Nối kết với chúng tôi

Chuyện người cầm bút

Diêm Liên Khoa: Điều gì sẽ xảy ra sau đại dịch Corona?

Ký ức cộng đồng và khi ta lặp lại sai lầm của chính mình.

Published

on

YAN LIANKE: WHAT HAPPENS AFTER CORONAVIRUS
Diêm Liên Khoa

Ngày 21.02, Diêm Liên Khoa, giáo sư bộ môn Văn hóa Trung Hoa tại Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông (HKUST), đã giảng bài điện tử cho lớp sinh viên cao học về đại dịch Covid-19, ký ức cộng đồng và phương thức mà những người kể chuyện, một ngày nào đó, sẽ bàn về đại dịch. Dưới đây là bản dịch bài giảng, được đăng lần đầu tiên tại ThinkChina và được dịch bởi Grace Chong.

*

Các bạn sinh viên thân mến của tôi!

Hôm nay là bài giảng điện tử đầu tiên. Trước khi ta bắt đầu, cho phép tôi đi lạc đề một chút.

Khi tôi còn nhỏ, bất cứ khi nào tôi mắc phải cùng một lỗi sai hai đến ba lần liên tiếp, bố mẹ tôi sẽ kéo tôi đến trước mặt họ, chỉ vào trán tôi và mắng:

“Tại sao con lại đãng trí như thế cơ chứ?!”

Trong những tiết học tiếng Trung, khi tôi không thể nào ghi nhớ một đoạn văn ngay cả khi tôi đã đọc nó không dưới mười lần, giáo viên sẽ yêu cầu tôi đứng lên và hỏi tôi trước cả lớp:

“Tại sao em lại đãng trí thế cơ chứ?!”

Khả năng ghi nhớ là mảnh đất màu mỡ nơi kí ức sinh sôi, và kí ức cũng là trái ngọt của mảnh đất ấy. Việc sở hữu kí ức và khả năng ghi nhớ là những khác biệt cơ bản giữa con người và động vật hoặc thực vật. Đó là yêu cầu đầu tiên để ta lớn lên và trưởng thành. Rất nhiều lần, tôi cảm thấy rằng nó thậm chí còn quan trọng hơn cả việc ăn, mặc và thở. Một khi ta đánh mất kí ức, ta sẽ quên cách ăn hoặc sẽ mất đi khả năng làm việc. Chúng ta sẽ quên mất mình để quần áo ở đâu vào mỗi buổi sáng thức dậy. Chúng ta sẽ đinh ninh rằng vị hoàng đế ở trần trông đẹp mắt hơn là khi mặc quần áo. Tại sao hôm nay tôi lại nói về điều này? Bởi vì Covid-19, một thảm họa quốc gia và toàn cầu, chưa hề nằm trong tầm khống chế đúng mực; những gia đình vẫn còn bị chia xa đôi ngả, cùng với đó là những tiếng khóc thương tan nát cõi lòng vọng từ Hồ Bắc, Vũ Hán và nhiều nơi khác. Thế mà, bài ca khải hoàn đã vang lên khắp mọi nơi. Tất cả chỉ vì những con số thống kê đang đi lên theo chiều hướng khả quan.

Những thi thể vẫn chưa kịp nguội lạnh và mọi người vẫn đang tiếc thương. Thế mà, ta đã sẵn sàng cất lên khúc ca thắng trận, và mọi người đã sẵn sàng để tuyên bố: “Ôi, thật khôn ngoan và thật tuyệt vời!”

Từ ngày dịch Covid-19 thâm nhập vào cuộc sống của chúng ta cho đến tận bây giờ, chúng ta không biết chính xác có bao nhiêu người đã thiệt mạng, bao nhiêu người đã tử vong trong bệnh viện, bao nhiêu người ở bên ngoài đã vĩnh viễn ra đi. Chúng ta thậm chí chưa có cơ hội để điều tra và đặt nghi vấn về điều này. Tệ hơn nữa, những cuộc điều tra và những câu hỏi như vậy có thể sẽ đi vào quên lãng khi thời gian trôi đi và mãi mãi sẽ là một bí ẩn.

Khi dịch bệnh cuối cùng cũng thuyên giảm, chúng ta không thể giống như dì Tường Lâm (祥林嫂, nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết của nhà văn Lỗ Tấn, được miêu tả là một người phụ nữ nhà quê thấp hèn, ngốc nghếch bị mắc kẹt trong chế độ phong kiến), vĩnh viễn chỉ biết nói: “Tôi chỉ biết rằng thú hoang sẽ rình mò ngôi làng trong suốt mùa đông khi không có gì để ăn trên núi; tôi không hề biết rằng chúng cũng làm vậy vào mùa xuân.” Nhưng chúng ta cũng phải khác AQ (阿Q, một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết của Lỗ Tấn, được miêu tả là luôn tự lừa dối bản thân, luôn tin rằng mình thành công hoặc vượt trội hơn người khác), luôn khẳng định rằng chúng ta là kẻ chiến thắng ngay cả sau khi bị đánh đập, bị lăng mạ và đang trên bờ vực của cái chết.

Trong quá khứ và hiện tại, tại sao bi kịch và thảm họa luôn xảy đến với cá nhân, gia đình, xã hội, thời đại hay đất nước, hết lần này đến lần khác? Và tại sao những thảm họa của lịch sử luôn phải trả giá bằng mạng sống của hàng chục ngàn người dân vô tội? Giữa vô số những yếu tố mà ta không biết, không hỏi hoặc không được phép hỏi (những thứ mà chúng ta phải ngoan ngoãn lắng nghe), có một yếu tố này – con người; tất cả chúng ta đều là loài người, giống như loài kiến – chúng ta là những sinh vật hay quên.

Kí ức của chúng ta đã luôn được chỉnh lý, thay thế và xóa đi. Chúng ta nhớ những gì mà người khác bảo ta nên nhớ, và quên những gì ta được dạy nên quên. Chúng ta giữ im lặng khi được yêu cầu và hát theo lệnh. Kí ức đã trở thành tay sai của thời đại, được sử dụng để rèn giũa thành kí ức tập thể và quốc gia, được tạo thành từ những gì chúng ta được yêu cầu quên hoặc nhớ.

“tất cả chúng ta đều là loài người, giống như loài kiến – chúng ta là những sinh vật hay quên.”

Hãy tưởng tượng: ta sẽ không bàn về những điều xưa cũ nằm trong những cuốn sách bám bụi – những điều đã đi vào dĩ vãng; hãy hồi tưởng lại những sự kiện gần đây nhất trong vòng hai mươi năm qua. Những sự kiện mà những người giống như các bạn, những đứa trẻ sinh ra vào thập niên 80, 90, đều đã trải nghiệm và ghi nhớ – những thảm họa quốc gia như AIDS, SARS, và Covid-19 – liệu chúng là thảm họa do chính con người tạo ra, hay chúng là thảm họa tự nhiên như động đất Đường Sơn và Văn Xương khiến con người bó tay chịu chết? Tiếp theo, tại sao yếu tố con người trong các thảm họa quốc gia trước đây hầu như giống nhau? Đặc biệt là dịch SARS mười bảy năm trước và tình hình leo thang của đại dịch Covid-19, dường như chúng là tác phẩm kịch nghệ của cùng một bàn tay đạo diễn. Bi kịch tương tự đang tái hiện ngay trước mắt chúng ta. Là người trần mắt thịt, ta không có năng lực đi tìm chân tướng vị đạo diễn này, cũng không có chuyên môn để khám phá ra và hiểu được suy nghĩ, ý tưởng và sự sáng tạo của vị biên kịch. Nhưng khi đứng trước sự tái hiện của “trò chơi tử thần” này, chẳng phải ta ít nhất nên tự vấn rằng, kí ức của ta về những đại họa gần đây nhất là gì?

