Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

International Booker 2020: Những dự đoán trước thềm trao giải

Published

on

Giải Booker Quốc tế từ lâu đã mang đến nhiều cảm xúc bởi sự đa văn hóa, đa ngôn ngữ và những phông nền bối cảnh đậm màu khác nhau, khác xa giải Booker chính thống là sàn diễn ngự trị từ lâu của những cái tên quen thuộc từ Khối Thịnh vượng chung. Nếu năm ngoái chứng kiến sự quay trở lại ngoạn mục (mà không khó đoán) của Margaret Atwood cho phần 2 của Chuyện người tùy nữ – đồng trao cho Bernardine Evaristo với cuốn tiểu thuyết đầy nữ quyền của cô; thì ở hạng mục Booker Quốc tế là sự góp mặt của Tàn Tuyết – ứng cử viên được nhà cái đặt cược ngang bằng Murakami cho giải Nobel 2019 – với cuốn Chuyện tình thế kỷ mới. Năm nay do ảnh hưởng của Đại dịch Covid-19, buổi công bố kết quả đã phải hoãn từ 19.05 đến hôm nay 26.08, để xác định chủ nhân của giải thưởng trị giá 50.000 euro.

Danh sách đề cử rút gọn của giải thưởng năm nay gồm cả những cái tên quen thuộc lẫn lần đầu xuất hiện trên văn đàn thế giới. Quen thuộc có thể kể đến nữ tác gia Nhật Bản Yoko Ogawa với cuốn The Memory Police (tạm dịch Cảnh sát ký ức), nhà văn người Đức Daniel Kehlmann với Tyll. Những cái tên mới xuất hiện với tuổi đời rất trẻ như Marieke Lucas Rijneveld với cuốn tiểu thuyết đầu tay The Discomfort of Evening (tạm dịch Cái bứt rứt trong buổi tối trời) hay nhà văn Úc tị nạn gốc Iran Shokoofeh Azar với cuốn tiểu thuyết đậm nét hơn những cuốn sách trẻ em trước đây của mình, The Enlightenment of The Greengage Tree  (tạm dịch Ánh sáng phía trên cây mận). Ngoài ra còn có nhà văn người Argentina Gabriela Cabezón Cámara với The Adventures of China Iron (tạm dịch Những chuyến du hành của China Iron) và Hurricane Season (tạm dịch Mùa cuồng nộ) của Fernanda Melchor người Mexico.

Nhìn chung giải Booker Quốc tế năm nay là sự đối đầu chủ yếu của những phông nền văn hóa. Văn chương vị nghệ thuật có lẽ yếu thế ở lần trao giải năm nay (một thực tế đã xảy ra rất lâu). Hai đối thủ đặc biệt nhất, Yoko Ogawa và Marieke Lucas Rijneveld đối đầu bằng hai phong cách riêng biệt, nhưng khách quan mà nói, giải thưởng năm nay dường như khó đoán và những bất ngờ vẫn còn ẩn chứa phía trước.

Nhóm 1: Yoko Ogawa và Marieke Lucas Rijneveld

Yoko Ogawa có lẽ là cái tên không mấy xa lạ với độc giả Việt Nam thông qua những Quán trọ hoa diên vỹ, Nhật ký mang thai hay Giáo sư và công thức toán. Một điểm rất dễ nhận thấy ở Yoko Ogawa là sự lạnh lùng trong phong cách viết. Nếu Quán trọ hoa diên vỹ, Revenge – 11 Dark Stories và tuyển tập Nhật ký mang thai chứa trong mình cái đè nén của tâm tính con người khi được giải thoát thông qua dục tính, trả thù, tra tấn, đe dọa; thì Giáo sư và công thức toán lại là một mặt phản chiếu khác, khi hiện thân của tâm tính trở lại, nơi giá trị nhân văn được đề cao. Và, một cách rõ ràng, The Memory Police là tổng hòa của hai cá tính này trong văn chương Yoko Ogawa.

The Memory Police (tạm dịch Cảnh sát ký ức)
Ảnh: Books & Bao

The Memory Police là câu chuyện của nữ tiểu thuyết gia sống trên hòn đảo không tên, nơi ký ức được xem như một mối hiểm nguy. Cứ cách một khoảng thời gian, một thứ gì đó sẽ lại biến mất và rơi vào quên lãng. Từ đây, cảnh sát ký ức nghiên cứu và phát triển khả năng nhận biết những ai kháng lại sự tan biến bằng cách phân tích chuỗi gene, và đây là lúc những người bình thường phải chạy trốn sự truy bắt. Cô nhận che giấu R – biên tập viên, người hiệu chỉnh tiểu thuyết của mình, vì anh là một con người “hoàn toàn” – nghĩa rằng vô cảm trước mọi sự biến mất. Cũng trong lúc đó, thế giới ngoài kia mọi sự dần đổi thay. Từ loài chim biến mất, cho đến hoa hồng, trái cây, tấm ảnh, lịch bàn, tiểu thuyết, chân trái, tay phải,… và cuối cùng là tất cả.

Tuy được viết từ năm 1994, trải qua gần hai thập kỉ biến động nhưng rõ ràng The Memory Police vẫn thức thời, luôn động cựa và là tiếng vọng lớn vào thế giới chúng ta đang sống. Nó đứng đó như cách nhìn sâu vào thế giới tương lai mà hình dáng ngôn từ là phản chiếu của những gì hiện tại. Dù nhìn cuốn sách này dưới góc độ nào – một thể utopia hy vọng hay dystopia uất nghẹn, ít ra The Memory Police đã cho ta thấy một điều gì đó quan trọng hơn, về vai trò của ký ức, về thế giới quan cá nhân, về mối quan hệ con người, về hy vọng và hằng hà sa số những điều khác.

Trong khi đó với Marieke Lucas Rijneveld, The Discomfort of Evening là khúc phim tái hiện khung cảnh trang trại nơi gia đình họ – một kiểu bán tự thuật với phần lớn dữ kiện thật sự diễn ra, ghi dấu bước đầu tiên dấn thân từ địa hạt thơ ca để đến với tiểu thuyết. Cuốn tiểu thuyết này như đúng tên gọi của nó, gây ra không ít sự khó chịu cho người đọc bởi mức độ phá hủy, ngang tàn, bất cần và hoang dại của tuổi mới lớn, của bản thân tác giả, của nhận thức non trẻ và của Hà Lan lạnh cóng muôn niên.

The Discomfort of Evening  (tạm dịch Cái bứt rứt trong buổi tối trời)
Ảnh: Medium

Tiểu thuyết mở đầu bằng bữa tối hai ngày trước Giáng sinh của một gia đình nông dân kính Chúa, nơi ngôi kể chính – Jas – cô bé 10 tuổi, chứng kiến sự u ám nối tiếp lẫn nhau. Phát súng đầu tiên là cái chết của Matthies khi cậu bé lọt vào hố băng khi đương trượt tuyết. Ám ảnh sâu sắc vì cái chết của đứa con trai, người mẹ bỏ ăn còn người cha cố chống chịu từng ngày, trong khi những đứa trẻ còn lại thoi thóp trong sự áp đặt. Nhưng vòng kiềm tỏa không dừng ở đó, nó thít chặt hơn khi đàn bò lâu đời dần dần mất đi bởi dịch bệnh. Chỉ đến khi ấy, tất cả mới sụp đổ hoàn toàn. Họ nhợt nhạt, buồn thương và vô định trước những ý nghĩ cuộc sống. Cũng từ trong đó, bản chất yếm thế dần dần hiện ra, sự tự khám phá của những đứa trẻ dần bộc lộ.

Với một kịch bản buồn thương nối tiếp buồn thương, Marieke dẫn dắt người đọc đến bi kịch một cách từ từ, để rồi bất chợt nhận ra, sau bi kịch này là bi kịch khác, nối tiếp – không ngừng. Bằng những thô ráp thách thức lạ lùng với lối tiếp cận văn chương thường thấy, Marieke – thông qua đặc trưng rất Hà Lan – đã viết nên The Discomfort of Evening như một nồi hơi sôi sùng sục – nơi con người ta bị thách thức, nơi họ e sợ phát hiện bản thân vốn đã từ lâu chôn giấu những bi kịch khác. Cây bút sinh năm 91 và cuốn tiểu thuyết bán tự thuật đầu tay như tiếng nói lạ cho một cá tính rất khó hòa trộn và nổi bật lên. Dũng cảm, thẳng thắn và vô cùng bộc trực, đánh thức nơi người đọc một niềm nghi ngại.

