Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Thoát đến phương Tây: Số phận kẹt giữa những thế giới

Published

on

Có một loại giày vò khi ta sống trong những thành phố bất ổn về mặt chính trị. Một nơi không thực sự là nơi để sống. Một chốn quyết định cuộc đời ta thay cho chính ta. Một thành phố khiến ta phải kiềm hãm hay giấu đi những mong muốn, dập tắt đi ý tưởng, và nuốt chửng lấy niềm tin. Nó buộc ta sống dưới cái bóng của ai đó mà ta không thể chối từ. Để sinh tồn, cách người ta làm là ép bản thân làm quen với cuộc sống đó. Ở những thành phố như Cairo hay Lahore, nhiều người lựa chọn rời đi thay vì ở lại. Tưởng tượng về một cuộc sống “bình thường” ở nơi khác cũng đủ để thôi thúc người ta rời bỏ quê hương, ngay cả khi văn chương dạy ta biết rằng, cái giá cho những cuộc “trốn chạy” ấy vốn rất đắt. 

Những mâu thuẫn này bao trùm cuốn tiểu thuyết của Mohsin Hamid, Thoát đến phương Tây (Exit West). Cuốn sách lấy bối cảnh tại một thành phố không tên, đang đứng trước bờ vực bùng nổ nội chiến sau nhiều năm người dân bị áp bức. Hai nhân vật chính, Nadia và Saeed, gặp nhau trong bối cảnh chính trị bất ổn đó, thời điểm mà dạo phố, đi làm hay hẹn hò cũng có thể là một canh bạc của cuộc đời. Bởi súng có thể được bóp cò, bom có thể phát nổ bất cứ lúc nào.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Thoát đến phương Tây.

*

Saeed là một nhân viên tương đối bảo thủ làm việc tại một công ty quảng cáo sự kiện. Chàng trai ngoài 20 được miêu tả là “nghiêm túc ngay cả trong việc chăm sóc bộ râu”, “như phần lớn đàn ông trong thành phố: độc lập, trưởng thành, học hành tử tế, chưa kết hôn và có việc làm ổn định”. Saeed vẫn đang sống với bố mẹ, một người là giáo viên về hưu, một người là giáo sư đại học.

Trong khi đó, Nadia hiện đại, phá cách, sống một mình tại một căn studio trên tầng cao. Cô nàng là nhân viên công ty bảo hiểm, thường di chuyển quanh thành phố bằng chiếc xe đạp địa hình trong bộ áo choàng đen phủ từ đầu đến chân “để bọn đàn ông không giở trò mất dạy”. Độc lập, dữ dội và có phần bất thường là điều người ta hay nghĩ về Nadia. Trái ngược với Saeed, cô bị gia đình cắt đứt liên lạc vì quyết chuyển ra ngoài sống riêng. Trong khi Saeed dành buổi tối ở nhà với cha mẹ, nhìn ra bầu trời mặc dù nó “trở nên quá ô nhiễm cho việc ngắm sao”, Nadia thường xuyên tham dự các buổi biểu diễn ca nhạc, ăn chơi buổi đêm.

Bất ổn chính trị, như chiến tranh, cách mạng hay thậm chí là một cuộc xung đột dân sự, đều có thể thay đổi gần như hoàn toàn bộ mặt cuộc sống của chúng ta hằng ngày. Tiếng pháo hoa vang xa có thể là tiếng súng nổ, hay “Cái chết có thể bất ngờ ập đến khi bạn bước chân từ nhà ra đường. Ranh giới giữa sinh và tử đôi lúc chỉ là chiếc cửa sổ nhà bạn”.

Trong bối cảnh thành phố biến động đó, Hamid xây dựng một thế giới của người trẻ đầy khát vọng. Với ngòi bút chi tiết và sâu sắc, tác giả miêu tả hai nhân vật chính độc lập, mang cá tính riêng. Từ bối cảnh chung của thành phố, Thoát đến phương Tây khéo léo đưa người đọc vào từng cảnh đời riêng lẻ của mỗi nhân vật, buộc người ta phải chú ý vào những chi tiết, khoảnh khắc. Từ những số phận bất hạnh nhỏ nhoi, tác giả phóng ra cái nhìn toàn cầu về vấn đề của thời đại như nạn vượt biên, dân tị nạn,… Bằng cách này, Hamid tạo ra một câu chuyện được xây dựng tỉ mỉ, bao hàm nhiều tầng ý nghĩa, làm nổi bật lên nhiều thực tế chính trị – xã hội, cuộc đời – con người dù thực tế ông chỉ tập trung vào miêu tả hai nhân vật chính. Thế giới trong sách, dường như đang được tác giả gợi ý, là thế giới tương lai của con người chúng ta. Nếu vậy, câu hỏi được tác giả đặt ra: làm sao để ngăn cho nó không xảy đến, hoặc ít nhất giảm thiểu những thiệt hại mà nó gây ra?

Mối quan hệ giữa Saeed và Nadia chớm nở và phát triển khi chiến tranh bùng nổ và hiểm nguy rình rập mọi ngõ ngách của thành phố. Đối với Nadia, đó là anh họ của cô, người đã bị nổ tung cùng với 85 người khác bởi một chiếc xe tải chở đầy bom. Đối với Saeed, một viên đạn lạc giết chết mẹ anh khi bà đang kiểm tra chiếc xe của gia đình. Cha của Saeed ngay lập tức bắt đầu gọi Nadia là “con gái”. Trong thời loạn, mọi thứ vô lí nhất trở thành có lí.

Một đôi tình nhân đang ngồi cạnh biển Caspi, bắc Iran, 2008. Ảnh: Newsha Tavakolian

Những người trẻ tuổi, trừ khi trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, thường là những người đầu tiên rời đi. Nadia, đã đoạn tuyệt với gia đình, là người quyết tâm rời quê hương nhất để tìm lối thoát cho chính họ. Nhưng đến lúc lên đường, cha của Saeed từ chối. Giống như nhiều thế hệ trong gia đình, sống qua nhiều thập kỉ trong sự bất ổn chính trị nhưng vẫn không có cuộc chiến tranh nào chính thức diễn ra. Với cha của Saeed, tương lai mà ông hướng đến là sống một cuộc sống bình thường, quen thuộc, ngay cả khi tình hình xã hội có diễn biến xấu đến đâu.

Lưu vong, trong hoàn cảnh này, trở thành sự lựa chọn. Mỗi người cân đo đong đếm giữa rủi ro và lợi ích, giá trị của cuộc sống mà tự đưa ra quyết định cho riêng mình. “Nhà”, phức tạp và loạn lạc, vẫn không dễ để rời đi – dòng cảm xúc được tác giả đan xen một cách tinh tế xuyên suốt câu chuyện. Với người lớn tuổi, họ sống vì quá khứ nhiều hơn là vì tương lai. Trong khi đó, người trẻ tuổi mãnh liệt hơn, khao khát hơn để sống cuộc đời mình mong muốn.

