Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Đêm Chile, đêm văn chương giãy chết

Cuộc đời là cả một chuỗi những lầm lạc dẫn dắt người ta đến sự thật cuối cùng, sự thật trầm uất

Published

on

Tôi bắt đầu đến với văn chương Mỹ Latin bằng Márquez. Không riêng gì tôi, thiết nghĩ, phần lớn những người đọc đều bắt đầu hành trình văn chương của họ bằng Trăm năm cô đơn hay Tình yêu thời thổ tả. Từ Márquez, tôi bước một chân vào lãnh địa của Juan Rulfo qua Pedro Páramo, và một lần nữa lại kinh ngạc trước vẻ đẹp kỳ ảo huyền bí của văn chương lục địa này. Từ Juan Rulfo tôi dấn bước sâu hơn đến thế hệ kế thừa và bắt gặp Carlos Fuentes viết Nàng Aura như thước phim thiếu sáng chiếu suốt cái cô độc con người. Cứ mỗi lần tôi đọc một tác gia mới, người ta đều gọi họ như thể khởi đầu của một nền văn chương kỳ lạ, là cây bút xuất sắc nhất của thế hệ mình, của khu vực nói tiếng Tây Ban Nha và hằng hà sa số những mỹ từ khác. Và gần đây nhất, khi trải nghiệm Roberto Bolaño với câu chào mời “thiên tài văn chương Tây Ban Nha”, tôi lại không nghĩ nó sai. Vì chỉ với Đêm Chile rất mỏng và rất ngắn gọn, cũng như Pedro Páramo của Juan Rulfo hay Nàng Aura của Carlos Fuentes, nó đã đưa Roberto Bolaño vào trải nghiệm văn chương của riêng cá nhân tôi, một trải nghiệm thú vị, chuyển động không ngừng, xuyên thời gian và dĩ nhiên, là vô tiền khoáng hậu.

Với Đêm Chile, Roberto Bolaño đã dựng nên một trải nghiệm vô cùng cá nhân về giới văn chương mà ông đang sống. Ông dùng khái niệm dòng suy tưởng để xây dựng năm chương của cuốn sách này. Đó là lời đối thoại của ba hình thái cùng một người, như bức tranh một lần tự họa của Sylvia Plath – một yếu đuối hiện tại, một phán xét về sau và một thuần khiết bắt đầu. Song song cùng cái ngột ngạt của thời đại ấy, ông cũng đồng thời cho thấy tình yêu mãnh liệt của mình trước mảnh đất Chile chật hẹp. Ông than khóc trước chiến tranh, trước cảnh đảo chính hay bị giằng xé bởi những thế lực thù địch. Tình yêu văn chương, tình yêu đất nước của thời kỳ đầy biến động ấy có lẽ thúc bách ông viết về một đất nước đã chết mục ruỗng từ căn bệnh tiêu tâm. Từ đó một Roberto Bolaño lạ lẫm hiện ra, yếu thế, mong manh và đầy vẻ chán chường.

Chân dung ba mặt (1950 – 1951), chân dung tự họa Sylvia Plath

Tiểu thuyết mở đầu bằng cơn sốt cuối đời của nhân vật Sebastián Urrutia Lacroix – Cha xứ, nhà văn, nhà thơ mà ta dễ thấy sau này là hình bóng phản chiếu chính ông. Chính trong cơn thập tử nhất sinh ấy, Cha có dịp đối thoại cùng cái tôi phán xét của mình – một gã mà Cha gọi là già trước tuổi – luôn có mặt thập thò trong suốt câu chuyện. Như một đường thẳng nối dài, từng câu chuyện đã từng trải qua trong cuộc đời Cha dần dần hiện lại trong từng lát cắt ký ức. Từ chuyện cải đạo trở thành Cha xứ trong sự phản đối của cha mình và cái bất lực người mẹ; cho đến những cuộc gặp gỡ văn chương đầu tiên ở trang trại của Farewell. Từ ôm mộng vung tay trở thành ngôi sao sáng trong bầu trời văn chương Chile cho đến phản tỉnh nhìn ra cái mục ruỗng của đất nước này.  Tất cả trở đi trở về chỉ trong một đêm của cái sốt leo thang, từ đó câu chuyện chậm rãi và từ từ trôi. Cũng từ trong đó, Roberto Bolaño dần dần bóc tách lớp lang của tâm hồn mình ra trước người đọc, mở toang, phơi bày và đi vào tiểu phẫu chúng.

Khuôn mặt ba phía

“Đó là lời đối thoại của ba hình thái cùng một người – một yếu đuối hiện tại, một phán xét về sau và một thuần khiết bắt đầu.”

Lớp da đầu tiên xuyên suốt tiểu thuyết là Cha Sebastián. Ở đây dễ thấy Roberto Bolaño xây dựng hình tượng Cha như chính vẻ bề ngoài của ông nói riêng và của giới văn nhân nói chung. Ở Cha ta thấy một sự mong manh, mềm yếu, sự thiên về cảm tính hơn lý trí cá nhân. Chẳng hạn như những lần nhớ về quá khứ, từ lời mời gọi của Chúa, lối cư xử khách khí của người mẹ hay nhớ về cách sắp đặt những đồ vật ở nhà; đó dường như là cái yếu thế nhạy cảm mà những văn nhân vẫn luôn gặp phải. Hay ở một chi tiết khác, khi cô độc giữa chốn mông quạnh trên đường đến điền trang nhà Farewell, khi không thấy xe ngựa đến đón và thay vì đứng lên làm vài thứ mà người thường vẫn làm, Cha chỉ biết ngồi đó cầu kinh từ Đức mẹ Maria Đồng Trinh, Đức bà Lourdes Đồng trinh, Nữ thần Thống khổ Đồng trinh cho đến Nữ thần Sáng suốt Đồng trinh; cầu mong điều gì đó sẽ đến.

Đến khi đã ở trang trại nhà Farewell, bản tính văn nhân lại một lần nữa trồi lên và cái giả hình cá nhân lần đầu tiên xuất hiện. Ở đó Cha xứ vốn là một nhà phê bình, một nhà thơ; được gặp Pablo Neruda lần đầu tiên, và không gì khác chiếm lấy Cha bằng lòng ngưỡng mộ vị văn sĩ ấy. Cũng ở đó, khi gặp những người nông dân làm việc cho Farewell ở điền trang, vì một lý do nào đó, Cha lại cảm thấy xa cách. Có thể vì địa vị, tầng lớp, màu da; thay vì văn chương vốn không khoảng cách, Cha lại chạy trốn họ, không những chỉ với tư cách cá nhân, mà còn là một Cha xứ phụng sự Chúa trời. Từ đó ta thấy, lớp vỏ văn nhân mà cha hay Farewell khoác lên người không gì khác lớp áo tàng hình. Họ trang hoàng chúng bằng những cuộc gặp gỡ, bằng hội hè liên miên, bằng những ảo danh đầu lưỡi; nhưng thật chất bên trong, họ trống rỗng, tiêu tán phân ly từ muôn nghìn kiếp trước.

