Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Mâu thuẫn tồn tại trong văn học về đại dịch: Không phải mất đi nhân mạng, mà là mất đi nhân tính

Những câu chuyện về đại dịch, khi ngôn ngữ hóa vô dụng và con người thành dã thú

Published

on

WHAT OUR CONTAGION FABLES ARE REALLY ABOUT

Jill Lepore

Khi Cái Chết Đen tràn vào thành phố London năm 1665, dân địa phương bỗng chốc hóa rồ. Người cầu viện sự trợ giúp từ chiêm tinh học, lang băm và Kinh Thánh. Người săm soi cơ thể mình, tìm kiếm triệu chứng của căn bệnh: các khối u, vết phồng rộp hay các chấm đen. Người khẩn cầu lời tiên tri; người trả tiền để được đoán mệnh; người cầu nguyện; người tru khóc. Người nhắm nghiền mắt; người bưng kín tai. Người khóc than trên đường phố. Người nghiên cứu những cuốn niên giám đánh động tâm trí: “Hẳn nhiên, sách khiến họ khiếp đảm.” Năm 1722 (cái năm mà dân tình lo sợ rằng một lần nữa dịch bệnh sẽ nhảy vọt qua Eo biển Manche, sau khi đã du hí qua Trung Đông đến Marseille và hướng về phía bắc nhờ các đội tàu thương lái), Daniel Defoe ra mắt A Journal of the Plague Year (tạm dịch Nhật ký năm dịch hạch), một tác phẩm sử thi mà ông viết song song với bản hướng dẫn/ cố vấn mang tên Công tác chuẩn bị thiết yếu phòng ngừa dịch hạch. Defoe viết, để kiểm soát tình trạng hoảng loạn, chính quyền đã cố gắng “ngăn chặn việc In Ấn những Cuốn Sách khiến Người Dân khiếp sợ.” Defoe hi vọng rằng những cuốn sách của mình sẽ trở nên “hữu dụng với người sống cùng thời và cho cả hậu thế, dù bản thân tôi đã được tha bổng khỏi việc nếm trải ly độc dược đắng chát này.” Và năm nay, cái ly độc dược đắng chát kia đã rời tủ.

Defoe hồi tưởng, vào năm 1665, người lo xa hay kẻ khôn ngoan đều đã bỏ chạy khỏi đất nước, và những người ở lại sau có lý do để hối hận: vào thời điểm họ quyết định ra đi thì “cả thành phố chẳng còn con Ngựa nào để họ mua hoặc thuê nữa,” và khi ấy, cổng thành đã đóng và tất cả mọi người bị mắc kẹt. Ai cũng cư xử tệ hại, nhưng những kẻ giàu sang là tệ hại nhất. Lão hàng thịt từ chối trao thịt tận tay cho nàng đầu bếp; cô phải tự tay lấy nó khỏi móc. Và ông ta cũng từ chối chạm tay vào tờ tiền; cô phải thả những đồng xu vào cái xô chứa đầy dấm. Nhớ lấy điều này nếu bạn lỡ hết nước rửa tay nhé.

“Trên Gương Mặt ai cũng chỉ có bi thương và sầu đau,” Dafoe viết. Việc chính quyền cấm cản in ấn những cuốn sách đáng sợ hóa ra vô dụng, bởi đâu đâu cũng là nỗi kinh hoàng. Ai cũng có thể đọc thấy thống kê tử vong hàng tuần, hay đếm những xác người chất đầy trên lối đi. Ai cũng có thể đọc những sắc lệnh của thị trưởng: “Nếu bất cứ Ai từng tiếp xúc với Người bị nhiễm bệnh, hay – bất chấp lệnh cấm – tự ý bước chân vào Căn Nhà đã bị nhiễm: Căn Nhà mà anh ta đang sinh sống sẽ bị phong tỏa.” Và ai cũng có để đọc dấu hiệu trên cửa ra vào của căn nhà bị nhiễm, được lính tuần canh gác, mỗi cánh cửa được đánh dấu bởi chữ thập dài ba mươi centimet, phía trên là dòng chữ in khổ to để thấy được từ khoảng cách xa, “Cầu Xin Chúa Nhân Từ.”

Việc đọc là hành vi truyền nhiễm, là cày bừa lên não bộ: sách có khả năng “gây nhiễm,” nói theo cả phạm trù trừu tượng và vi sinh học. Vào thế kỷ XVIII, khi thuyền trưởng tàu cập bến, họ phải cam kết đã khử trùng tàu bằng cách thề trên Kinh Thánh (đã được nhúng vào nước biển). Trong thời kỳ bệnh lao gây hoang mang dư luận, thư viện công cộng hun khói sách bằng cách niêm phong chúng vào thùng thép chứa đầy khí formaldehyde. Những ngày này, bạn có thể tìm kiếm hướng dẫn khử trùng sách qua bài viết của thủ thư trên Reddit. Phương pháp tốt nhất dường như là dùng khăn lau thấm cồn biến tính hoặc chai phun sương khử trùng nhà bếp; tuy nhiên, nếu bạn cho sách vào lò nướng ở nhiệt độ bảy mươi độ C (khoảng một trăm sáu mươi độ F), thì bạn còn có thể diệt cả bọ giường nữa. (“Đừng có làm hư sách chứ!”) Hay, như những gì đang diễn ra trong giai đoạn đóng cửa do virus Corona, thủ thư chỉ việc tạm ngưng hoạt động thư viện.

Nhưng dĩ nhiên, sách đồng thời là sự xoa dịu và giải khuây. Trong những thế kỷ dài khi Cái Chết Đen đang tàn phá châu Âu, những người cách ly (nếu họ may mắn sở hữu sách) sẽ dành thời gian đọc chúng. Nếu không, và nếu họ đủ khỏe mạnh, họ sẽ kể chuyện. Trong tác phẩm Decameron của Giovanni Boccaccio, viết vào thế kỷ XIV, bảy người phụ nữ và ba người đàn ông thay phiên kể chuyện trong mười ngày trốn tránh khỏi Cái Chết Đen, thứ “Bệnh Độc tử vong cuối cùng làm tổn thương bất cứ ai lỡ mắc phải,” một dịch bệnh khét tiếng đến mức Boccaccio cầu xin độc giả đừng phán xét rằng chỉ cầm sách thôi cũng thấy tởm lợm: “Tôi mong rằng nó không quá kinh khiếp với bạn, sẽ không cản trở quá trình đọc của các bạn.”

Văn chương về dịch bệnh rất hèn mạt. Dịch bệnh giống như phẫu thuật mở thùy não. Nó cắt bỏ những địa hạt cao cấp, những khả năng cao quý nhất của loài người, và chỉ để lại phần con. Trong tác phẩm The Last Man (tạm dịch Người sống sót cuối cùng) ra đời năm 1826, sau khi một căn bệnh đã tàn phá thế giới, Mary Shelley viết, “Vĩnh biệt sức mạnh phi thường của loài người. Vĩnh biệt nghệ thuật, và tu từ.” Mỗi câu chuyện về đại dịch là một câu chuyện về việc đánh mất ngôn từ, khi ngôn ngữ hóa vô dụng và con người thành dã thú.

Nhưng như vậy, sự tồn tại của sách, dù câu chuyện trong đó có tăm tối như thế nào, bản thân nó cũng là một dấu hiệu, một bằng chứng rằng nhân tính sẽ bền bỉ chịu đựng thông qua chính hành vi đọc truyền nhiễm. Việc đọc có lẽ là bệnh nhiễm, tâm trí của người viết thấm vào tâm trí của người đọc, không ngừng được. Tuy nhiên, nó đồng thời cũng là – với bản chất gần gũi được đón nhận, một dạng gần gũi mà nếu theo cách thức khác thì sẽ tuyệt đối bị cấm trong thời kỳ bệnh dịch – một liều thuốc giải, đã được chứng minh, bất bại và tinh tế.

*

Những câu chuyện về dịch bệnh bao hàm mọi sắc thái, từ Oedepus Rex đến Angels in America (tạm dịch Những thiên thần trên đất Mỹ). Một người đàn ông mù đã nói với Oedipus, “Ngươi chính là bệnh.” Nhân vật Tony Kushner nói, “Năm nay là năm 1986 và hiện có một cơn dịch, nhiều người bạn trẻ hơn tôi đã chết, và tôi chỉ mới ba mươi.” Ở đâu cũng từng có dịch, từ Thebes đến New York, tồi tệ và rùng rợn, nhưng chưa bao giờ có một dịch bệnh bùng phát ở khắp mọi nơi, cho đến khi Mary Shelley quyết định đặt bút viết tác phẩm tiếp theo, tiếp nối Frankenstein.