Thoát đến phương Tây tràn ngập những mất mát mà chúng ta đã biết trước từ lâu rằng nó sẽ đến. Một số nhân vật được đề cập lướt qua ở ngôi thứ ba, sau được tác miêu tả một cách chi tiết hơn về số phận của họ, chứng minh rằng mỗi nhân vật đều có giá trị. Bằng cách này, độc giả như được trải nghiệm đến hai hành trình cảm xúc, với hành trình sau sâu sắc hơn hành trình đầu.

*

Mohsin Hamid được biết đến nhiều như một cây viết có sự kết hợp hoàn hảo giữa những xúc cảm phức tạp của đời thường và hiện thực chính trị. Các tác phẩm trước đây của Hamid bao gồm The Reluctant Fundamentalist (2007), là cuốn tiểu thuyết về sự kiện 11/9 được viết dưới góc nhìn của một người Pakistan trẻ tuổi – cảm thông cho những kẻ khủng bố dù bản thân là một người nhập cư được nước Mỹ đón nhận.

Mặc dù Thoát đến phương Tây được viết trong tình trạng bùng nổ cuộc khủng hoảng tị nạn ở khu vực Trung Đông và Brexit, nhiều giả thuyết cho rằng cuốn sách đã được tác giả ấp ủ ý tưởng từ lâu trước đó. Nguyên nhân có thể vì kinh nghiệm là một người tị nạn, một người dân của thế giới thứ ba của chính Mohsin Hamid, trong đó có hành trình di dân từ Pakistan đến Mỹ, Anh, rồi lại về phía Đông.

Sau khi rời bỏ quê hương, cuộc sống của người tị nạn cũng không dễ dàng hơn. Saeed và Nadia đến được một trại tị nạn trên đảo Mykonos ở Hy Lạp, song đó không là cuộc sống mà họ mong muốn. Tất cả đều phải đối mặt với bài toán sinh tồn: ai là người đàm phán giỏi hơn, người thuyết phục hơn, người có trực giác nhạy bén hơn về nguy hiểm sẽ là người sống sót.

Ở nửa sau tác phẩm, Hamid đưa các nhân vật của mình từ Mykonos đến London, nơi họ được cấp cho một chốn ở tử tế hơn và chia sẻ với nhiều người tị nạn khác. Tại đây, tác giả nêu bật lên những sự đối lập: đối lập trong chính hình ảnh người tị nạn – giữa xuất thân khá giả ở quê nhà và hoàn cảnh khốn khó ở hiện tại khi tha hương và cả sự đối lập giữa người dân địa phương và người tị nạn. Qua đó, ông đề cập đến những vấn nạn còn nhức nhối của thế giới hiện tại như phân biệt chủng tộc hay chủ nghĩa bản địa bài ngoại ngày càng trở nên cực đoan. Đó là khi khu Hyde Park và Kensington Gardens (London) tràn ngập lều trại thô sơ của người tị nạn. Đến mức, người Anh nói rằng dân cư hợp pháp tại đây chỉ chiếm thiểu số bởi hầu hết là người tị nạn và số người bản địa rất ít. Truyền thông địa phương cũng không ít lần đề cập khu vực này là “lỗ đen” của quốc gia, nơi thường diễn ra tệ nạn.

Hamid có hiểu biết sắc sảo không chỉ về cuộc khủng hoảng ở thời điểm hiện tại mà còn về thói đạo đức giả trong chính trị – điều đã dẫn đến sự hình thành của cả một nhóm dân tị nạn – thông qua những cuộc xâm lược, can thiệp và các chính sách. Những cánh cửa thần kì dẫn đến những nơi khác bị kiểm soát một cách cẩn thận. Trong khi có những người được phép đi nghỉ mát ở những khu vực bình dị của Mykonos trong những tháng hè, một số khác bị giam cầm trong rào chắn của các khu ổ chuột. Thế giới của Hamid là một nơi mà sự tách biệt, phân biệt chủng tộc, chia rẽ ngày một tăng lên.

Tóm lại, Thoát đến phương Tây là cái nhìn ngoạn mục, phức tạp, bao quát của tác giả Mohsin Hamid về tình trạng thế giới hiện nay. Bên cạnh cuộc khủng hoảng người tị nạn, thế giới còn đang đối mặt bài toán hóc búa về biên giới và sự phân chia giàu – nghèo. Thế giới qua ngòi bút của Hamid là một thế giới mà chủ nghĩa tư bản và bản đồ thuộc địa bắt đầu đi xuống. Câu chuyện về thành phố không được tác giả đặt tên của hai nhân vật chính trong sách cũng giống như câu chuyện của Syria, Iran, Ethiopia, Ai Cập hay những người lao động Ấn Độ ở vùng Vịnh, người Mexico ở Mỹ. Đó là câu chuyện của những số phận đang cố gắng xây dựng cuộc sống mới ở một quốc gia khác, một số vì chạy trốn chiến tranh, một số vì muốn rời khỏi quê hương độc tài và áp bức.

Hamid viết rằng “Khi chúng ta di dân, chúng ta muốn giết chết ‘mình’ trong cuộc sống cũ.” Có lẽ những gì người di dân, người tị nạn thực sự cố gắng làm là quên đi quá khứ đau thương, nhưng nó vẫn luôn theo sau và ám ảnh họ trên bất kì nơi đâu họ đặt chân đến.

Hết.

Uyên lược dịch.

Bản gốc do Yasmine El Rashidi thực hiện, đăng tại The New York Review of Books.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

“Shuggie Bain” chiến thắng Booker Prize 2020: Văn chương chạm đến cảm xúc, hay là #bookersowhite?

Published

on

Chủ nhân của Booker Prize 2020 đã được xác định, và không quá bất ngờ khi nó thuộc về Douglas Stuart với cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình. Shuggie Bain vượt qua năm cuốn sách khác để giành giải, và với thắng lợi rực rỡ năm nay, ta thấy phần nào Booker đã trở về đúng vai trò của nó – văn chương chạm đến cảm xúc. Là cuộc dẫn nhập xuyên qua Glasgow những năm 80 dưới đế chế Thatcher u tối, Shuggie Bain là câu chuyện của một đứa trẻ gánh vác tránh nhiệm nặng nề: gia đình tan hoang, người mẹ nghiện rượu và những khám phá tự bản thân mình. Đầy cảm xúc, bi thương mà hồn nhiên đến mức tréo ngoe, Shuggie Bain - như một nhận định - là vở melodrama đỉnh nhất năm nay.