Lớp da thứ hai, sâu hơn và thâm căn hơn, là một nhân vật không hề có thực, có lẽ chỉ xuất hiện trong đầu óc Cha Sebastián như cách phán xét những chuyện đã qua. Nhân vật ấy không có tên, chỉ thường trực xuất hiện vào những nực cười câu chuyện, và được gọi với cái tên – lão già trước tuổi. Ở đây, Roberto Bolaño cho ta một gợi ý về nhân vật này, khi ông viết lão già ấy chỉ mới năm, sáu tuổi vào thập niên 50, và cũng trùng hợp thay, chuếnh choáng vào đúng thời khắc ông sinh ra. Lão già trước tuổi ở đây đại diện cho con người thật của ông, cho cách ông nhìn vào lớp giả hình của văn chương ấy. Lão già trước tuổi mờ mờ ảo ảo như chính cái bóng của Sordello, nó ngự trị và hàm ẩn trong mọi câu thoại lời nói, như phe hiếu chiến trong cuộc tranh giành giữa Cha và cái tôi thức tỉnh của mình. Và lớp da cuối cùng, non hơn, tươi mới hơn và cũng đầy hy vọng hơn – là cậu bé sinh ra trong ngôi nhà đầy rẫy tiệc tùng những thây ma sống của cha mẹ cậu. Cậu bé không vì một dụng ý gì lại trùng cái tên Sebastián như Cha, và cũng đôi lần Cha nhìn thấy chính mối liên kết giữa mình và cậu. Cậu bé chỉ vừa mới tròn bảy, tám tháng ấy như cái thuần khiết chưa bị ô nhục che lấy. Cậu ngủ trong vòng vây những ảo danh xung quanh mình, cậu bị niêm phong chặt chẽ trong thân xác mình. Và cũng vì thế, cậu là đại diện chính nơi văn chương vẫn còn giữ vững những giá trị thuần khiết nhất định.

Khánh kiệt văn chương

Trong chính ba mặt của một nhân vật, từ đó nỗi thống khổ văn chương như được thành hình. Từ những truyện lồng trong truyện, ta thấy hiện lên Chile của nơi văn chương không thể bén rễ, rằng “Trên đất nước của những ông điền chủ này, văn học là một thứ hiếm và biết đọc là việc chẳng bõ công”. Ở đó, những nhà văn nhà thơ thay vì là những nhạy cảm động chạm trước thời cuộc, họ lại chìm ngập trong nỗi sầu uất một thời đã quá ủ ê, mà điển hình chính nhất là anh họa sĩ người Gutemala. Vì những cuộc chiến bùng phát bên ngoài, anh bị mắc kẹt ở Paris trong khi tâm tưởng hướng về nơi khác. Anh mắc chứng bệnh mà như Roberto Bolaño gọi, là chứng sầu uất. Chính căn bệnh ấy ăn héo mòn dần những người văn sĩ, họ chỉ có thể ngồi trơ ra đó ngắm nhìn Paris từ bệ cửa sổ; họ cũng vì thế đi dạy học thuyết Karl Marx cho Pinochet, họ phải vung tay cho lời thóa mạ không hề hợp lẽ. Nội tình đất nước biến họ đâm ra an nhàn, họ mất động lực sáng tác, động lực trở mình và hơn hết chính là niềm tin dựa vào văn chương. Thế nên mới có một câu của Farewell mang đầy gợi ý trong đám tang Neruda, bọn trẻ con này chúng nó là ai, và còn mấy ai đọc lại những cuốn sách kia, những trước tác cũ của các nhà văn lỗi lạc nay đã mục ruỗng? Cái thứ mật đen mà giờ đây chính nó đang bào mòn thân xác tôi, nó đang làm cho tôi trở nên ẽo ợt và nó đang làm tôi trào nước mắt. Văn chương của nước Chile, mà không, của cả thế giới, đang chết dần mòn trong cơn nóng rẫy.

Ngoài chính ba mặt của một con người, nhân vật Farewell liệu phải gã già trước tuổi mà Cha nhắc tới? Farewell là đường trục chính, đưa Cha vào giới tinh hoa; đồng thời là người lắng nghe và phán xét Cha. Một lần Farewell kể về câu chuyện xây đồi Hellenberg và những nỗ lực không được đền đáp; lần sau ông ngắm cái bóng di chuyển trên tường khi nghe câu chuyện về tướng Pinochet. Farewell vẫn luôn ở đó, lắng nghe, phân tích và xoáy sâu vào Cha. Farewell là nơi tụ hội, Farewell là điểm phân kỳ. Và chính câu hỏi tu từ không hề giải đáp Chùm bóng đen của Sordello, Sordello, mà Sordello nào? lại đến trong đêm quán ăn trước cơn đói khổ.

Quê hương bé nhỏ

“Ông than khóc trước chiến tranh, trước cảnh đảo chính hay bị giằng xé bởi những thế lực thù địch. Tình yêu văn chương, tình yêu đất nước của thời kỳ đầy biến động có lẽ thúc bách ông viết về một đất nước đã chết mục ruỗng từ căn bệnh tiêu tâm.”

Cũng từ trong đây, Roberto Bolaño hướng về Chile trong một tình cảm vô cùng khắc khoải. Ông nhắc đến Chile không những chỉ bằng câu hỏi tu từ Nền văn học đã được tạo ra như thế đó, mà còn bởi chính những vùng vẫy của đất nước này lên trên bề nổi chính trị. Từ trong chi tiết chuyến công du châu Âu nghiên cứu quá trình bảo trì nhà thờ, khi quan sát con những con chim ưng giết đi những chú bồ câu ị quá nhiều, Cha Sebastián có một liên tưởng đến đất nước mình. Tôi mơ thấy một bầy chim ưng, có đến hàng nghìn con, đang bay trên cao không của Đại Tây Dương, hướng về châu Mỹ. Đôi lần mặt trời bị thâm đen trong giấc mơ của tôi.

Ở đó Chile của ông đang bị phanh thây bởi đàn đàn những con chim sắt. Hay ở một mặt khác, trong quán cà phê khi ông kể lại cho Farewell nghe câu chuyện với Pinochet, liệu cú khóc sau cùng là khóc vì một văn nhân đã phải từ mình đi dạy lý luận Mác xít; hay liệu đó là cú sốc cho người phục vụ chính tên độc tài của đất nước mình? Không hề biết được. Chỉ biết trong chính những đoạn đối thoại với tên độc tài ấy, Cha đã không chỉ một lần nhún nhường vì bản thân mình. Vị trí luồn cúi, bản chất bấp bênh; có lẽ đó là tiếng khóc bật ra sau cùng, tiếc cho Chile tươi đẹp của nền văn chết, tiếc cho cả một đất nước tự do.

Kết

Với Đêm Chile, Roberto Bolaño đã dùng ngòi bút khắc họa nên hai vấn đề văn chương – quê hương trong tiểu thuyết này. Đêm Chile là cuốn tiểu thuyết ngắn, thế nhưng sức mạnh chứa đựng trong đó lại vô cùng lớn –  sức mạnh của nỗi tuyệt vọng, của những thở than, của những mất mát. Chile cuối cùng đã chết dần mòn vì nền văn chương thiếu sót, đất nước Chile sau cơn giãy đạch cuối cùng cũng dần chìm sâu. Và cũng chính như Cha Sebastián, mọi thứ đã dần dần chết.

Rằng với Chile:“Toàn cõi Chile đã biến thành cây muồng hoa đào, cây Judas, một cái cây trụi lá, bề ngoài có vẻ như đã chết nhưng vẫn còn bám rễ rất chắc trong nền đất đen, nền đất đen phì nhiêu của chúng ta mà con sâu cũng dài đến 40 centimet”.

