Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Văn chương & Toán học: Vì sao chẳng dễ dàng chinh phục cả hai lĩnh vực?

Nhìn thoáng qua, toán và văn không có sự tương hỗ như những môn khác và cho đến nay chưa có ai thành công trong cả hai lĩnh vực, song vài lực từ bí ẩn đã kéo chúng lại với nhau. Vấn đề đặt ra là: Bức tường gạch đó bao hàm những gì; cái gì tạo nên lực từ kia?

Published

on

Nhà thơ người Pháp Paul Valéry đã từng bày tỏ niềm ngưỡng mộ lớn lao đối với toán học, rằng: “Tôi tôn thờ môn học tuyệt đẹp này và tôi chẳng hề bận tâm khi tình yêu của tôi mãi không được hồi đáp.” Valéry đâu phải cây bút duy nhất trao lòng nhiệt tâm ấy cho toán học – cũng như có nhiều kẻ si mê toán học trong thế giới văn chương, vì vậy tồn tại nhiều người yêu văn chương trong thế giới toán học dù bức tường gạch đồ sộ dường như chắn ngang giữa hai ngành. Nhìn thoáng qua, toán và văn không có sự tương hỗ như những môn khác và cho đến nay chưa có ai thành công trong cả hai lĩnh vực, song vài lực từ bí ẩn đã kéo chúng lại với nhau. Vấn đề đặt ra là: Bức tường gạch đó bao hàm những gì; cái gì tạo nên lực từ kia?

Toán học thường được phân loại là một môn khoa học, nhưng tôi không nghĩ nó chỉ có thế. Tôi thừa nhận rằng toán học gánh vác một phần các lĩnh vực của khoa học vật lý, và bản thân điều đó được củng cố bởi sự tương tác giữa chúng, tuy nhiên các khám phá toán học vẫn ra đời bất chấp khả năng ứng dụng hay tiện ích của chúng đối với thế giới vật lý. Toán học tiến hóa thuần túy cho chính mình, với đóng góp lớn nhất trong địa hạt này là những lý thuyết mà áp giá trị vào vẻ đẹp thông qua sự lô-gích. Một học thuyết được tạo ra cho các mục đích khác ngoài bản thân nó thì thiếu đi vẻ đẹp tự nhiên. Điều huyền diệu chính là khi một học thuyết vĩ đại sở hữu vẻ đẹp nội tại đã vượt qua chủ thể và tìm thấy sự khả dụng trong các lĩnh vực khác.

Toán học tiến hóa thuần túy cho chính mình, với đóng góp lớn nhất trong địa hạt này là những lý thuyết mà áp giá trị vào vẻ đẹp thông qua sự lô-gích.

Việc sử dụng ngôn từ để miêu tả cái chất thanh nhã cốt lõi của một định lý là bất khả thi. Điều này hết sức trừu tượng và phức tạp. Tôi chỉ có thể mô tả nó tựa như một khúc nhạc tuyệt hảo mà mỗi nốt nhạc không thể thay thế được hay như một bài thơ haiku trong đó chẳng âm tiết nào có thể đổi thay. Vẻ đẹp tôi đang nhắc tới trông giống như sức căng tinh tế gắn kết các khía cạnh của một tác phẩm nghệ thuật lại; một sự yên bình mỏng manh thắt chặt vẻ hoàn mỹ của nó. Và vì vậy cái lực từ đã hút nghệ thuật – và cũng chính là văn chương – về phía toán học chính là vẻ đẹp tôn quý trong lô-gích thuần túy của nó.