Tiếp lời Margaret Busby, chủ tịch hội đồng giám khảo năm nay rằng: [Shuggie Bain] là câu chuyện cảm động kể về tình yêu vô điều kiện giữa Agnes Bain - trong bối cảnh nghiện rượu mà cuộc sống khó khăn gây ra cho cô - và cậu con trai út của mình... Được viết một cách duyên dáng và mạnh mẽ, đây là một cuốn tiểu thuyết có tác động lớn bởi nó có nhiều ghi chép cảm xúc và các nhân vật cũng đầy cảm hứng. Chất thơ trong các mô tả của Douglas Stuart và độ chính xác của các quan sát là đầy nổi bật: không gì là lãng phí".

Nếu năm ngoái có nhiều ý kiến bất đồng khi trao đồng thời đến hai giải thưởng mà một trong số đó thuộc về Margaret Atwood với nhiều đánh giá tiêu cực cho phần hai của Chuyện người tùy nữ, thì năm nay, một sự thống nhất đã được ấn định, ở cả hội đồng giám khảo và giới độc giả. Theo chủ tịch hồi đồng giám khảo Margaret Busby, quyết định cuối cùng đã được nhất trí chỉ trong một giờ; còn với Gaby Wood – giám đốc văn học của Booker Prize Foundation, việc xem xét người chiến thắng đã được siết chặt để không có hơn một người chiến thắng.

*

Một cách tổng quan ngay từ bước đầu, Shuggie Bain đã sở hữu trong mình rất nhiều yếu tố có thể chiến thắng: cốt truyện cảm xúc, bối cảnh đặc biệt và một lối viết đậm đặc chất thơ. Có thể nói, với những yếu tố vẫn cứ trở đi trở lại hàng năm trong danh sách đề cử Booker, thì Shuggie Bain không thể không thắng. Dạo lướt qua những đề cử những năm trước đó trong lịch sử 51 năm của giải thưởng này, ta thấy những tiểu thuyết thuộc quỹ tích tương tự Shuggie Bain là không hiếm. Cứ cách một năm lại thấy trong danh sách ấy tiểu thuyết kiểu ấy. Từ Ali Smith đến Anne Tyler, từ Elizabeth Strout đến Hanya Yanagihara; tất cả hợp thành một án tiền lệ mà nếu phông cảnh xã hội cùng với tình hình những dòng thời gian không quá đảo chiều, thì đây là những tiểu thuyết có một khả năng chiến thắng rất cao.

Quay ngược 15 năm trước vào năm 2005, khi giải Booker bất ngờ được trao cho John Banville – một tác gia có phần xa lạ và ít đột phá trong sự nghiệp mình, trước những Julian Barnes (tác giả của Nghe mùi kết thúc – Booker 2011), Kazuo Ishiguro (nhà văn đoạt giải Nobel), Ali Smith (nhiều lần đề cử Booker và người chiến thắng ở giải Orange) mà đặc biệt nhất là Zadie Smith. Giới phê bình đã thấy một sự trở về cùng với cố hương. Giữa một cuốn sách đầy những vận động và các xung đột mạch ngầm mới về sắc tộc, các mối quan hệ gia đình, cuối cùng giải thưởng hàng lâu đời này vẫn chọn The Sea. Tin tức hành lang cho biết On Beauty của Zadie Smith đã gây ra những nhiễu loạn tranh luận trên bàn giám khảo, nhưng đến cuối cùng, hương vị quen thuộc đã được chọn lựa. Tính trắng đã thắng.

Shuggie Bain có chính lợi thế đó - về “gu” của giải thưởng này. Nếu Nobel vẫn được gắn nhãn bới lá tìm sâu nơi những tác gia ít được biết đến, thì hơn ai hết, Booker dĩ nhiên là chính tính “trắng” ở trong văn chương. Việc vượt qua Burnt Sugar hay This Mournable Body cũng cho thấy một sự tự chủ của giải thưởng này. Nếu tháng tám vừa rồi giải Booker Quốc tế được trao cho The Discomfort of Evening bởi sự mới lạ, cách tân, không theo lẽ thường; thì hội đồng giám khảo cũng đã quyết định đi con đường riêng, để giải Booker (dù chính hay phụ) đều theo hướng khác mà không trùng lặp.

Tính tự chủ của giải thưởng này cũng được xác lập ở trong trường hợp của The Shadow King và giải Sách Quốc gia. Nếu trung tuần vừa rồi Winner of winner trong 25 năm lịch sử  giải Orange thuộc về Adichie với Nửa mặt trời vàng, thì Booker chẳng có cớ gì đi trao cho một cuốn sách khá tương đồng. Đó cũng hoàn toàn là một lý do, bên cạnh trào lưu tiểu thuyết lịch sử trong cơn thoái trào, cùng sự ngã ngựa của Hilary Mantel. Bên cạnh đó, giải sách Quốc gia được trao trước đó một ngày cũng đã trao cho Interior Chinatown của Charles Yu và Shuggie Bain hẳn nhiên mở rộng con đường chiến thắng của mình ra thêm. Quay về 17 năm trước vào năm 2003 khi cuốn Người tình của Bretch đã được trao trước hai tuần ấn định của giải Goncourt, chặn đứng việc công bố giải của giải Femina cho thấy sự cạnh tranh của những giải thưởng và tính tiên phong đôi khi đặc biệt, và đó hẳn nhiên là một may mắn khi giải Sách Quốc gia đã lựa chọn trước mà không trùng lặp, nếu không có trời mới biết ai sẽ chiến thắng.

Một yếu tố nữa không thể không nhắc, đó là tình hình địa - chính trị. Booker với tiếng nói trắng, một mặt nào đó, trở thành cơ quan ngôn luận không-hề-chính-thức cho việc nghệ thuật có thể ảnh hưởng ra sao đối với địa - chính trị. Như trong trường hợp Eurovision Song Contest trong lịch sử, với việc Romania bị rút khỏi giải do còn nợ tiền EU hay Nga rút khỏi cuộc thi vào năm Ukraine đăng cai tổ chức vì những tranh cãi chính trị… Tất cả cho thấy ở Lục địa già, nghệ thuật đang bị chi phối. Và khi Scotland đang đòi tách ra khỏi một nước Anh tràn ngập hoang mang thời Hậu Brexit, chiến thắng này cũng không nằm ngoài làn sóng chính trị. Và cũng như Douglas Stuart phát biểu sau khi nhận giải, anh cám ơn người dân Scotland, đặc biệt là người Glaswegians, họ có sự đồng cảm, hài hước và tình yêu cùng sự đấu tranh trong từng câu chữ của cuốn sách này.