Người sống sót cuối cùng, đặt trong bối cảnh thế kỷ XXI, là tác phẩm lớn đầu tiên giới thiệu viễn cảnh loài người bị diệt chủng bởi đại dịch toàn cầu. Shelley xuất bản sách vào tuổi hai mươi chín, sau cái chết của hầu hết người thân, để lại cho cô, theo như cô nói, “di vật cuối cùng của một chủng tộc được trân trọng, những người bạn đồng hành của tôi, tuyệt diệt trước tôi.” Người kể chuyện trong sách xuất thân là người chăn cừu nghèo khổ và thất học: con người man rợ, bạo lực và coi thường pháp luật, thậm chí quái vật. Khi anh được một nhà quý tộc bồi dưỡng và mở cánh cửa đến sự học – “Một tình yêu tha thiết dành cho tri thức… khiến tôi dành ngày và đêm để đọc và học” – anh đã được nâng tầm nhờ sự Khai Sáng và trở thành một học giả, một người bảo vệ tự do, người ủng hộ chính phủ, một công dân của thế giới.

Và rồi, năm 2092, dịch bệnh ập tới, đầu tiên phá hủy Constantinople. Từng năm từng năm một, mầm bệnh biến mất mỗi mùa đông và tái xuất khi xuân đến, càng ngày càng tàn bạo, càng ngày càng rộng khắp. Nó đặt chân qua rặng núi, nó lan tỏa khắp đại dương. Mặt trời mọc, đen đặc: một dấu hiệu của sự diệt vong. “Qua châu Á, qua bờ sông Nile đến bờ biển Caspian, từ Hellespont đến cả biển Oman, sự hoảng loạn đột ngột lan truyền,” Shelley viết. “Đàn ông chen chật giáo đường; phụ nữ, mặt che mạng, nhanh chân đến hầm mộ, dâng lễ vật cho người chết để cầu xin an lành cho người sống.” Bản chất của căn bệnh này mãi mãi là bí ẩn. “Người ta gọi nó là bệnh dịch. Nhưng câu hỏi quan trọng vẫn chưa có lời đáp là vì sao bệnh dịch này được sinh ra và lan truyền.” Không nắm được cơ chế của căn bệnh nhưng tràn đầy lòng tin sai lầm, chính quyền hành động chần chừ. “Anh Quốc vẫn an toàn. Pháp, Đức, Italy và Tây Ban Nha đã bị phong tỏa, những bức tường canh giữ giữa ta và dịch bệnh vẫn chưa xuất hiện lỗ hổng.” Và sau đó là báo cáo của hàng loạt quốc gia, bị tàn phá và dân số sụt giảm. “Những thành phố lớn ở Hoa Kỳ, những đồng bằng màu mỡ ở Hindostan, những ngôi nhà đông đúc tại Trung Hoa, nay có nguy cơ thành bình địa.” Những con người run sợ cầu cứu lịch sử quá trễ, và tìm thấy trong trang sử, kể cả Decameron, bài học sai lầm: “Chúng ta hãy để tâm đến dịch bệnh năm 1348, khi người ta tính toán rằng một phần ba dân số thế giới đã bị diệt vong. Đến giờ Tây Âu vẫn không bị ảnh hưởng; có phải lúc nào cũng thế?” Không, không phải lúc nào cũng thế. Cuối cùng, dịch bệnh đã đến Anh Quốc, và đến lúc này những người khỏe mạnh đã không còn đâu để chạy trốn, bởi vì, trong dấu chấm kinh hoàng cuối cùng của nạn dịch, “chẳng còn nơi đâu để lưu vong nữa”: “Cả thế giới đều nhiễm bệnh!”

Nếu trong Frankenstein, Shelley tưởng tượng sự ra đời của con người nhờ chắp nối những bộ phận cơ thể, thì trong Người sống sót cuối cùng, cô tưởng tượng sự cắt rời của cả nền văn minh. Từng cái chết một, từng quốc gia một, loài người xuống dốc, từng bậc thang một, trượt dài trên cái thang xưa kia ta từng xây dựng và leo lên. Người kể chuyện của Shelley, người chăn cừu một thuở, là kẻ chứng kiến sự diệt vong và sự ruồng bỏ “phục sức của nhân tính” từng một thời tô điểm cho bản thân trần trụi của anh: luật pháp, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học, chính quyền dân chủ (“Chẳng còn quốc gia nào nữa!”), tự do, thương mại, văn học, âm nhạc, sân khấu, công nghiệp, giao thông, truyền thông, nông nghiệp. “Đầu óc của ta, trước kia đã mở rộng nhờ vô số địa hạt và vô vàn tổ hợp suy nghĩ, nay trốn sau thành lũy của bức tường xác thịt, chỉ duy nhất mong được bảo vệ sự an nguy của bản thân.” Và khi dịch bệnh phá hủy hành tinh, số người hiếm hoi sống sót hạ mình thành bộ lạc chiến tranh liên miên, mãi đến khi duy nhất một người, người kể chuyện của ta, còn sót lại, một lần nữa tái sinh dưới hình dạng kẻ chăn cừu. Lang thang giữa những đổ nát của thành Rome, anh bước chân vào ngôi nhà của một văn nhân và tìm thấy bản thảo trên bàn ông: “Nó chứa đựng luận văn uyên thâm về ngôn ngữ của nước Ý.” Cuốn sách cuối cùng là bản nghiên cứu ngôn ngữ, thứ phục sức đầu tiên của nhân tính. Và người kể chuyện của ta sẽ làm gì, khi chỉ còn mình anh trên thế gian này? “Tôi cũng sẽ viết một cuốn sách, tôi òa khóc – vì liệu còn ai có thể đọc nó nữa?” Anh gọi nó là “Lịch sử về người sống sót cuối cùng” và dành tặng nó cho những người đã khuất. Cuốn sách này không có độc giả. Dĩ nhiên, ngoại trừ những độc giả của Người sống sót cuối cùng.

*

Giấc mộng vĩ đại của thời kỳ Khai Sáng là sự tiến bộ; nỗi sợ cường đại của đại dịch là sự thoái trào. Nhưng trong văn học Mỹ, những tàn phá như trên thường đi kèm với bước ngoặt dân chủ: dịch bệnh chỉ là đòn san bằng cuối cùng. Câu chuyện của Edgar Allan Poe vào năm 1842, The Masque of the Red Death (tạm dịch Vũ hội của Cái Chết Đỏ) được đặt trong thời đại trung cổ, khi căn bệnh truyền nhiễm gây tử vong tức thì đang gieo tai họa ở khắp mọi nơi. “Có những cơn đau bén nhọn, tiếp đến là chóng mặt đột ngột, và sau đó xuất huyết tuôn trào qua lỗ chân lông, cùng phân hủy,” Poe viết. “Sắc đỏ tươi nhuộm màu thân thể và gương mặt nạn nhân chính là lời nguyền rủa khốn cùng ngăn anh ta nhận được sự cứu chữa và thương cảm từ đồng bào.” Đặc biệt, người giàu chẳng có mấy thương cảm dành cho kẻ nghèo. (Cũng không phải không liên quan, khi người cha dượng giàu có của Poe đã ngừng trao tiền chu cấp, làm ông trở nên khố rách áo ôm và vợ ông mất vì bệnh lao phổi.) Vị hoàng tử hống hách và những nhà quý tộc và những vị phu nhân rút lui về “chốn ẩn dật thâm sâu tại một trong những lâu đài tu viện,” nơi họ đắm chìm trong sự xa xỉ suy đồi, cho đến một đêm nọ, trong vũ hội hóa trang, một bóng người mang mặt nạ tham dự, chiếc mặt nạ “được chế tác để mô phỏng gương mặt của cái xác khô cứng, thậm chí quan sát kĩ cũng khó lòng phân biệt được.” Người tham dự này chính là Cái Chết Đỏ. Tất cả mọi người trong lâu đài chết trong đêm. Quý tộc không thể trốn thoát khỏi những điều mà người nghèo phải chịu đựng.