Bookish dự đoán: Booker vốn từ trước nay khá ngại lối viết thể nghiệm, Marieke mang đến cảm giác ngang tàn kiểu rock-chic ít được lòng giới chuyên gia, mặc cho câu chuyện vô cùng thú vị. Cộng với kết quả trao giải cho Margaret Atwood năm 2019, Yoko Ogawa dường như là cái tên ổn định và dễ đoán hơn, mặc cho sự độc đáo vượt trội chưa ngang bằng The Discomfort of Evening.

Nhóm 2: Daniel Kehlmann và Gabriela Cabezón Cámara

Tương tự Yoko Ogawa, Daniel Kehlmann đến với độc giả việt Nam từ rất sớm thông qua Đo thế giới. Với Tyll, ông đã khắc họa một thế giới cổ tích pha lẫn hiện thực, nơi bối cảnh trung cổ của phù thủy, bùa ngãi, thần chú, gánh xiếc… thay phiên nhau phác họa nên nhân vật chính vô cùng điển hình kết hợp với cuộc chiến giành lãnh thổ của lục địa già thế kỷ XVII với nhiều biến động xoay quanh tranh giành quyền lực, bệnh dịch hạch, tẩy chay dị giáo…

Tyll
Ảnh: Wilko Steffens

Tiểu thuyết là câu chuyện về Tyll – kẻ lang thang, người trình diễn xiếc dây, sinh ra khi cha anh – một người thợ xay, một nhà ảo thuật sớm có những xung đột với nhà thờ bởi làn sóng tẩy chay dị giáo. Tyll chạy trốn cùng con gái người thợ làm bánh qua đất nước bị tàn phá bởi Chiến tranh Ba mươi năm. Từ đây, họ gặp gỡ nhiều người và gắn kết cùng nhau: học giả – nhà văn trẻ Martin von Wolkenstein, tên đao phủ thần sầu Tilman, Pirmin – kẻ tung hứng, con lừa biết nói Origines, cặp vợ chồng hoàng gia vụng về gây nên chiến tranh Elizabeth và Friedrich von Böhmen lưu vong, bác sĩ Paul Fleming viết thơ bằng tiếng Đức, tu sĩ Dòng Tên cuồng tín Tesimond và Athanasius thông thái. Số phận của họ kết hợp cùng nhau để tạo thành bản hùng ca của Chiến tranh Ba mươi năm và những giễu nhại chính trị trong suốt thời đoạn này.

Tuy thế với Tyll, dường như hai phần của tiểu thuyết không hề cân xứng. Nếu nửa đầu là câu chuyện ấu thời nơi làng quê cùng bối cảnh thần thoại, phù thủy, pháp thuật vô cùng cuốn hút; thì nửa sau khi qua cuộc chiến Ba mươi năm, sức hút của tiểu thuyết giảm dần, đến một mức độ khá nhàm chán và thể trạng hành xác. Vốn dĩ thời đoạn thế kỷ XVII của lịch sử châu Âu không quá cuốn hút người đọc (mà Lâu đài sói là một điển hình ở Việt Nam cho tình trạng phủ bụi), nên sức cuốn hút của Tyll giảm dần. Nhưng nghịch lý ở chỗ, ở phương Tây, đây dường như là một bom tấn khi phát hành tương tự ba phần của Hilary Mantel, và biết đâu, rất có thể nó sẽ trở thành một phiên bản Lâu đài sói thứ hai của Đức?

Còn với The Adventures of China Iron, đây là hành trình lý thú của cuộc chiến giành lại lãnh thổ từ địa chủ da trắng, là bức chân dung khắc họa tộc người da đỏ; ẩn sâu bằng những tình cảm thầm kín giữa hai người đàn bà, của phong trào nữ quyền trong cách viết hóm hỉnh mà đầy tinh tế của Gabriela Cabezón Cámara.

The Adventures of China Iron (tạm dịch Những chuyến du hành của China Iron)
Ảnh: Laura Jones

Được cách tân từ bài thơ Martín Fierro của nhà thơ người Argentina José Hernández, cuốn tiểu thuyết đặt trong bối cảnh thuộc địa, khi dân Anglo từ lục địa già di dân sang Argen tìm mảnh đất phát triển mới. Từ đó đàn áp dân địa phương, bắt các gaucho (tương tự cao bồi ở Mỹ) vào quân đội Anh, gây ra nhiều bi kịch. Tiểu thuyết gồm ba phần chính. Phần 1 là chuyến du hành của Liz tìm chồng bị bắt, của Iron chạy trốn người chồng vũ phu và Rosario bỏ nhà đi vì cha thứ hắt hủi, cạnh bên chú chó nhỏ trong những chuyến xe bò. Phần 2 khi ở điền trang của Hernández (tên nhà thơ), Liz và China lên kế hoạch giải cứu các gaucho bị bắt. Phần 3 là khi bốn người họ gặp thổ dân da đỏ địa phương trên sa mạc. Họ gặp lại Fierro và Oscar – hai người chồng. Cũng ở đây Fierro gặp biến cố và yêu một gaucho khác đã cứu lấy mình. Liz, China, Fierro và Oscar ở lại chung sống với bộ lạc, giúp họ chạy trốn vào rừng khi quân Anh với vũ khí đầy đủ đang lăm lăm xâm chiếm để tập trung lối sống với con nước, một kiểu sống mới dựa vào thiên nhiên. Liz bị buộc phải che giấu tình cảm với China; China trong mối quan hệ với một nữ chiến binh khác và sống hòa hợp với bộ tộc.

Cũng tương tự Tyll, The Adventures of China Iron có kết cấu và bối cảnh khá cuốn hút, thế nhưng ở phần 3, khi cuộc chiến chống người da trắng xâm lấn, Gabriela lại đi quá nhanh và nông, không nhận thấy đủ sức nặng của thời đoạn này. Một điều đáng tiếc cho hành trình khởi đầu vô cùng lý thú, với những phân tích tâm lý, tình cảm, nội tâm vô cùng chi ly và tinh tế.

Bookish dự đoán: Hilary Mantel không chỉ một lần được trao tặng Booker danh giá, và dễ đoán với một lịch sử châu Âu huy hoàng thì Tyll có khả năng bao nhiêu so với một China Iron nhỏ bé phản ảnh thời đoạn đáng quên khi người da trắng phô trương vũ trang. Tyll có một điểm cộng không thể phủ nhận.

Nhóm 3: Shokoofeh Azar Fernanda Melchor

Tương tự nhóm 1 khi sự tương phản thể hiện ở cách viết của hai tác gia, thì nhóm 3 lại là sự tương đồng khi khai thác những đặc trưng vô cùng riêng biệt nơi quốc gia họ. Nếu Shokoofeh Azar viết về những năm Cách mạng Hồi giáo, giữa những xâm nhập, bạo loạn mới – cũ đảo chiều luân phiên; thì Fernanda Melchor viết về một Mexico đầy biến động mà ta quen thấy trong 2666 hay Đêm Chile của Roberto Bolano với tệ nạn, ma túy trá hình diễn ra luân phiên. Có thể nói, ngoài khả năng kiểm soát cốt truyện, phong cách viết đạt đến bậc thầy một cách nhuần nhuyễn, bối cảnh lịch sử cũng là phần chính yếu góp nên điểm đặc biệt của hai tác phẩm này. Cuối cùng thì vị nghệ thuật và vị nhân sinh đã tìm thấy nhau, đến được với nhau.