Ai là người đã xóa kí ức của ta và phủi sạch tất cả?!

Những người đãng trí, về bản chất, là bụi bẩn trên các cánh đồng và trên đường. Rãnh trên đế giày có thể giẫm lên chúng theo bất cứ cách nào họ muốn.

Những người đãng trí, về bản chất, là những khối gỗ và tấm ván đã cắt đứt quan hệ với cái cây đã cho chúng sự sống. Cưa và rìu có toàn quyền kiểm soát và tạo hình chúng trong tương lai.

Đối với chúng ta, những người đã thêm vào cuộc sống một chút ý nghĩa bởi tình yêu dành cho văn học, những người dành cả cuộc đời cho Hán tự; với các sinh viên thạc sĩ của HKUST hiện đang theo dõi trực tuyến, và đương nhiên là gồm cả những học giả đã tốt nghiệp hoặc vẫn đang theo học lớp sáng tác của trường Đại học Nhân dân Trung Quốc – nếu chúng ta cũng từ bỏ kí ức về máu và sự sống, việc sáng tác còn có ý nghĩa gì? Giá trị của văn chương là gì? Tại sao xã hội cần các tác gia? Những tác phẩm sáng tác với sự cần mẫn và tâm huyết liệu có khác gì những con rối do người khác nắm quyền kiểm soát? Nếu phóng viên không báo cáo trung thực những gì họ chứng kiến, và các tác giả không viết về ký ức và cảm xúc của họ; nếu con người trong xã hội, những người biết nói và biết cách nói, mà chỉ luôn luôn kể lại, đọc và tuyên bố những điều đúng đắn rập khuôn chính trị thì còn ai có thể cho chúng ta biết sống trên đời này còn có ý nghĩa gì?

Hãy tưởng tượng: tác giả Phương Phương không tồn tại ở Vũ Hán ngày nay. Cô không lưu giữ và không ghi lại kí ức và cảm xúc cá nhân của mình. Cũng không có hàng ngàn người, những người giống như Phương Phương, phát ra những tiếng kêu cầu viện thông qua điện thoại di động. Chúng ta còn nghe thấy điều gì? Chúng ta sẽ còn nhìn thấy gì?

Kí ức của người bình thường, giữa dòng chảy lớn của thời đại, thường bị đối xử như bọt biển, như ngọn sóng và như thanh âm thừa thãi bị thời đại xóa sạch hoặc bất cẩn ném sang một bên, làm chúng im lặng bằng giọng nói và bằng lời nói, như thể chúng không bao giờ tồn tại. Than ôi, mỗi thời đại trôi qua, mọi thứ lại chìm vào quên lãng. Máu và thịt, xác và hồn lại biến mất. Tất cả đều ổn và điểm tựa nhỏ bé của sự thật có thể nâng đỡ cả thế giới đã bị diệt vong. Như vậy, lịch sử nay biến thành tập hợp các truyền thuyết, của những câu chuyện đã mất và được tưởng tượng ra, tất cả là vô căn cứ. Từ quan điểm này, điều quan trọng là chúng ta có thể nhớ và sở hữu những ký ức của riêng ta, chưa hề bị sửa đổi hay xóa bỏ. Đó là sự chắc chắn và bằng chứng tối thiểu mà ta có thể cung cấp khi chúng ta nói lên sự thật. Điều đó đặc biệt quan trọng với sinh viên lớp sáng tác này. Phần lớn chúng ta ở đây được định sẵn là sẽ cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp sáng tác, tìm kiếm chân lý và sống như một con người thông qua kí ức. Nếu có một ngày mà ngay cả những người như chúng ta mất đi tính xác thực và lượng ký ức đáng thương đó, liệu có còn sự xác thực về lịch sử cá nhân và lịch sử trên thế giới?

Trên thực tế, ngay cả khi khả năng ghi nhớ và ký ức của chúng ta không thể thay đổi thế giới hay thực tại, ít nhất nó cũng có thể giúp chúng ta nhận ra rằng có gì đó không ổn khi chúng ta đối mặt với “sự thật” tập quyền và được chỉnh lý. Từ nội tâm ta sẽ phát ra tiếng nói nhỏ bé: “Điều đó không đúng!” Ít nhất, trước khi bước ngoặt của dịch bệnh thật sự bùng phát, chúng ta vẫn có thể nghe và nhớ đến tiếng khóc than thương tâm của cá nhân, gia đình và những kẻ bên lề, giữa hàng hà những bài ca khải hoàn hân hoan chói tai.

Kí ức không thể thay đổi thế giới, nhưng nó mang cho ta một trái tim chân thật.

Dẫu kí ức không thể trao cho ta sức mạnh để thay đổi thực tại, ít nhất nó có thể đặt ra những lời tự vấn khi một lời nói dối xuất hiện. Nếu có một kế hoạch Đại nhảy vọt khác xuất hiện vào một ngày nào đó và mọi người quay trở lại sử dụng lò nung ở sân sau, thì ít nhất có thể thuyết phục chúng ta rằng cát sẽ không biến thành sắt, và một mu (một đơn vị đo lường, xấp xỉ 667 mét vuông) hoa màu sẽ không nặng bằng 100.000 cân (một đơn vị đo lường của Trung Quốc, xấp xỉ 600 gam). Ít nhất chúng ta sẽ biết rằng đây là thường thức cơ bản nhất, và không phải phép màu ý thức nào đó tạo ra vật chất, hay không khí tạo ra thức ăn. Nếu có một cuộc Cách mạng văn hóa nào đó khác, ít nhất chúng ta sẽ có thể đảm bảo rằng chúng ta sẽ không đưa cha mẹ vào tù hoặc lên máy chém.

Các sinh viên thân mến của tôi, tất cả chúng ta là các sinh viên nghệ thuật, những người có lẽ sẽ dành cả đời để đối mặt với thực tế và ký ức thông qua ngôn ngữ. Chúng ta đừng nói về những ký ức tập thể, ký ức quốc gia, hay những ký ức về dân tộc của chúng ta, mà là của bản thân ta; vì trong lịch sử, những ký ức dân tộc và tập thể luôn che đậy và thay đổi ký ức của chính chúng ta. Ngày nay, tại thời điểm hiện tại, khi Covid-19 vẫn còn rất lâu mới trở thành ký ức, chúng ta đã có thể nghe thấy những bài hát chiến thắng và tiếng ca chiến thắng vang dội từ khắp nơi xung quanh chúng ta. Vì điều này, tôi hy vọng rằng mỗi người trong các bạn, và tất cả chúng ta, những người đã trải qua dịch Covid-19 thảm khốc sẽ trở thành những người ghi nhớ, những người lấy được ký ức từ ký ức.

Trong tương lai gần có thể dự đoán được, khi quốc gia ăn mừng chiến thắng trước trận chiến quốc gia chống lại Covid-19 với nhạc điệu và lời ca, tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ không trở thành những nhà văn ruột rỗng chỉ phát ra những tiếng vang mù quáng, mà là những người đơn giản sống đúng với ký ức của chính mình. Khi buổi biểu diễn hoành tráng ấy diễn ra, tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ không phải là một trong những diễn viên hay người kể chuyện trên sân khấu hay là một trong những người vỗ tay vì là một phần của buổi diễn. Tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ là những người dè dặt và tuyệt vọng đứng ở góc xa nhất của sân khấu, lặng lẽ nhìn sau màn nước mắt. Nếu tài năng, lòng can đảm và sức mạnh tinh thần của chúng ta không thể biến chúng ta thành một nhà văn như Phương Phương, thì có lẽ chúng ta vẫn sẽ không nằm trong số những người lên tiếng nghi ngờ và chế giễu Phương Phương. Khi mọi việc cuối cùng cũng trở lại trạng thái êm đềm và thịnh vượng, phủ rợp trong lời ca, nếu chúng ta không thể lớn tiếng đặt câu hỏi về nguồn gốc và sự lan truyền của Covid-19, thì chúng ta có thể nhẹ nhàng lẩm bẩm và ngân nga, vì đó cũng là để biểu lộ lương tâm của chúng ta và lòng can đảm. Viết những bài thơ sau thời kỳ trại tập trung Auschwitz thực sự là man rợ, nhưng còn man rợ hơn nếu chúng ta chỉ đơn giản chọn cách quên nó trong lời nói, trong các cuộc trò chuyện và trong ký ức – điều đó thực sự man rợ và kinh khủng hơn nhiều.