*

Nói thế cũng không có nghĩa Shuggie Bain giành được chiến thắng chỉ bởi yếu tố bên lề. Shuggie Bain là cuốn sách hay, động vào cảm xúc và Douglas Stuart, bằng chính chất thơ, đã họa nên những nỗi buồn hết sức sâu sắc. Là tay ngang viết niên chiến thắng, ta khó đánh giá cuốn tiểu thuyết này bằng những dấu ấn đậm chất văn chương; nhưng ngược lại, bởi chẳng có gì, sự quan sát của Douglas vô cùng quý báu. Dưới sự quan sát của một đứa trẻ như Hugh, người đọc vừa thấy cảm thương, vừa thấy thích thú cũng vừa chua xót cho thân phận mình. Douglas chiến thắng bằng những quan sát tinh tế, bằng một câu chuyện cảm động mà hơn ai hết, chạm đến trái tim của mỗi một người.

Hơn nữa Shuggie Bain cũng mở cánh tay chào đón những yếu tố khác. Bối cảnh Glasgow thời hậu Thatcher xuất hiện khá ít trong các tiểu thuyết văn chương ngày nay, và Douglas bước vào một khe cửa hẹp để họa được nên bối cảnh lúc này. Ở kỷ nguyên mà Thatcher không muốn công nhân cần mẫn mà tương lai của bà nằm ở công nghệ, hạt nhân và tư nhân hóa y tế; Douglas đã viết nên được một cuốn tiểu thuyết đầy tính trải nghiệm trong quãng thời gian vô cùng đen tối, vô cùng muốn quên của giới thợ mỏ mới chớm đến gần chủ nghĩa xã hội.

Những mối quan hệ gia đình cũng là nhánh khác khiến nó đứng vững. Mối quan hệ giữa Agnes và chồng hay ba người con, mà đậm nét nhất là Hugh càng cho thấy rõ những gì xảy ra trong gia đình này. Từng đứa trẻ lớn lên, rời xa, những dằn vặt ở trong người mẹ, cái chua chát hy sinh của từng đứa trẻ. Douglas không chỉ quan sát qua một lăng kính của bản thân mình, anh còn đứng đó nhập vai vào bố mẹ mình, vào hàng xóm mình, vào người dân Glaswegians và cả câu chuyện của Shuggie Bain, khiến nó từ một tiểu thuyết nặng tính hồi ký trở nên trung dung mà đầy đồng cảm, ít nhất là cho những ai lớn lên từ khu mỏ than nơi những cá tính bắt đầu bộc lộ.

Sự tự khám phá bản thân cũng là yếu tố sau rốt làm nên tiểu thuyết dang rộng cánh tay. Nếu Brandon Taylor có những xung đột cùng với màu da nhưng thiếu chi tiết đặc trưng một cách nhất định; thì Douglas thông qua quan sát viết nên trải nghiệm trong Hugh đầy vẻ tự nhiên nhưng lại đồng cảm một cách khác thường. Từ những chi tiết bị bắt nạt ở trường cho đến lẳng lặng lấy trộm Pony, từ việc gần gũi với mẹ đến việc dạy cho bà nhảy những nhạc disco; Douglas Stuart cũng chứng minh mình ở địa hạt này, mà truyện ngắn khác – Found Wanting – cũng được đánh giá khá cao ở dòng văn chương LGBT và những dư vị xung quanh của nó.

*

Shuggie Bain và chiến thắng ở giải Booker 2020 hoàn toàn xứng đáng. Chỉ có một điều dường như vẫn đang tồn tại. Mặc cho chính những nỗ lực cố gắng thay máu của dàn giám khảo, thế nhưng kết quả vẫn không khác mấy. Thành thực phải nói, đứng ngang Shuggie BainBurnt SugarThis Mournable Body đầy tính thể nghiệm và văn chương hơn; thế nhưng lựa chọn vẫn “trắng” và khá “thông thường”. Ở một mặt khác ngoài chuyện sắc tộc, cả hai cuốn sách đều khá địa phương và quá mới mẻ - tiêu chí mà giải Quốc tế vô cùng yêu thích. Biết đến bao giờ quốc tế, quốc nội mới có một sự cạnh tranh công bằng? Cũng như cho đến khi nào giữa hai thị trường xuất bản London - New York mới hòa vào nhau?

Nhưng dẫu sao, Shuggie Bain vẫn là ngọn lửa ấm lòng giữa thời dịch bệnh, và là một tiếng nói mới, đánh dấu một nhân dạng mới trên nền văn chương. Chúc mừng tất cả.

Hết.

minh.

*

Toàn cảnh Booker Prize 2020: Cơn thoi thóp chờ thời đổi mới?


International Booker 2020: Những dự đoán trước thềm trao giải

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Toàn cảnh Booker Prize 2020: Cơn thoi thóp chờ thời đổi mới?

Published

on

The Booker Prize 2020 chứng kiến nhiều bất ngờ trong suốt hành trình của mình, từ danh sách đề cử đến 6 cái tên rút gọn đều là những kết quả vô cùng khó đoán. Trái với dự đoán của đa số độc giả khi cho rằng Hilary Mantel sẽ lần đầu trở thành tác gia có ba cuốn sách thuộc bộ trilogy cùng nhau đăng quang, thì bất ngờ lớn đã kịp xảy ra. Không chỉ Hilary Mantel mà những tên tuổi kỳ cựu khác như Anne Tyler cũng nằm ngoài danh sách rút gọn, hay Actress của Anne Enright thậm chí không lọt vào danh sách đề cử. Lần đầu ta có 4/6 cuốn sách đề cử đều là tác phẩm đầu tay, 4/6 tác giả là nữ và hầu hết đều khắc họa một điều gì đó đen tối trong thế hệ chúng ta. Nếu Diane Cook mang đến tiểu thuyết dystopia thời hậu tận thế thì Real Life là những xung động sắc tộc. Nếu Shuggie Bain là một nỗi buồn vô cùng đẹp đẽ thì Burnt Sugar lại nằm chông chênh giữa thế giằng co. Và nếu The Shadow King hát lên bài ca ca ngợi phụ nữ, thì The Mournable Body là những nhiễu nhương của thời đoạn này. Mỗi một cuốn sách, mỗi một câu chuyện tựu trung bóng dáng những ngày hiện tại.

Nếu năm ngoái chứng kiến sự bất lực (khi trao giải cho phần 2 Chuyện người tùy nữ) cũng như theo dòng thời sự (#Metoo cho Bernardine Evaristo), thì ta hoàn toàn có thể chờ đợi một kết quả khác hoàn toàn hợp lý cho giải năm nay. Việc chọn 6/13 cuốn tiểu thuyết đầu tay từ danh sách đề cử cũng như hành động án ngữ Anne Tyler hay Hilary Mantel khỏi danh sách rút gọn cho thấy một điều rất đáng suy ngẫm về động cơ của hội đồng giám khảo.