Gần ba mươi năm trước tôi đã viết một cuốn sách về những trải nghiệm của tôi khi sống ở Mỹ, và kể từ đó tôi có nhiều cơ hội làm việc cùng các chuyên gia văn học và viết những tiểu luận ngoài lề chuyên ngành của mình. Tôi cảm thấy thoải mái từ lần đầu đặt bút viết bởi tôi coi văn chương và toán học như những loại hình nghệ thuật tương đồng. Bên cạnh đó, lớn lên cùng với cha mẹ đều là nhà văn, từ lâu tôi đã nghĩ viết lách giống như là bản năng tự nhiên của con người. Nói ngắn gọn, tôi chưa từng nghĩ mình sẽ gặp thách thức. Thế nhưng trong quá trình viết tôi đã đương đầu với hàng đống trở ngại. Tôi bắt đầu nhận ra có những điểm khác biệt căn bản giữa toán học và văn chương. Thật khó để đối mặt với việc trở thành một nhà văn trong khi cũng muốn thành nhà toán học. Song viết lách cho tôi một phần thưởng: Tôi được tận tay trải nghiệm những gian truân mà cha mẹ đã bí mật đối mặt với tư cách nhà văn. Tôi bắt đầu đánh giá lại những khó khăn của mình trong tương quan với họ.

Khía cạnh khổ sở nhất khi trở thành nhà toán học là phải liên lục nghiền ngẫm một vấn đề mà không có bất kỳ tiến triển rõ ràng nào. Tôi có thể hiến mình cả ngày lẫn đêm cho bài toán trước mắt mà chẳng hề tìm ra cách giải trong nhiều tuần hoặc thậm chí vài tháng. Thời gian đầu nghiên cứu thường hay trôi đi mà không có sự trì trệ nào nghiêm trọng; suốt thời gian ấy tôi đi từ ý tưởng này đến ý tưởng khác. Nhưng một khi giếng ý tưởng đã cạn, tôi phải cam chịu sự kiệt lực đen tối nhất. Một sức ép vô hình đọng xuống người tôi; mối âu lo ấy làm tôi nghẹt thở. Có lần tôi gác lại mọi thứ trong gần sáu tháng để làm luận văn. Tôi ngày đêm ngẫm nghĩ về chuyện đó, ngay cả trong mơ. Cuối cùng tôi rời Tokyo rồi đi du lịch Gamagori, Inuyama, Kujukuri, và hồ Irako, nhưng mấy cái định kiến của tôi chẳng chịu buông tha. Nó lùng sục tôi khắp mọi nơi: tại nhà trọ, trong công viên, trên trường kỷ, trên lỗ châu mai một lâu đài cổ, bên bờ hồ, trên bãi biển,… Sau sáu tháng, tôi đổ bệnh. Tôi nhượng bộ thử thách rồi kết thúc hành trình của mình. Cuối cùng tôi chẳng có tiến triển gì và bị rút cạn sinh lực.

Song một nhà văn, ngồi suốt ngày đêm bên bàn làm việc sẽ tạo ra đôi chút tiến triển, một vài nét vẽ nguệch ngoạc trên giấy. Bất luận nhanh hay chậm, anh ta có thể nhận ra trang giấy từ từ ken đầy chữ nghĩa. Quá trình sáng tạo của anh ta trở nên hữu hình và nó an ủi anh; anh ta được khích lệ để tiếp tục. Cha tôi thường để lộ ra những biểu hiện đau khổ tột cùng, và đó là lúc ông không thể tự mình ngồi vào bàn làm việc, lúc ông không thể viết tiếp. Ông thiếu đi nguồn khích lệ nếu không cho ông nhìn thấy những bản thảo thô ráp của chính mình. Khi bắt đầu một cuốn tiểu thuyết mới, tâm trạng ông ấy tồi tệ trong hơn một tuần. Chỉ đến khi đã làm nóng người đủ để làm việc, dần dần ông sẽ trở lại với bản chất hòa nhã tự nhiên của chính ông.

Cha tôi thường hay nói rằng phần chật vật nhất của tác phẩm là đoạn mở đầu. Ông gọi nó là “cơn đau đẻ của sự sáng tạo.” Đối với các nhà toán học cũng vậy, phần đầu tiên là cam go nhất, khi ai đó phải chưng cất từ thứ chất lỏng của những ý nghĩ hỗn mang thành cốt lõi của một ý tưởng. Viết chuyên luận thì dễ dàng hơn. Ngay cả một nhà toán học sung mãn cũng dành không quá một tháng mỗi năm để viết tất cả các nghiên cứu của mình. Những gì chúng ta phải chịu đựng là một chuỗi không-bao-giờ-kết-thúc của “cơn đau đẻ.”