“…tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ không trở thành những nhà văn ruột rỗng chỉ phát ra những tiếng vang mù quáng, mà là những người đơn giản sống đúng với ký ức của chính mình.”

Nếu chúng ta không thể là một người cảnh báo về dịch bệnh như Lý Văn Lượng, thì ít nhất chúng ta hãy là người biết lắng nghe sự cảnh báo đó.

Nếu chúng ta không thể nói lớn tiếng, thì chúng ta hãy thì thầm. Nếu chúng ta không thể thì thầm, thì chúng ta hãy là những người im lặng có ký ức. Trải qua sự khởi đầu, tấn công và lan rộng của Covid-19, chúng ta hãy là những người âm thầm bước sang một bên khi đám đông đoàn kết hát bài ca chiến thắng sau trận chiến thành công – những người có mộ trong lòng, với những ký ức khắc sâu trong họ; những người nhớ và một ngày nào đó có thể truyền lại những ký ức này cho thế hệ tương lai của chúng ta.

Hết.

Vũ Phương Thùy dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Diêm Liên Khoa (Yan Lianke), đăng tại Literary Hub.


Bài viết có thể bạn sẽ thích



Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Chekhov: Cửa vào Vĩnh Cửu

Published

on

"Một trong những nhà văn 'phá hoại, lật đổ' sâu thẳm nhất từng có mặt trên cõi đời này".

Rất ít người, ngay cả trong số những độc giả ái mộ Chekhov, đồng ý với nhận định trên của Simon Karlinsky, người tuyển chọn và bình luận một số thư từ của nhà văn Nga thường vẫn được coi là "hiền lành" này.[1]

Khác với tiểu thuyết của Dostoevsky - cơn lũ ma quái, của cái gọi là tâm lý con người - kịch và truyện của Chekhov là về những con người bình thường, với cuộc sống nhàm chán, vô vị của họ. Trong khi Tolstoy rao giảng chủ nghĩa vô chính phủ chống lại Nhà Thờ Nga và Nhà Nước, Anton Chekhov lặng lẽ làm một ông thầy thuốc nhà quê, một ông chủ trại nho nhỏ, cho tới khi tình trạng sức khoẻ bắt buộc ông phải lui về sống những mùa đông ở Yalta. Một cuộc sống tránh né mọi vấn nạn nóng hổi của thời đại, cuối cùng cho thấy sự thiếu vắng ý thức "dấn thân" như thế đó đã làm cho những gì ông viết ra đầy chất phá hoại (subversive). Ông "coi thường" rất nhiều những "tín lý" của xã hội hiện đại, về tiến bộ, tự do, đạo đức cá nhân và (không như Tolstoy), ông không tìm cách thay thế những gì mà ông huỷ diệt, bằng những "huyền thoại" riêng của mình.

Xã hội thời đó trông mong nhà văn như những người dẫn đường về ý thức hệ và đạo đức trong cuộc chiến chống lại vương quyền. Trong khi những nhà phê bình cấp tiến đề cao những nhà văn "hạng nhì" như Zlatovrasky và Gled Uspensky với những nhân vật đối nghịch: thầy tu, nhà buôn, sĩ quan (những nhân vật phản diện xấu xa) trong thế đối lập với những người dân quê và những con người trẻ tuổi lý tưởng (những nhân vật với trái tim trong trắng), Chekhov viết thư cho vị chủ báo bắt đầu in tác phẩm của mình: Tôi chẳng cấp tiến, chẳng bảo thủ, chẳng tu sĩ, chẳng dửng dưng. Tôi chỉ muốn là một nghệ sĩ tự do, và chẳng cần chi nữa. Thái độ đạo đức giả, sự ngu si đần độn, hành động hiếp đáp, cả vú lấp miệng em, bạo chúa... ngự trị không chỉ ở trong những gia đình con buôn, những trạm cảnh sát. Tôi thấy chúng ở trong khoa học, văn chương, thế hệ trẻ. Đó là lý do tại sao tôi chẳng trông mong gì ở đó. Điều thánh thiện nhất trong mọi điều thánh thiện, riêng với tôi, đó là thân thể người ta, sức khoẻ, sự thông minh, tài năng, hứng khởi, tình yêu và... tự do - thoát ra khỏi bạo lực và những điều dối trá - không cần biết hai thứ sau mang hình dáng nào."

Lá thư, một tập hợp 12 truyện ngắn của Chekhov, mỗi truyện như một thước phim sinh động ghi lại cuộc sống của những người xung quanh ông.

Sự ghê tởm bạo lực và giọng ấm ớ đạo đức, Chekhov có rất sớm, ngày càng lộ rõ. Ông có lần nhận xét (nhân nói về thái độ lý tưởng của Tolstoy đối với dân quê Nga): "Tôi nhà quê ở trong máu, và tôi chẳng hề bị xúc động bởi những đức hạnh của họ."

Ông sinh năm 1860, được một tuổi là bãi bỏ chế độ nông nô. Ông nội, ông ngoại là nông nô. Ông già trút được lốt nhà quê khi chen chân làm chủ một cửa tiệm tại thành phố Taganrog ở phía Nam nước Nga. Là con trai thứ ba trong sáu người, ông nhớ hoài nguồn gốc nông dân, chế độ gia trưởng tàn bạo của ông bố mà ông và hai người em trai là nạn nhân, chưa kể những giờ dài đằng đẵng quỳ trên đá lạnh, hát thánh ca tại nhà thờ dưới con mắt khắc nghiệt của ông thầy dậy nhạc. Mười sáu tuổi, bị bỏ lại ở Taganrog, tự lo thân khi ông bố khánh tận phải đem gia đình về Moscow tìm việc làm. Trong ba năm vừa học vừa lo kèm trẻ, ông làm được điều Tolstoy suốt đời mơ ước nhưng không sao thực hiện được: tái tạo ra chính mình, một con người như một toàn thể đạo đức, thoát ra khỏi những biến dạng bởi chế độ bạo chúa vốn đè nặng đời đời kiếp kiếp lên người dân Nga.

Ông trở thành đầu đàn trong gia đình; sự sống còn chỉ còn trông vào số tiền ông gửi về. Cùng thời gian, ông lo tự trau dồi bằng những giờ tại thư viện thành phố. Thành quả của những năm tháng cô đơn đó, chúng ta có thể nhìn ra, trong thư viết cho người em Nicolai: "để vượt lên khỏi những ngọn roi khốc liệt thuở ấu thời, (em) phải làm sao tạo được sự kính trọng của những con người có nhân cách; phải tự kiềm chế trước hành động nông nổi, liều lĩnh, và lừa dối; không được ngừng đọc, nghiền ngẫm sâu xa, trau dồi ý nguyện của mình. Mỗi giờ là một hiếm hoi, quý báu." Vào năm ba mươi tuổi, ông đã chứng tỏ điều này, khi một nhà xuất bản coi ông là một nhà văn "vô nguyên tắc": "Tôi chưa từng nịnh bợ, nói dối, sỉ nhục bất cứ một ai", "chưa từng viết ra một dòng mà tôi cảm thấy nhục nhã vì nó."