Và với văn chương:“Cậu nhìn nhưng không thấy, hai môi cậu bị niêm phong, hai mắt cậu bị niêm phong, toàn thân hình bé nhỏ cua cậu cũng bị niêm phong. Dường như cậu không muốn xem, không muốn nghe, và cũng không muốn nói gì trước đám văn nhân vui vẻ vô tư giữa buổi tiệc hàng tuần do mẹ cậu triệu tập đến”.

Một tiểu thuyết hay. Vô tiền khoáng hậu.

Hết.

minh.


Tìm hiểu thêm về văn chương Mỹ Latin


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Giành lại không khí sạch: Chỉ ngu ngơ mới biết cười

Giành lại không khí sạch phổ quát, lý thú nhưng đầy gần gũi về cách chúng ta sống, cách ta đối xử với mẹ thiên nhiên, với bầu khí quyển; để thông qua đó, lựa chọn hành động của mỗi một người là rất vô cần thiết.

Published

on

London. Thập niên 1890s. “Họ lái xe giữa những hàng rào cây táo gai và cây phỉ, dọc theo những con đường ngoằn ngoèo giữa rừng cây sồi, bạch dương và thủy tùng nhô cao. Philip đã cảm nhận được sự thay đổi trong không khí khi đoàn tàu chạy ra khỏi dãy nhà ở London. Ở nơi này, ta có thể nhìn thấy cái rìa của làn khói ám đen ấy. Ở đây, nó không tệ như bầu không khí đen đặc đầy mụi than và hóa chất nóng chảy tràn từ các ống khói nhô cao và lò nung gốm ở Burslem. Phổi cậu căng tức và quá mệt mỏi. Olive và Tom không coi không khí trong lành là điều hiển nhiên. Họ thốt lên một cách đầy trịnh trọng về việc làm sao để thoát ra khỏi bụi bẩn. Philip cảm thấy nhơ bẩn khắc sâu trong cậu”. [1]

London. 2018. “Qua việc không hành động một cách khẩn trương và hiệu quả nhất có thể, cũng như không thực hiện mọi biện pháp có thể để làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và gia tăng tuổi thọ, chính phủ Anh Quốc đã thất bại trong việc hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ tính mạng, sức khỏe và sự phát triển của trẻ em trong phạm vi và quyền hạn của mình”. [2]

*

Kể từ khi A. S. Byatt làm cuộc khảo cứu ngược về lịch sử thời hậu Victoria cho đến khi chính quyền Trump bỏ lơ hoàn toàn hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu, đã hơn 120 năm trôi qua, thế nhưng, những bóng đen ám khói, những thần chết vẫy gọi vẫn không ngừng nhe nanh múa vuốt trước số phận con người. Tự trong bản chất, khả năng kháng cự và nhận biết hiểm nguy đã tắt lịm đi theo dòng thời đại; từ hư vô khi loài homo sapiens thận trọng dùng lửa, đến thời 4.0 của Internet, của AI hay machine learning thì loài homo deus ấy cũng "tiến hóa" hơn hẳn, khi không sợ lửa, sợ khói và hẳn nhiên không còn sợ cả không khí mà chúng hít phải.

Là một bước tiến hay bước đường lùi? Chẳng ai biết được. Chỉ biết không khí thời còn là sapiens đã trôi rất xa từ khi trở thành giống loài deus. Với Giành lại không khí sạch, Tim Smedley như gã chép sử bơ vơ hiu quạnh ở thời chuyển tiếp, ghi trên đất sét sa thạch một bản tóm lược bầu không khí này, để loài deus hàng triệu năm sau vẫn còn biết được từng bước diễn tiến của bầu không khí thủa còn bốn biển năm châu. Nhưng đến cuối cùng, điều gì đã khiến chúng tệ như thế? Những kẻ giấu mặt, làn khói mong manh và hơn 18.000 người chết mỗi ngày vì không khí ô nhiễm?

Màn khói mù ở Bắc Kinh, nơi tỉ lệ ô nhiễm hạt nhỏ cao gấp 40 lần so với mức tiêu chuẩn an toàn quốc tế.

NHỮNG SỰ THẬT MÔI TRƯỜNG KHÓ CHỊU

Tim Smedley mở đầu Giành lại không khí sạch bằng một trong những mệnh đề vô cùng quen thuộc khi nhắc đến các vấn đề về phát triển bền vững, rằng anh chỉ quan tâm đến chúng khi con cái mình chào đời. Dễ thấy, không khí ô nhiễm như tên sát nhân mang bộ áo giáp vô hình trong tiểu thuyết của H. G. Wells - chúng tàng hình, khó nhận biết nhưng đầy hiểm nguy. Người trưởng thành dường như luôn mang trong mình những tập ý niệm đầy tính trẻ thơ, mà niềm tin về bầu không khí trong lành của 10 hay 20 năm trước chưa hề biến đổi là một trong số đó. Chỉ cho đến khi những chuyển giao thế hệ, những sợi dây liên kết đậm tính máu mủ ruột rà một lần xuất hiện, thì kể từ đó ta mới chú ý để rồi nhận ra cái áo giáp ấy không hề kiên cố như ta vẫn nghĩ.

Và điểm yếu đầu tiên của bộ đồ ấy mà Tim “vô tình nhìn thấy” là ở những tít báo bán chạy hàng ngày ở Anh. Có thể nói ở thời đại mở, nơi thông tin tràn ngập và được thu gom như những vụ mùa bội thu, thì mạng xã hội đóng vai trò vô cùng trọng yếu cho những cuộc vạch trần. Nếu trước đó Trung Quốc từng xóa trắng những dấu hiệu ô nhiễm không khí đầu tiên bằng cách yêu cầu Đại sứ quán Mỹ - nơi gắn những cảm biến không khí nhằm phục vụ cho nhân viên của mình – ngưng đăng trên tài khoản Twitter những số liệu cảnh báo; thì chính quyền Delhi của Ấn Độ cũng tương tự thế, khi phủ nhận hoàn toàn ảnh hưởng của nền ô nhiễm đối với sức khỏe, hay càng vô lý hơn nữa khi một mực cho rằng ô nhiễm môi trường chỉ do khí tượng. Thế rồi rốt cuộc, liệu những che giấu của chính phủ về vấn đề này nhằm mục đích gì hay cốt lõi của chúng nhằm phục vụ ai?

Đội tuyển cricket Sri Lanka có triệu chứng nôn mửa, khó thở vì không khí ô nhiễm khi thi đấu tại New Delhi (Ấn Độ) dù đã đeo mặt nạ chống ô nhiễm.

Với một câu hỏi nửa gây khó chịu, nửa gây tò mò, Smedley với vị thế là một nhà báo độc lập không bị tác động bởi lợi ích nhóm hay bởi đảng phái chính trị đã có cái nhìn khách quan, tổng hợp và thấu suốt về toàn bộ vấn đề này. Lần ngược trở về thời Đại sương mù London năm 1957 đến ngày tận thế năm 2013 của chính quyền Bắc Kinh, ta thấy quan hệ rường cột về mặt kinh tế luôn luôn phủ khắp vấn đề môi trường.