Toán học là công việc tất-cả-hoặc-không-có-gì: hoặc là người có thể chứng minh định lý hoặc không thể. Không có vùng xám. Người ta không thể “gần như chứng minh” hay “gần như giải quyết” bất cứ điều gì. Không được phép thỏa hiệp. Học thuyết trọn vẹn buộc phải miễn trừ hết những nhập nhằng. Không gì ngoài sự tuyệt đối – và do đó là cái đẹp – thứ bằng chứng có giá trị liên thành đối với toán học. Tuy nhiên trong văn chương, chẳng phải chuyện gì to tát khi mọi thứ được giải thích. Thực tế, không gian dành sức tưởng tượng của độc giả vẫn luôn bỏ ngỏ. Từ đó có thể nhận thấy rằng văn chương linh động hơn, bằng cách nào đó dễ xử lý hơn toán học. Thế nhưng tôi nghĩ rằng việc căn phòng ấy chứa bất cứ thứ gì ngoại trừ những điều xuất hiện trong câu chuyện có thể gây bất an cho nhà văn.

Toán học là công việc tất-cả-hoặc-không-có-gì: hoặc là người có thể chứng minh định lý hoặc không thể. Không có vùng xám.

Không nhà văn nào hoàn toàn tự tin vào câu chuyện của mình, bất luận đã bao nhiêu lần anh ta hiến dâng bản thân cho tác phẩm, bất luận anh ta sắp xếp và thay đổi nó bao nhiêu chăng nữa. Trường hợp của tôi, tôi không thể nào bàn giao bản thảo của mình cho biên tập viên trừ phi có ai đó khác rà soát lại trước. Người rà soát ấy thường là thành viên gia đình tôi, vì vậy khi đáng lý phải cảm thấy thư giãn, thì tôi cứ lo sợ bị phê bình vì chừa lại chút ít mập mờ trong phần nào đó. Tôi nhớ cha cũng lo lắng về những phản ứng ban đầu đối với thành quả của ông, đặc biệt suốt vài ngày đầu tiên sau khi ông nộp bản thảo, ngay cả khi ông đã trở thành một nhà văn có uy tín. Nhưng một khi biên tập viên đưa ra phán quyết tán thành, ông nhe răng cười như con nít, xóa tan mọi lo lắng, rồi nói, “Thấy chưa? Tôi đã viết nó đấy!” Đó chính là Jirō Nitta1!  

Trong toán học, không ai bảo đảm rằng chắc chắn bạn sẽ đạt được thành tựu nào đó sau một thời gian dài phấn đấu. Nếu như nỗ lực chứng minh định lý vuột ra khỏi khuôn khổ toán học hiện đại hoặc vượt quá nguồn lực toán học, thì nó sẽ không bao giờ được chứng minh, bất kể anh ta đầu tư biết bao công sức. Tệ hơn nữa là khi định lý mà anh ta dồn hết tâm huyết trong thời gian dài để chứng minh, cuối cùng lại sai lầm không thương tiếc. Nỗi lo về kết quả bấp bênh đó có thể dâng lên thành sự kinh hãi điếng người, dần dà nó hủy đi tham vọng của nhà toán học. Đỉnh điểm, anh ta phải chịu đựng áp lực từ giới học thuật. Một nhà toán học do đó phải là một người nhẫn nại và can đảm. Cá nhân tôi không phải khi nào cũng đủ sức chịu đựng nỗi khiếp đảm từ trong thâm tâm và áp lực đến từ bên ngoài, và buộc phải từ bỏ một số dự định trong quá khứ.