Đời văn của Chekhov bắt đầu là để giúp đỡ gia đình khi ông được học bổng và rời thành phố quê hương tới Moscow làm sinh viên Đại học Y khoa. Trước tiên là những bài viết nho nhỏ, gửi cho những tuần báo. Thành công đến nỗi, sau khi tốt nghiệp y khoa, ông "đành" phải chia thời giờ ra làm hai, "giữa y học... người vợ hợp pháp, và văn chương... người tình (bà vợ bé), của tôi."

Truyện ngắn của ông có một sắc thái riêng, đề tài đa dạng, trải dài toàn cảnh nước Nga với những con người của nó. Chưa tới ba mươi, ông đã là một nhà văn lớn. Năm 1887, vở Ivanov cho ông danh hiệu: người viết bi kịch. Nhờ nó, ông mua được căn nhà cho gia đình thuộc vùng ngoại vi Moscow. Trở thành nhân vật trung tâm của giới văn nghệ thủ đô và của phái đẹp; một số người tình (trước khi có vợ, vào năm bốn mươi) sau này trở thành bạn thân. Bạn trai cũng "mê" ông: họa sĩ Konstantin Korovin mô tả bạn mình "cực kỳ đẹp trai", với đôi mắt dịu dàng, và một nụ cuời "e thẹn lạ chi đâu", "toàn vẻ bề ngoài gây một sự tin cậy đặc biệt". Niềm tin cậy đặc biệt này, là do tình nhân loại "chân trần", luôn luôn bám vào đất của ông. Chính nó đem đến cho ông "một cái mũi rất nhọn" chuyên trị mùi ghê tởm, của "thói đời".

Những nghiên cứu, ghi nhận riêng của ông, về "việc thiện", các công trình nhân đạo, thật đáng nể. Cuốn sách của ông về đảo tù Sakhalin (The Island of Sakhalin, 1893, dựa trên số liệu từ những cuộc thanh tra tình trạng y tế ở đó) đã bầy ra cho cả nước Nga thấy sự khủng khiếp, ghê rợn của hệ thống nhà tù. Những cố gắng của ông trong việc cứu đói tại vùng ông vào năm 1891-1892, được kèm theo bằng những chuyến đi mệt nhoài, thường lội bộ suốt vùng băng giá, như một ông thầy thuốc không được trả lương có nhiệm vụ ngăn chặn một trận dịch, bên cạnh một trận đói. Ông đã chữa trị hàng ngàn dân quê tại y viện địa phương, hoạch định, tham gia việc xây cất trường lớp, thư viện, đóng góp tiền bạc cho những công trình phúc lợi, trong đó có việc cứu trợ một tờ báo y học bị khánh tận, mua ngựa phân phát cho dân chúng, làm phương tiện chuyên chở lúa gạo. Chính thái độ lăn xả vào cuộc sống hàng ngày đã khiến ông trở nên khinh khi những phương thuốc về một "ngày mai ca hát", hay rõ hơn, một cuộc cứu đói toàn cầu: nhân một chuyến thăm Venice, ông đưa ra nhận xét, một trong những niềm vui của "Đến thăm Venice rồi hãy chết": thành phố thiếu vắng hẳn những bộ mặt làm ra vẻ quan trọng của mấy ông Mác-xít. Khi đến thăm Hong Kong, ông nhận xét, so với người Nga, người Anh vậy mà đã nhiệt tình quan tâm tới những "người làm" (employees) của họ. Ông viết, tôi chẳng hề tin vào tầng lớp trí thức "en masse"; ông đặt để niềm hy vọng của mình ở nơi những cá nhân, bất kể trí thức hay nông dân, rải rác khắp nước Nga, chỉ có họ là đáng kể: chỉ với những hiểu biết, những cố gắng của họ mà xã hội từ từ biến đổi.

"Tôi có niềm tin vào sự tiến bộ, ngay khi còn là một đứa bé, nhưng chuyện đó chẳng giúp tôi, khi không tin vào nó, bởi vì sự khác biệt giữa thời kỳ thấm đòn và hết còn bị đòn thật là lớn lao." Ông ngưỡng mộ thái độ lý tưởng của những người Nga cấp tiến, nhưng những lời hô hào của họ chỉ làm ông nhớ lại ấu thời: "Tôi quá ớn sự lạm dụng, bất kể nó nhắm vào ai." Ông buộc tội tầng lớp trí thức, do không tưởng nên bỏ qua những thành quả của zemstva - Những Thay Đổi Lớn, The Great Reforms, hay là những định chế mà chính quyền đưa ra vào thập niên 1860 - nhằm canh tân xã hội Nga. Về những tiến bộ trong ngành giải phẫu tại Nga trên hai thập niên trước đó, ông có lần đưa ra nhận xét, "nếu phải chọn lựa giữa không tưởng cấp tiến, được miêu tả như trong tiểu thuyết của Nicolai Chernyshevsky, What Is to Be Done? nổi tiếng vào thập niên 1980, và bệnh viện tồi tệ nhất 'zemstvo', tôi chẳng do dự lấy một chút, khi ôm lấy bệnh viện."

Đề tài trấn ngự cơ bản của nghệ thuật "Chekhovian" là từ cuộc chiến đấu đầu đời, cộng với những thực hành do nghề thầy thuốc mang lại: cuộc chiến đấu của những ước vọng con người, chống lại những hoàn cảnh "bất thuận lợi". Những năm tháng ở Taganrog đã dạy ông một điều: những cuộc chiến đấu quan trọng nhất, mang tính đạo đức, "được hay thua" không phải vào thời điểm căng thẳng, bi đát, mà thông qua một quá trình những chọn lựa chẳng có gì đáng kể, rất cá nhân. Chúng ta có thể nhận ra dáng dấp của "người hùng Chekhovian" qua lời khuyên của ông gửi tới nhà xuất bản, và cũng là bạn, Aleksei Suvorin, khi ông này viết một bi hài kịch truyền thống: Bạn không thể kết thúc với những người theo chủ nghĩa hư vô. Với họ, chỉ có bão tố, hung bạo. Điều vở kịch của bạn cần là một kết cục êm ả, trữ tình, cảm động... Nếu nữ nhân vật của bạn, sau cùng nhận ra, những con người quanh cô đều làm tầm thường, vô dụng, xấu xa... điều này chẳng lẽ không "khủng khiếp" hơn cả chủ nghĩa hư vô hay sao?

Điều kỳ lạ ở cái bình thường; thảm kịch của điều "chẳng có gì bi thảm", đó là đề tài kịch Chekhov, cùng với nó là cuộc cách mạng kịch nghệ Nga vào thập niên cuối đời ông. Vở kịch lớn đầu tay, Ivanov, vẫn còn giữ những yếu tố bi kịch truyền thống, đã được đón nhận khá nồng nhiệt; vở kế, The Seagull (trong đó, ông đưa ra kỹ thuật của mình, bỏ đi những "mưu đồ" kịch mang tính ước lệ) là một thất bại thê thảm ngay đêm đầu được trình diễn vào tháng Mười 1896; nhưng lần trình diễn thứ nhì, tại Moscow vào năm 1898, đã được nồng nhiệt đón nhận, cũng như những vở kế tiếp: Uncle Vanya, Three Sisters, và vào tháng Giêng 1904, The Cherry Orchard. Sự kiện "chẳng có gì xảy ra" ở trong kịch Chekhov đã trở thành "dấu ấn" của ông, nhưng giới phê bình lại coi đây là khả năng tạo nên không khí, trạng thái kịch, chúng thường được cắt nghĩa như những gợi nhớ u buồn về một nước Nga tranh tối tranh sáng, khi những bậc trưởng thượng, đại diện cho giai cấp đang hấp hối, "nhìn ngắm những cuộc đời thừa thãi của họ."