Đứng trước làn đại sương mù năm 1957 bởi than sưởi mùa đông cùng với hiệu ứng nghịch nhiệt, thay vì hành động dứt khoát và thật nhanh chóng, Churchill lại cho rằng cần xem xét thêm quy mô rộng lớn của nền kinh tế trước tác động nhỏ (hay không đáng kể) về mặt môi trường. Sự im lặng của người đứng đầu ở các chính phủ cũng như xung đột lợi ích của rất nhiều bên chỉ biến công dân thành những đàn cừu mặc người chăn thả; để rồi từ đó kết hợp với lối “bế quan tỏa cảng” ở mạng Internet mà Trung Quốc tha hồ o bế, cấm luôn Twitter hay Ấn Độ còn phũ hơn thế, một mực cho rằng khói bụi độc hại tương ứng với khi hút hơn 50 điếu thuốc một ngày vẫn còn chưa tệ bằng cuộc tuyệt diệt thảm họa Pol Pot.

Hơn thế nữa, sự bao che của chính phủ đối với hãng Volkswagen trong việc sản xuất thiết bị triệt tiêu khí thải trong bài thử nghiệm trở thành bê bối không thể dung tha. Dĩ nhiên ta dễ mà suy ra rằng, Volkswagen trong trường hợp này chỉ như anh cả đứng mũi chịu sào, mà trong khu phức hợp chịu trách nhiệm tầm soát ô tô ấy, có hàng tá hàng tá thương hiệu từ Fiat, Subaru đến Peugeot hay Renault. Nực cười hơn nữa khi scandal đã lở vỡ ra, thì chính Volkswagen đã vay một khoản 400 triệu euro từ Ngân hàng đầu tư châu Âu nhằm để phát triển động cơ tuân thủ tiêu chuẩn phát sinh khí thải ngày càng nghiêm ngặt!? Đi suốt đi lui như một vòng luẩn quẩn, và dĩ nhiên, con người luôn là trung tâm toàn bộ mọi thứ.

Thế nhưng cũng không hẳn thế. Một ưu điểm khác của Giành lại không khí sạch là Tim Smedley đã đứng dưới một vai trò của người quan sát – người xin đi lại từ đầu – để đến với những khái niệm thật cơ bản nhất, thật ngọn nguồn nhất; mà một trong số đó là bản chất của tên sát nhân vô hình - ở đây xin được tạm gọi là PM2.5. Dĩ nhiên trong một đám khói ta vẫn hít vào luôn luôn chứa đựng những loại khí khác mà có thể là NOx, VOC, SO2, CO2,… Chúng có thể từ trong vòm cây hoặc từ việc đốt rơm rạ (VOC), cũng có thể là từ núi lửa hoặc đốt nhiên liệu hóa thạch (SO2). CH4 và NH3 thì từ hoạt động chăn nuôi nông nghiệp để lý giải vì sao nước tiểu bò vẫn có thể gây ra ô nhiễm còn O3 từ trong những sự kết hợp giữa NOX với VOC trong ánh sáng. Những cặp tác nhân đều chứa đựng yếu tố tự nhiên và yếu tố người, dĩ nhiên con người luôn luôn phá vỡ và nghiêng cán cân về phía bên mình.

Trong số những hợp chất trên, PM2.5 là vô cùng nhỏ so với kích thước của một cọng tóc và có khả năng vô hiệu hóa toàn bộ khả năng cản bụi ở những cơ quan vốn dĩ sinh ra cho công việc này. Nan giải ở chỗ, ta không thể nào giải quyết toàn bộ vấn đề. Bởi khi giảm xuống nồng độ NOx thì NO2 sẽ liền tăng lên; tương tự như thế, khi giảm PM20 lập tức PM kích thước nano sẽ lại chiếm chỗ. Chì, PM, mất cân bằng oxy gây nên hệ quả không thể không thấy ở ngay trước mắt, để mà nói ra chỉ như sấm truyền cho một cuộc sống đã đến hồi kết, với mất trí nhớ, suy tim, đột quỵ, ung thư, máu không đông, Parkinson, thiếu máu cục bộ và hàng hà sa số những căn bệnh khác.

NHỮNG VÙNG SÁNG ẢM ĐẠM

Nói thế cũng không có nghĩa mọi việc chỉ đang lao đi xuống dốc không thấy đường ra. Trong khi các giải pháp về điện khí hóa đang được cân nhắc và những sản phẩm đầu tiên đã được thành hình; thì kể từ khi sự kiện Olympic Bắc Kinh 2008 đến nay, ngày tận thế vì không khí ô nhiễm đã được khắc phục rõ rệt, với hàng tá những giải pháp như công khai chỉ số môi trường, tái tạo những vành đai xanh hay đóng cửa hoàn toàn những nhà máy nhiệt điện than, sản xuất thép dù cho chưa đi vào hoạt động, mới vừa hoạt động hay đã từng hoạt động… Những chính sách mạnh tay của chính quyền Trung Quốc đã cho thấy cách đối đầu đối với khủng hoảng vô cùng trực diện.

Hơn thế nữa, khi Trump phủ nhận hoàn toàn hiệp ước Paris (chắc hẳn ai đó đã cho ông uống thứ thuốc Dylar của DeLillo trong Tạp âm trắng để mà chế ngự được nỗi sợ chết) thì vé miễn thi hành luật của California đã như ống phễu ngày càng tăng thêm tiêu chuẩn phát thải khí thải. Cùng lúc đó, Paris triển khai hệ thống Velib – xe đạp cho thuê, ngày không xe hơi, tăng lên số lượng làn cho xe đạp hay việc dán nhãn mức độ xả thải, cấm diesel đến năm 2025… đã biến Paris thành nơi đáng đến. Không dừng ở đó, Tesla, BMW, Volvo… cũng đang phát triển phương tiện hoàn toàn bằng điện, mà pin lithium-ion sử dụng cho loại xe này và cách xử lý sau khi hết hạn cũng là vấn đề hết sức nan giải.

Mặt khác, dịch vụ dùng chung xe điện Maas ở Phần Lan đã đại diện cho câu slogan "xe điện hoàn toàn tuyệt vời, nhưng ít xe điện hơn càng tuyệt vời hơn". Hệ thống BRT ở Mexio, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran cũng đã mang đến lợi ích đáng kể. Thêm vào đó, Stefano Boeri – kiến trúc sư người Ý với lối kiến trúc rừng thẳng đứng ở những tòa nhà bê tông cốt thép – đã góp tính thiên nhiên vào cảnh quan thành phố. Thế nhưng xung đột văn hóa vẫn luôn còn đó, khi  Leban không có dịch vụ công cộng, giao thông Delhi tuân theo đẳng cấp, thói quen tắm hơi ở Hà Lan, tiệc nướng ngoài trời ở Úc hay dịp bắn pháo hoa vào lễ Diwali… Tất cả cho thấy giải quyết ô nhiễm không khí không khi nào là công việc dễ dàng.