Hurricane Season (tạm dịch Mùa cuồng nộ)
Ảnh: Southern Review of Books

Về nội dung, Hurricane Season là tập hợp những câu chuyện tội ác được lồng ghép vào nhau xung quanh cái chết của nhân vật “Witch” – một phù thủy không danh tính, tên tuổi, không một manh mối truy dẫn sâu xa; chỉ biết vào một ngày cô ở đó và thừa hưởng danh tiếng từ người mẹ cũng là phù thủy của mình. Với lối sống khép kín và những đồn đại về gia sản, cô từ lâu trở thành mục tiêu cho những kẻ tham lam hướng tới, từ bọn cảnh sát biến chất đến lũ ma cô gần mình, từ người bình thường nhất đến kẻ dị biệt nhất… Tất cả bọn họ như loài cú săn chực chờ cạnh bên để mở cánh cửa khóa kín vào trong ngôi nhà, nơi ẩn đằng sau tấm mạng che kín và bộ đồ đen thường trực là ánh sáng nhấp nháy của sàn disco, của ma túy, của khói thuốc, của những đam mê xác thịt từ trong bữa tiệc trác tán. Từ trung tâm là nhân vật “witch”, Fernanda Melchor tỏa ra những hướng khác nhau là câu chuyện của những nhân vật có liên quan đến vụ án mạng, để rồi từ đó tầng tầng lớp lớp tội ác xếp chồng lên nhau, dần dần đưa ra phía trước ánh sáng.

Trong khi đó, The Enlightment of the Greengage Tree lại khắc họa một thời đoạn vô cùng đảo điên của Cách mạng Hồi Giáo, khi những tiên tiến phương Tây của Pahlavi trở nên yếu thế trước sự độc tài thần quyền của Khomeini. Đi theo nhân vật chính là cô con gái đã chết do bị thiêu rụi trong một cuộc nổi dậy, tiểu thuyết phân theo những ngã số phận của gia đình ấy: của cậu con trai bị bắt vì gia thế có học, của cô con gái đi theo tiếng gọi tình yêu, của người mẹ mất hồn leo ngọn cây mận nhìn về phía xa, của người cha lẳng lặng nhìn vào từng đứa con rời xa mình. Lồng lộng như những mạch ngầm vận động dưới hình hài của cuộc chiến vô nghĩa, The Enlightment of the Greengage Tree như sự chuyển dời từ Ấn Độ của Cân bằng mong manh sang Iran đầy biến động.

The Enlightenment of The Greengage Tree  (tạm dịch Ánh sáng phía trên cây mận)
Ảnh: Kayhan Life

Về mặt nghệ thuật, cả Shokoofeh Azar và Fernanda Melchor đều để lại những dấu ấn khó xóa nhòa của mình. Nếu Fernanda Melchor xây dựng một mê cung tiểu thuyết trên nền trinh thám – tâm lý, một kiểu nhiều cửa như 2666 hay Từ điển Khazar để độc giả có thể đọc bất cứ phần nào họ thích mà vẫn logic; thì Shokoofeh Azar mang lại ấn tượng của phong cách hiện thực kỳ ảo, kết hợp tâm linh dị giáo địa phương. Những chi tiết như khi Khomeini bị những bóng ma hành quyết lạc lối trong lâu đài gương do chính mình cho xây hay khi Beeta biến thành người cá, đến sống trong chiếc hồ do người cha xây, lớn lên từng ngày đến khi trở về biển cả và bị giết bởi những tò mò của dòng giống người. Những chi tiết kỳ ảo nên thơ mà ám ảnh của Azar như những dấu mốc rất khó phai nhòa.

Bookish dự đoán: Nhìn chung khả năng thắng giải và sự xứng đáng của cả hai đều ngang bằng nhau. Nhưng Booker vẫn luôn khó đoán. Shokoofeh có sức sáng tạo lấp lánh tuổi trẻ, trong khi Fernanda Melchor lại suy tính kỹ càng đường đi nước bước. John Banville từng thắng Booker với cuốn Biển trước khi chuyển sang series trinh thám dài kì, biết đâu Fernanda Melchor lại người tiếp nối?

*

Nhìn chung, danh sách rút ngắn giải Booker năm nay đạt được tính đa dạng. Nói về truyền thống trao giải những năm gần đây, Yoko Ogawa là sự an toàn và có khả năng cao. Để cạnh tranh với Nobel về sự dị thường, The Discomfort of the Evening là sự nhúng chàm vô cùng sáng suốt. Nhưng ở trạng thái an toàn, Shokoofeh Azar hay Fernanda Melchor ít nhiều cũng khó phản bác khi lựa chọn được đưa ra. Năm nay thật sự khó khăn bởi những yếu tố phái sinh bên ngoài, và lựa chọn người thắng giải, cũng khó khăn không kém.

Hết.

minh.

Cập nhật sáng ngày 27.08.2020:

Không nằm ngoài mong đợi, The Discomfort of Evening, tác giả Marieke Lucas Rijneveld và dịch giả Michele Hutchison đã trở thành chủ nhân mới nhất cho giải Booker Quốc tế năm nay. Thông qua sự trao giải lần này, hội đồng giám khảo đã cho thấy một bước đi mới, dám thách thức và phá bỏ mọi giới hạn để đến với ý nghĩa của văn chương thuần túy không câu nệ. Không e dè như trường hợp Margaret Atwood năm 2019 và cũng tỉnh táo hơn trường hợp Tàn Tuyết bị loại khỏi danh sách rút gọn, kết quả trao cho cuốn sách này rõ ràng nhận được rất nhiều sự đồng tình của người theo dõi.

Từ bài phát biểu của đêm trao giải hôm qua (26.08), Chủ tịch hội đồng giám khảo Ted Hodgkinson đã nhận định như sau: “Đây là cuốn sách bạn không thể bỏ qua. Bạn nhập vào nó, và ở trong nó. Sự chuyển ngữ tuyệt vời của Michele Hutchison là một phần quan trọng để hòa nó vào độc giả tiếng Anh”. Còn Jeet Thayil, một trong các giám khảo cho rằng: “Mọi thứ, từng khoảnh khắc, từng miêu tả… Đây đều là những thứ mới mẻ mà chưa một ai trên thế giới từng làm”.

Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra ngay thời điểm này, liệu chiến thắng của The Discomfort of Evening xuất phát từ nội tại âm ỉ ngầm của cuốn sách, hay từ tình hình ngoại tại quá ư phức tạp? Ted Hodgkinson cũng chia sẻ rằng, ông và các giám khảo tìm kiếm một cuốn sách phản ánh đúng thể dystopia mà chúng ta đang gặp phải – cảnh huống Covid-19, và chính sự ngăn cách ba tháng trì hoãn giải thưởng, ngay bản thân cuốn sách cũng không phải lựa chọn ngay lần đầu đọc. Ngoài tính thời sự sát sao về sự đen tối, Booker cũng mở ra một câu hỏi rất khó trả lời, liệu đây là một nhận thức mới văn chương, hay chỉ đơn thuần là cơ may của thời điểm này?

*

Winner of International Booker 2020
The Discomfort of Evening – Tiếng nói thô ráp của những nghi ngại

2 Comments

2 Bình luận

  1. Tháng Tám 26, 2020 at 9:16 sáng

    Mình thấy cuốn Iran xuất sắc nè, đọc quá ấn tượng. Mà năm ngoái Trung Đông thắng rồi, hong biết năm nay sao. Bài viết chất lượng ghê

  2. Hà Lan

    Tháng Tám 27, 2020 at 2:34 sáng

    Một tràng pháo tay cho bài viết chất lượng. Hóng kết quả Booker năm nay.

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

“Shuggie Bain” chiến thắng Booker Prize 2020: Văn chương chạm đến cảm xúc, hay là #bookersowhite?

Published

on

Chủ nhân của Booker Prize 2020 đã được xác định, và không quá bất ngờ khi nó thuộc về Douglas Stuart với cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình. Shuggie Bain vượt qua năm cuốn sách khác để giành giải, và với thắng lợi rực rỡ năm nay, ta thấy phần nào Booker đã trở về đúng vai trò của nó – văn chương chạm đến cảm xúc. Là cuộc dẫn nhập xuyên qua Glasgow những năm 80 dưới đế chế Thatcher u tối, Shuggie Bain là câu chuyện của một đứa trẻ gánh vác tránh nhiệm nặng nề: gia đình tan hoang, người mẹ nghiện rượu và những khám phá tự bản thân mình. Đầy cảm xúc, bi thương mà hồn nhiên đến mức tréo ngoe, Shuggie Bain - như một nhận định - là vở melodrama đỉnh nhất năm nay.