Richard Gilman, trong Kịch Chekhov: Cửa vào Vĩnh cửu[2], đả phá những nhận định "bản kẽm" như thế. Ảnh hưởng Francis Ferguson, khi coi The Cherry Orchard là "thơ-kịch của nỗi khổ đau, do tang thương dâu bể", Gilamn tiếp cận kịch Chekhov: "một điều giả dụ như là không-bi đát"; "miêu tả, không phải một hành động, nhưng một điều kiện"; nỗi thống khổ ở đây là do cảm nghĩ của chúng ta - những con người sinh tử lão bệnh - về thế gian; chúng ta: mồi ngon của thời gian, và của đổi dời. Khả năng của Chekhov - khi "bi đát hóa" nỗi "không-bi đát", thảm kịch của điều vô ích, của chuyện thường ngày - thật mãnh liệt, ở Three Sisters, trong đó, bước đi thời gian xói mòn dần mọi hy vọng về tương lai vẹn toàn, qua chuyến về thành phố, nơi đồng nhất với quá khứ lý tưởng của họ. "Nó đâu mất rồi? Đâu? Đâu? Chúng ta sẽ chẳng bao giờ trở về được Moscow, chẳng bao giờ... giờ này, tôi thấy rõ điều đó."

Như Gilman chỉ ra, rất nhiều nhân vật của Chekhov mong ước trở thành một người nào khác, ở một nơi chốn nào khác, "kịch" bắt họ trở về nơi chốn, con người, là họ hiện giờ. Nhưng ở đây không có vấn đề "số mệnh, căn phần". Diễn tiến đơn tuyến, ước lệ đưa đến nút mở chót, được thay thế bằng điều mà Gilman gọi là "trường bi kịch" (dramatic field): chuỗi phản ứng đưa đến cảm nhận về sự mất mát. Chúng ta chỉ nhìn thấy những nhân vật, một khi bị giam cứng vào vùng ao tù đóng váng, họ chẳng còn chi để mà vui đùa, giải trí, ngoại trừ những câu nói dấm dẳn, những mẩu chuyện nhát gừng, đong đưa giữa hoài nhớ và nhận thức, được đánh dấu bằng những trống vắng, bằng đột biến, từ khôi hài qua nghiêm trọng. Như Karlinsky chỉ ra, một trong những tư tưởng "chìa khóa" của Chekhov là trong bản tự thuật tóm tắt (resumé), theo đó, tác giả khẳng định nghề y của ông đã có một ảnh hưởng quan trọng đến sáng tác văn học. Ông nhấn mạnh, nhà văn phải trung thành với thực tại thực nghiệm, với thế giới, hành vi cư xử của con người; và đưa ra những nhân vật, với những cái nhìn "khách quan tuyệt hảo". Khi một truyện ngắn của ông bị coi là không có một thái độ rõ ràng về chủ nghĩa bi quan, ông trả lời: công việc của nhà văn không phải là giải quyết những vấn đề như là Thượng Đế, bi quan... nhưng ghi nhận, ai, trong điều kiện nào, đã nói hay đã nghĩ thế này thế nọ về Thượng Đế, về bi quan.

Trên tờ TLS, July 18, 97, John Stokes, khi điểm cuốn Anton Chekhov: A Life, đã cho rằng chủ nghĩa nhân bản Chekhovian, vốn nhập thân vào những nhân vật thầy thuốc, mãnh liệt, vì nó kính trọng "tiếng hát nhân ngư" từ cõi tư riêng (the siren-songs of privacy), từ nỗi bầm rập, té lên té xuống của con người. Những đức hạnh của con người, "chân thật nhất, hướng thượng nhất, nhưng cũng khó khăn nhất", có cội rễ ở từ "Sod", tên con mongoose, hay mangu, của Chekhov. Ông nói, những đặc tính của con vật, là "can đảm, tò mò, và rất mến con người". Con vật Sod tội nghiệp có cơ hội là bỏ chạy, cuối cùng chấm dứt cuộc đời, tại Sở Thú Moscow. Chủ của nó cũng chia sẻ với con vật thân yêu của ông, "đặc tính" chạy trốn đó, nhất là khi có đàn bà dính vào! Rayfield cho biết Chekhov sợ tình dục như sợ bệnh nghiền; nếu ông đầu hàng, nó sẽ tiêu huỷ tự do và tài năng sáng tạo của ông. Thù Zola, khi miêu tả những cuộc tình "nhà nghề, thô bỉ", ông đã viết về một gái điếm Nhật, "nghề riêng ăn đứt" đến nỗi "bạn cảm thấy không phải đang tình tự, mà là tham dự một lớp cao học, về nghệ thuật cưỡi ngựa." Tuy đẹp trai, nhưng qua cuốn tiểu sử của Rayfield, chúng ta thấy đây là một con người với những cuộc tình "bỏ đi". Thê thảm nhất là cuộc tình với "Lika" Mizinova, một người đẹp nghệ sĩ. Trong nhiều năm họ chia sẻ hoan lạc, hiến dâng và sự lạnh lùng, dửng dưng.

"Tin tưởng vào Chúa, một chuyện quá dễ dàng. Đám 'mật vụ' nhà thờ người Tây Ban Nha (inquisitors) tin vào Chúa. Không, bạn phải tin vào con người! Niềm tin này, chỉ có thể khả hữu, ở một số rất ít những con người hiểu và cảm thấy Christ.", một truyện ngắn Giáng Sinh của Chekhov đã kết thúc như vậy, nhưng đã bị kiểm duyệt đục bỏ.

Hết.

Chú thích:

  1. Anton Chekhov's Life and Thought: Selected Letters and Commentary, Michael Henry Heim và Simon Karlinsky dịch từ tiếng Nga, 494 trang, nhà xb Northwestern University Press, 1997.
  2. Yale University Press, 261 trang, 1997.

Nguyễn Quốc Trụ

Theo bài viết Chekhov, the Subversive của Aileen Kelly, NYR Nov 6, 1997; và The Human Virtues của John Stokes TLS July 18, 1997.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Viet Thanh Nguyen, giám khảo gốc Á đầu tiên của giải Pulitzer, và vai trò mới vượt quá lằn ranh văn chương

Published

on

Cuộc đời của Viet Thanh Nguyen đã thay đổi khi anh đoạt giải Pulitzer năm 2016 trong hạng mục tiểu thuyết cho cuốn tiểu thuyết đầu tay gây sửng sốt, The Sympathizer. Trong những năm gần đây, Nguyen – trưởng khoa Tiếng Anh tại Đại học Nam California – đã trở thành cây viết xã luận ​​cho tờ The New York Times, nhận được Học bổng MacArthur (hay còn được gọi là quỹ “tài trợ thiên tài”), tham gia nói chuyện vòng quanh đất nước và thậm chí còn xuất hiện trên chương trình truyền hình Late Night with Seth Meyers.

Một vai trò mới

Thành tựu mới nhất của anh là một trong những dấu mốc đáng ghi nhớ khi góp mặt vào Hội đồng giám khảo Pulitzer với tư cách là thành viên người Mỹ gốc Á đầu tiên trong lịch sử 103 năm của tổ chức này. Theo luật định, nhiệm kỳ này kéo dài ba năm và có thể gia hạn hai lần, tối đa là chín năm.

