiệu không người trơ vơ cuối bến tàu dài ngoằn ngoèo. Ngọn đèn không đặc biệt lớn, chỉ thấp hơn ba mét rưỡi một chút. Những con tàu cá đã dựa vào ánh sáng của nó thời trước khi sự ô nhiễm dồn lũ cá xa bờ. Chẳng có gì giống với một bến cảng ở khu vực này. Thay vào đó, ngư dân đã trang bị một bộ tời bằng gỗ với ống cuộn và dây thừng để kéo tàu của họ từ bãi biển. Ba căn lều của họ đã được dựng gần đấy; vào buổi sáng sẽ thấy những khay gỗ đựng cá nhỏ đang phơi khô trên mặt đê chắn sóng. Tuy nhiên, ở một thời điểm nào đó, ngư dân đã rời bỏ, bị xua đi bởi sự kết hợp của ba yếu tố: sự biến mất của đàn cá, sự ác cảm vô lí của những kẻ đi vé tháng vì có một làng cá gần thị trấn của mình, và lời tuyên bố của quận rằng những căn lều dọc bãi biển kia là bất hợp pháp. Đấy là năm 1962. Chẳng ai đoán nổi những ngư dân kia đã biến về đâu. Đại khái ba căn nhà kia đã hoang tàn, trong khi những con thuyền mục nát, chẳng có chức năng gì cũng chẳng có chỗ nào để vứt bỏ, bị bỏ lại chỏng chơ giữa đám cây cối dọc bờ biển, nơi chúng phục vụ như một sân chơi cho đám trẻ con.

Một khi những tàu cá đã biến mất, những con thuyền nhẹ tư nhân lang thang dọc bãi biển cùng những tàu hàng bỏ neo ngoài bến cảng tìm nơi trú bão và sương mù dày đặc là những phương tiện hàng hải duy nhất có thể thấy rằng ngọn đèn hiệu kia giúp ích nhiều. Nhưng chắc hẳn nó đã không còn phục vụ một mục đích nào nữa.

Ngọn đèn hiệu là một thứ thù lù đen sì có hình như một cái chuông úp hoặc một người gò lưng trong suy tưởng nhìn từ phía lưng. Khi mặt trời bắt đầu lặn và ráng chiều bắt đầu nhuộm màu xanh thẫm, ánh sáng màu cam rực sáng trên đỉnh ngọn đèn – cái núm chuông – và nó bắt đầu xoay chầm chậm. Vào khoảnh khắc đó, khi ngày chuyển đêm, ngọn đèn hiệu đến với đời sống: dù buổi tối có mang một hoàng hôn tuyệt đẹp hay một lốt áo choàng mù sương, chùm sáng ấy bắt đầu quay ngay chính thời khắc mà sự cân bằng giữa ánh sáng và bóng tối chuyển giao, và bóng đêm tối thượng ngự lên.

Thời thơ bé, Chuột thường xuống bãi biển vào buổi tối chỉ để chứng kiến khoảnh khắc chớp nhoáng đó trong bóng tối. Nếu những con sóng không quá cao hắn sẽ dạo bộ tới tận đầu kia của bến tàu uốn lượn, đếm số phiến đá lát đường mà hắn đã đi qua. Lúc chớm sụp tối hắn có thể thấy hàng đàn cá nhỏ xíu kinh ngạc lao về phía vùng nước sáng. Chúng sẽ bơi vòng dọc mạn bến tàu, như thể đang tìm kiếm gì đó, trước khi hướng ra khơi.  

Khi cuối cùng cũng đến chỗ ngọn đèn hiệu, Chuột ngồi xuống nơi đầu mút của bến tàu ấy và nghiên cứu bầu trời. Trời mang màu xanh đen đến ngút mắt, với những vỉa mây trông như được vẽ lên dưới nét cọ của một họa sĩ. Màu xanh thẫm kia chừng như không đáy; vực thẳm của nó khiến chân Chuột run lên kinh sợ. Mọi thứ quá sinh động, mùi đại dương, màu ngọn gió.