Tiếp lời Margaret Busby, chủ tịch hội đồng giám khảo năm nay rằng: [Shuggie Bain] là câu chuyện cảm động kể về tình yêu vô điều kiện giữa Agnes Bain - trong bối cảnh nghiện rượu mà cuộc sống khó khăn gây ra cho cô - và cậu con trai út của mình... Được viết một cách duyên dáng và mạnh mẽ, đây là một cuốn tiểu thuyết có tác động lớn bởi nó có nhiều ghi chép cảm xúc và các nhân vật cũng đầy cảm hứng. Chất thơ trong các mô tả của Douglas Stuart và độ chính xác của các quan sát là đầy nổi bật: không gì là lãng phí".

Nếu năm ngoái có nhiều ý kiến bất đồng khi trao đồng thời đến hai giải thưởng mà một trong số đó thuộc về Margaret Atwood với nhiều đánh giá tiêu cực cho phần hai của Chuyện người tùy nữ, thì năm nay, một sự thống nhất đã được ấn định, ở cả hội đồng giám khảo và giới độc giả. Theo chủ tịch hồi đồng giám khảo Margaret Busby, quyết định cuối cùng đã được nhất trí chỉ trong một giờ; còn với Gaby Wood – giám đốc văn học của Booker Prize Foundation, việc xem xét người chiến thắng đã được siết chặt để không có hơn một người chiến thắng.

*

Một cách tổng quan ngay từ bước đầu, Shuggie Bain đã sở hữu trong mình rất nhiều yếu tố có thể chiến thắng: cốt truyện cảm xúc, bối cảnh đặc biệt và một lối viết đậm đặc chất thơ. Có thể nói, với những yếu tố vẫn cứ trở đi trở lại hàng năm trong danh sách đề cử Booker, thì Shuggie Bain không thể không thắng. Dạo lướt qua những đề cử những năm trước đó trong lịch sử 51 năm của giải thưởng này, ta thấy những tiểu thuyết thuộc quỹ tích tương tự Shuggie Bain là không hiếm. Cứ cách một năm lại thấy trong danh sách ấy tiểu thuyết kiểu ấy. Từ Ali Smith đến Anne Tyler, từ Elizabeth Strout đến Hanya Yanagihara; tất cả hợp thành một án tiền lệ mà nếu phông cảnh xã hội cùng với tình hình những dòng thời gian không quá đảo chiều, thì đây là những tiểu thuyết có một khả năng chiến thắng rất cao.

Quay ngược 15 năm trước vào năm 2005, khi giải Booker bất ngờ được trao cho John Banville – một tác gia có phần xa lạ và ít đột phá trong sự nghiệp mình, trước những Julian Barnes (tác giả của Nghe mùi kết thúc – Booker 2011), Kazuo Ishiguro (nhà văn đoạt giải Nobel), Ali Smith (nhiều lần đề cử Booker và người chiến thắng ở giải Orange) mà đặc biệt nhất là Zadie Smith. Giới phê bình đã thấy một sự trở về cùng với cố hương. Giữa một cuốn sách đầy những vận động và các xung đột mạch ngầm mới về sắc tộc, các mối quan hệ gia đình, cuối cùng giải thưởng hàng lâu đời này vẫn chọn The Sea. Tin tức hành lang cho biết On Beauty của Zadie Smith đã gây ra những nhiễu loạn tranh luận trên bàn giám khảo, nhưng đến cuối cùng, hương vị quen thuộc đã được chọn lựa. Tính trắng đã thắng.

Shuggie Bain có chính lợi thế đó - về “gu” của giải thưởng này. Nếu Nobel vẫn được gắn nhãn bới lá tìm sâu nơi những tác gia ít được biết đến, thì hơn ai hết, Booker dĩ nhiên là chính tính “trắng” ở trong văn chương. Việc vượt qua Burnt Sugar hay This Mournable Body cũng cho thấy một sự tự chủ của giải thưởng này. Nếu tháng tám vừa rồi giải Booker Quốc tế được trao cho The Discomfort of Evening bởi sự mới lạ, cách tân, không theo lẽ thường; thì hội đồng giám khảo cũng đã quyết định đi con đường riêng, để giải Booker (dù chính hay phụ) đều theo hướng khác mà không trùng lặp.

Tính tự chủ của giải thưởng này cũng được xác lập ở trong trường hợp của The Shadow King và giải Sách Quốc gia. Nếu trung tuần vừa rồi Winner of winner trong 25 năm lịch sử  giải Orange thuộc về Adichie với Nửa mặt trời vàng, thì Booker chẳng có cớ gì đi trao cho một cuốn sách khá tương đồng. Đó cũng hoàn toàn là một lý do, bên cạnh trào lưu tiểu thuyết lịch sử trong cơn thoái trào, cùng sự ngã ngựa của Hilary Mantel. Bên cạnh đó, giải sách Quốc gia được trao trước đó một ngày cũng đã trao cho Interior Chinatown của Charles Yu và Shuggie Bain hẳn nhiên mở rộng con đường chiến thắng của mình ra thêm. Quay về 17 năm trước vào năm 2003 khi cuốn Người tình của Bretch đã được trao trước hai tuần ấn định của giải Goncourt, chặn đứng việc công bố giải của giải Femina cho thấy sự cạnh tranh của những giải thưởng và tính tiên phong đôi khi đặc biệt, và đó hẳn nhiên là một may mắn khi giải Sách Quốc gia đã lựa chọn trước mà không trùng lặp, nếu không có trời mới biết ai sẽ chiến thắng.

Một yếu tố nữa không thể không nhắc, đó là tình hình địa - chính trị. Booker với tiếng nói trắng, một mặt nào đó, trở thành cơ quan ngôn luận không-hề-chính-thức cho việc nghệ thuật có thể ảnh hưởng ra sao đối với địa - chính trị. Như trong trường hợp Eurovision Song Contest trong lịch sử, với việc Romania bị rút khỏi giải do còn nợ tiền EU hay Nga rút khỏi cuộc thi vào năm Ukraine đăng cai tổ chức vì những tranh cãi chính trị… Tất cả cho thấy ở Lục địa già, nghệ thuật đang bị chi phối. Và khi Scotland đang đòi tách ra khỏi một nước Anh tràn ngập hoang mang thời Hậu Brexit, chiến thắng này cũng không nằm ngoài làn sóng chính trị. Và cũng như Douglas Stuart phát biểu sau khi nhận giải, anh cám ơn người dân Scotland, đặc biệt là người Glaswegians, họ có sự đồng cảm, hài hước và tình yêu cùng sự đấu tranh trong từng câu chữ của cuốn sách này.

*

Nói thế cũng không có nghĩa Shuggie Bain giành được chiến thắng chỉ bởi yếu tố bên lề. Shuggie Bain là cuốn sách hay, động vào cảm xúc và Douglas Stuart, bằng chính chất thơ, đã họa nên những nỗi buồn hết sức sâu sắc. Là tay ngang viết niên chiến thắng, ta khó đánh giá cuốn tiểu thuyết này bằng những dấu ấn đậm chất văn chương; nhưng ngược lại, bởi chẳng có gì, sự quan sát của Douglas vô cùng quý báu. Dưới sự quan sát của một đứa trẻ như Hugh, người đọc vừa thấy cảm thương, vừa thấy thích thú cũng vừa chua xót cho thân phận mình. Douglas chiến thắng bằng những quan sát tinh tế, bằng một câu chuyện cảm động mà hơn ai hết, chạm đến trái tim của mỗi một người.

Hơn nữa Shuggie Bain cũng mở cánh tay chào đón những yếu tố khác. Bối cảnh Glasgow thời hậu Thatcher xuất hiện khá ít trong các tiểu thuyết văn chương ngày nay, và Douglas bước vào một khe cửa hẹp để họa được nên bối cảnh lúc này. Ở kỷ nguyên mà Thatcher không muốn công nhân cần mẫn mà tương lai của bà nằm ở công nghệ, hạt nhân và tư nhân hóa y tế; Douglas đã viết nên được một cuốn tiểu thuyết đầy tính trải nghiệm trong quãng thời gian vô cùng đen tối, vô cùng muốn quên của giới thợ mỏ mới chớm đến gần chủ nghĩa xã hội.