Cái chết đỏ của Poe nay trở thành đại dịch trong tiểu thuyết The Scarlet Plague (tạm dịch Dịch bệnh màu đỏ) của Jack London, đăng dài kỳ năm 1912. Căn bệnh khá giống nhau: “Cả gương mặt và cơ thể hóa đỏ tươi sau một tiếng nhiễm bệnh.” Căn bệnh xuất hiện năm 2013 và xóa sạch phần lớn dân số, người thượng lưu và thấp kém, quốc gia hùng cường và yếu ớt, mọi ngóc ngách của địa cầu, và những người sống sót nay bình đẳng trong tình trạng khốn khó và mất tư cách công dân. Một trong số ít ỏi người sống sót từng là học giả của Đại học California, Berkeley, một giáo sư văn chương Anh. Khi dịch bệnh bùng phát, ông đã trốn trong tòa nhà khoa hóa và trở nên miễn dịch. Trong nhiều năm, ông sống một mình tại một khách sạn cũ ở Yosemite, hưởng thụ số lượng đồ hộp dự trữ, cho đến khi ông rời đi và tham dự một nhóm nhạc nhỏ mang tên “Những anh tài xế,” trưởng nhóm là một kẻ cục súc từng là tài xế, và thậm chí ông còn lấy được vợ. Thời điểm tiểu thuyết bắt đầu, vào năm 2073, giáo sư nay đã là một ông lão, một người chăn cừu, tấm áo trên người làm từ da thú – “trên ngực và vai treo duy nhất một mảnh da cừu dơ hầy” – và sống như một con thú. Ông kể lại câu chuyện về dịch bệnh màu đỏ cho những cậu cháu trai, những cậu bé “nói chuyện bằng từ đơn tiết và câu ngắn ngắt quãng, nghe như âm thanh vô nghĩa hơn là ngôn ngữ,” nhưng chúng sử dụng cung tên rất thành thạo. Sự hoang dã của chúng khiến giáo sư khổ sở; ông thở dài và nhìn ra khoảng không từng là San Francisco: “Nơi bốn triệu người từng vui sống, hôm nay sói hoang ngự trị, và đám con cháu man rợ được sinh ra nay phải tự bảo vệ mình khỏi nanh vuốt kẻ thù bằng thứ vũ khí thời tiền sử. Nghĩ mà xem! Tất cả chỉ vì Cái Chết Đỏ.”

Jack London đã mượn tạm cái chết đỏ từ Poe và lấy cốt truyện từ Người sống sót cuối cùng – ngoại trừ, luận điểm của London về quá trình suy tàn và sụp đổ của loài người kém tinh tế hơn của Shelley rất nhiều. “Số phận của loài người tất sẽ chìm sâu, sâu hơn nữa vào đêm ban sơ trước khi, một lần nữa, ta có thể bước những bước đầy máu trên nấc thang tiến đến sự văn minh,” giáo sư giải thích. Với London, không phải động cơ tiến bộ về mặt đạo đức của thời kỳ Khai Sáng, chính chủ nghĩa tư bản công nghiệp và chủ nghĩa đế quốc mới là động lực để con người từ tàn bạo hóa văn minh, từ khan hiếm đến dư dả. Sự xuống dốc của loài người, với London, là sự xuống cấp vào đêm tối mông muội đặc trưng: cháu trai của giáo sư có “nước da nâu.” Trước khi dịch bệnh đến, tầng lớp tư bản và người ủng hộ chủ nghĩa đế quốc đã tích trữ được gia tài khổng lồ. “Tiền là gì?” những cậu bé hỏi ông nội mình khi ông sử dụng từ này để mô tả một đồng xu họ tìm thấy, đúc năm 2012. (“Đôi mắt của ông lão lấp loáng ánh nước khi ông cầm đồng xu.”) Tất cả những thứ này – màu da trắng, gia tài – đã mất rồi! Sự khổ sở lớn lao nhất của giáo sư liên quan đến việc vị cựu tài xế ép cưới vợ cũ của một trùm tư bản: “Nàng đứng đó, Vesta Van Warden, cô vợ trẻ của John Van Warden, áo quần rách nát, đôi tay chai sạn với những vết xước và sẹo, cúi đầu trước ngọn lửa và làm cái việc rửa bát – nàng, Vesta, người được sinh ra trong nhung lụa, trong hàng tước sang giàu nhất mà thế giới từng thấy.” Khổ sở tương đương là khi người da trắng đã chinh phục thành công mọi lục địa, nay cuối cùng đã đánh mất cả phía Đông và phía Tây. Giáo sư cố gắng giải thích cho những đứa cháu hoang dã về sự suy tàn của thành phố nước Mỹ, những thành phố mà kết cục ông đã biết được trong những ngày đầu đại dịch xuất hiện, khi tin tức có thể đến California từ đầu bên kia của đất nước, trước khi nhân viên điều khiển điện báo cuối cùng qua đời:

“Thành phố New York và Chicago trong cơn hỗn loạn… Một phần ba cảnh sát New York đã chết. Cảnh sát trưởng cũng đã chết, thị trưởng cũng thế. Pháp luật và trật tự đã ngừng hoạt động. Xác người nằm trên phố, chưa kịp chôn. Đường tàu hỏa và tàu thủy chuyên chở thực phẩm và những thứ tương tự vào thành phố đã ngừng hoạt động, và những nhóm người đói khổ đã cướp bóc cửa hàng và nhà kho. Ở đâu cũng tồn tại giết người, cướp của và say xỉn. Hàng triệu người đã bỏ chạy khỏi thành phố – đầu tiên là người giàu trong xe hơi và khinh khí cầu, sau đó là đám đông dân cư, đi bộ, mang theo mầm bệnh trong mình, bản thân dần chết đói và cướp bóc nông dân và thị trấn và làng mạc trên đường họ đi.”

Tất cả những thành phố đã hóa tro. Kể cả khinh khí cầu của người giàu cũng nổ thành hoa lửa, thế giới nay trở thành Hindenburg.

Dịch bệnh màu đỏ, xuất bản ngay trước Thế chiến thứ nhất, đồng thời cảnh báo về chi phí của chiến tranh thế giới, thậm chí là chi phí của việc sống. “Cách đây lâu lắm rồi, khi chỉ có một vài người trên thế giới, có rất ít dịch bệnh,” giáo sư giải thích. “Nhưng khi dân số tăng lên và mọi người sống gần nhau trong những siêu đô thị và khu văn minh, những căn bệnh mới xuất hiện, những loại vi trùng mới xâm nhập cơ thể. Vì thế, hàng triệu người hàng tỉ người bị giết chết. Và khi người càng bị dồn ép gần nhau hơn, những căn bệnh mới càng có hậu quả khủng khiếp hơn.” Cháu trai của ông chẳng thể hiểu những điều này. “Điều tra dân số năm 2010 đã thống kê thế giới có tám tỉ người,” ông nói. Chúng không hề tin ông, và không hề biết khái niệm một tỉ người là gì, hay là điều tra dân số, hay là thế giới.

Giáo sư nói, “Mười nghìn năm văn hóa và văn minh biến mất trong chớp mắt.” Ông quyết định cống hiến đời mình để trở thành một thủ thư, người lưu trữ mười nghìn năm ấy. Trong một hang động trên Đồi Telegraph, ông cất giữ tất cả những cuốn sách ông tìm được, mặc dù ông là người duy nhất biết đọc còn sống. “Trong đó là những trí tuệ to lớn,” ông giảng giải cho cháu mình trong chương cuối cuốn sách, bảo rằng ông cũng để lại bảng chữ cái. “Một ngày nào đó loài người sẽ một lần nữa học cách đọc,” ông thề. Chúng chẳng hiểu ông đang nói cái gì. Thế nhưng, độc giả của Dịch bệnh màu đỏ hiểu.

*

Cấu trúc của những tiểu thuyết hiện đại viết về dịch bệnh đều là biến thể của Nhật ký năm dịch hạch (một câu chuyện viết trong bốn bức tường cách ly) hoặc Người sống sót cuối cùng (một câu chuyện lấy bối cảnh trong một nhóm người rách rưới sống sót). Mặc dù bị giới hạn trong hai cấu trúc này, phạm vi kể chuyện vẫn rất rộng, và cùng với đó là phạm vi cho luân thường đạo đức, tranh luận lịch sử, suy ngẫm triết học. Mỗi tiểu thuyết dịch bệnh là một ngụ ngôn.

Albert Camus từng định nghĩa tiểu thuyết là nơi để con người bị bỏ lại trong tay những con người khác. Còn tiểu thuyết dịch bệnh là nơi con người bỏ mặc những người còn lại. Không giống như những hình thái hư cấu bàn về tận thế khác, khi kẻ thù là hóa chất hay núi lửa hay động đất hay những kẻ xâm lăng từ vũ trụ, kẻ thù ở đây là chính là loài người: cái chạm tay của người khác, hơi thở từ người khác, và – rất thường gặp – trong sự cạnh tranh lấy nguồn tài nguyên đang sụt giảm – kẻ thù đơn giản chỉ là sự tồn tại của người khác.

Camus, trong cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1947 The Plague (Dịch hạch), đặt bối cảnh câu chuyện trong bức tường phong tỏa của thị trấn Pháp-Algeria trong Thế chiến thứ hai (năm trong sách là 194-). Với những điềm báo, tiên tri và những con tốt thí, đây hoàn toàn có thể là London năm 1665. Ban đầu, bác sĩ Bernard Rieux cùng với nhiều người khác không nhận ra những dấu hiệu cảnh báo. (Tiểu thuyết cố ý viết từ sổ tay của Rieux, nhật ký năm dịch hạch của ông.) Ông chứng kiến cảnh một con chuột ngả nghiêng trước cửa nhà mình:

“Chúng di chuyển nhát gừng, bộ lông ướt nhèm nhẹp. Con vật ngừng lại và cố gắng lấy lại thăng bằng, một lần nữa cố di chuyển về phía bác sĩ, rồi lại ngừng, rồi quay một vòng với tiếng rít nho nhỏ và ngã sang một bên. Miệng nó hé mở và máu đang trào ra từ đó. Sau khi quan sát nó một lúc, bác sĩ đi lên lầu.”