Tôi có biết một nhà toán học đã trải qua khó khăn rất lớn để tạo ra một tác phẩm thiên tài xuất chúng. Giáo sư S. hiện làm việc tại MIT2, song ông đã từng gắn bó với Đại học Michigan với tư cách là một trợ lý giáo sư. Khi ở Michigan, ông tự thách thức bản thân giải quyết một bài toán cổ điển đặc biệt khó, một bài toán đã bị bỏ hoang trong nhiều thập kỷ bởi các nhà toán học khác. Tâm huyết của ông ấy đối với bài toán lớn đến nỗi ông đã không viết được luận văn người ta trông mong ở mình và vì thế bị sa thải khỏi vị trí tại trường đại học. Nhưng không lâu sau đó, ông đã tìm ra một giải pháp đột phá cho bài toán này, một giải pháp ngoạn mục đến nỗi một số vấn đề liên quan cũng bắt đầu được giải quyết. Như thể sự im lặng tuyệt đối đã bị xáo động. Bằng thành quả của mình, Giáo sư S. được mời vào ghế giáo sư toàn thời gian tại MIT. Song đây là trường hợp hiếm hoi. Hầu hết các nhà toán học sẽ không đủ tự lực lẫn tự tin để mạo hiểm công việc vào một mục tiêu mơ hồ như vậy.

Mặt khác, nhà văn có mục tiêu rõ ràng hơn, miễn là họ cống hiến hết mình cho tác phẩm. Biết thế nên tôi có thể hoàn tất công việc trong chừng mực năng lực đủ đáp ứng và khích lệ bản thân. Chuyện là thế, tuy nhiên trong văn chương thời hạn là rào cản, nhất là khi viết cho tạp chí hay mục báo. Tính khí cha tôi thay đổi thất thường tùy vào việc ông đang viết tiểu thuyết cho chính mình hay cho một câu chuyện trên báo. Ông luôn tràn đầy nhiệt tình bất kể công việc là gì, song khí thế dường như khác nhau trong mỗi trường hợp: Ông bị thúc giục bởi sự cấp bách nội tại khi viết tiểu thuyết, nhưng lại cam kết với cái gì đó ngoài lề khi viết cho báo chí. Đôi khi chỉ đơn giản là ông không thể tiếp tục viết báo, ông ám ảnh, sợ hãi rằng bằng cách nào đó ông sẽ khiến tòa soạn thất vọng. Ngay cả gia đình cũng không xoa dịu được nỗi lo trong ông. Một cảnh tượng in sâu vào đầu tôi đó là khi cha tôi lên gác mà không nói lời nào. Quan sát bóng lưng ông trong bộ kimono cũ quá khổ, tôi học được rằng những nhà văn luôn luôn vật lộn với hạn chót; họ thà đón đầu còn hơn làm nô lệ cho chúng.

Đặc trưng định hình áp lực của một nhà toán học là nỗi lo sợ rằng anh ta sẽ chẳng tạo ra được thành quả gì, thậm chí sau khi đau “cơn đau đẻ.” Về phía nhà văn, đó là sức ép phải hoàn thành tác phẩm trong thời hạn nhất định. Điểm chung của cả hai phía là phải đấu tranh để được ngủ mà không âu lo. Khi bị ám ảnh bởi một bài toán, tôi giải nó cả khi tôi mơ. Đôi lúc cảm hứng lóe lên ập thẳng tới tôi đương lúc trên giường. Nhà toán học người Pháp Jules-Henri Poincaré3 từng kinh qua nhiều điều tương tự, và nghe nói hầu hết các ý tưởng đến với ông theo cách này được chứng minh là hợp lý. Không may thay, trường hợp của tôi, chín trên mười ý tưởng không đáng để theo đuổi. Cái còn lại kia, tuy thế, được sử dụng ngay tức khắc và thậm chí có thể mang lại lời giải đúng đắn. Thế là tôi luôn có một cuốn sổ ghi chú trên giường và với lấy chúng ngay khi lời thì thầm của ý tưởng lọt vào đầu tôi. Còn một lý do nữa cho việc này: nếu tôi không chuyển ý tưởng mới ra giấy, tôi sẽ không kiềm giữ được bản thân bình tĩnh và quay lại giấc ngủ.