Những mối quan hệ gia đình cũng là nhánh khác khiến nó đứng vững. Mối quan hệ giữa Agnes và chồng hay ba người con, mà đậm nét nhất là Hugh càng cho thấy rõ những gì xảy ra trong gia đình này. Từng đứa trẻ lớn lên, rời xa, những dằn vặt ở trong người mẹ, cái chua chát hy sinh của từng đứa trẻ. Douglas không chỉ quan sát qua một lăng kính của bản thân mình, anh còn đứng đó nhập vai vào bố mẹ mình, vào hàng xóm mình, vào người dân Glaswegians và cả câu chuyện của Shuggie Bain, khiến nó từ một tiểu thuyết nặng tính hồi ký trở nên trung dung mà đầy đồng cảm, ít nhất là cho những ai lớn lên từ khu mỏ than nơi những cá tính bắt đầu bộc lộ.

Sự tự khám phá bản thân cũng là yếu tố sau rốt làm nên tiểu thuyết dang rộng cánh tay. Nếu Brandon Taylor có những xung đột cùng với màu da nhưng thiếu chi tiết đặc trưng một cách nhất định; thì Douglas thông qua quan sát viết nên trải nghiệm trong Hugh đầy vẻ tự nhiên nhưng lại đồng cảm một cách khác thường. Từ những chi tiết bị bắt nạt ở trường cho đến lẳng lặng lấy trộm Pony, từ việc gần gũi với mẹ đến việc dạy cho bà nhảy những nhạc disco; Douglas Stuart cũng chứng minh mình ở địa hạt này, mà truyện ngắn khác – Found Wanting – cũng được đánh giá khá cao ở dòng văn chương LGBT và những dư vị xung quanh của nó.

*

Shuggie Bain và chiến thắng ở giải Booker 2020 hoàn toàn xứng đáng. Chỉ có một điều dường như vẫn đang tồn tại. Mặc cho chính những nỗ lực cố gắng thay máu của dàn giám khảo, thế nhưng kết quả vẫn không khác mấy. Thành thực phải nói, đứng ngang Shuggie BainBurnt SugarThis Mournable Body đầy tính thể nghiệm và văn chương hơn; thế nhưng lựa chọn vẫn “trắng” và khá “thông thường”. Ở một mặt khác ngoài chuyện sắc tộc, cả hai cuốn sách đều khá địa phương và quá mới mẻ - tiêu chí mà giải Quốc tế vô cùng yêu thích. Biết đến bao giờ quốc tế, quốc nội mới có một sự cạnh tranh công bằng? Cũng như cho đến khi nào giữa hai thị trường xuất bản London - New York mới hòa vào nhau?

Nhưng dẫu sao, Shuggie Bain vẫn là ngọn lửa ấm lòng giữa thời dịch bệnh, và là một tiếng nói mới, đánh dấu một nhân dạng mới trên nền văn chương. Chúc mừng tất cả.

Hết.

minh.

*

Toàn cảnh Booker Prize 2020: Cơn thoi thóp chờ thời đổi mới?


International Booker 2020: Những dự đoán trước thềm trao giải

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Toàn cảnh Booker Prize 2020: Cơn thoi thóp chờ thời đổi mới?

Published

on

The Booker Prize 2020 chứng kiến nhiều bất ngờ trong suốt hành trình của mình, từ danh sách đề cử đến 6 cái tên rút gọn đều là những kết quả vô cùng khó đoán. Trái với dự đoán của đa số độc giả khi cho rằng Hilary Mantel sẽ lần đầu trở thành tác gia có ba cuốn sách thuộc bộ trilogy cùng nhau đăng quang, thì bất ngờ lớn đã kịp xảy ra. Không chỉ Hilary Mantel mà những tên tuổi kỳ cựu khác như Anne Tyler cũng nằm ngoài danh sách rút gọn, hay Actress của Anne Enright thậm chí không lọt vào danh sách đề cử. Lần đầu ta có 4/6 cuốn sách đề cử đều là tác phẩm đầu tay, 4/6 tác giả là nữ và hầu hết đều khắc họa một điều gì đó đen tối trong thế hệ chúng ta. Nếu Diane Cook mang đến tiểu thuyết dystopia thời hậu tận thế thì Real Life là những xung động sắc tộc. Nếu Shuggie Bain là một nỗi buồn vô cùng đẹp đẽ thì Burnt Sugar lại nằm chông chênh giữa thế giằng co. Và nếu The Shadow King hát lên bài ca ca ngợi phụ nữ, thì The Mournable Body là những nhiễu nhương của thời đoạn này. Mỗi một cuốn sách, mỗi một câu chuyện tựu trung bóng dáng những ngày hiện tại.

Nếu năm ngoái chứng kiến sự bất lực (khi trao giải cho phần 2 Chuyện người tùy nữ) cũng như theo dòng thời sự (#Metoo cho Bernardine Evaristo), thì ta hoàn toàn có thể chờ đợi một kết quả khác hoàn toàn hợp lý cho giải năm nay. Việc chọn 6/13 cuốn tiểu thuyết đầu tay từ danh sách đề cử cũng như hành động án ngữ Anne Tyler hay Hilary Mantel khỏi danh sách rút gọn cho thấy một điều rất đáng suy ngẫm về động cơ của hội đồng giám khảo.

Với dàn giám khảo mới toanh có phần xa lạ, gồm Margaret Busby, Sameer Rahim, Lemn Sissay, Emily Wilson và nhà văn trinh thám quen thuộc Lee Child; giải Booker năm nay hứa hẹn một sự mới lạ, cùng những cơn bão không ngừng leo thang bởi sự bất đồng với tính mới này. Dẫn lời Gaby Wood, giám đốc văn chương Booker Prize Foundation: "Khi chúng tôi đưa ra danh sách đề cử gồm 13 cuốn sách, một trong số chúng tôi đã hỏi rằng: 'Có bao nhiêu cuốn sách đầu tay thế?' Chúng tôi đã đếm. Và kết quả là hơn một nửa. Một tỷ lệ cao bất thường. Đặc biệt còn gây ngạc nhiên cho chính các giám khảo, những người vốn ngưỡng mộ nhiều cuốn sách của các tác giả quen thuộc hơn, và rất tiếc khi phải để chúng ra đi. Có lẽ hiển nhiên là những câu chuyện mạnh mẽ có thể đến từ những nơi không ngờ tới và dưới những hình thức xa lạ.” Và đó là dấu chỉ cho thấy hội đồng giám khảo năm nay không quá bi lụy vào tình thân của giới xuất bản (mà Atwood hay Rushdie năm ngoái là một vết chàm) cũng không e sợ dư luận lên tiếng (mà Burnt Sugar là một ví dụ điển hình). Một trong những mùa giải thay máu và đáng trông chờ nhất những năm gần đây.

TIỂU THUYẾT ĐẦU TAY

Ngoại trừ Tsitsi Dangarembga và Maaza Mengiste đã xuất hiện trên văn đàn từ trước, 4 cái tên còn lại đều mới chạm ngõ văn chương. Nếu Douglas Stuart – nhà văn Scotland hoạt động trong lĩnh vực thời trang tại New York – viết nên Shuggie Bain bằng những trải nghiệm cá nhân khi sống chung mái nhà với bà mẹ nghiện rượu và làm mọi thứ để níu giữ bà ở tuổi rất nhỏ; thì Brandon Taylor – khi đặt bút viết Real Life – thì Wallace cũng chính là anh trong phòng thí nghiệm. Cả hai người họ đều dùng trải nghiệm cá nhân để làm chất liệu cho tiểu thuyết. Nhưng nếu Shuggie Bain có không gian mở và bối cảnh đầy những khúc quanh có thể khai thác là đế chế Thatcher với những chính sách bất lợi cho giới thợ mỏ; thì Brandon Taylor lại bị co cụm ở trong khuôn viên ngôi trường đại học, một khoảng không gian đã được khai thác rất lâu trước đây mà Zadie Smith, J. M. Coetzee… là những tên tuổi sừng sỏ cho địa hạt này; và dĩ nhiên, với tính chất mới, Brandon bị mắc kẹt và Real Life không quá đột phá.