Chuột thoát ra từ tầng hầm và chết trên đường, chất thành đống. Thế nhưng, bác sĩ và người dân chẳng có hành động nào, mãi đến khi có người chết đầu tiên, một người khuân vác. Và sau đó là hối hận: “Nhìn nhận lại những giai đoạn đầu tiên sau khi đã biết những sự kiện sau đó, người dân thị trấn tôi hiểu rằng họ chưa bao giờ mơ đến việc thị trấn này được chọn là nơi diễn ra một sự kiện quá sức gớm guốc, khi chuột chết hàng loạt giữa ban ngày hay cái chết của phu khuân vác vì căn bệnh ngoại lai.”

Sau đó, người đọc được biết, “cả thành phố đang trải qua một cơn sốt cao.” Số lượng ca nhiễm tăng lên, rồi tăng vọt. Mười một cái chết trong bốn mươi tám tiếng, và hơn thế. Ủy ban sức khỏe của chính quyền muốn trốn tránh việc sử dụng từ “dịch hạch,” nhưng nếu từ này không được sử dụng thì thông báo khẩn cấp không thể được ban hành. Thông báo được đăng lên, nhưng chỉ ở những nơi hẻo lánh, cỡ chữ rất nhỏ, và như những gì bác sĩ quan sát, “rất khó để tìm thấy dấu hiệu rằng chính quyền đang thẳng thắn đối mặt với tình huống.” Cuối cùng, trong sự tuyệt vọng, khi ba mươi người chết trong một ngày duy nhất, chính quyền áp dụng luật “diệt chuột” và đóng cửa thị trấn.

Dịch bệnh, dĩ nhiên, là virus của Phát-xít. Không ai trong thị trấn để tâm đến chuột cho đến khi đã quá muộn – mặc dù dịch bệnh “chối bỏ tương lai, bãi bỏ các chuyến đi, bóp nghẹt sự trao đổi thông tin”. Đây chính là sự dại dột của họ: “Họ nghĩ rằng mình tự do, nhưng chẳng ai có thể tự do khi bệnh tật gần kề.”

Dịch hạch không kể lại tiến trình của một đại dịch toàn cầu theo lý giải rằng căn bệnh chưa bao giờ vượt qua phạm vi thị trấn, nhưng dịch bệnh của Camus là một dịch bệnh không có điểm dứt. Nhưng thông qua ghi chép lịch sử, Rieux biết rằng chỉ duy nhất một căn bệnh trong lịch sử loài người có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác, vượt qua thời gian, từ “thị trấn Trung Hoa dồn nén nạn nhân chịu thống khổ trong câm lặng” đến những những “ổ rơm ẩm ướt, thối rữa dính bết trên nền đất bùn tại những trại hủi ở Constantinople, nơi bệnh nhân được dựng thẳng người dậy trên giường bệnh bằng móc câu,” đến “những xe chất đầy xác người lục đục đi qua đêm tối quỷ ám London – ngày và đêm, nơi và nơi chỉ độc lấp đầy bằng tiếng khóc không dứt của nỗi đau nhân loại.” Sau đó đến đâu? Auschwitz, Dachau, Buchenwald. Dịch bệnh ấy chính là con người.

Bị giày vò bởi phát hiện trên, Rieux, lúc này bị nhốt trong một nhà thương điên, đau khổ do sự cô độc tận cùng, do sự ghét bỏ và tàn bạo của xã hội hiện đại:

“Đôi khi vào nửa đêm, khi thị trấn đã chìm vào giấc ngủ say thinh lặng, bác sĩ bật radio trước khi lên giường, chuẩn bị cho giấc ngủ kéo dài vài tiếng đồng hồ được bản thân cho phép. Và từ tận cùng thế giới, vượt qua hàng ngàn dặm đất liền và biển cả, những phát thanh viên ân cần, thiện chí cố gắng nói lên trăn trở của đồng bạn loài người, và đúng là thế, nhưng cũng đồng thời chứng minh sự bất lực lớn lao của con người khi đứng trước việc sẻ chia những gánh nặng khổ đau mà anh ta không thể chứng kiến.”

Với những người bị cách biệt, không có khái nghiệm thế giới: “dịch bệnh đã nuốt chửng mọi người và mọi thứ.” Họ được cứu vớt vào phút cuối cùng bởi một loại serum, và thị trấn vỡ òa trong sự ăn mừng hoan hỉ. Trong lời kết tiểu thuyết, bác sĩ nghĩ về những gì ông đọc được. “Ông biết rằng đám đông hồ hởi ngoài kia không biết nhưng có thể học được từ cuốn sách: rằng dịch khuẩn que không bao giờ bị tiêu diệt hoặc biến mất hoàn toàn… và ngày nào đó, cái ngày mà nó sẽ khuấy động những con chuột và tiễn chúng đi chết tại một thành phố vui tươi, sẽ lại đến.” Con người luôn luôn, một lần nữa, trở thành chuột.

Nhận xét của Camus về “sự bất lực lớn lao của con người khi đứng trước việc sẻ chia những gánh nặng khổ đau mà anh ta không thể chứng kiến” là chủ đề của cuốn tiểu thuyết xuất sắc Mù lòa của José Saramago, đã tái tưởng tượng câu chuyện dịch bệnh, lấy bối cảnh năm 1995, về một bác sĩ nhãn khoa khá giống Defoe và một căn bệnh biến loài người thành động vật khi tước đoạt thị giác. Như một ngụ ngôn lịch sử, Mù lòa là bản cáo trạng thể chế độc tài thế kỷ XX: sự dồn ép những người yếu nhược vào bệnh viện và nhà tù, sự tàn nhẫn của giới cầm quyền vũ trang. Khi căn bệnh ập đến, chính quyền tập trung người mù lại và khóa nhốt họ trong bệnh viện tâm thần, nơi đó, trong tình cảnh mù lòa, họ xung đột với nhau. Họ trộm cắp, họ cưỡng hiếp. “Người mù lúc nào cũng trong trận chiến, đã luôn luôn ở trong trận chiến,” Saramago viết, trong những chiêm nghiệm u ám nhất của tiểu thuyết.

Nhưng Mù lòa đen tối hơn những bài học lịch sử thực tế rất nhiều. Với Saramago, mù không phải là bệnh; mù lòa là một bản chất con người. Trong tiểu thuyết, chỉ có duy nhất một người có khả năng nhìn. Cô đọc sách cho người mù, và điều này với họ vừa thiên đường vừa là phiền nhiễu: “Đây là những gì ta có thể làm, lắng nghe ai đó đọc cho ta câu chuyện về một lớp người tồn tại trước ta.” Và đó, trong những cuốn tiểu thuyết hiện đại về dịch bệnh, là mối nguy cuối cùng của dịch bệnh tận thế: sự biến mất của tri thức mà hành động đọc là liều thuốc chữa duy nhất. Đây chính là điều vị bác sĩ nhãn khoa của Saramago nhận ra, ngay khoảnh khắc ông đánh mất thị lực của mình trước khi căn bệnh được xác định: ý thức về sự quý giá, vẻ đẹp và sự mong manh của tri thức. Bối rối trước một ca bệnh tại phòng khám, khi bệnh nhân đột nhiên bị mù và tất cả những gì anh ta thấy không phải là màu đen mà là một màu trắng đục như sữa – vị bác sĩ nhãn khoa trở về nhà, và sau bữa tối, tham khảo những cuốn sách trong thư viện cá nhân. “Đêm hôm ấy, ông đặt cuốn sách đang nghiên cứu sang một bên, dụi đôi mắt mệt mỏi và tựa lưng vào ghế,” Saramago viết. Ông quyết định hẳn mình nên đi ngủ. “Nó diễn ra một phút khi ông đang gom gọn những cuốn sách để trả về chỗ cũ trong thư viện. Đầu tiên, ông nhận thức mình không nhìn thấy bàn tay mình, và sau đó, ông biết mình đã mù.”

Tất cả mọi thứ đã hóa trắng xóa. Như một trang giấy trắng.

Hết.

Mèo Heo lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Jill Lepore, đăng tại The New Yorker

Ảnh đầu bài: Karolis Strautniekas


Bài viết có thể bạn sẽ thích




Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Mọi người đều nói dối, còn dữ liệu thì không

Người ta nói dối với bạn bè. Họ nói dối với ông chủ. Họ nói dối với trẻ em. Họ nói dối với cha mẹ. Họ nói dối với bác sĩ. Họ nói dối với chồng. Họ nói dối với vợ. Họ nói dối với chính mình.