Đặc trưng định hình áp lực của một nhà toán học là nỗi lo sợ rằng anh ta sẽ chẳng tạo ra được thành quả gì, thậm chí sau khi đau “cơn đau đẻ.” Về phía nhà văn, đó là sức ép phải hoàn thành tác phẩm trong thời hạn nhất định.

Lúc tôi đang ở giữa nghiệp viết, những dòng tôi viết ban ngày trở lại với tôi trong những giấc mơ. Nếu trong mơ tôi bắt gặp cách thức hoàn hảo để diễn tả một dòng mà tôi không thể với tới đương lúc tỉnh táo, tôi liền thức giấc và ghi chép. Đối với nghề viết lách, bảy trên mười ý tưởng đến với tôi trong mơ hóa ra lại tốt, một tỷ lệ khá hơn đáng kể so với số ý tưởng truyền cảm hứng toán học. Tôi không biết tại sao lại như vậy. Có lẽ những suy-nghĩ-trong-mơ không hàm chứa lô-gích mà là thứ cảm thức mỹ học thích hợp cho sáng tạo văn chương hơn so với toán học. Tuy nhiên, ta không thể lờ đi thực tế rằng một phần mười nguồn cảm hứng toán học xảy ra trong những nhà máy giấc mơ (hoặc mười phần mười trong trường hợp Poincaré.) Tôi muốn nói sự nhạy cảm thẩm mỹ là một tố chất trọng yếu trong toán học cũng tương tự như trong văn chương.

Có gia đình gồm những nhà văn và bản thân là nhà toán học, tôi nghĩ tôi ý thức tốt về những gì họ nói khi tôi bắt đầu bước chân vào cả hai lĩnh vực. Song tôi đã quá lạc quan. Mặc dù cả văn và toán đều liên quan đến sự sáng tạo và cả đánh giá vẻ đẹp lẫn sự hài hòa, phương pháp luận của chúng đối lập nhau. Toán học dựa trên lô-gích phổ quát được đeo đuổi bởi bản năng và tính nhạy cảm thẩm mỹ của nhà toán học, trong khi văn học đòi hỏi sự độc đáo và nhạy cảm với chữ nghĩa. Vì vậy, vài ngày sau khi làm việc với toán, tôi chẳng thể tạo ra bất cứ thứ văn nào, và ngược lại. Tôi cần chút thời gian để nhảy từ chế độ này sang chế độ khác và trong thời quá độ ấy, mọi thứ lặp đi lặp lại và tôi tiêu tốn hàng đống thời gian trong bứt rứt. Thật lãng phí thời gian tột độ, song tôi gần như chẳng có khả năng chiếm đóng cả hai địa hạt cùng lúc. Có lẽ chỉ mình tôi đổ lỗi cho cái hệ thống bất toàn ấy, nhưng tôi không nghĩ nó đơn giản như vậy.

Theo tôi, bản chất của mọi thứ văn chương, bất kể nó mang hình hài gì, là sự hiện thực hóa đời sống trần thế của chính ai đó. Không có ý niệm về cái chết, hầu như tất cả khổ đau, tuyệt vọng và cô đơn của chúng ta rồi sẽ tiêu vong. Nếu chúng ta là phượng hoàng với cuộc sống bất diệt, ta chẳng bao giờ trải qua chuỗi ngày đen tối hay trái tim tan vỡ, tuyệt nhiên ta cũng chẳng có khả năng vui mừng hay khoái cảm – tất cả chúng là những thành phần trọng yếu trong văn chương.