“Họ đã mời tôi vài lần trước đó, nhưng tôi không thể tham gia vì còn nhiều việc và vẫn đang cố gắng hoàn thành phần tiếp theo của The Sympathizer. Khi họ quay lại vài tháng trước và ngỏ ý, khi đó tôi vừa hoàn thành cuốn tiểu thuyết mới với tựa đề The Committed. Tôi coi trọng ý tưởng về quyền công dân, dù cho đó là phục vụ đất nước hay văn học hay người Mỹ gốc Á, vì vậy tôi gật đầu và đồng ý tham gia.”

R. O. Kwon, tác giả cuốn sách bán chạy The Incendants, nói rằng lẽ ra đã không phải mất quá nhiều thời gian để Hội đồng giám khảo Pulitzer mời một thành viên người Mỹ gốc Á nhưng bây giờ đã có. “Tôi nghĩ điều đó thật tuyệt vời, và may mắn cho chúng tôi - Việt là một nhà văn xuất sắc, đột phá và là đại diện vững chắc cho những giọng nói bị thiệt thòi. Anh mở những cánh cửa và luôn chào đón những người khác."

Về văn chương của người Mỹ gốc Á

Thời thế đã thay đổi từ ngày anh tốt nghiệp đại học California, Berkeley, nơi trưởng khoa tuyên bố rằng anh không thể viết luận án về văn học Mỹ gốc Việt vì đề tài ấy quá co cụm. Thay vào đó, anh mở rộng nghiên cứu sang văn chương người Mỹ gốc Á. Cuốn sách đầu tiên Race and Resistance: Literature and Politics in Asian America (tạm dịch Chủng tộc và Kháng cự: Văn học và chính trị người Mỹ gốc Á) xuất bản năm 2002, là một nghiên cứu văn chương về người Mỹ gốc Á bắt đầu với Onoto Watanna 1896 và kết thúc với Lois-Ann Yamanaka 1996.

“Đối với nhiều nhà văn người Mỹ gốc Á được xuất bản từ cuối thế kỷ 19 cho đến những năm 1990, họ hiểu rằng bản thân ít được biết đến và những câu chuyện của họ cũng thế […] Có rất nhiều áp lực đối với họ, bởi đó là những người tiên phong. Họ biết gia đình và cộng đồng sẽ nhìn vào những tác phẩm này. Có nhiều cảm giác mãnh liệt trong việc họ là người phơi bày cục diện ấy."

Viet Thanh Nguyen nhớ lại anh đã từng có thể theo kịp tất cả tác phẩm do người Mỹ gốc Á viết, nhưng giờ đây anh thấy điều đó là không tưởng bởi sự bùng nổ gần đây của thơ, tiểu thuyết và hồi ký. "Trong tất cả các lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật ở đất nước này, đặc biệt là trong văn học; những người Mỹ gốc Á mới thật sự là người thành công và sung mãn nhất" - Nguyễn, người viết cuốn sách phi hư cấu Không gì chết đi bao giờ: Việt Nam và ký ức chiến tranh và tập truyện ngắn Người tị nạn, nói. Anh cũng biên tập Kẻ ly hương, gồm 17 bài tiểu luận của các nhà văn tị nạn, và gần đây nhất đồng sáng tác cuốn sách thiếu nhi Chicken of the Sea với con trai mình, Ellison Nguyễn, khi đó 5 tuổi.

Theo anh, dù ngành xuất bản chủ yếu vẫn là địa hạt của người da trắng, nhưng người Mỹ gốc Á đã đạt được thành công trong văn học một phần vì đây là loại hình nghệ thuật có chi phí thâm nhập thấp. “Một loại hình nghệ thuật càng đắt tiền, thì những người bị loại trừ càng khó thâm nhập. Đó là lý do tại sao có Hollywood, nơi chống lại sự thay đổi và tồn tại định kiến nhất với những câu chuyện của người Mỹ gốc Á; trong khi trong văn chương, đặc biệt là thơ, rất ít tốn kém, là nơi những người bị loại trừ có cơ hội. Bởi vì ai cũng có thể viết. "

Anh tin rằng gánh nặng đại diện mà các tác giả người Mỹ gốc Á đã từng cảm thấy giờ không còn quá nặng nề với các nhà văn ngày nay, điều này cho phép tạo ra sự lập dị và tính thể nghiệm nhiều hơn. Nguyễn cho biết tiểu thuyết của chính mình có lợi vì được xuất bản sau khi văn học Việt - Mỹ "đã có vài thập kỷ thực sự phát triển”. The Sympathizer được phát hành vào năm 2015 trùng đúng 40 năm kết thúc Chiến tranh Việt Nam, đề cập đến vai trò của Hoa Kỳ tại Việt Nam dưới giọng kể của một người nửa Việt, nửa Pháp không tên làm việc như một điệp viên hai mang trong hậu quốc chiến tranh.

Phần tiếp theo rất được mong đợi sẽ nối tiếp cuốn tiểu thuyết đoạt nhiều giải thưởng này. The Committed, một tiểu thuyết giật gân lấy bối cảnh ở Paris, sẽ được xuất bản vào tháng Ba. Anh nói: “Tôi nghĩ điều quan trọng là phải điều tra và tìm lại những gì người Pháp đã làm ở Việt Nam, bởi Pháp và Mỹ là hai trong số những cường quốc thuộc địa lớn trong thế kỷ trước, và tầm nhìn của họ về dân chủ, tự do và giải phóng chắc chắn là rất quan trọng trong cuộc đời tôi và quyết định số phận của rất nhiều người ở rất nhiều quốc gia.

Nói thẳng sự thật

Nguyễn đã tận mắt chứng kiến những tác động lâu dài của chiến tranh, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân. Anh đến Hoa Kỳ năm 1975 cùng gia đình với tư cách là người tị nạn khi đó 4 tuổi và ban đầu được định cư tại một trại ở Fort Indiantown Gap, Pennsylvania. Họ bị chia tách và sống với những người bảo lãnh khác nhau trong vài tháng trước khi được đoàn tụ để chuyển đến San Jose, California, nơi cha mẹ anh mở một trong những cửa hàng tạp hóa Việt Nam đầu tiên trong thành phố.

Cha mẹ của Nguyễn làm việc mệt mỏi hàng giờ quanh năm và bị thương trong một vụ cướp có vũ trang tại cửa hàng của họ vào đêm Giáng sinh. Khi anh còn là một thiếu niên, gia đình của anh là nạn nhân của một cuộc xâm nhập có chủ đích, trong đó kẻ đột nhập chĩa súng vào mặt họ. Khi Nguyễn trở thành sinh viên đại học tại Berkeley, nơi sau này anh nhận bằng tiến sĩ Anh, anh đã cống hiến cho công bằng xã hội và viết op-eds [bài xã luận với quan điểm cá nhân độc lập] cho tờ báo của trường.

“Tôi luôn thẳng thắn,” anh nói. "Cuốn sách đã cho tôi một nền tảng lớn để nói tất cả những gì tôi luôn muốn nói." Là một nhà phê bình văn hóa, anh đề cập đến mọi thứ: từ hiển hình khuôn mẫu ở Hollywood đến phản ứng của chính phủ với Covid-19 và thậm chí cả cộng đồng mình. "Cộng đồng người Mỹ gốc Việt là nhóm gốc Á duy nhất có đại đa số ủng hộ Trump, và tôi không quá băn khoăn khi lên tiếng về sự phân biệt chủng tộc, đồng lõa và đạo đức giả của họ. Nếu người Mỹ gốc Á đứng về phía bất công, công việc của chúng ta vẫn là phải chỉ trích chính cộng đồng ấy”.

Hết.

Ngô Thuận Phát dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Victoria Namkung, đăng tại NBC News.

*



Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Những sự thật tự nhiên: Tinh thần Aldo Leopold

Published

on

Bảy mươi năm sau khi Niên lịch miền gió cát được xuất bản lần đầu, Aldo Leopold - “cha đỡ đầu của tư duy sinh thái học hiện đại” đã nói gì về sự tái tạo và đạo đức đất đai?