Published

on

By

moi nguoi deu noi doi

Bạn có bao giờ thắc mắc: Vì sao Trump đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 2016, dù các cuộc thăm dò ý kiến cho ra kết quả ngược lại? Ông từng lên tiếng xúc phạm rất nhiều nhóm thiểu số, và các cuộc thăm dò cho biết ít người Mỹ nào chịu bị xúc phạm như thế? Và dù rất nhiều cử tri có-vẻ-sẽ-đi-bầu cho biết họ không ưa gì ông lão da cam và cái quan điểm khó nuốt của ông ấy?

Kết quả như ai cũng biết: Trump đã có 4 năm ngồi ở chiếc ghế cao nhất nước Mỹ từ năm 2016 đến 2020. Tại sao kết quả thực tế lại khác với kết quả của những cuộc thăm dò khảo sát?

Nguyên nhân kỳ thực đơn giản, bởi vì ai cũng nói dối.

Người ta thường nói dối – với chính mình và với người khác. Người Mĩ da đen báo cáo với các cuộc thăm dò rằng họ sẽ đi bầu với số lượng lớn để chống lại Trump. Nhưng các kết quả tìm kiếm Google về thông tin bầu cử tại những vùng chủ yếu là người da đen lại rất thấp. Vào ngày bầu cử, Hilary Clinton bị thiệt hại bởi số người da đen đi bầu thấp.

Dữ liệu tìm kiếm tiết lộ rằng chúng ta sống trong một xã hội rất khác với xã hội mà giới hàn lâm và báo chí – dựa vào các cuộc thăm dò – vẫn tưởng.

*

Mọi người đều nói dối là một trong những công trình nghiên cứu mang tính cách mạng của tác giả Seth Stephens-Davidowitz về “bộ mặt thật” của Internet. Chính nhờ nguồn dữ liệu khổng lồ từ Google, Facebook,… mà Seth đã thành công trong việc khám phá ra nhiều thói quen mà đôi khi chính chúng ta cũng không nhận thức được từ những hoạt động của mình trên thế giới mạng.

Dữ liệu lớn (Big Data) là khái niệm đề cập đến hàng nghìn, hàng tá những thông tin trôi nổi trên Internet, phần nhiều lượng thông tin này được lưu chuyển từ Google cũng như các phương tiện truyền thông xã hội. Trong một thời đại mà người ta dối trá lẫn nhau, Google trở thành nơi chứa đựng những bí mật, những điều mà con người thực sự muốn nói. Khi có triệu chứng bệnh, bạn hỏi "bác sĩ Goo" xem mình bệnh gì; khi có khúc mắc tâm lý, bạn tìm lời khuyên bảo từ "phòng tư vấn Goo".

Ừ thì chúng ta biết Google lưu trữ một lượng thông tin khổng lồ đấy, nhưng chúng ta khai thác được gì từ nó?

Tại Mỹ, bao nhiêu phần trăm nam giới là đồng tính? Bạn nên nói về điều gì trong ngày hẹn hò đầu tiên nếu bạn muốn mối quan hệ được đơm hoa? Vì sao Donald Trump đắc cử vào năm 2016 trong khi nhiều chuyên gia dự đoán rằng ông sẽ không thể trụ nổi? Các đại học danh giá có thật sự đào tạo được nhiều nhân tài hơn các trường khác không?

Nhờ khai thác dữ liệu lớn, Seth tìm được câu trả lời cho những vấn đề tồn tại trong xã hội Hoa Kỳ, từ nhỏ đến vĩ mô, từ gần gũi đến hóc búa. Mỗi câu hỏi đặt ra được tác giả lần mở thuyết phục. Một mặt ố á trước những vấn đề nan giải bỗng có lời giải, người đọc - mặt khác - rùng mình trước suy nghĩ rằng Internet biết quá rõ về những mặt sâu thẳm nhất của chúng ta, và nó sẵn sàng tiết lộ tất cả một khi được khai thác.

Người ta thường nói dối – với chính mình và với người khác.
Ảnh: Ecoblader

Mọi người đều nói dối, vậy quyển sách này nói điều gì?

Thứ nhất, đúng như tên quyển sách đã đề ra: ai cũng nói dối.

Nhiều người nói dối hoặc nói giảm nói tránh về các hành vi và suy nghĩ đáng xấu hổ của mình trên khảo sát để làm bản thân trông có vẻ tốt đẹp hơn. Và không chỉ nói dối người khác, ta còn tự lừa dối chính bản thân.

Họ nói dối số lần đi tập gym một tuần, về giá đôi giày mới mua, và cả về chuyện có đọc quyển sách mà họ đã nói hay không. […] Họ nói họ yêu bạn dù rằng họ không hề yêu. Họ nói họ vui dù rằng đang buồn chán. Họ nói họ thích phụ nữ dù thực tế họ thích đàn ông.

Tác giả chỉ ra nhiều người trả lời khảo sát rằng họ ủng hộ dân đồng tính, nhưng một khi đối tượng là con họ thì đây lại là một câu chuyện khác. Các bà mẹ giấu đi định kiến tại những cuộc thăm dò công khai, và chỉ tiết lộ sự thật ở một nơi mà họ nghĩ không ai phát hiện được - Internet. Họ có thể nói dối, chỉ có dữ liệu là không. Con người có thể nói dối, nhưng máy tính sẽ không bị đánh lừa. Một đất nước Hoa Kỳ luôn miệng kêu gọi tự do - bình đẳng - bác ái cho toàn thế giới thì làm gì có chuyện người Mỹ kì thị đồng tính? Đương nhiên, tất cả chỉ vì câu chuyện đen tối đã được khéo léo giấu đi khỏi những nguồn tin truyền thống mà thôi!

Chính vì thế, lời khuyên đúc kết là bạn không nên tin ngay tắp lự những gì người ta nói hoặc chắc chắn 100% vào những gì mình thấy trên khảo sát. Cần phải đối chiếu hành vi, đối chiếu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau trước khi đánh giá một vấn đề nào đó.

Thứ hai, đừng rơi vào cái bẫy mang tên “nghĩ/ tưởng là đúng”. Suy nghĩ theo lối mòn mà không có sự cập nhật chỉ làm ta nhỏ bé, hạn hẹp hơn trong cái thế giới dữ liệu ngày càng trở nên khổng lồ.

Chẳng hạn, "Ảo tưởng tinh hoa", hay elite illusion, là hiện trạng nhiều người "tưởng là" theo học tại một ngôi trường danh giá sẽ giúp ta thành công trong tương lai hơn những ngôi trường bình thường. Hãy lướt qua những trang sách của Seth và ông sẽ nói cho bạn nghe về những “ảo tưởng tinh hoa” ấy và kết quả thực tế khác nhau như thế nào. Cần hiểu rằng, những sinh viên đã tốt nghiệp ở các trường dù danh giá hay không thì xét về cơ hội việc làm hay thu nhập cá nhân đều như nhau, không chênh lệch mấy. Bởi thành công tương lai của một người còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là ở nỗ lực của bản thân, nên chúng ta không thể chỉ xét mỗi môi trường giáo dục mà đánh giá năng lực của một người được.

Thứ ba, không chỉ mỗi khoa học tự nhiên mới là thuần khoa học, khoa học xã hội cũng là khoa học đích thực. Và dữ liệu lớn chính là một nguồn thông tin quan trọng mang tính cách mạng đối với khoa học xã hội. Nó giúp chúng ta tiến gần hơn đến việc hiểu được tâm lý, suy nghĩ và hành động của con người.

Tuy nhiên, bộ não lại là một hệ thống cực kỳ phức tạp, và hành vi của chúng ta cũng thế. Vì vậy khoa học xã hội không thể có một công thức tóm tắt và ngắn gọn như E=MC2. Thay vào đó, khoa học xã hội sẽ đem đến cho chúng ta những nghiên cứu, những phát hiện cũng như khả năng xem xét nhiều khía cạnh của một vấn đề. Từ đó, ta rút ra được cái nhìn khách quan và toàn diện nhất, rồi đưa ra những cách ứng xử, dự đoán và giải pháp thích hợp.

*

Đóng quyển sách lại, đọng lại trong người viết không phải là cảm giác buồn bã thất vọng vì “mọi người đều nói dối”, thay vào đó chính là sự thích thú vì những kiến thức mới mẻ, gần gũi mà mình vừa được tiếp xúc. Điều mình thích nhất ở quyển sách là cách tác giả chia sẻ với chúng ta, không phải bằng những lý thuyết khô khan, mà với sự dí dỏm, những ví dụ và cảm nghĩ chân thật nhất của ông. Đặc biệt, Seth là một tác giả đầy hiểu biết và cực kỳ vui tính. Đến những trang cuối cùng của quyển sách ông đã tự hỏi không biết có bao nhiêu người đọc hết sách của mình. Ông tin rằng sẽ chẳng có mấy ai chú ý tới những trò chơi chữ, những ví dụ hài hước hay những đường dẫn câu từ mà ông phải trau chuốt suốt mấy năm trời để cho ra thành quả.