Với Real Life, Brandon Taylor ít nhiều thể hiện được thế giới quan cá nhân về người da màu yếm thế trong đời sống đầy tính tự do và tư bản giả tạm của dân tư bản da trắng.


Ở một mặt khác, Avni Doshi – người làm nghệ thuật, một nhà giám tuyển – cũng tái tạo nên Antara, nhân vật chính trong Burnt Sugar, theo nghề nghiệp này. Trái với trường hợp hai tác giả trên, Burnt Sugar có rất ít trải nghiệm cá nhân ở nơi tác giả. Và cũng có lẽ vì thế, cuốn tiểu thuyết này sắc sảo, lạnh lùng mà đầy mê hoặc về sự đối đầu, các khe hở nhỏ và những đường biên bến bờ đạo đức. Có vận động, chuyển biến, cao trào và đẩy đến cái lạnh tanh; Avni mở cho người đọc một sự trông chờ vào các tiểu thuyết tiếp sau của mình.

Để hỏi đâu là cuốn sách gây nhiều phân cực nhất của mùa giải năm nay thì câu trả lời chắc hẳn là Burnt Sugar của Avni Doshi.

Trong khi đó, Diane Cook, một nhà hoạt động môi trường với tập truyện ngắn Human Vs. Nature từng đạt được nhiều giải thưởng trước đây đã mở rộng cánh cửa bằng một tiểu thuyết vô cùng trường kỳ – The New Wilderness – với những khắc họa dystopia, vấn nạn môi trường và những xu thế thảm họa diệt vong. Thế nhưng Diane đã quá tham lam khi mượn cốt truyện về tình mẹ con để rồi dẫn dắt vào trong câu chuyện. Hơn nữa, yếu tố dystopia trong tiểu thuyết này cũng rất nửa vời, chưa đến tận cùng, chưa vào sau rốt. Rất tiếc phải nói rằng, nếu như được biên tập lại thật gọn hơn nữa thì đây sẽ là tiểu thuyết hiện sinh đại diện cho thế hệ chúng ta.

Diane Cook cũng họa nên một thế giới như thế, thế giới của tương lai, của đói khát của thảm họa.


Nếu cả 4 tác giả nêu trên không có quá nhiều dấu ấn cá nhân ở những tiểu thuyết đầu tay, (ngoại trừ Avni Doshi với cú debut vô cùng ấn tượng), thì Tsitsi và Maaza lại cho ta thấy ngòi bút lão luyện của những nhà văn sống trong nghệ thuật. Với This Mournable Body và là phần cuối của triology The Nervous Conditions bắt đầu từ năm 1988 (trường hợp ngược lại của Hilary Mantel), Tsitsi bằng chính mô tả nội tâm vô cùng ngột ngạt viết trong ngôi kể độc đáo cùng cách kể chuyện không hề câu dẫn đã họa nên bức tranh Zimbabwe trong thế loạn trí của Tambudzai – mà ta dễ thấy là hình bóng khác của chính Tsitsi. Một phiên bản mới đã thôi nhai lại của Người giao sữa.

This Mournable Body là cuốn tiểu thuyết lạ, lạ theo mọi phương cách ta có thể gọi tên. Từ ngôi kể, góc nhìn, tình tiết, nhịp điệu,… Tsitsi Dangarembga huyễn hoặc người đọc bằng tài năng kể chuyện.

Ở mặt trận khác, khi Ngozi Adichie được xướng tên chiến thắng ở giải Winner of Winner trong lịch sử 25 năm của giải Orange, thì cũng là khi The Shadow King mang đến trong mình một sự bứt phá từ trong bản chất. Xét về tổng quan, Nửa mặt trời vàng và The Shadow King không quá khá biệt – đều trong bối cảnh vô cùng đặc biệt, đều là hình tượng những người phụ nữ được miêu tả thật sự tinh tế, đi cùng theo đó là những lồng ghép thời đại – có chăng Maaza đã làm mới hơn khi xây dựng được một kết cấu mới vô cùng phức tạp: giữa hư và thực, giữa mới và cũ, giữa cái tưởng tượng và điều thực tế. Maaza viết nên The Shadow King không chứa quá nhiều yếu tố mới mẻ, thế nhưng về mặt tổng quan, đây là cuốn sách hài hòa, vừa đủ và đầy thông minh, dễ lấy cảm tình từ phía độc giả.

Với The Shadow King, Maaza Mengiste đã viết nên bản hùng ca về chiến tranh Ethiopia, về phụ nữ – những nữ chiến binh, về những mảng sáng tối trong tâm hồn mỗi một con người.

DẤU ẤN CÁ NHÂN

Nếu Douglas Stuart mang đến người đọc một sự đồng cảm khi lướt qua vùng Glasgow dưới đế chế Thatcher bằng một giọng kể đậm nỗi buồn thương nhưng cũng tươi sáng trong mắt trẻ thơ một cách kỳ lạ; thì Avni Doshi bằng sự mới mẻ, tiềm lực khai phá dẫn dắt người đọc qua sự đối đầu giữa những nhìn nhận về mặt đạo đức trong bản thân mình. Với Burnt Sugar, Avni đánh dấu được sự nổi bật trong cách lựa chọn đề tài, xây dựng diễn biến, nghệ thuật kỳ ảo, đẩy đến cao trào; và cũng chính những tranh cãi xung quanh cuốn sách là thứ khiến cho người đọc nhớ nhất, khiến nó vượt lên các đối thủ còn lại, một cách tiếp cận tương tự The Discomfort of Evening ở giải Quốc tế vừa rồi.

Giữa 6 tác giả ta đã kể trên, Tsitsi Dangarembga có vẻ nổi bật trước hết bằng phong cách viết vô cùng mới lạ của bản thân mình. Bằng bầu không khí ngột ngạt của những diễn biến nội tâm nhân vật cùng cách xây dựng ngôi kể, góc nhìn, pha chút kỳ ảo cùng đó là chính giọng văn dẫn dắt người đọc vào câu chuyện kể; Tsitsi đã làm nên một hố sâu giữ chân người đọc. Nếu ai từng thích cái ngột ngạt gò bó trong Người giao sữa của Anna Burns nhưng lại không thích dáng vẻ loạn trí trong tiểu thuyết đó, thì This Mournable Body là một cuốn sách không thể bỏ qua, về một xã hội Zimbabwe đầy thất bại sau khi độc lập, về những con người thật sự ủ ê cũng những đè nén với người da trắng… Hiếm có một tác phẩm nào được Doris Lessing, Alice Walker và cả Chinua Achebe ca ngợi “như cuốn tiểu thuyết ta hằng mong đợi”.

Còn lại nhạt nhòa không quá khác biệt. Brandon Taylor thiếu cái nhạy bén của những tiểu thuyết LGBT với những chi tiết thật sự lột tả. Anh nằm chênh vênh giữa hai tên tuổi James Baldwin và Sally Rooney khi phần nào đó đem được sắc tộc cùng nổi quẫn trí của thế hệ Y trong thời đoạn này. Diane Cook lại làm chưa tới. Maaza không quá đặc biệt khi ta bỏ đi chính bối cảnh đó.

VÀ NHỮNG ĐIỀU KHÁC

Nếu năm ngoái ta có #Metoo như cách dự đoán những người thắng giải, thì năm nay Covid-19 thật sự đã lấy đi mất ánh hào quang đó. 4/6 đề cử là tác giả nữ, thế nhưng nhìn chung, chỉ Avni và Tsitsi thật sự nổi bật. Thế nhưng nếu đi đúng hướng của giải Booker Quốc Tế được trao từ hồi tháng 6, Diane Cook - vừa là một tác giả nữ, vừa đang sở hữu tiểu thuyết dystopia nặng tính sinh thái - rất có lợi thế trong thời đoạn này. Nhưng nếu nhìn giải Orange vừa trao tuần rồi – nơi tiêu chuẩn kép rất giống Booker, viết bằng tiếng Anh và được xuất bản ở thị trường Anh – xu hướng đề cao tính nữ của Maaza trong The Shadow King rất có cơ hội.