Với dàn giám khảo mới toanh có phần xa lạ, gồm Margaret Busby, Sameer Rahim, Lemn Sissay, Emily Wilson và nhà văn trinh thám quen thuộc Lee Child; giải Booker năm nay hứa hẹn một sự mới lạ, cùng những cơn bão không ngừng leo thang bởi sự bất đồng với tính mới này. Dẫn lời Gaby Wood, giám đốc văn chương Booker Prize Foundation: "Khi chúng tôi đưa ra danh sách đề cử gồm 13 cuốn sách, một trong số chúng tôi đã hỏi rằng: 'Có bao nhiêu cuốn sách đầu tay thế?' Chúng tôi đã đếm. Và kết quả là hơn một nửa. Một tỷ lệ cao bất thường. Đặc biệt còn gây ngạc nhiên cho chính các giám khảo, những người vốn ngưỡng mộ nhiều cuốn sách của các tác giả quen thuộc hơn, và rất tiếc khi phải để chúng ra đi. Có lẽ hiển nhiên là những câu chuyện mạnh mẽ có thể đến từ những nơi không ngờ tới và dưới những hình thức xa lạ.” Và đó là dấu chỉ cho thấy hội đồng giám khảo năm nay không quá bi lụy vào tình thân của giới xuất bản (mà Atwood hay Rushdie năm ngoái là một vết chàm) cũng không e sợ dư luận lên tiếng (mà Burnt Sugar là một ví dụ điển hình). Một trong những mùa giải thay máu và đáng trông chờ nhất những năm gần đây.

TIỂU THUYẾT ĐẦU TAY

Ngoại trừ Tsitsi Dangarembga và Maaza Mengiste đã xuất hiện trên văn đàn từ trước, 4 cái tên còn lại đều mới chạm ngõ văn chương. Nếu Douglas Stuart – nhà văn Scotland hoạt động trong lĩnh vực thời trang tại New York – viết nên Shuggie Bain bằng những trải nghiệm cá nhân khi sống chung mái nhà với bà mẹ nghiện rượu và làm mọi thứ để níu giữ bà ở tuổi rất nhỏ; thì Brandon Taylor – khi đặt bút viết Real Life – thì Wallace cũng chính là anh trong phòng thí nghiệm. Cả hai người họ đều dùng trải nghiệm cá nhân để làm chất liệu cho tiểu thuyết. Nhưng nếu Shuggie Bain có không gian mở và bối cảnh đầy những khúc quanh có thể khai thác là đế chế Thatcher với những chính sách bất lợi cho giới thợ mỏ; thì Brandon Taylor lại bị co cụm ở trong khuôn viên ngôi trường đại học, một khoảng không gian đã được khai thác rất lâu trước đây mà Zadie Smith, J. M. Coetzee… là những tên tuổi sừng sỏ cho địa hạt này; và dĩ nhiên, với tính chất mới, Brandon bị mắc kẹt và Real Life không quá đột phá.

Với Real Life, Brandon Taylor ít nhiều thể hiện được thế giới quan cá nhân về người da màu yếm thế trong đời sống đầy tính tự do và tư bản giả tạm của dân tư bản da trắng.


Ở một mặt khác, Avni Doshi – người làm nghệ thuật, một nhà giám tuyển – cũng tái tạo nên Antara, nhân vật chính trong Burnt Sugar, theo nghề nghiệp này. Trái với trường hợp hai tác giả trên, Burnt Sugar có rất ít trải nghiệm cá nhân ở nơi tác giả. Và cũng có lẽ vì thế, cuốn tiểu thuyết này sắc sảo, lạnh lùng mà đầy mê hoặc về sự đối đầu, các khe hở nhỏ và những đường biên bến bờ đạo đức. Có vận động, chuyển biến, cao trào và đẩy đến cái lạnh tanh; Avni mở cho người đọc một sự trông chờ vào các tiểu thuyết tiếp sau của mình.

Để hỏi đâu là cuốn sách gây nhiều phân cực nhất của mùa giải năm nay thì câu trả lời chắc hẳn là Burnt Sugar của Avni Doshi.

Trong khi đó, Diane Cook, một nhà hoạt động môi trường với tập truyện ngắn Human Vs. Nature từng đạt được nhiều giải thưởng trước đây đã mở rộng cánh cửa bằng một tiểu thuyết vô cùng trường kỳ – The New Wilderness – với những khắc họa dystopia, vấn nạn môi trường và những xu thế thảm họa diệt vong. Thế nhưng Diane đã quá tham lam khi mượn cốt truyện về tình mẹ con để rồi dẫn dắt vào trong câu chuyện. Hơn nữa, yếu tố dystopia trong tiểu thuyết này cũng rất nửa vời, chưa đến tận cùng, chưa vào sau rốt. Rất tiếc phải nói rằng, nếu như được biên tập lại thật gọn hơn nữa thì đây sẽ là tiểu thuyết hiện sinh đại diện cho thế hệ chúng ta.

Diane Cook cũng họa nên một thế giới như thế, thế giới của tương lai, của đói khát của thảm họa.


Nếu cả 4 tác giả nêu trên không có quá nhiều dấu ấn cá nhân ở những tiểu thuyết đầu tay, (ngoại trừ Avni Doshi với cú debut vô cùng ấn tượng), thì Tsitsi và Maaza lại cho ta thấy ngòi bút lão luyện của những nhà văn sống trong nghệ thuật. Với This Mournable Body và là phần cuối của triology The Nervous Conditions bắt đầu từ năm 1988 (trường hợp ngược lại của Hilary Mantel), Tsitsi bằng chính mô tả nội tâm vô cùng ngột ngạt viết trong ngôi kể độc đáo cùng cách kể chuyện không hề câu dẫn đã họa nên bức tranh Zimbabwe trong thế loạn trí của Tambudzai – mà ta dễ thấy là hình bóng khác của chính Tsitsi. Một phiên bản mới đã thôi nhai lại của Người giao sữa.

This Mournable Body là cuốn tiểu thuyết lạ, lạ theo mọi phương cách ta có thể gọi tên. Từ ngôi kể, góc nhìn, tình tiết, nhịp điệu,… Tsitsi Dangarembga huyễn hoặc người đọc bằng tài năng kể chuyện.

Ở mặt trận khác, khi Ngozi Adichie được xướng tên chiến thắng ở giải Winner of Winner trong lịch sử 25 năm của giải Orange, thì cũng là khi The Shadow King mang đến trong mình một sự bứt phá từ trong bản chất. Xét về tổng quan, Nửa mặt trời vàng và The Shadow King không quá khá biệt – đều trong bối cảnh vô cùng đặc biệt, đều là hình tượng những người phụ nữ được miêu tả thật sự tinh tế, đi cùng theo đó là những lồng ghép thời đại – có chăng Maaza đã làm mới hơn khi xây dựng được một kết cấu mới vô cùng phức tạp: giữa hư và thực, giữa mới và cũ, giữa cái tưởng tượng và điều thực tế. Maaza viết nên The Shadow King không chứa quá nhiều yếu tố mới mẻ, thế nhưng về mặt tổng quan, đây là cuốn sách hài hòa, vừa đủ và đầy thông minh, dễ lấy cảm tình từ phía độc giả.