Thiết nghĩ, tựa sách này không hề kén người đọc vì nội dung gần gũi với thói quen, cuộc sống hằng ngày của cuộc sống. Những ai đang "lạc trôi" trong biển thông tin rộng lớn của mạng xã hội, không biết nên tin hay không tin những dòng trạng thái tâm trạng, những bức ảnh đại diện nghìn like, hay những breaking news giật gân… thì quyển sách này là thứ bạn cần.

Cái kết của quyển sách lôi cuốn và bổ ích này có thể chưng hửng với nhiều người, song là đúng nhất với tinh thần tác giả: sự hài hước phủ ngoài một bộ óc vĩ đại. Người viết cũng xin kết thúc bài viết này giống với cách Seth đã làm với đoạn cuối Mọi người đều nói dối:

“Tôi sẽ đi làm vài ba cốc bia với mấy ông bạn và thôi cạy cục viết cái kết luận chết tiệt này đây. Bởi Dữ liệu lớn đã cho tôi biết sự thật rằng, chẳng còn mấy ai đọc tới đoạn kết này.”

Hết.

Như Nguyễn

Ảnh đầu bài: bigdatadesigns

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Thoát đến phương Tây, một ý niệm về hành trình và những lựa chọn

Published

on

Có nhiều thứ chúng ta không thể chọn lựa cho mình từ lúc được sinh ra, đó là cha mẹ, giới tính, sắc tộc, nguyên quán, nhưng không vì vậy mà chúng ta không có quyền thay đổi cuộc đời mình. Mỗi con người có quyền chọn cho mình một (hay nhiều) cuộc đời. Những con đường họ chọn sẽ dẫn đến những kết quả khác nhau.

Thoát đến phương Tây mượn câu chuyện tình của Saeed và Nadia để kể về tình yêu thời chiến, những cuộc đụng độ, mạng người, tôn giáo và hành trình xuyên qua những cánh cửa, vượt không gian và thời gian với một tương lai đầy bất định. Mỗi nhân vật trong tác phẩm mang một câu chuyện với những chiêm nghiệm và chọn lựa của riêng mình. Saeed - nhân viên văn phòng sống cùng với bố mẹ với tính cách truyền thống, là một người bình thường như bao người bình thường. Nadia - một nhân viên bảo hiểm tự lập với những phá cách trong suy nghĩ, lối sống, cô luôn mang trên mình một chiếc áo đen thụng và coi đó là lớp vỏ bảo vệ bản thân. Chiến sự nổ ra, họ nắm tay nhau, cùng nhau cố gắng, thật sự họ đã rất cố gắng trong hành trình ly hương, cùng nắm tay vượt qua những cánh cửa “tương lai”.

Ở lại quê hương là một chọn lựa.

Ví giai đoạn lịch sử là một giao lộ thì từ quá khứ đến hiện tại chỉ có một con đường duy nhất, nhưng đến tương lai thì có vô số ngã rẽ và chẳng ai biết trước được điều gì. Một số con đường to hơn, bằng phẳng hơn, được chỉ dẫn tốt hơn, và như thế sẽ có nhiều người chọn hơn; nhưng đôi khi lịch sử, hoặc những người làm nên lịch sử lại đi theo những ngã rẽ bất ngờ. Lịch sử không thể được lí giải một cách tất định, cũng như không thể dự đoán trước được, vì nó có tính hỗn độn. Ở một thành phố nọ, có những con người nhỏ bé, với những xáo trộn, toan tính cho cuộc đời bé mọn. Mạng sống của con người cũng không đoán trước được; khi họ sống trong chiến tranh, con người không còn nắm trong tay vận mệnh của mình, sự bất an luôn bủa vây, người ta thường có xu hướng tìm đến nơi bình yên hơn.

Khi cái chết như chiếc lá vàng trên cành cây, khi mạng sống con người bị đe dọa từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây, khi cúi đầu tìm vật rơi trong chiếc xe hơi của mình, ngẩng đầu lên một viên đạn có thể xuyên qua đầu; thì những người trẻ không tham gia vào cuộc chiến là những người đầu tiên muốn rời đi. Những người già, họ hoặc không muốn là gánh nặng của con cái hoặc không muốn rời khỏi sự “an toàn” thân thuộc nơi mảnh đất hơn nửa đời người gắn bó, họ chọn ở lại quê hương. Họ có những lí do thâm căn cố đế, bắt rễ sâu trong lịch sử, để chọn ở lại thay vì rời đi.

Bố và mẹ Saeed, những nhà giáo hiền lành, sống một đời đức độ với niềm tin vào tôn giáo hay bà hầu gái xuất hiện vào cuối câu chuyện, đã chọn ở lại mảnh đất nơi họ sinh ra. Đó là quê hương của họ, họ coi nơi đó là những mảnh miếng linh hồn tồn tại trong cuộc đời mình. Saeed và Nadia, họ chọn lựa việc rời đi sau những ngày tháng hẹn hò bí mật, ở lì trong phòng vì sự an toàn sau cú sốc về cái chết bất ngờ của mẹ Saeed. Hay người con gái của bà hầu gái, vì muốn một tương lai thay đổi, vì mong cầu một cuộc sống tốt hơn. Họ trở thành những kẻ ly hương.

Cánh cửa - biểu tượng của sự chuyển đổi.

John Truby từng viết: “Biểu tượng là một kĩ thuật của tiểu tiết. Nó là một từ hay một sự vật đại diện cho một ý nghĩa nào đó, và nó được lặp lại nhiều lần xuyên suốt tác phẩm”. Nếu vật chất tích tụ nhiều năng lượng thì biểu tượng cũng tích tụ nhiều ý nghĩa, và không khó để nhận ra, biểu tượng cánh cửa là một thế giới chuyển cảnh trong hành trình của các nhân vật. Cánh cửa xuất hiện ở những cột mốc then chốt, để giúp chúng ta theo dõi, đánh giá sự tha đổi của nhân vật. Cánh cửa dẫn đến một không gian khác, có thể là cơ hội và khởi đầu mới. Vì mạng sống, vì khao khác đổi đời, họ bước qua những cánh cửa, đó là cánh cửa đánh đổi bằng cả tương lai và sinh mệnh. Đầu tiên, họ đến đảo Mykonos ở Hy Lạp, sống tạm bợ trong túp lều, sau đó từ Mykonos đến London… cứ thế, mỗi lần tìm ra được những cánh cửa mới, họ đã cố thay đổi để cuộc sống tốt hơn.

Những cánh cửa mở ra và đóng lại, một thế giới với hy vọng hay những ngày tháng tăm tối đang chờ đợi những người đánh cược tất cả để bước qua. Không ai biết điều gì chờ đợi những người vượt biên đằng sau những cánh cửa, họ như bóng ma vất vưởng cần lắm một đời sống mới. Bước qua cánh cửa, đó là hy vọng cuối cùng cho họ, đằng nào mạng sống của họ luôn ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, một ván đỏ đen chỉ là một hướng đi trong đời. Ngày mai và hòa bình là điều họ hằng mong ước, nhưng điều đó như lớp sương mờ lởn vởn, là là trên mặt đất che chắn tầm nhìn của họ. Bao giờ, lúc nào, chính những người cầm súng giết người kia cũng chẳng biết thì làm sao những người dân vô tội biết được? Thoát ra và tìm cho mình một hy vọng là điều họ hướng tới, nhưng không phải bao giờ, nơi nào cũng mở cửa đón họ. Họ đi qua những cánh cửa trong bóng tối, họ không biết có những gì trong cánh cửa đó, từ khi bước vào cho đến khi thoát ra, những gì họ có thể làm là bò, trườn, lần mò trong bóng tối, đi ra con đường nhỏ hẹp và ngộp thở đó để đến được bên kia, nơi họ lờ mờ đón những ánh sáng yếu ớt đầu tiên và sau đó là cả thể giới với những hy vọng và vỡ mộng. “…Phía bên kia biên giới, bọn trẻ vẫn sống vắng bóng người thân cho đến khi chúng đủ lớn để vượt biên, hay đến khi người thân của chúng trở về vì quá bất lực, hoặc đôi khi là sự chia cách vĩnh viễn và chuyện này diễn ra khá thường xuyên, vì cuộc đời và cái kết của nó luôn khó lường, đặc biệt khi chúng ta xa quê hương, nơi cái chết vận hành với tầm ngắm ngẫu hứng”.