Và một mặt khác về địa chính trị. Trong khi nước Anh rối bời tìm cách quay đầu khỏi những khủng hoảng thời hậu Brexit, thì nơi Scotland – một phần hợp thành, cùng với Ireland – đang trong khao khát muốn được tách ra và quay trở lại ngôi nhà rộng lớn từng bị ép bỏ. Và Booker biết đâu nhân cơ hội này mong muốn chứng tỏ văn chương đi theo thời sự, và trao ngôi vương cho chính nhà văn từ miền đất này. Sự thật trần trụi rất có khả năng, và cao hơn nữa là nhằm chớp thời cơ trước giải sách Quốc Gia mà Shuggie Bain cũng là một trong những đề cử với khả năng chiến thắng trên đà rất cao.

Shuggie Bain hùng vĩ và dậy sóng, chạm đến độc giả bằng sự chân thành. Một dẫn nhập xuyên suốt qua vùng Glasgow – Scotland những năm 1980 dưới đế chế Thatcher u tối.

KẾT

Rất khó dự đoán những gì xảy ra trong cơn bão tới. Với danh sách rút gọn từ 13 cuốn sách đề cử, dễ thấy ban giám khảo năm nay đang muốn đổi mới, mong muốn cách tân những tàn dư cũ của giải thưởng này. Xét về tổng thể, vừa là bối cảnh, vừa là câu chuyện, This Mournable Body của Tsitsi pha trộn hài hòa đầy mọi yếu tố – dấu ấn cá nhân, đời sống ngột ngạt, phản ánh thời đại. Nhưng để vượt qua tính hiện thực hóa đòi hỏi văn chương đi theo thời sự, cùng những yếu tố thuận lợi về địa – chính trị, Shuggie Bain là một vùng trùng dễ bị lắp đầy bằng một giải thưởng. Và để tìm kiếm một sự phá cách, một làn gió lạ – Burnt Sugar vừa đủ, thông minh mà đầy sắc sảo. Ngay đến Hilary Mantel vẫn còn ngã ngựa dĩ nhiên không gì hoàn toàn có thể chắc cả. Nhưng nếu Tsitsi hay Avni giành được chiến thắng, dĩ nhiên hoàn toàn là điều xứng đáng, và cả Douglas, và cả Maaza, và cả Diane hay là Brandon cũng luôn như thế.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Mình cần nói chuyện về Kevin và công cuộc trả đũa bạo tàn

Trong mắt tôi thế giới chia làm hai loại, kẻ xem và kẻ được xem, và càng nhiều người xem thì càng ít thứ để xem. Những người thực sự làm gì đó thực sự là loài có nguy cơ tuyệt chủng.

Published

on

Thật khó để tưởng tượng ra quá trình Lionel Shriver viết nên Mình cần nói chuyện về Kevin, một cuốn sách nằm chênh vênh giữa những bến bờ đạo đức, giữa lạnh lùng đỉnh điểm và những khúc cua ngoặt khỏi lý trí. Shriver đi ven biên giới của những quan điểm nhạy cảm: giữa tội ác – tình thân, giữa căm thù – tha thứ. Tuy dựa trên câu chuyện có thật về các sự kiện đã từng xảy ra, thế nhưng với cách viết khoắng sâu vào lòng người đọc, thậm chí đôi khi còn là nhát lẹm cắt phạm vào cực hạn đạo đức mà mỗi một người vẫn tự quy ước; Shriver mang đến cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng cho những ai đủ can đảm theo dõi xuyên suốt cuộc đấu của những bộ não lạc lối trong mê cung xã hội đầy nhiễu nhương, lệch lạc, loạn trí.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Mình cần nói chuyện về Kevin.

*

Cuốn sách được kể thông qua những lá thư mà Eva viết cho chồng mình – Franklin sau ngày thứ 5 đen tối ở trường Gladstone, nơi máu do vụ thảm sát Kevin gây ra rực sáng góc nhà thể chất như trong lễ hội ném cà chua ở những cảnh đầu phim chuyển thể. Từ đó, cô lần ngược về lại thời khắc của những dè dặt, tranh cãi nơi cặp vợ chồng vào độ trung niên hoang mang liệu nên có một đứa con; câu chuyện dần dà tiếp tục diễn tiến đến khoảng thời gian cậu bé lớn lên cùng những hành động kỳ lạ, những mưu tính khó đỡ và hơn hết là thế đối đầu giữa Eva và con trai mình. Ẩn sâu giữa những xung đột gia đình vợ – chồng – con cái, đồng thời hiện lên đời sống chính trị – xã hội ngột ngạt, những trào lưu mới, những làn sóng mới mà những đứa trẻ mới lớn bị hút chặt vào trong từ trường lệch lạc. Lionel Shriver am hiểu phụ nữ đến vô cùng tận. Bà viết Mình cần nói chuyện về Kevin trong giọng nói của Eva, nhưng từng câu, từng chữ và từng suy nghĩ của cô đều chứa đựng một sự chua chát ngấm ngầm. Và hơn ai hết, dường như chỉ có Shriver mới viết được một cuốn sách đầy gai góc và mong manh giữa những phạm trù đạo đức như thế.

Đi tuần tự tuyến tính theo ba khoảng thời gian: giữa quyết định có con, khi Kevin lớn lên và cuối cùng đến tuổi trưởng thành; Shriver đánh dấu tiểu thuyết của mình cũng theo ba giai đoạn đó. Với phần đầu khi cặp gia đình thành công, hạnh phúc, thượng lưu đang tận hưởng những ngày êm đẹp của mình, thì một thứ gì đó đánh thức họ sau cuộc nói chuyện ở nhà Louise nơi Eva thấy ở Franklin niềm khao khát phận sự lớn lao. Cũng chính trong đêm đó, những cãi vã lần đầu xuất hiện giữa họ, và cũng là nguồn cơn tạo ra mọi thứ. Là một doanh nhân thành đạt với công ty lữ hành, một nhà nhân chủng học, một người xem cả thế giới là nhà mình – Eva từ lâu vốn luôn ngờ vực về việc có con. Đối với cô việc có thêm một đứa trẻ chỉ đơn thuần như việc duy trì nòi giống, tiếp tục cuộc sống vốn luôn dè dặt, âu lo khi cả hai đã quá hạnh phúc từ trước đến giờ. Thế nhưng với những khúc quanh trong cảnh dè dặt đầy phiền muộn này, Shriver mở ra cả một vũ trụ của những quan điểm mang thai.

Đầu tiên về sự ích kỷ. Ở một khắc nào đó, ta thấy Eva và Franklin có đủ mọi thứ mà mọi người cần. Giàu có, sung mãn, hạnh phúc và cuốn hút lẫn nhau. Thế nhưng việc chần chừ mang thai đứa con liệu có xuất phát từ sự ích kỷ cho riêng bản thân? Là người điều hành công ty lữ hành, việc của Eva là xách ba lô lên và đi. Thế nên nếu có Kevin, nghĩa là việc đó sẽ phải chấm dứt. Và dù sau này khi Eva đã chấp nhận chính đường hướng đó, những lời kêu than về việc nhảy múa ở tháng thứ 7, những viễn cảnh đau đớn trong tháng mang thai hay cơn đau đớn lúc sinh Kevin; dường như gợi cho người đọc một chút gì đó về sự không mong muốn ở người phụ nữ này.

Sự không mong muốn đó có thể là khởi đầu cho những lý giải về cách Kevin hành xử và cho nguồn cơn của cuộc thảm sát mà cậu tạo ra. Bào thai gắn kết với mẹ một cách thiêng liêng, ít nhiều nếu có toan tính từ trong vật chủ, hẳn nhiên những sinh vật mới và đầy nhạy cảm ấy cũng sẽ là người cảm nhận rõ nhất. Từ khi Kevin còn nằm trên ngực em, em ngay lập tức cảm thấy nó đã là một con người đầy đủ tri giác với đời sống nội tâm phức tạp và khôn ngoan. Còn về phía Franklin, anh đón nhận việc có con đầy háo hức trong khuôn khổ những người đàn ông Mỹ điển hình – khoa trương, mềm yếu và đầy bao che. Việc dang tay che chở trong khao khát một đứa con trai, việc bảo bọc nó trong mọi khoảnh khắc… Kevin tuy nhiên chỉ là đứa trẻ từ lúc sinh ra, thế nhưng, nó xem cách cư xử của cha như một trò hề. Trong khi hai người họ tranh cãi về những thiên chức của mình, Kevin ở đó quan sát, lớn lên và hình thành trong mình dòng máu đầy những quả bom nổ chậm.