Với The Shadow King, Maaza Mengiste đã viết nên bản hùng ca về chiến tranh Ethiopia, về phụ nữ – những nữ chiến binh, về những mảng sáng tối trong tâm hồn mỗi một con người.

DẤU ẤN CÁ NHÂN

Nếu Douglas Stuart mang đến người đọc một sự đồng cảm khi lướt qua vùng Glasgow dưới đế chế Thatcher bằng một giọng kể đậm nỗi buồn thương nhưng cũng tươi sáng trong mắt trẻ thơ một cách kỳ lạ; thì Avni Doshi bằng sự mới mẻ, tiềm lực khai phá dẫn dắt người đọc qua sự đối đầu giữa những nhìn nhận về mặt đạo đức trong bản thân mình. Với Burnt Sugar, Avni đánh dấu được sự nổi bật trong cách lựa chọn đề tài, xây dựng diễn biến, nghệ thuật kỳ ảo, đẩy đến cao trào; và cũng chính những tranh cãi xung quanh cuốn sách là thứ khiến cho người đọc nhớ nhất, khiến nó vượt lên các đối thủ còn lại, một cách tiếp cận tương tự The Discomfort of Evening ở giải Quốc tế vừa rồi.

Giữa 6 tác giả ta đã kể trên, Tsitsi Dangarembga có vẻ nổi bật trước hết bằng phong cách viết vô cùng mới lạ của bản thân mình. Bằng bầu không khí ngột ngạt của những diễn biến nội tâm nhân vật cùng cách xây dựng ngôi kể, góc nhìn, pha chút kỳ ảo cùng đó là chính giọng văn dẫn dắt người đọc vào câu chuyện kể; Tsitsi đã làm nên một hố sâu giữ chân người đọc. Nếu ai từng thích cái ngột ngạt gò bó trong Người giao sữa của Anna Burns nhưng lại không thích dáng vẻ loạn trí trong tiểu thuyết đó, thì This Mournable Body là một cuốn sách không thể bỏ qua, về một xã hội Zimbabwe đầy thất bại sau khi độc lập, về những con người thật sự ủ ê cũng những đè nén với người da trắng… Hiếm có một tác phẩm nào được Doris Lessing, Alice Walker và cả Chinua Achebe ca ngợi “như cuốn tiểu thuyết ta hằng mong đợi”.

Còn lại nhạt nhòa không quá khác biệt. Brandon Taylor thiếu cái nhạy bén của những tiểu thuyết LGBT với những chi tiết thật sự lột tả. Anh nằm chênh vênh giữa hai tên tuổi James Baldwin và Sally Rooney khi phần nào đó đem được sắc tộc cùng nổi quẫn trí của thế hệ Y trong thời đoạn này. Diane Cook lại làm chưa tới. Maaza không quá đặc biệt khi ta bỏ đi chính bối cảnh đó.

VÀ NHỮNG ĐIỀU KHÁC

Nếu năm ngoái ta có #Metoo như cách dự đoán những người thắng giải, thì năm nay Covid-19 thật sự đã lấy đi mất ánh hào quang đó. 4/6 đề cử là tác giả nữ, thế nhưng nhìn chung, chỉ Avni và Tsitsi thật sự nổi bật. Thế nhưng nếu đi đúng hướng của giải Booker Quốc Tế được trao từ hồi tháng 6, Diane Cook - vừa là một tác giả nữ, vừa đang sở hữu tiểu thuyết dystopia nặng tính sinh thái - rất có lợi thế trong thời đoạn này. Nhưng nếu nhìn giải Orange vừa trao tuần rồi – nơi tiêu chuẩn kép rất giống Booker, viết bằng tiếng Anh và được xuất bản ở thị trường Anh – xu hướng đề cao tính nữ của Maaza trong The Shadow King rất có cơ hội.

Và một mặt khác về địa chính trị. Trong khi nước Anh rối bời tìm cách quay đầu khỏi những khủng hoảng thời hậu Brexit, thì nơi Scotland – một phần hợp thành, cùng với Ireland – đang trong khao khát muốn được tách ra và quay trở lại ngôi nhà rộng lớn từng bị ép bỏ. Và Booker biết đâu nhân cơ hội này mong muốn chứng tỏ văn chương đi theo thời sự, và trao ngôi vương cho chính nhà văn từ miền đất này. Sự thật trần trụi rất có khả năng, và cao hơn nữa là nhằm chớp thời cơ trước giải sách Quốc Gia mà Shuggie Bain cũng là một trong những đề cử với khả năng chiến thắng trên đà rất cao.

Shuggie Bain hùng vĩ và dậy sóng, chạm đến độc giả bằng sự chân thành. Một dẫn nhập xuyên suốt qua vùng Glasgow – Scotland những năm 1980 dưới đế chế Thatcher u tối.

KẾT

Rất khó dự đoán những gì xảy ra trong cơn bão tới. Với danh sách rút gọn từ 13 cuốn sách đề cử, dễ thấy ban giám khảo năm nay đang muốn đổi mới, mong muốn cách tân những tàn dư cũ của giải thưởng này. Xét về tổng thể, vừa là bối cảnh, vừa là câu chuyện, This Mournable Body của Tsitsi pha trộn hài hòa đầy mọi yếu tố – dấu ấn cá nhân, đời sống ngột ngạt, phản ánh thời đại. Nhưng để vượt qua tính hiện thực hóa đòi hỏi văn chương đi theo thời sự, cùng những yếu tố thuận lợi về địa – chính trị, Shuggie Bain là một vùng trùng dễ bị lắp đầy bằng một giải thưởng. Và để tìm kiếm một sự phá cách, một làn gió lạ – Burnt Sugar vừa đủ, thông minh mà đầy sắc sảo. Ngay đến Hilary Mantel vẫn còn ngã ngựa dĩ nhiên không gì hoàn toàn có thể chắc cả. Nhưng nếu Tsitsi hay Avni giành được chiến thắng, dĩ nhiên hoàn toàn là điều xứng đáng, và cả Douglas, và cả Maaza, và cả Diane hay là Brandon cũng luôn như thế.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Mình cần nói chuyện về Kevin và công cuộc trả đũa bạo tàn

Trong mắt tôi thế giới chia làm hai loại, kẻ xem và kẻ được xem, và càng nhiều người xem thì càng ít thứ để xem. Những người thực sự làm gì đó thực sự là loài có nguy cơ tuyệt chủng.