Chạy khỏi chiến tranh, họ đối mặt với vô vàn những vấn đề khác: không nhà, không cửa, không quê hương, không người thân thích và sự phân biệt đối xử, phân biệt chủng tộc, bài tị nạn. Những người phương Tây nhìn họ bằng con mắt căm thù, xua đuổi. Những người tị nạn họ chiếm đất, chiếm nhà, hình thành những khu ổ chuột, tệ nạn… Tuy rằng không phải ai cũng thế nhưng họ gặp những người “ai cũng thế” nhiều hơn những người nhập cư hợp pháp. Những người tị nạn, họ luôn phải cố gắng, luôn cần làm việc nhiều hơn, gần như hết sức có thể để có được căn nhà hay bữa ăn no, để có thể tồn tại, để được ở lại vùng đất đó. Nỗ lực đôi khi vẫn không đủ để thay đổi những thành kiến của “người bản xứ”. “Chuyện đó khác. Chúng ta là một nước nghèo. Chúng ta không cảm thấy mình có quá nhiều thứ để mất như những người ở đây”. Người bản xứ luôn thấy họ mất đi nhiều hơn nhận lại, nhưng làm sao trách họ được, họ cũng có lí lẽ của mình mà. Vậy đấy, đối mặt và thích nghi, con người ta luôn phải cố gắng để có cuộc sống tốt hơn. Hoặc thích nghi để tồn tại, hoặc bị đào thải theo quy luật tự nhiên.

Tôn giáo hay niềm tin cho những điều tốt đẹp sẽ đến.

Bố mẹ Saeed không bắt buộc hay định hướng con trai mình trở thành một người luôn cầu nguyện và phải cầu nguyện. “Khi Saeed còn là một đứa trẻ, anh cầu nguyện lần đầu tiên vì tò mò. Anh đã chứng kiến bố anh và mẹ anh cầu nguyện, và hành động đó mang một vẻ bí hiểm đối với anh”. Một đứa trẻ, chỉ vì tò mò, niềm tin và tôn giáo đến với con người từ những điều đôi khi thật đơn giản. Con người ta đôi khi cần có niềm tin, và việc cầu nguyện đôi khi cũng vậy. Lẽ tất nhiên, người ta cầu nguyện vì nhiều lí do khác nhau: vì điều đó gợi nhắc đến người mà ta yêu quý, vì điều đó làm ta thấy vơi bớt nỗi lòng, tìm thấy được sự an ủi hay giải thoát, vì mong bình yên cho ai đó, vì điều đó làm rạng danh đấng sinh thành, vì một lời an ủi hay một tia hy vọng. Vào mỗi lứa tuổi, con người ta cầu nguyện và nghĩ về những điều khác. Có thể do những được mất trong cuộc đời phù du làm họ muốn cầu nguyện, những lo lắng về con người khi đồng tiền được sùng bái hơn hết thảy, những thứ đã mất và sẽ mất, những thứ không còn cách nào khác để yêu thương.

Tình yêu, sự quan tâm giúp họ đi cùng nhau trên đoạn đường dài.

Khi mượn chuyện tình yêu để lồng vào những vấn đề chính trị, câu chuyện dường như dễ đọc và ít khô khan hơn. Một dạo, tôi thường nghe Xone FM, cứ nhớ hoài câu “Đi một mình sẽ đi nhanh hơn, nhưng đi hai người sẽ đi được xa hơn”. Và đúng vậy, chính thứ tình cảm vượt qua mưa bom bão đạn, vượt qua những tối tăm, mịt mờ trong từng cánh cửa, Saeed và Nadia họ sánh bước trên hành trình thật dài. Những điều trần ai chúng ta san sẻ, những nỗi đau vô thừa nhận mà mỗi người mang nặng trong tim sẽ nhẹ bớt đi khi trên hành trình đó họ đã nghĩ đến nhau, hy sinh cho nhau. Không ít lần Saeed và Nadia có thể ổn định cuộc sống ở vùng đất mới nhưng mối quan hệ của họ không vậy, họ chọn bước qua cánh cửa khác để bảo vệ mối quan hệ như sợi dây mỏng manh chực đứt bất cứ lúc nào. Con đường đó với hai người có thể chưa trọn vẹn, nhưng tôi tin, đó là một cái kết có hậu cho cả hai. Cả hai người họ đã cùng nhau cố gắng.

Tạm kết

Tôi nhận thấy bản thân mình có nhiều điều muốn nói, muốn viết ra khi đọc xong Thoát đến phương Tây, về di dân, về những con người tị nạn, về chiến tranh, số phận của những kẻ ly hương,… nhưng ngôn ngữ có chút bất lực. Có lẽ, ám ảnh về số phận của những con người ly hương làm tôi trăn trở: có thể là hành trình qua những cánh cửa, có thể chăng đó là quyết định của những người ở lại hay rời quê hương. Tôi cũng thấy mạng sống con người đôi khi thật mong manh, những ý nghĩ, những dự định của con người cũng vậy. Đôi khi thật tầm thường giữa cuộc đời bình thường, nhưng dù sao, con người ta… ai cũng cần phải sống, hướng đến những điều tốt đẹp hơn mà, nhỉ! Có lẽ, vào một ngày nào đó, khi tôi xa quê chẳng hạn, tôi sẽ đọc lại cuốn sách này.

Hết.

Hoàng Anh
Viết trong một ngày nước lũ mênh mang ở Huế.

*

Đọc những bài viết của Hoàng Anh

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

“Shuggie Bain” chiến thắng Booker Prize 2020: Văn chương chạm đến cảm xúc, hay là #bookersowhite?

Published

on

Chủ nhân của Booker Prize 2020 đã được xác định, và không quá bất ngờ khi nó thuộc về Douglas Stuart với cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình. Shuggie Bain vượt qua năm cuốn sách khác để giành giải, và với thắng lợi rực rỡ năm nay, ta thấy phần nào Booker đã trở về đúng vai trò của nó – văn chương chạm đến cảm xúc. Là cuộc dẫn nhập xuyên qua Glasgow những năm 80 dưới đế chế Thatcher u tối, Shuggie Bain là câu chuyện của một đứa trẻ gánh vác tránh nhiệm nặng nề: gia đình tan hoang, người mẹ nghiện rượu và những khám phá tự bản thân mình. Đầy cảm xúc, bi thương mà hồn nhiên đến mức tréo ngoe, Shuggie Bain - như một nhận định - là vở melodrama đỉnh nhất năm nay.

Tiếp lời Margaret Busby, chủ tịch hội đồng giám khảo năm nay rằng: [Shuggie Bain] là câu chuyện cảm động kể về tình yêu vô điều kiện giữa Agnes Bain - trong bối cảnh nghiện rượu mà cuộc sống khó khăn gây ra cho cô - và cậu con trai út của mình... Được viết một cách duyên dáng và mạnh mẽ, đây là một cuốn tiểu thuyết có tác động lớn bởi nó có nhiều ghi chép cảm xúc và các nhân vật cũng đầy cảm hứng. Chất thơ trong các mô tả của Douglas Stuart và độ chính xác của các quan sát là đầy nổi bật: không gì là lãng phí".

Nếu năm ngoái có nhiều ý kiến bất đồng khi trao đồng thời đến hai giải thưởng mà một trong số đó thuộc về Margaret Atwood với nhiều đánh giá tiêu cực cho phần hai của Chuyện người tùy nữ, thì năm nay, một sự thống nhất đã được ấn định, ở cả hội đồng giám khảo và giới độc giả. Theo chủ tịch hồi đồng giám khảo Margaret Busby, quyết định cuối cùng đã được nhất trí chỉ trong một giờ; còn với Gaby Wood – giám đốc văn học của Booker Prize Foundation, việc xem xét người chiến thắng đã được siết chặt để không có hơn một người chiến thắng.

*

Một cách tổng quan ngay từ bước đầu, Shuggie Bain đã sở hữu trong mình rất nhiều yếu tố có thể chiến thắng: cốt truyện cảm xúc, bối cảnh đặc biệt và một lối viết đậm đặc chất thơ. Có thể nói, với những yếu tố vẫn cứ trở đi trở lại hàng năm trong danh sách đề cử Booker, thì Shuggie Bain không thể không thắng. Dạo lướt qua những đề cử những năm trước đó trong lịch sử 51 năm của giải thưởng này, ta thấy những tiểu thuyết thuộc quỹ tích tương tự Shuggie Bain là không hiếm. Cứ cách một năm lại thấy trong danh sách ấy tiểu thuyết kiểu ấy. Từ Ali Smith đến Anne Tyler, từ Elizabeth Strout đến Hanya Yanagihara; tất cả hợp thành một án tiền lệ mà nếu phông cảnh xã hội cùng với tình hình những dòng thời gian không quá đảo chiều, thì đây là những tiểu thuyết có một khả năng chiến thắng rất cao.