*

Với Giành lại không khí sạch – Sự khởi đầu và kết thúc của ô nhiễm khí quyển, Tim Smedley bằng một khởi đầu vô cùng cơ bản đã khái quát hóa một trong những vấn đề rất đáng quan ngại mang tính toàn cầu. Từ những khởi đầu với các khái niệm vô cùng cơ bản đến cuộc vạch trần những mối xung đột trong việc giải quyết ô nhiễm không khí, từ lời cảnh báo đủ thứ căn bệnh đến những điểm sáng của sự nổ lực; Giành lại không khí sạch phổ quát, lý thú nhưng đầy gần gũi về cách chúng ta sống, cách ta đối xử với mẹ thiên nhiên, với bầu khí quyển; để thông qua đó, lựa chọn hành động của mỗi một người là rất vô cần thiết. Rất đáng trải nghiệm.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Chú thích:

  1. Truyện trẻ con – A. S. Byatt.
  2. Báo cáo của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc.

*

Những bài viết về Giành lại không khí sạch:


Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đường xưa mây trắng: Khi trí tuệ và từ bi mở lối cho lý tưởng, tình yêu và tuổi trẻ

Published

on

By

Gấp lại cuốn sách và bạn sẽ cảm thấy tình yêu mến dành cho Đức Phật dường như được mở rộng ra nhiều. Tình yêu mến đó không bắt nguồn từ lòng ngưỡng mộ, lòng tôn kính dành cho bậc vĩ nhân ta thường thấy, mà từ “cái thấy” của ta dành cho Đức Phật, thấy Người cũng tồn tại trong ta, thấy hình như Người đã nói lên những gì mà ta đã trải qua và trăn trở, thấy Người thật hiểu ta quá.

Như mọi khi, hãy thở ba hơi thở, buông bỏ hết những kiến thức về Phật Giáo mà mình đã tiếp nạp, rồi đón nhận “cơn mưa pháp” giàu tình thương và chân lý, và tiến bộ thông qua hành trình ngược về 2,600 năm trước: nối gót bước chân của người đã làm thay đổi thế giới mãi về sau.

Dành cho những ai đã biết, đã đem lòng kính trọng Đức Phật, đây là cuốn sách để bạn yêu thương Người theo một cách khác: Người sẽ là Bụt, là người thầy, người nghệ sĩ, người cha, người anh em, và là người bạn. Một người bình thường có tính cách, có sức khỏe, có tư duy như bao người bình thường khác. Một người làm nên điều kỳ diệu không cần phép thần thông, cũng không có hào quang tỏa chiếu. Và mình cũng thấy mình làm được những điều kỳ diệu đó. 

Dành cho những ai chỉ mới nghe danh mà chưa tìm hiểu, đây là cuốn sách để bạn tiếp cận với nguồn gốc của Phật Giáo - Đạo Phật nguyên thủy, với triết lý căn bản của Đạo Bụt được Sư Ông truyền đạt cặn kẽ và dễ hiểu. Và bạn sẽ tìm được thêm cho mình những người bạn mới - Bụt và các đệ tử của Ngài. Rồi bạn sẽ hiểu thêm về các quốc gia tôn giáo, nơi mọi thanh niên đều có thể phát nguyện xuất gia ngay từ khi còn trẻ, khi so sánh với những nước chỉ chấp nhận vào đường đạo sau khi đã qua các đỉnh cao cuộc đời. 

Nếu cần phải phân loại, mình sẽ gọi Đường xưa mây trắng là tiểu thuyết lịch sử. Là thể loại truyện hư cấu dựa trên những điển tích trong cuộc đời Đức Phật. Sư Ông Làng Mai chọn yêu mến Đức Phật như một con người, và vì vậy, xây dựng nhân vật về Người cũng có tính cách, có cảm thọ, có nhiều trăn trở bất an, có sự quyết tâm cũng như gặp những khó khăn phàm tục. Trong Đường xưa mây trắng không có Bồ Tát, không có ngạ quỷ, phạm thiên, không có cõi ta bà hay các nhân vật dùng thần thông như những bài kinh của Đại Thừa. Nhưng điều tuyệt nhất của Sư Ông là đã phác họa nên nhân vật Bụt rất thật, như đã từng được gặp Bụt và sống cùng Người.

“Tôi đã viết những chương của Đường xưa mây trắng với rất nhiều hạnh phúc... Mỗi ngày viết mấy giờ cũng như được ngồi uống trà với đức Thế Tôn.”

Truyện có 81 chương, chương nào cũng được lồng ghép một bài kinh, một pháp môn ra đời khi Bụt còn tại thế. Hoặc một câu chuyện của Bụt thu phục một vị đệ tử mới. Độc giả có thể thuận tiện tra cứu lại tóm tắt và điển tích của các chương này ở phần Mục lục cuối sách.

Ta cũng có thể làm điều tương tự

Đường xưa mây trắng xuất bản lần đầu tiên vào năm 1988, năm đó độc giả Việt đâu đã quan tâm nhiều đến sách kỹ năng, đến những buổi nói chuyện truyền cảm hứng, đến tu thân hay phát triển bản thân. Việc kể lại cuộc đời của Bụt như một người bình thường đem lại lợi lạc không thua gì nhiều chương trình truyền lý tưởng sống cho tuổi trẻ. Bạn sẽ đặt xuống những phép màu, những tôn sùng bậc thánh nhân, mong cầu siêu sanh vào thế giới phương Tây mà chính bạn khó lòng chứng nghiệm trong kiếp sống này. Bạn sẽ cầm lên ba viên ngọc quý gọi là Tam Bảo để xây nền cho con đường mà bạn chọn, cho dù là con đường nào, chỉ cần có từ bi và trí tuệ, bạn vẫn sẽ đi thật tự tin, vững chãi, và thong dong.

Mình thấy thích những lần thay đổi điển tích điển cố khéo léo và hợp lý của Sư Ông nên xin phép chia sẻ một vài câu chuyện dưới đây.

  • Chuyện kể rằng khi ngồi tọa thiền dưới gốc cây vào buổi đêm khuya, nhiều lần Bụt đã bị vây hãm và cám dỗ bởi Diêm Vương và bầy nữ quỷ. Đối với Bụt trong Đường xưa mây trắng, chẳng cần Diêm Vương, chẳng cần ngạ quỷ hiện hình, một chiếc lá rơi và tiếng xào xạc của động vật trong rừng cũng làm Người thót tim. Thần thông của Bụt lúc này là khả năng chiến thắng nỗi sợ hãi và khả năng giữ cái định cho thật lâu, thật đều.
  • Điển tích cho rằng Chư thiên đã xuống khẩn cầu Bụt đừng nhập Niết Bàn ngay mà hãy ở lại hóa độ những gì Ngài biết cho chúng sanh. Vì sau cái đêm giác ngộ dưới cội bồ đề, Ngài nghĩ rằng con đường giải thoát khó như vậy, làm sao chúng sanh có thể lĩnh hội được. Nhưng động lực ban đầu để Ngài quyết rời bỏ cuộc sống vương giả là nhìn thấy cảnh sinh, lão, bệnh, tử của dân chúng. Ngài thấy khổ vì không làm gì được cho người ta hết khổ, vậy sao giác ngộ rồi, Ngài lại phải do dự nhập Niết Bàn hay không? Bụt của tác phẩm đã bắt đầu con đường hoằng pháp ngay sau đêm thành đạo.
  • Có nhiều trong các mối quan hệ, những người đem lại cho ta thọ cảm đặc biệt mỗi khi tiếp xúc. Như mình thích kể chuyện với người này vì họ rất biết cách lắng nghe, hay mình thích thảo luận với người kia vì họ phản biện tốt. Còn cô bé Sujata thì bỗng một hôm lại thấy Bụt có gì đó khác lạ, và nhìn ngài, cô cảm tưởng như mọi nhọc nhằn lo lắng trên cuộc đời này không còn to tát nữa. Cô thấy lòng mình vui như một ngọn gió xuân. Niềm an lạc và thanh tịnh của Bụt, đâu có cần phép màu mới được tỏa chiếu.
“Bụt có rất nhiều trí tuệ, rất nhiều từ bi, tại sao Bụt không dùng mà lại phải dùng thần thông?”