Published

on

Thật khó để tưởng tượng ra quá trình Lionel Shriver viết nên Mình cần nói chuyện về Kevin, một cuốn sách nằm chênh vênh giữa những bến bờ đạo đức, giữa lạnh lùng đỉnh điểm và những khúc cua ngoặt khỏi lý trí. Shriver đi ven biên giới của những quan điểm nhạy cảm: giữa tội ác – tình thân, giữa căm thù – tha thứ. Tuy dựa trên câu chuyện có thật về các sự kiện đã từng xảy ra, thế nhưng với cách viết khoắng sâu vào lòng người đọc, thậm chí đôi khi còn là nhát lẹm cắt phạm vào cực hạn đạo đức mà mỗi một người vẫn tự quy ước; Shriver mang đến cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng cho những ai đủ can đảm theo dõi xuyên suốt cuộc đấu của những bộ não lạc lối trong mê cung xã hội đầy nhiễu nhương, lệch lạc, loạn trí.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Mình cần nói chuyện về Kevin.

*

Cuốn sách được kể thông qua những lá thư mà Eva viết cho chồng mình – Franklin sau ngày thứ 5 đen tối ở trường Gladstone, nơi máu do vụ thảm sát Kevin gây ra rực sáng góc nhà thể chất như trong lễ hội ném cà chua ở những cảnh đầu phim chuyển thể. Từ đó, cô lần ngược về lại thời khắc của những dè dặt, tranh cãi nơi cặp vợ chồng vào độ trung niên hoang mang liệu nên có một đứa con; câu chuyện dần dà tiếp tục diễn tiến đến khoảng thời gian cậu bé lớn lên cùng những hành động kỳ lạ, những mưu tính khó đỡ và hơn hết là thế đối đầu giữa Eva và con trai mình. Ẩn sâu giữa những xung đột gia đình vợ – chồng – con cái, đồng thời hiện lên đời sống chính trị – xã hội ngột ngạt, những trào lưu mới, những làn sóng mới mà những đứa trẻ mới lớn bị hút chặt vào trong từ trường lệch lạc. Lionel Shriver am hiểu phụ nữ đến vô cùng tận. Bà viết Mình cần nói chuyện về Kevin trong giọng nói của Eva, nhưng từng câu, từng chữ và từng suy nghĩ của cô đều chứa đựng một sự chua chát ngấm ngầm. Và hơn ai hết, dường như chỉ có Shriver mới viết được một cuốn sách đầy gai góc và mong manh giữa những phạm trù đạo đức như thế.

Đi tuần tự tuyến tính theo ba khoảng thời gian: giữa quyết định có con, khi Kevin lớn lên và cuối cùng đến tuổi trưởng thành; Shriver đánh dấu tiểu thuyết của mình cũng theo ba giai đoạn đó. Với phần đầu khi cặp gia đình thành công, hạnh phúc, thượng lưu đang tận hưởng những ngày êm đẹp của mình, thì một thứ gì đó đánh thức họ sau cuộc nói chuyện ở nhà Louise nơi Eva thấy ở Franklin niềm khao khát phận sự lớn lao. Cũng chính trong đêm đó, những cãi vã lần đầu xuất hiện giữa họ, và cũng là nguồn cơn tạo ra mọi thứ. Là một doanh nhân thành đạt với công ty lữ hành, một nhà nhân chủng học, một người xem cả thế giới là nhà mình – Eva từ lâu vốn luôn ngờ vực về việc có con. Đối với cô việc có thêm một đứa trẻ chỉ đơn thuần như việc duy trì nòi giống, tiếp tục cuộc sống vốn luôn dè dặt, âu lo khi cả hai đã quá hạnh phúc từ trước đến giờ. Thế nhưng với những khúc quanh trong cảnh dè dặt đầy phiền muộn này, Shriver mở ra cả một vũ trụ của những quan điểm mang thai.

Đầu tiên về sự ích kỷ. Ở một khắc nào đó, ta thấy Eva và Franklin có đủ mọi thứ mà mọi người cần. Giàu có, sung mãn, hạnh phúc và cuốn hút lẫn nhau. Thế nhưng việc chần chừ mang thai đứa con liệu có xuất phát từ sự ích kỷ cho riêng bản thân? Là người điều hành công ty lữ hành, việc của Eva là xách ba lô lên và đi. Thế nên nếu có Kevin, nghĩa là việc đó sẽ phải chấm dứt. Và dù sau này khi Eva đã chấp nhận chính đường hướng đó, những lời kêu than về việc nhảy múa ở tháng thứ 7, những viễn cảnh đau đớn trong tháng mang thai hay cơn đau đớn lúc sinh Kevin; dường như gợi cho người đọc một chút gì đó về sự không mong muốn ở người phụ nữ này.

Sự không mong muốn đó có thể là khởi đầu cho những lý giải về cách Kevin hành xử và cho nguồn cơn của cuộc thảm sát mà cậu tạo ra. Bào thai gắn kết với mẹ một cách thiêng liêng, ít nhiều nếu có toan tính từ trong vật chủ, hẳn nhiên những sinh vật mới và đầy nhạy cảm ấy cũng sẽ là người cảm nhận rõ nhất. Từ khi Kevin còn nằm trên ngực em, em ngay lập tức cảm thấy nó đã là một con người đầy đủ tri giác với đời sống nội tâm phức tạp và khôn ngoan. Còn về phía Franklin, anh đón nhận việc có con đầy háo hức trong khuôn khổ những người đàn ông Mỹ điển hình – khoa trương, mềm yếu và đầy bao che. Việc dang tay che chở trong khao khát một đứa con trai, việc bảo bọc nó trong mọi khoảnh khắc… Kevin tuy nhiên chỉ là đứa trẻ từ lúc sinh ra, thế nhưng, nó xem cách cư xử của cha như một trò hề. Trong khi hai người họ tranh cãi về những thiên chức của mình, Kevin ở đó quan sát, lớn lên và hình thành trong mình dòng máu đầy những quả bom nổ chậm.

Và cũng từ khi Kevin tồn tại ở đó, một sự gặm nhấm vào trong Eva được cô cảm nhận từ sâu trong mình. Cũng như những người đọc khác, một sự nghi ngại về tính khả thi của lựa chọn này không thể không đưa ra bình luận. Việc một đứa trẻ sinh ra và hiểu hầu hết mọi thứ trên đời trong vẻ lãnh cảm, xa cách và lạnh lùng cố hữu liệu có quá thực tế? Liệu Kevin quá thông minh hay Shriver đã viết nên một cuốn sách đầy tính thần thoại? Nếu con rắn ở vườn địa đàng dụ dỗ Eva thử ăn trái cấm; thì với Eva (trong cuốn sách này), một con rắn khác đã được hình thành và xui khiến cô - không khác mấy so với câu chuyện ban đầu. Việc từ chối sữa mẹ, lẳng lặng học đếm và không ăn khi có ai khác đang quan sát mình; những hình tượng thần thoại thế này dường như không quá phù hợp, và ở điểm này Shriver mang đến người đọc một sự hoài nghi về tính logic và sự xác thực. Thế nhưng cũng rất có thể bản chất của cái lãnh cảm đã được sinh ra từ trong nguyên bản, tồn tại và phân chia sâu.