Quay ngược 15 năm trước vào năm 2005, khi giải Booker bất ngờ được trao cho John Banville – một tác gia có phần xa lạ và ít đột phá trong sự nghiệp mình, trước những Julian Barnes (tác giả của Nghe mùi kết thúc – Booker 2011), Kazuo Ishiguro (nhà văn đoạt giải Nobel), Ali Smith (nhiều lần đề cử Booker và người chiến thắng ở giải Orange) mà đặc biệt nhất là Zadie Smith. Giới phê bình đã thấy một sự trở về cùng với cố hương. Giữa một cuốn sách đầy những vận động và các xung đột mạch ngầm mới về sắc tộc, các mối quan hệ gia đình, cuối cùng giải thưởng hàng lâu đời này vẫn chọn The Sea. Tin tức hành lang cho biết On Beauty của Zadie Smith đã gây ra những nhiễu loạn tranh luận trên bàn giám khảo, nhưng đến cuối cùng, hương vị quen thuộc đã được chọn lựa. Tính trắng đã thắng.

Shuggie Bain có chính lợi thế đó - về “gu” của giải thưởng này. Nếu Nobel vẫn được gắn nhãn bới lá tìm sâu nơi những tác gia ít được biết đến, thì hơn ai hết, Booker dĩ nhiên là chính tính “trắng” ở trong văn chương. Việc vượt qua Burnt Sugar hay This Mournable Body cũng cho thấy một sự tự chủ của giải thưởng này. Nếu tháng tám vừa rồi giải Booker Quốc tế được trao cho The Discomfort of Evening bởi sự mới lạ, cách tân, không theo lẽ thường; thì hội đồng giám khảo cũng đã quyết định đi con đường riêng, để giải Booker (dù chính hay phụ) đều theo hướng khác mà không trùng lặp.

Tính tự chủ của giải thưởng này cũng được xác lập ở trong trường hợp của The Shadow King và giải Sách Quốc gia. Nếu trung tuần vừa rồi Winner of winner trong 25 năm lịch sử  giải Orange thuộc về Adichie với Nửa mặt trời vàng, thì Booker chẳng có cớ gì đi trao cho một cuốn sách khá tương đồng. Đó cũng hoàn toàn là một lý do, bên cạnh trào lưu tiểu thuyết lịch sử trong cơn thoái trào, cùng sự ngã ngựa của Hilary Mantel. Bên cạnh đó, giải sách Quốc gia được trao trước đó một ngày cũng đã trao cho Interior Chinatown của Charles Yu và Shuggie Bain hẳn nhiên mở rộng con đường chiến thắng của mình ra thêm. Quay về 17 năm trước vào năm 2003 khi cuốn Người tình của Bretch đã được trao trước hai tuần ấn định của giải Goncourt, chặn đứng việc công bố giải của giải Femina cho thấy sự cạnh tranh của những giải thưởng và tính tiên phong đôi khi đặc biệt, và đó hẳn nhiên là một may mắn khi giải Sách Quốc gia đã lựa chọn trước mà không trùng lặp, nếu không có trời mới biết ai sẽ chiến thắng.

Một yếu tố nữa không thể không nhắc, đó là tình hình địa - chính trị. Booker với tiếng nói trắng, một mặt nào đó, trở thành cơ quan ngôn luận không-hề-chính-thức cho việc nghệ thuật có thể ảnh hưởng ra sao đối với địa - chính trị. Như trong trường hợp Eurovision Song Contest trong lịch sử, với việc Romania bị rút khỏi giải do còn nợ tiền EU hay Nga rút khỏi cuộc thi vào năm Ukraine đăng cai tổ chức vì những tranh cãi chính trị… Tất cả cho thấy ở Lục địa già, nghệ thuật đang bị chi phối. Và khi Scotland đang đòi tách ra khỏi một nước Anh tràn ngập hoang mang thời Hậu Brexit, chiến thắng này cũng không nằm ngoài làn sóng chính trị. Và cũng như Douglas Stuart phát biểu sau khi nhận giải, anh cám ơn người dân Scotland, đặc biệt là người Glaswegians, họ có sự đồng cảm, hài hước và tình yêu cùng sự đấu tranh trong từng câu chữ của cuốn sách này.

*

Nói thế cũng không có nghĩa Shuggie Bain giành được chiến thắng chỉ bởi yếu tố bên lề. Shuggie Bain là cuốn sách hay, động vào cảm xúc và Douglas Stuart, bằng chính chất thơ, đã họa nên những nỗi buồn hết sức sâu sắc. Là tay ngang viết niên chiến thắng, ta khó đánh giá cuốn tiểu thuyết này bằng những dấu ấn đậm chất văn chương; nhưng ngược lại, bởi chẳng có gì, sự quan sát của Douglas vô cùng quý báu. Dưới sự quan sát của một đứa trẻ như Hugh, người đọc vừa thấy cảm thương, vừa thấy thích thú cũng vừa chua xót cho thân phận mình. Douglas chiến thắng bằng những quan sát tinh tế, bằng một câu chuyện cảm động mà hơn ai hết, chạm đến trái tim của mỗi một người.

Hơn nữa Shuggie Bain cũng mở cánh tay chào đón những yếu tố khác. Bối cảnh Glasgow thời hậu Thatcher xuất hiện khá ít trong các tiểu thuyết văn chương ngày nay, và Douglas bước vào một khe cửa hẹp để họa được nên bối cảnh lúc này. Ở kỷ nguyên mà Thatcher không muốn công nhân cần mẫn mà tương lai của bà nằm ở công nghệ, hạt nhân và tư nhân hóa y tế; Douglas đã viết nên được một cuốn tiểu thuyết đầy tính trải nghiệm trong quãng thời gian vô cùng đen tối, vô cùng muốn quên của giới thợ mỏ mới chớm đến gần chủ nghĩa xã hội.

Những mối quan hệ gia đình cũng là nhánh khác khiến nó đứng vững. Mối quan hệ giữa Agnes và chồng hay ba người con, mà đậm nét nhất là Hugh càng cho thấy rõ những gì xảy ra trong gia đình này. Từng đứa trẻ lớn lên, rời xa, những dằn vặt ở trong người mẹ, cái chua chát hy sinh của từng đứa trẻ. Douglas không chỉ quan sát qua một lăng kính của bản thân mình, anh còn đứng đó nhập vai vào bố mẹ mình, vào hàng xóm mình, vào người dân Glaswegians và cả câu chuyện của Shuggie Bain, khiến nó từ một tiểu thuyết nặng tính hồi ký trở nên trung dung mà đầy đồng cảm, ít nhất là cho những ai lớn lên từ khu mỏ than nơi những cá tính bắt đầu bộc lộ.

Sự tự khám phá bản thân cũng là yếu tố sau rốt làm nên tiểu thuyết dang rộng cánh tay. Nếu Brandon Taylor có những xung đột cùng với màu da nhưng thiếu chi tiết đặc trưng một cách nhất định; thì Douglas thông qua quan sát viết nên trải nghiệm trong Hugh đầy vẻ tự nhiên nhưng lại đồng cảm một cách khác thường. Từ những chi tiết bị bắt nạt ở trường cho đến lẳng lặng lấy trộm Pony, từ việc gần gũi với mẹ đến việc dạy cho bà nhảy những nhạc disco; Douglas Stuart cũng chứng minh mình ở địa hạt này, mà truyện ngắn khác – Found Wanting – cũng được đánh giá khá cao ở dòng văn chương LGBT và những dư vị xung quanh của nó.

*

Shuggie Bain và chiến thắng ở giải Booker 2020 hoàn toàn xứng đáng. Chỉ có một điều dường như vẫn đang tồn tại. Mặc cho chính những nỗ lực cố gắng thay máu của dàn giám khảo, thế nhưng kết quả vẫn không khác mấy. Thành thực phải nói, đứng ngang Shuggie BainBurnt SugarThis Mournable Body đầy tính thể nghiệm và văn chương hơn; thế nhưng lựa chọn vẫn “trắng” và khá “thông thường”. Ở một mặt khác ngoài chuyện sắc tộc, cả hai cuốn sách đều khá địa phương và quá mới mẻ - tiêu chí mà giải Quốc tế vô cùng yêu thích. Biết đến bao giờ quốc tế, quốc nội mới có một sự cạnh tranh công bằng? Cũng như cho đến khi nào giữa hai thị trường xuất bản London - New York mới hòa vào nhau?

Nhưng dẫu sao, Shuggie Bain vẫn là ngọn lửa ấm lòng giữa thời dịch bệnh, và là một tiếng nói mới, đánh dấu một nhân dạng mới trên nền văn chương. Chúc mừng tất cả.

Hết.

minh.

*

Toàn cảnh Booker Prize 2020: Cơn thoi thóp chờ thời đổi mới?


International Booker 2020: Những dự đoán trước thềm trao giải

Đọc bài viết

Cafe sáng