Điều phục cái tôi và chuyển hóa khổ đau

Cái khổ tâm trong đời sống thường ít khi được coi trọng. Người ta đặt mục tiêu, bắt tay vào làm, rồi nhìn tới kết quả, chứ đâu có quán chiếu tâm mình vui buồn ra sao. Vậy mà giai đoạn điều phục thân tâm trước khi khởi sự lại là yếu tố quyết định hành động của mình có xuất phát từ lòng chân thành hay không hoặc dẫn tới kết cục đổ vỡ hay không. Những điều như chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp... là thành quả của việc quán tâm miên mật. Ai hiểu tâm mình, thì người đó điều phục được bất an.

Nhìn Bụt, thấy Bụt lúc nào cũng an vui, thấy cái tình thế cấp bách không giục được thân tâm của Người. Suốt quãng đời hoằng pháp, Người nói đi nói lại với đệ tử về kinh Quán niệm hơi thở và kinh Tứ niệm xứ, chỉ dạy chúng sanh làm sao quay về với hơi thở của họ. Nhiều lần thấy tình thế lao đao, nhưng Người xoay chuyển được.

  • Lần đoàn viên gia đình đầu tiên sau khi thành đạo, Người nắm tay vua cha đi vào hoàng cung. Nỗi nhớ người thân được khỏa lấp thắm đượm khung cảnh. Người là Bụt, là lãnh đạo tăng đoàn, và còn là lãnh đạo tinh thần của nhiều quốc gia, nhưng vai trò đó là của đương thời. Quay về nguồn cội, Bụt vẫn là con trai của vua Suddhodana. Và ấy là đạo hiếu. Lần đầu Người được ôm đứa con Rahula vào lòng, nắm lấy tay cậu bé, nhưng chỉ chịu tiếp vợ Yasodhara tại tu viện, cùng với mẹ mình. Ấy là đạo hạnh. Muốn theo đúng đường đạo, lắm lúc người tu hành phải chịu đối diện lại những gì mà mình đã buông bỏ, để xem những hạt giống trong tâm mình nảy nở như thế nào, đối trị ra làm sao. (chương 34: Mùa xuân đoàn tụ)
  • Lần chia rẽ trong giáo đoàn đầu tiên, vị luật sư kết tội vị kinh sư vô ý không đổ nước trong chậu sau khi sử dụng, chuyện bé teo nhưng không bên nào nhường bên nào. Bụt khuyên can nhiều lần mà không hiệu quả. Bụt lấy bình bát và áo bỏ đi tận một năm bốn tháng liền. Người ta nói Bụt giận, bỏ giáo đoàn. Giới tu tại gia không buồn cúng dường cho chư tăng nữa vì không hòa hợp. Sư ông không giải thích vì sao Bụt bỏ đi, cũng không thêm tình tiết Người hóa giải ngay mối bất hòa. Nhưng Sư ông có miêu tả rất chi tiết sự an lạc mà Bụt lấy lại được sau khi rời khỏi tu viện. Mình nghĩ đôi khi tạm hoãn, đặt xuống, cũng là một phương pháp nuôi dưỡng thân tâm. Mỗi khi có xung đột, đâu nhất thiết phải cùng ngồi lại để ra ngay giải pháp. Bởi vì thân tâm lúc đó có quá nhiều điều phải sàng lọc. (chương 46: Nắm lá simsapa)
  • Bụt sống đến hơn 80 tuổi. Người đã chứng kiến sự ra đi của hầu hết những người thân trong gia đình và các đại đệ tử. Đại đức Rahula, từng là con trai Bụt, viên tịch năm 51 tuổi. Moggallana (Mục Kiều Liên) viên tịch vì bị ám sát, người cuối cùng qua đời trước Bụt là Sariputta (Xá Lợi Phất). Thị giả Ananda cứ mỗi lần như vậy, là đau buồn tiếc thương, buồn vì xa lìa những người anh em đồng tu một đời, thương Bụt vì Người mất đi nhiều đệ tử lớn, giáo đoàn không biết giao lại cho ai quản. Bụt chỉ mặc niệm, không buồn, không đau khổ.
  • Bụt giác ngộ đạo lý giải thoát là nhờ quán chiếu duyên sinh duyên khởi, vô thường vô ngã. Mỗi một người thân qua đời, là một lần thấy lời nói của Người có tác dụng điều phục thân tâm. Quán chiếu đến khi nào những cảm thọ sợ hãi, buồn phiền, tiếc thương không còn nảy nở nữa, thì cũng là lúc mình an nhiên được với thực tại.

Ngôn ngữ của Sư Ông

Sư Ông từng là giáo viên dạy văn nên chất thơ trong từng tác phẩm không lúc nào cạn, cũng như thời đó người ta thích thơ của Xuân Diệu hay văn xuôi của Thạch Lam vậy. Ngồi đọc chương này tới chương nọ, lắm lúc hình dung được bức họa được Sư Ông vẽ bằng ngôn ngữ từ chân tâm, cảm được sự ấm áp và tình thương yêu trong từng câu từ, và chẳng có nhân vật phản diện nào đáng chê trách cả. Chỉ có mọi nhân vật phản chiếu cái ta trong họ, để ta soi rọi những tập khí, để ta tự cho mình cơ hội từ, bi, hỷ, xả với chính mình. Để ta yêu thương người một cách trí tuệ.

“Nắng lên cao, những đám mây trắng nhỏ vẫn còn lơ lửng trên nền trời xanh biếc.
Bờ sông bên kia vẫn xanh mướt cỏ non. Con đường bờ sông này ngày xưa Bụt đã qua lại nhiều lần.
Con đường bờ sông này có thể dẫn về Banarasi, có thể dẫn về thủ đô Savatthi, có thể dẫn về thủ đô Rajagaha, mà cũng có thể dẫn đi khắp chốn.
Bụt đã ghi dấu chân trên mọi nẻo đường hành hóa. Đi đâu đại đức cũng sẽ giẫm lên dấu chân của người.”

Thầy thường đặt tên các chương sách bằng cách trích dẫn văn học Việt Nam như “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” hay “Bao nhiêu tấc đất bấy nhiêu tấc vàng”. Mình gọi đó là một sự Việt hóa cần thiết. Đạo Bụt dành cho vô số đại chúng, tuy vậy, pháp âm của Bụt trước khi gieo vào lòng người thành công, vẫn phải vượt qua nhiều rào cản. Dù truyền bá từ phía Bắc, hay phía Nam, đạo Bụt vẫn nên thuần Việt khi sinh sôi và phát triển tại Việt Nam. Để giới Phật tử Việt có cơ hội được tiếp xúc với giáo pháp thật tự nhiên, thật gần gũi như lời dạy của mẹ, của bà, của ba. Để khi đối trị với cái tâm nhiều tiêu cực, pháp môn cứ vậy mà tràn về, chẳng cần giở lại kinh, chẳng cần đối chiếu lại bản dịch, chẳng cần dò từng từ Hán Việt.

Hiểu Phật Giáo bằng cái tâm không chướng ngại

Bụt thường nói rằng, ngôn từ không thể diễn tả hết giáo lý của Người. Không chỉ riêng gì Phật giáo, ngôn từ cũng không thể truyền đạt tính chân như của mọi sự vật hiện tượng. Chính vì vậy, để lĩnh ngộ một pháp môn, người đọc cần tìm hiểu kỹ bối cảnh và các nhân vật trong truyện. Người đọc phải tạm đặt xuống những quan niệm, lập trường, ý kiến, định kiến cá nhân trước. Gọi là gỡ bỏ rào cản. Gọi là hạnh lắng nghe. Có như vậy, mới nắm được cơ hội thấu hiểu những gì người viết đang cố gắng truyền tải.