Ngày 21 tháng Tư năm 1948, Aldo Leopold qua đời vì một cơn đau tim trong khi đang giúp hàng xóm dập lửa lan trên cỏ đầu mùa không xa nơi “lán trại” nổi tiếng của ông bên ngoài Baraboo, Wisconsin. Lúc đó ông chỉ mới 61 tuổi. Một năm sau, cuốn sách nổi tiếng nhất của ông – Niên lịch miền gió cát được xuất bản. Được xem là tác phẩm kinh điển của thời đại với cách kể chuyện đầy hấp dẫn, cuốn sách đã nói lên một điều mà ngày nay chúng ta vẫn biết đến như là “đạo đức đất đai”.

Niên lịch miền gió cát ra đời thức thời hơn bao giờ hết, và có thể nói rằng công dân nào cũng nên đọc nó, dù cho họ sở hữu, phát triển, trồng trọt, chăn nuôi hay môi giới đất đai, hoặc chỉ vu vơ đi qua cánh đồng và sẵn sàng suy ngẫm về sợi dây liên hệ sâu sắc giữa mình với thiên nhiên. Tạp chí Mountain Journal đã có cuộc trò chuyện với nhà báo, nhà sử học, nhà bảo tồn Curt Meine, thành viên cao cấp của Quỹ Aldo Leopold và Trung tâm Con người và Tự nhiên; để thảo luận về ý tưởng của Leopold và suy ngẫm về ảnh hưởng lâu dài của cuốn sách nhân kỷ niệm 70 năm kể từ ngày xuất bản.

Meine gọi Leopold là người vừa theo chủ nghĩa thực dụng (pragmatist), vừa theo đuổi lý tưởng (idealist). Ông nói rằng trích dẫn ông yêu thích nhất của Leopold xuất phát từ bài tiểu luận “Đạo đức đất đai”: “Trong những điều từng được viết ra, không gì quan trọng bằng đạo đức... Nó phát triển trong tâm trí của một cộng đồng biết tư duy.” 

Khi viết ra các nhận định vào thời điểm những năm 1940, Aldo Leopold không hình dung được cuốn sách của mình sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến mức nào. Thế nhưng, cho đến nay, cuốn sách vẫn được ngày càng nhiều độc giả yêu thích, trở thành nguồn tư liệu quý giá, làm thay đổi phong trào môi trường và đóng vai trò nền tảng trong lĩnh vực chính sách, đạo đức và khoa học bảo tồn hiện đại.

*

Cuộc phỏng vấn của Mountain Journal với Curt Meine

Lần đầu tiên anh quan tâm đến Leopold diễn ra như thế nào?

Maine: Giống như rất nhiều người, lần đầu tiên tôi đọc Aldo Leopold là qua tác phẩm kinh điển Niên lịch miền gió cát. Tôi trưởng thành trong một gia đình yêu thích câu cá và cắm trại, và tôi cho rằng điều đó khiến tôi dễ bị hớp hồn bởi cuốn sách ấy. Tôi từng sống ở Chicago. Một người bạn cấp ba trở về từ Montana vào kỳ nghỉ đã đọc Leopold và tặng cho tôi một cuốn. Ngay sau đó tôi đã chuyển đến Madison, Wisconsin để học cao học tại Đại học Wisconsin - nơi Leopold từng dạy và cũng là nơi lưu trữ luận án nghiên cứu của ông. Điều này dẫn đến điều khác, cuối cùng tôi đã nghiên cứu và viết về Leopold trong luận án của mình. Nó được xuất bản năm 1988 với tựa đề Aldo Leopold: Cuộc đời và thành tựu, và là cuốn tiểu sử đầy đủ đầu tiên viết về Leopold.

Tuy nhiên, đằng sau tất cả những điều đó là cảm giác rằng chuyện đời Leopold đã cho tôi những kiến thức sâu sắc và bài học quan trọng để hiểu được gốc rễ của ngành bảo tồn và khoa học, chính trị và triết học môi trường. Đối với tôi, nó mang lại cơ hội để tạm xa rời những vấn đề khẩn thiết và cấp bách, để hiểu sâu hơn về nền móng và sự phát triển của phong trào bảo tồn cũng như vòng vận động của môi trường.

Mục đích của Quỹ Aldo Leopold là gì?

Maine: Quỹ Aldo Leopold được khởi lập bởi năm người con của Aldo và vợ Estella để tiếp tục cam kết với công cuộc bảo tồn thiên nhiên. Nền tảng của quỹ là tìm cách nâng cao đạo đức đất đai thông qua các chương trình giáo dục, đào tạo, truyền thông và quản lý đất đai. Điều này bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, bao gồm công việc phục hồi đất đai địa phương, đào tạo các nhà lãnh đạo bảo tồn tương lai, các chương trình giáo dục với quy mô tiếp cận vượt xa căn cứ của chúng tôi gần Baraboo, Wisconsin.

Gia đình Leopold tại “lán trại” của họ ở Wisconsin. Nhiều ý tưởng cho cuốn Niên lịch miền gió cát và các bản vẽ từ nhiệm kỳ của ông ở Sở Lâm nghiệp Hoa Kỳ đã được mạ kẽm ở đây. Hàng sau, từ trái sang phải: Aldo Leopold, vợ Estella, các con trai: Luna và Starker. Hàng dưới, các con gái: Nina và Estella với chú chó của gia đình, Gus. 

Anh mô tả quá trình tuần tự phát triển trong cách tư duy của Leopold như thế nào, và những gì đúc kết nên tư duy này?

Maine: Cách tiếp cận và hiểu biết về bảo tồn của Leopold đã phát triển liên tục trong suốt cuộc đời ông để đáp ứng những nhu cầu môi trường mới xuất hiện, sự thay đổi hoàn cảnh văn hóa - chính trị, sự phát triển khoa học cơ bản và phản ánh liên tục kinh nghiệm cá nhân của ông trong lĩnh vực này. Về cơ bản, Leopold nhận thấy rằng thành công trong bảo tồn không thể xác định bằng các biện pháp kinh tế đơn giản và ngắn hạn; mà bằng cách tạo ra các mối quan hệ lành mạnh hơn với tự nhiên. Nền móng cho kết luận này là ngành khoa học tân tiến về sinh thái học (mà ông là người đi tiên phong) cùng với những thay đổi mà ông chứng kiến trong các hệ thống kinh tế và xã hội của con người.

Năm 1940, Leopold đã viết rằng “Bảo tồn là sự phát triển chậm chạp và tốn nhiều công sức của một mối quan hệ mới giữa con người và đất đai.” Và đất đai vào thời điểm đó, Leopold cho rằng nó bao gồm đất, nước, động – thực vật và con người. Nghĩa là, bảo tồn không chỉ đơn thuần là cải tiến sản lượng bền vững của nhân tố này hoặc nhân tố kia từ đất. Nó cũng không chỉ liên quan đến việc bảo vệ các thành tố đặc biệt, hiếm hoi, đẹp đẽ hoặc có ý nghĩa kinh tế của lãnh thổ này. Nó liên quan đến cả hai điều trên và nhiều hơn nữa. Phần nhiều hơn nữa này chính là mối quan hệ đạo đức giữa chúng ta với đất đai cũng như công cuộc bảo vệ, thúc đẩy và khôi phục các phẩm chất của đất mà ông xác định là “năng lực tự tái sinh”.