*

Kevin ngày càng lớn lên thì những thứ đáng sợ lại càng dâng lên. Shriver nâng cấp những chi tiết này trong vẻ kinh dị của sự lạnh lùng. Từ việc trêu chọc người phục vụ có vết bớt là “mặt phân” đến phá hỏng những tấm bản đồ trên tường; từ việc không chịu đi vệ sinh mà vẫn mặc tã đến tận 6 tuổi cho đến nhại lại những khi Eva nổi nóng; Kevin từ lâu tạo nên cuộc chiến giữa mẹ và chính cậu ta – như lời sau này cậu nói ở lần thăm tù – Bà chưa từng muốn sinh ra tôi phải không? Và dĩ nhiên, mọi thứ chưa dừng ở đó. Việc dụ dỗ Violetta cào những lớp da từ phần cơ thể lành lặn do bệnh chàm, việc vặn bộ nhả phanh phía trước xe đạp của Corley, móc ruột chiếc bánh sinh nhật hay thì thầm và làm tổn thương cô bé ở vũ hội lớp tám… Tất cả dường như chỉ mới bắt đầu cho những tháng ngày kinh khủng.

Thế kình chống giữa Kevin và Eva cũng như sự hoang tưởng của Franklin là động lực chính khiến Kevin ngày càng trở nên dữ tợn trong hành động mình. Cậu tìm cách phá vỡ mối quan hệ của cha mẹ mình, luôn luôn đáp trả 1 chọi 1 với mẹ trong sự bao che của cha. Để rồi khi Celia ra đời, cậu càng cảm thấy vị thế đang bị đe dọa, đơn giản bởi lẽ bản thân không còn là cái đinh trong mắt để chọc tức được mẹ. Việc phân chia tình cảm một cách ngầm hiểu khi cậu cho cha và Celia cho mẹ làm cậu đau đớn. Cái đau đớn lạnh lùng ấy được hiện thực hóa bằng cách bỏ sâu trong cặp em gái, dụ dỗ cô bé leo cây để rồi mắc kẹt hàng tiếng đồng hồ. Hơn thế là món soup lõm bõm đánh vào nỗi sợ cố hữu và đẩy đến cao nhất bằng cách đổ nước thông cống vào mắt cô bé hay là thủ dâm trước mặt mẹ mình.

Kevin nâng lên từ từ những cách trả thù của bản thân mình mỗi khi Eva tìm được cách khác hẳn cao tay hơn. Việc làm mù một mắt Celia và biến dạng hoàn toàn bởi acid một bên mặt cô bé làm mẹ cậu đau đớn, dẫn đến rạn nứt trong mối nghi ngờ mà việc ngụy tạo vu khống cô Pargorski như giọt nước tràn ly khiến cuộc hôn nhân đi vào kết thúc. Và ngay sau đó cậu nhận ra rằng, thà sống với một kình địch như chính mẹ cậu còn hơn sống với người cha như một tên hề, kẻ bị dắt mũi để rồi mãi mãi mắc kẹt với bố.

*

Cũng chính ở chi tiết cuối làm nên bi kịch của ngày thứ năm ở sân thể chất. Việc mắc kẹt với bố và phải từ bỏ tình thế trả đũa Eva khiến Kevin nuôi thêm một sự trả thù ở cấp độ khác còn khủng khiếp hơn. Khi đã quá mỏi mệt với trò trả đũa lẻ tẻ, nay khi cuộc hôn nhân chìm xuồng đang ngay trước mắt, cuối cùng Kevin cũng đã phản công cướp hết những gì Eva từng dấu yêu. Từ người chồng, cô con gái đến niềm kiêu hãnh, bản năng của việc làm mẹ; nay Kevin cướp sạch mọi thứ không chừa thứ gì cho bà mẹ ấy.

Cây nỏ và chín mạng người ở phòng thể chất vốn bị khóa kín. Bảy học sinh – những ai cậu luôn cho rằng vốn thích tỏ vẻ, và một giáo viên từ lâu đọc vị được mình. Không dừng ở đó, vào buổi sáng trước khi bi kịch ở trường diễn ra, năm mũi tên cắm ngập Celia vào trong hồng tâm và một ngay ức người cha đáng thương đã mang tất cả ra khỏi Eva như điều cuối cùng. Mười một mạng người và bảy năm tù vì còn ba ngày mới kịp 18, đó là tất cả những gì cậu phải chịu đựng – những gì vốn hẳn đã toán tính trước. Từ kế hoạch trùng khớp đến từng chi tiết đến việc dùng nỏ thay súng để tránh tiếng động; từ việc đặt mua hàng tá chiếc khóa xe đạp đến việc dùng thuốc an thần như lời biện hộ… Tất cả cho thấy một nỗi bất ổn dâng lên từ từ, có kế hoạch, quá trình và dĩ nhiên, được nghiên cứu một cách cẩn thận.

Đến cuối cùng, vào sinh nhật lần thứ 18, cậu cũng đã sẵn sàng từ bỏ mặt nạ của người thiếu niên lạc lối trong những mê cung của bản thân mình. Ở chi tiết này Shriver cố gắng mang lại hy vọng nào đó từ phía Kevin, khi cậu nhận ra rằng những việc mình làm hoàn toàn vô nghĩa. Cậu gục đầu khóc trên vai Eva và thừa nhận rằng không hiểu những gì đã làm. Thế nhưng lại một lần nữa vượt lên trên hết, Eva đã thắng ở ván sau cùng khi không còn đó chứng kiến công cuộc trả đũa đi vào hồi kết. Cô đi một bước phía trước bằng chính cái chết nơi bản thân mình, khép lại những pha rượt đuổi như cuộc báo thù những gì đã qua.

*

Với Mình cần nói chuyện về Kevin, Lionel Shriver đã khắc họa nên bức tranh của những bất ổn tâm lý xã hội, của những đối lập trong mối quan hệ gia đình đầy sự trả đũa leo thang theo cấp số nhân. Đồng thời, bằng việc thấu hiểu cảm xúc của người phụ nữ cùng những trần thuật đầy vẻ chua cay, Shriver đã họa nên một tổng thể bi kịch xót xa. Được trao tặng giải thưởng Orange vào năm 2005, Mình cần nói chuyện về Kevin là cuốn sách dữ dội, đau đớn, bi thiết và đầy cảm xúc về một câu chuyện gia đình đầy sự tổn thương. Dữ dội muôn vàn lớp ngầm.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Ảnh: BachvietBooks

Đọc bài viết

Cafe sáng