Nán lại mãi, Chuột uống cạn khung cảnh trải ra trước mắt mình, rồi quay lại. Giờ thì hắn đang chiêm ngắm thế giới của chính mình, quá đỗi tách biệt với biển khơi. Bãi biển và đê chắn sóng trắng bàng bạc, hàng thông xanh yên ả, và, đằng sau chúng, nhô in trên nền trời, đường viền sắc nhọn của những ngọn núi đen thẫm xanh.

Xa bên mạn trái của hắn là khu cảng lớn, với những cần trục, vũng tàu đậu dập dềnh, những nhà kho như hình hộp, những chiếc tàu hàng, và các tòa nhà cao. Bên phải hắn, đối mặt đại dương và trải dài theo đường bờ biển cong cong, là khu dân cư im lìm, bãi đậu thuyền nhẹ, một số kho rượu cũ kĩ, và, một khoảng vừa phải phía xa kia, hàng dãy những bể chứa hình cầu cùng các ống khói nhà máy chọc trời của khu công nghiệp, đã che phủ bầu trời trong làn khói trắng mù mịt. Những thứ đó đánh dấu sự cáo chung của thế giới thời niên thiếu mà Chuột đã biết.

Suốt thuở ấu thời, từ xuân đến chớm thu, Chuột dành cho những chuyến thăm ngọn đèn hiệu. Khi sóng lớn, bụi nước bắn vào chân hắn, gió gào, và hắn thi thoảng trượt ngã trên những phiến đá lát trơn rêu. Song con đường đến ngọn đèn hiệu đã thân thiết với hắn hơn bất cứ gì khác. Hắn sẽ ngồi ở chốn tận cùng của bến tàu ấy lắng nghe sóng vỗ, ngắm những đám mây, bầu trời, và hàng đàn cá nhỏ, và ném những viên cuội mình mang theo trong túi vào làn nước.

Lúc trời sẫm tối hắn sẽ lại bước trên cùng con đường ấy để quay về thế giới của chính mình. Dù cho, sự quay lại này đã luôn luôn đồng hành với một nỗi buồn không sao tả nổi. Cái thế giới đang chờ đợi hắn ngoài kia đúng là quá lớn lao, quá mạnh bạo; chốn đó chừng như chẳng hề có chỗ nào hắn khả dĩ đào sâu vào được.

Căn hộ của người phụ nữ không xa bến tàu. Kí ức mơ hồ về thời thơ ấu của hắn và dư hương của những buổi tối kia trở lại với Chuột mỗi lần hắn đến thăm cô. Hắn sẽ đỗ xe trên con đường dọc bờ biển và đi băng qua những cây thông đứng rải rác được trồng để ngăn cát thổi vào từ bãi biển. Cát phát ra âm thanh khô khốc dưới chân hắn.

Khu căn hộ nằm đúng nơi những căn lều của các ngư dân đã từng dựng lên. Nếu đào xuống một vài mét, nước biển màu nâu đỏ sẽ phun trào bọt. Những cây chuối hoa Nam Mĩ ủ rũ trong vườn trước, như thể ai đó đã giẫm đạp chúng. Người phụ nữ sống ở tầng hai – khi gió thổi nó sẽ quét qua cửa sổ của cô những luồng cát mịn. Căn hộ nhỏ nhắn gọn gàng của cô xoay mặt hướng nam, nhưng nó ảm đạm lạ lùng. Chính đại dương đấy, cô nói. Chính vì gần đến chết tiệt – mùi thủy triều, gió, tiếng sóng, mùi hôi của cá… hết thảy.   

“Em chẳng thể ngửi thấy mùi cá ở đây đâu,” Chuột bảo.

Chắc chắn em có thể, cô nói. Cô kéo sợi dây cuộn và bức mành mành khép rụp. Anh sẽ có thể nếu anh sống nơi này.

Cát quất vào cửa sổ.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Cafe sáng