Đây là những kết luận mà ông không ngừng suy ngẫm trong suốt sự nghiệp của mình. Trong quá trình đó, có rất nhiều tình tiết và trải nghiệm đặc biệt hình thành nên thế giới quan của ông - thời niên thiếu ở Iowa, sự giáo dục ở miền đông bắc, những năm tháng đầu sự nghiệp ở Cục Lâm nghiệp Hoa Kỳ, những cuộc du hành đến châu Âu, Canada và miền bắc Mexico, làm việc hàng ngày trong các cảnh quan hỗn độn của Wisconsin và vùng Trung Tây. Một trong những khía cạnh đáng chú ý của Leopold là khả năng điều chỉnh cái nhìn sâu sắc nhất từ hầu như mọi trải nghiệm mà ông có.

Leopold đã đưa ra một số quan sát sắc bén về sự tái tạo. Đúng là ông tin vào hiệu quả tái sinh của việc thông tri với thiên nhiên, nhưng cũng cảnh báo việc thương mại hóa, tiền tệ hóa và lạm dụng nó. Anh nghĩ gì về những mối quan tâm này?

Maine: Leopold hiểu và đánh giá sự cải tạo đất đai là một trong những cách chính mà người Mỹ hiện đại tương tác với đất đai và thế giới tự nhiên, thông qua đó chúng ta có thể phát triển đạo đức đất đại một cách cá nhân. Và vì vậy, ông đã dành thời gian đáng kể trong suốt sự nghiệp của mình để cung cấp cơ hội cải tạo thông qua bảo tồn động vật hoang dã, bảo vệ thiên nhiên hoang dã, phục hồi đất đai và các phương thức khác. Nhưng ông cũng hiểu rằng cải tạo có thể trở thành một biểu hiện tiêu dùng hiện đại khác – là việc lấy mọi thứ từ đất mà không quan tâm đến vẻ đẹp, sự đa dạng hay sức sống của nó.

Nói cách khác, mối liên kết giữa cải tạo và bảo tồn hầu như không được đảm bảo. Leopold từng viết rằng “Thêm nhiều sự cải tạo không phải là việc xây thêm những con đường lên mảnh đất đáng mến của ta, mà là xây sự tiếp thu vào tâm trí con người (vẫn còn chưa được đáng mến lắm).” Ông lo ngại về sự mất kết nối ngày càng tăng do sự phát triển của công nghệ và khả năng hạn hẹp của ta để nhìn nhận thứ mà ông gọi là “bí ẩn cuối cùng, những hoạt động nội tại trong lòng đất.” Leopold quan tâm trước nhất đến việc “đọc thấu đất”. Ông cố gắng tìm hiểu từng chức năng một. Ông tìm cách nhìn thấu đất trong từng chi tiết tinh tế cũng như trong một tổng thể thay đổi, để hiểu vị trí con người trong đó. Cải tạo có thể và nên là một trong những cách chính để khuyến khích những điều này trong chính chúng ta. Nhưng cải tạo hiện đại chỉ tách chúng ta ra, làm chúng ta mù quáng.

Tại sao Niên lịch miền gió cát vẫn còn sức sống cho đến ngày nay?

Maine: Điều đầu tiên và quan trọng nhất, Leopold là một người kể chuyện hay. Mặc dù một số tài liệu tham khảo của ông có thể lỗi thời, ông vẫn lôi cuốn độc giả với câu chuyện gần gũi về chim dẽ gà nhảy múa trên bầu trời hoặc những vòng tuổi của cây sồi già hay tiếng gọi của những con sếu. Qua quan sát của ông, chúng trở thành chứng nhân cho những thước phim mà ông thấy được. Tôi đã định nói rằng văn xuôi của ông không hề bị tác động bởi thời gian, nhưng có lẽ nó hoàn toàn ngược lại. Leopold đã thấm đẫm câu chuyện của mình với trải nghiệm cá nhân và vào trong lịch sử. Có một cảm nhận sâu sắc về thời gian xếp lớp trong những dòng chữ, và có lẽ trong thời đại thay đổi chóng mặt hiện nay, ta thấy mình được định hướng tốt hơn thông qua những con chữ của ông. Leopold cũng đặt ra những câu hỏi lớn lao mà chúng ta vẫn tự hỏi về mối quan hệ đúng đắn của mình với tự nhiên, với sự hoang dã và tự do; ngay cả khi bản thân chúng ta vẫn thường vật lộn tìm ra định nghĩa về những phẩm chất này. Và cuối cùng, tồn tại một vẻ đẹp thuần khiết trong văn xuôi của ông. Trong những đoạn văn mạnh mẽ nhất của mình, ông chạm đến chúng ta theo cách mà âm nhạc và thi ca vốn vẫn làm được.

Chúng ta đang sống trong thời đại thay đổi chóng mặt về mặt xã hội và sinh thái. Aldo Leopold nói gì với chúng ta về thời đại này?

Maine: Thẳng thắn mà nói, những ý tưởng, sách vở hay số liệu cốt lõi từ quá khứ mà chúng ta vẫn kiếm tìm để được truyền cảm hứng dường như ngày càng ít hữu ích hơn. Chúng ta đang sống trong một thời kỳ chưa từng có tiền lệ, một thời kỳ của những đổi thay bi thảm và hợp lực. Các điểm tham chiếu lịch sử rất xa vời (trong trường hợp khả quan nhất) và đáng nghi (trong trường hợp tồi tệ nhất). Nhưng lịch sử không hoạt động bằng cách cung cấp sự đảm bảo hoặc xác nhận đơn giản. Đối với tôi, lịch sử luôn là điều thiết yếu trong việc truy tìm quỹ đạo của sự thay đổi và làm tham chiếu nhìn nhận thách thức hiện đại. Leopold đã không, và không thể, dự đoán đầy đủ các giải pháp mang tính hệ thống mà chúng ta phải đưa ra để giải quyết các vấn đề xã hội và sinh thái có liên quan sâu sắc với nhau. Nhưng tôi nhận ra những ví dụ và hiểu biết sâu sắc của ông rất hữu ích trong việc xác định những căn cứ. Ông hiểu rằng, về mặt nền tảng, tất cả đều quy về giá trị con người.

Dạo gần đây, dường như tôi luôn đồng tình với một vài tuyên bố mà Leopold đã đưa ra. Trong một bản thảo chưa xuất bản, ông viết: “Có hai điều khiến tôi quan tâm: mối quan hệ giữa người với người, và mối quan hệ giữa con người với đất đai.” Để kết nối những địa hạt đó, Leopold giúp đặt nền móng cho hệ tư duy chặt chẽ mà chúng ta phải đạt được nếu muốn giải quyết hiệu quả các vấn đề biến đổi khí hậu, mất mát đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn nước, hệ thống nông nghiệp - thực phẩm, công bằng kinh tế và môi trường.

Trong thực tế, bảo tồn cuối cùng cũng đã coi trọng mối quan hệ cổ xưa đã được chứng minh giữa con người và đất đai. Chúng ta thấy điều này trong sự đánh giá ngày càng cao thế giới quan của người bản địa và kiến ​​thức sinh thái truyền thống trong bảo tồn và hơn thế nữa. Đặt chúng cùng nhau thì tất cả đều dẫn về việc điều chỉnh giá trị mối quan hệ giữa người và người, và giữa con người với đất đai. Chúng ta sống trong thời đại tồn tại những đổi thay và những nhu cầu sâu rộng. Tất cả chúng ta đều được giao nhiệm vụ mở rộng và củng cố nền tảng đạo đức của mình để đáp lại. Leopold là một trong số nhiều người đã đóng góp cho công việc đó. Trong tương lai, chúng ta sẽ cần mọi nguồn trí tuệ hữu ích mà chúng ta có thể tập hợp lại được.

Hết.

Ngô Thuận Phát lược dịch.

Bản gốc được thực hiện bởi Todd Wilkinson, đăng tại Mountain Journal.


Đọc tất cả bài viết của Ngô Thuật Phát.


Đọc bài viết

Cafe sáng