Và cũng từ khi Kevin tồn tại ở đó, một sự gặm nhấm vào trong Eva được cô cảm nhận từ sâu trong mình. Cũng như những người đọc khác, một sự nghi ngại về tính khả thi của lựa chọn này không thể không đưa ra bình luận. Việc một đứa trẻ sinh ra và hiểu hầu hết mọi thứ trên đời trong vẻ lãnh cảm, xa cách và lạnh lùng cố hữu liệu có quá thực tế? Liệu Kevin quá thông minh hay Shriver đã viết nên một cuốn sách đầy tính thần thoại? Nếu con rắn ở vườn địa đàng dụ dỗ Eva thử ăn trái cấm; thì với Eva (trong cuốn sách này), một con rắn khác đã được hình thành và xui khiến cô - không khác mấy so với câu chuyện ban đầu. Việc từ chối sữa mẹ, lẳng lặng học đếm và không ăn khi có ai khác đang quan sát mình; những hình tượng thần thoại thế này dường như không quá phù hợp, và ở điểm này Shriver mang đến người đọc một sự hoài nghi về tính logic và sự xác thực. Thế nhưng cũng rất có thể bản chất của cái lãnh cảm đã được sinh ra từ trong nguyên bản, tồn tại và phân chia sâu.

*

Kevin ngày càng lớn lên thì những thứ đáng sợ lại càng dâng lên. Shriver nâng cấp những chi tiết này trong vẻ kinh dị của sự lạnh lùng. Từ việc trêu chọc người phục vụ có vết bớt là “mặt phân” đến phá hỏng những tấm bản đồ trên tường; từ việc không chịu đi vệ sinh mà vẫn mặc tã đến tận 6 tuổi cho đến nhại lại những khi Eva nổi nóng; Kevin từ lâu tạo nên cuộc chiến giữa mẹ và chính cậu ta – như lời sau này cậu nói ở lần thăm tù – Bà chưa từng muốn sinh ra tôi phải không? Và dĩ nhiên, mọi thứ chưa dừng ở đó. Việc dụ dỗ Violetta cào những lớp da từ phần cơ thể lành lặn do bệnh chàm, việc vặn bộ nhả phanh phía trước xe đạp của Corley, móc ruột chiếc bánh sinh nhật hay thì thầm và làm tổn thương cô bé ở vũ hội lớp tám… Tất cả dường như chỉ mới bắt đầu cho những tháng ngày kinh khủng.

Thế kình chống giữa Kevin và Eva cũng như sự hoang tưởng của Franklin là động lực chính khiến Kevin ngày càng trở nên dữ tợn trong hành động mình. Cậu tìm cách phá vỡ mối quan hệ của cha mẹ mình, luôn luôn đáp trả 1 chọi 1 với mẹ trong sự bao che của cha. Để rồi khi Celia ra đời, cậu càng cảm thấy vị thế đang bị đe dọa, đơn giản bởi lẽ bản thân không còn là cái đinh trong mắt để chọc tức được mẹ. Việc phân chia tình cảm một cách ngầm hiểu khi cậu cho cha và Celia cho mẹ làm cậu đau đớn. Cái đau đớn lạnh lùng ấy được hiện thực hóa bằng cách bỏ sâu trong cặp em gái, dụ dỗ cô bé leo cây để rồi mắc kẹt hàng tiếng đồng hồ. Hơn thế là món soup lõm bõm đánh vào nỗi sợ cố hữu và đẩy đến cao nhất bằng cách đổ nước thông cống vào mắt cô bé hay là thủ dâm trước mặt mẹ mình.

Kevin nâng lên từ từ những cách trả thù của bản thân mình mỗi khi Eva tìm được cách khác hẳn cao tay hơn. Việc làm mù một mắt Celia và biến dạng hoàn toàn bởi acid một bên mặt cô bé làm mẹ cậu đau đớn, dẫn đến rạn nứt trong mối nghi ngờ mà việc ngụy tạo vu khống cô Pargorski như giọt nước tràn ly khiến cuộc hôn nhân đi vào kết thúc. Và ngay sau đó cậu nhận ra rằng, thà sống với một kình địch như chính mẹ cậu còn hơn sống với người cha như một tên hề, kẻ bị dắt mũi để rồi mãi mãi mắc kẹt với bố.

*

Cũng chính ở chi tiết cuối làm nên bi kịch của ngày thứ năm ở sân thể chất. Việc mắc kẹt với bố và phải từ bỏ tình thế trả đũa Eva khiến Kevin nuôi thêm một sự trả thù ở cấp độ khác còn khủng khiếp hơn. Khi đã quá mỏi mệt với trò trả đũa lẻ tẻ, nay khi cuộc hôn nhân chìm xuồng đang ngay trước mắt, cuối cùng Kevin cũng đã phản công cướp hết những gì Eva từng dấu yêu. Từ người chồng, cô con gái đến niềm kiêu hãnh, bản năng của việc làm mẹ; nay Kevin cướp sạch mọi thứ không chừa thứ gì cho bà mẹ ấy.

Cây nỏ và chín mạng người ở phòng thể chất vốn bị khóa kín. Bảy học sinh – những ai cậu luôn cho rằng vốn thích tỏ vẻ, và một giáo viên từ lâu đọc vị được mình. Không dừng ở đó, vào buổi sáng trước khi bi kịch ở trường diễn ra, năm mũi tên cắm ngập Celia vào trong hồng tâm và một ngay ức người cha đáng thương đã mang tất cả ra khỏi Eva như điều cuối cùng. Mười một mạng người và bảy năm tù vì còn ba ngày mới kịp 18, đó là tất cả những gì cậu phải chịu đựng – những gì vốn hẳn đã toán tính trước. Từ kế hoạch trùng khớp đến từng chi tiết đến việc dùng nỏ thay súng để tránh tiếng động; từ việc đặt mua hàng tá chiếc khóa xe đạp đến việc dùng thuốc an thần như lời biện hộ… Tất cả cho thấy một nỗi bất ổn dâng lên từ từ, có kế hoạch, quá trình và dĩ nhiên, được nghiên cứu một cách cẩn thận.

Đến cuối cùng, vào sinh nhật lần thứ 18, cậu cũng đã sẵn sàng từ bỏ mặt nạ của người thiếu niên lạc lối trong những mê cung của bản thân mình. Ở chi tiết này Shriver cố gắng mang lại hy vọng nào đó từ phía Kevin, khi cậu nhận ra rằng những việc mình làm hoàn toàn vô nghĩa. Cậu gục đầu khóc trên vai Eva và thừa nhận rằng không hiểu những gì đã làm. Thế nhưng lại một lần nữa vượt lên trên hết, Eva đã thắng ở ván sau cùng khi không còn đó chứng kiến công cuộc trả đũa đi vào hồi kết. Cô đi một bước phía trước bằng chính cái chết nơi bản thân mình, khép lại những pha rượt đuổi như cuộc báo thù những gì đã qua.

*

Với Mình cần nói chuyện về Kevin, Lionel Shriver đã khắc họa nên bức tranh của những bất ổn tâm lý xã hội, của những đối lập trong mối quan hệ gia đình đầy sự trả đũa leo thang theo cấp số nhân. Đồng thời, bằng việc thấu hiểu cảm xúc của người phụ nữ cùng những trần thuật đầy vẻ chua cay, Shriver đã họa nên một tổng thể bi kịch xót xa. Được trao tặng giải thưởng Orange vào năm 2005, Mình cần nói chuyện về Kevin là cuốn sách dữ dội, đau đớn, bi thiết và đầy cảm xúc về một câu chuyện gia đình đầy sự tổn thương. Dữ dội muôn vàn lớp ngầm.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Ảnh: BachvietBooks

Đọc bài viết

Cafe sáng