Và bạn sẽ đủ kiên nhẫn để giải đáp nhiều điều về Phật Giáo… Như vì sao Người có thể thu hút lực lượng lớn giới vương giả tại Ấn Độ, vì sao ni thỉnh chư tăng về thuyết pháp lại là một giới luật, từ đâu có thuật ngữ Tam Bảo, ý nghĩa của phước điền y, vì sao có mùa an cư, vì sao kinh Vu Lan Báo Hiếu ra đời, vì sao Bụt là được gọi là Bụt, hay vì sao Bụt tự gọi mình là Như Lai.

Và bạn sẽ bắt đầu yêu (hơn) những bài kinh… Đời sống giới tu tại gia loanh quanh trong việc tụng kinh. Nhiều bài kinh lặp đi lặp lại rằng có cơ duyên trì tụng sẽ giúp thiện nam tín nữ tiêu trừ nghiệp chướng, phước đức vô biên. Người đọc không hiểu được dễ cho rằng như vậy là mê tín, là thiếu cơ sở khoa học. Nhưng người tụng kinh từ ngày này sang ngày nọ dễ dàng ngẫm ra rằng, việc đọc một bài kinh trong suốt thời gian dài sẽ làm họ thấu hiểu được triết lý mà bài kinh muốn truyền tải, từ đó có thể nhìn ra con đường đạo, sống đúng với đời, với người. Vậy thì nghiễm nhiên nghiệp chướng tiêu trừ, phước đức tăng trưởng.

Tuy nhiên, hành trì kiểu này đôi khi không hấp dẫn lắm đối với người trẻ. Chúng ta muốn sống chậm, nhưng chúng ta vẫn cần cái gì đó dễ thấu, dễ cảm, và lợi ích của nó thực sự mật thiết với đời sống cá nhân. Nếu bạn đang có nhu cầu này, hãy tìm hiểu các bài kinh thông qua Đường xưa mây trắng.

Những nội dung khó như vô tướng, vô ngã, duyên khởi, phân biệt không sinh không diệt với có sinh có diệt, kinh phạm võng,... sẽ được Sư Ông truyền tải bằng một câu chuyện gồm các lần đối đáp giữa Bụt và các vị đệ tử. Kinh được chuyển từ thơ sang lời nói. Những triết lý khó được lặp đi lặp lại ở nhiều chương theo cách diễn giải đa dạng. Hiểu được bối cảnh, hiểu được nghĩa kinh, thì tinh túy của đạo Bụt nguyên thủy quá dễ thấu và dễ cảm.

“Ngón tay chỉ trăng không phải là mặt trăng”

Đường xưa mây trắng rất thành công. Tác phẩm được dịch sang 20 thứ tiếng, trong đó có tiếng Hindu, bán được 1 triệu bản tại Mỹ và được nhiều người công nhận là tác phẩm hay nhất thế kỷ 20. Nhưng nếu là Bụt, Bụt sẽ chỉ mỉm cười và nói rằng, Đường xưa mây trắng cũng chỉ là một công cụ giúp đại chúng nhìn thấy được lối sống an nhiên, buông bỏ được những cố chấp, chấp kiến, vô minh, để nhìn cuộc sống vận hành như bản chất chân như của nó. Giống như ta đưa ngón tay chỉ mặt trăng, thì người trí tuệ hãy nương theo ngón tay mà nhìn thấy trăng, chứ đừng cứ mãi ngắm nghía bàn tay của người đang giương ra giúp đỡ.

Hết.

Anh Đào

*

Bài viết về các tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh



Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Kể chuyện năm 2020 bằng ba cuốn sách của tôi

Published

on

Không phải hoàn toàn sụp đổ và "cancelled", văn chương 2020 với tôi là một điều đáng nhớ. Tôi đọc ít hơn, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tôi giỏi hơn (theo đúng như những gì Zappa hàm ý). Trong trường hợp này, có phải vậy không? Tôi vẫn chưa đọc tiểu thuyết mới nhất của Martin Amis (người từng gây cho tôi ít nhiều ấn tượng trong bản dịch Tiền - thư tuyệt mệnh) và những cuốn sách dịch làm tôi chưa thỏa mãn cực độ, ít nhất là tiệm cận với những gì tôi đã đọc ở phiên bản tiếng Anh, thứ ngoại ngữ duy nhất mà tôi nương tựa ngoài tiếng mẹ đẻ, rất tiếc nuối về điều đó. 2666 an toàn, tôi đã chờ những gì thô ráp hơn. Tess - một tâm hồn trong trắng vẫn chưa có mặt tại kệ sách nhà tôi, trong khi Những thứ trong suốt Phòng thủ Luzhin lại không gây ấn tượng quá nhiều như những gì T.L đã làm trong Mây, hồ, tháp. Chúng ta còn gì? Trong lúc đợi chờ Godot làm mệt mỏi ngay từ chiếc bìa không ăn nhập và lối dịch dài dòng diễn dịch. Chúng ta còn có thể kể đến rất nhiều cuốn sách dịch khác, và cả một số tác phẩm trong nước, điển hình là Biên sử nước mới mẻ như Rulfo thể nghiệm Pedro Páramo nhưng dĩ nhiên non nớt hơn.

Trong ba cuốn sách tôi có thể nhớ được hầu hết các điểm mà tôi thích dưới đây, thật đáng tiếc và tệ hại cho tôi thay, cả ba đều chưa được dịch thuật (thế là dĩ nhiên cái sự đọc của tôi năm nay không yêu nước) hay nghe ngóng có kế hoạch dịch thuật: hai trong ba là của các nhà Nobel gần nhất: Louise Glück và Peter Handke; người thứ ba, cũng trứ danh không kém, Krasznahorkai László.

1. Melancholy of Resistance (Krasznahorkai László): Màn phúng điếu đỉnh cao

Tôi đọc Melancholy of Resistance (tạm dịch Nỗi buồn kháng cự), bản dịch tiếng Anh của George Szirtes vào khoảng đầu mùa hè. Ngay lập tức sau khi đọc xong, tôi ước bác Chung không dịch Chiến tranh và Chiến tranh mà dịch cuốn này.

Melancholy of Resistance (Krasznahorkai László)

Một văn bản xám xịt, đúng theo phong cách của László cùng với sự ghẻ lạnh mà u hoài đến vô lý và bức bách. Bắt đầu bằng sự việc bà Plauf nghe tin sự nguy hiểm nào đó đang âm thầm len lách vào sự sống của ngôi làng: đúng thế thật, một đoàn xiếc với con cá voi khổng lồ kéo đến và không khí ngột ngạt, dơ bẩn. Sở trường những câu văn dài lê thê không cung cấp nhiều thông tin, ông kết hợp nhuần nhuyễn ý nghĩa của những giấc mơ được gán ghép vào sự sống của cư dân trong làng. Năm 2000, chính nhà văn đã chuyển thể thành kịch bản phim Werckmeister Harmonies do Béla Tarr làm đạo diễn. Không khí tận thế cùng những nỗi buồn vô tận, đúng như tiêu đề, tất cả những nhân vật trong ngôi làng ấy chống lại thế lực đen tối và cả sự bất lực của cách mạng. Một bóng tối bão hòa, phi thường nhưng thường xuyên đến nỗi trở nên nhân tính và cảm xúc bóc trần đến cảm lạnh, không ai giấu giếm bất kì một đắn đo gì trừ khi đó chính là nỗi buồn kháng cự. Một cuốn sách làm người ta không thể nào ngủ; một cốt truyện hư ảo, chết chóc cùng với một giọng văn ghê sợ, đáng hãi hùng.

2. The Wild Iris (Louise Glück): Buổi truyền miệng của những thiếu phụ

Là cuốn thơ duy nhất sau Anne Carson làm tôi muốn dịch hết, The Wild Iris (tạm dịch Hoa diên vĩ dại) là áng thơ bất hủ về những trăn trở trong cuộc sống hội nhập của chúng ta. Louise Glück phát biểu trong diễn văn nhận giải Nobel 2020 rằng có lẽ lý do Viện chọn bà vì giọng nói riêng tư, thân mật và không thể thay thế. Thật vậy, không khó hiểu đến trở ngại và sượng sùng đôi chỗ như Anne Carson, thơ bà kín đáo và nữ tính hơn. Chùm thơ "Parable" xuất hiện những câu chuyện về quá khứ của những người phụ nữ thông qua những hình ảnh ẩn dụ, một Emily Dickinson thời hiện đại với trái tim đã mở cửa để đón chào thế giới mới. Một giọng thơ không khó để dịch, song lại lưng chừng như sóng biển. Người ta sẽ không bao giờ hiểu được hết ý tứ của một câu thơ hay - chính thơ của Louise làm người ta ngập ngừng chỗ đó.

The Wild Iris (Louise Glück)

Bà đặt ra những câu chuyện rất hiện đại thông qua các nhân vật sử thi: "Các vị thần Hy Lạp ngồi trên băng ghế/ thầm nghĩ rằng sẽ làm gì khi cuộc chiến kết thúc. …" (Parable of Hostages), nhục cảm tội lỗi và phức cảm hành hạ: "Em muốn cuộc sống của ả là vở kịch/ Màn nào cũng bi" (Siren), những trải nghiệm thành thật và đẹp đẽ: "Đêm cuốn anh vào trong đôi cánh của nó/ Dưới trăng tròn em có thể nhìn ra/ Gương mặt anh bơi giữa bầy cá nhỏ và những/ vì sao vọng. Trong không khí đêm/ mặt hồ là thép." (Pond). Không quá lên khi gọi tập thơ vừa nguy hiểm lại vừa dịu dàng, ở đó thi thoảng ta bắt gặp những đối đáp trớ trêu, nhục cảm, những ham muốn dục tính, song quá lãng mạn để gọi đó là tội đồ.

3. The Afternoon of a Writer (Peter Handke): Buổi hoàng hôn của cá thể

Một cuốn sách mà đọc xong tôi chỉ muốn dịch ngay để đến tay những người cô độc, như nhân vật nhà văn không tên, và vì Peter Handke trong cuốn sách quá thanh tao và lành tính. Tôi không biết ông ta viết gì bằng tiếng Áo nhưng người dịch cuốn sách sang tiếng Anh - Ralph Manheim - có vẻ cũng nghĩ như tôi: một giọng văn chân thành, mộc mạc, đôi phần ngồi lê đôi mách giống như Bohumil Hrabal nhưng nhạy cảm như phụ nữ.

The Afternoon of a Writer (Peter Handke)

Tôi đọc The Afternoon of a Writer (tạm dịch Buổi chiều của một nhà văn) trong một giờ, là văn bản thứ hai sau Trong một đêm tối trời tôi ra khỏi ngôi nhà tịch mịch của mình từ khi tôi muốn tiếp cận người đàn ông lắm thị phị này và mong chờ thứ gì đó đáng gờm. Song, giống như Trong đêm tối, cốt truyện hoàn toàn trong trẻo, có thứ gì đó như một dòng tản mạn chảy dài hơn chỉ 80 trang A5, và ngược với những gì tôi từng tưởng tượng, rất dễ đọc. Ta bắt gặp một nhân vật lạc loài giống như nhà sinh học trong cuốn tiểu thuyết duy nhất được dịch, vẫn cách chia chương rất ngắn và rõ ràng là một câu chuyện không rõ ràng. Một nhà văn nhận ra mình mất liên kết với từ ngữ đồng thời cũng mất liên kết với thế giới trong một buổi chiều tối không tối trời cho lắm, ra khỏi ngôi nhà có view đồi lộng gió và một ban công trên mái nhà ai cũng ghen tị, nhưng bản thân ông không thấy vậy vì nơi đó quá hẻo lánh với nhân loại. Trong một văn bản thâm nhập sâu xa vào linh hồn như thế, ta có quyền mơ mộng về một cảnh phim độc đáo từ tay Peter Handke, người đàn ông lạc loài cố tìm ý nghĩa cho cuộc sống của mình ngoài công việc, muốn thâm nhập vào cuộc sống nhưng không thể. Bằng một giọng văn đặc biệt, một cách miêu tả thành thật về cảm xúc, Buổi chiều của một nhà văn gây cho tôi sự nhớ hơn là Short Letter, Long Farewell Sorrow Beyond the Dream vốn được đánh giá là hai văn bản đặc trưng nhất của Peter Handke. Đó là món quà tôi tự nhận được vào mùa đông, một cuốn sách trân quý, nhẹ nhàng, thoát khỏi sức nặng của nhiệm vụ nền văn học hậu hiện đại, song cảm xúc nó mang lại vẫn không hề lệch pha.

Tức là...

Tôi đã định cho rất nhiều cuốn sách mà tôi đọc được và cảm thấy ấn tượng vào trong danh sách của riêng tôi. Có Một cuộc gặp gỡ của Milan Kundera, Chỉ còn 4 ngày là hết tháng 4 của Thuận, hay thậm chí Paul Celan và Søren Kierkegaard,... Vốn dĩ, về sức nặng cốt truyện cũng như độ hấp dẫn, không cuốn nào có thể làm ta kinh ngạc và quyến rũ cho bằng Hồ sơ Rachel hay 2666, nhưng nó mở rộng thêm cho tôi nhiều mảnh đất hơn trong nền văn chương trong thời đại của chúng ta. Chúng ta đã thực hiện gần xong xuôi một cuộc di dời hoàn toàn từ cốt truyện sang độ phi lí của cốt truyện, từ tình cảm trong văn bản thành thái độ sống và một giọng nói riêng tư mà to, lớn, đánh động như chuông. Hẳn đây là một cuộc di cư lớn, cho chúng ta nhiều hi vọng hơn về tính chất độc quyền lẫn cứu rỗi của văn chương, thế nhưng, điều đó có nghĩa là sức hút của nó sẽ sụt giảm không thương tiếc và những người chịu để nó cứu rỗi sẽ không còn quá nhiều, thậm chí không có. Thế nhưng còn quá nhiều điều chúng ta cần chờ và hi vọng tiếp về một năm 2021: biết đâu The Great Gatsby sẽ trở lại huy hoàng dưới tay Thiên Lương, biết đâu chúng ta sẽ có James Joyce, hay Gertrude Stein, hay một tập thơ? Của Sylvia Plath nhé?

Hết.

S.

*

Bài viết liên quan


Đọc bài viết

Cafe sáng