Văn chương bị ràng buộc sâu sắc với ý niệm về cái chết và các nhà văn chủ tâm lẫn vô thức thêu dệt sợi dây số mệnh con người vào câu chuyện của họ. Những kiệt tác như Genji MonogatariTurezuregusa và Oku-no-Hosomichi4 đều khảo cứu đời sống nhân gian sớm nở tối tàn. Việc ai đó có những nhận thức trần thế như vậy cũng được thấy trong văn học đương đại. Thực tế, với sự quan sát kỹ lưỡng, ngay cả những mô tả xuềnh xoàng nhất cũng tiết lộ sự thấu hiểu của nhà văn về đời người hữu hạn. Trong tiểu thuyết Takeda Shingen của mình, cha tôi đã viết nên một phân cảnh miêu tả cuộc hành binh của đội quân Takeda băng qua một cây cầu hướng tới khu vực Kanto. Khi đoàn quân đến được Kanto, một chiến binh nhà Takeda, kẻ trước đây chưa từng rời khỏi quê hương Koshu, lẩm bẩm, “Không có đá ở đây.” Một nhà phê bình ngợi ca đây là ví dụ về độ chính xác khoa học trong tả cảnh của nhà văn. Tôi nhớ cảm giác chán ngán gây ra bởi cái nhận xét đó. Tôi dám chắc cha tôi có nhiều hàm ý hơn là quan sát địa chất. Tôi cảm thấy ông muốn phác họa chiến binh như một người đàn ông bị sốc bởi nỗi nhớ quê mãnh liệt và bất chợt, gởi gắm con tim mình vuột xa khỏi cảnh vật xung quanh. Bình nguyên Kanto bằng phẳng khiến anh ta hoài niệm về sỏi đá vùng Koshu; anh nhớ ngọn núi, con sông, thung lũng, và rồi khi cơn gió lướt qua, ánh sáng chiếu rọi quê hương anh. Anh nhớ gia đình mình đã bỏ lại. Khoảnh khắc ấy, trí tưởng tượng của anh vượt xa việc so sánh hai dạng địa hình. Thực tế, người lính phải đối mặt với sự nhỏ bé, chóng tàn và quạnh hiu của đời mình tương phản với phẩm cách bất diệt của tự nhiên. Vài chữ nhỏ nhoi được một người lính thốt ra thật khéo truyền tải nỗi ám ảnh của tác giả về cái chết của chính mình.

Hãy tưởng tượng một xứ sở xa lạ trải dài bất tận trước mắt bạn, một quân đoàn khổng lồ những chiến binh diễu qua xứ ấy trên những con chiến mã, và một người lính giữa binh đoàn đó tự gói mình trong nỗi cô đơn. Với điều này, bạn dõi theo tiến trình quan sát của nhà văn: từ một cái nhìn xa xăm, chuyển vào chính diện, liền sau là một pô cận cảnh, và đạt đến một cái nhìn sâu sắc về mặt tâm lý. Theo cách ấy, cha tôi ngụ ý sự thức tỉnh triết học tinh tế ở một người lính vô danh. Ông có sở trường gợi lên nỗi u sầu, cảm thức Wabi5, và sự bình yên của cuộc đời bằng những cảnh quan đối nghịch hùng vĩ. Tôi tin rằng đó là những điều đánh vào trái tim độc giả.

Cả nhà văn lẫn nhà toán học đều khát khao sự vĩnh cữu, điểm khác biệt giữa họ là người trước mưu cầu nó trong cuộc đời chính mình trong khi kẻ sau tìm kiếm nó bên ngoài đời sống cá nhân riêng lẻ. Khi một nhà toán học khám phá chân lý phổ quát, anh ta buộc phải từ bỏ nội tâm hỗn loạn của mình. Chẳng nhà toán học nào lại tốn thời gian cho những ẩn ý đa cảm của đời người hữu hạn, tuy thế anh ta có thể đặt ra giả thuyết về tính vô hạn của chân lý. Các nhà toán học vượt lên trên thế giới; thời gian không dính dáng tới họ. Họ làm đầu óc thích ứng với cái trạng thái mà vượt quá những động lực không-thời gian của thế giới vật chất. Họ bùng cháy cùng lòng sùng kính cái trạng thái ấy; bằng không sẽ chẳng có chân lý nào được khám phá.

Hẳn là bây giờ bạn đã hiểu được lý do tại sao phải tốn quá nhiều thời gian để vượt qua cầu nối giữa toán và văn. Nó không chỉ liên quan đến kỹ thuật của từng lĩnh vực, mà là một sự chuyển đổi toàn diện về chất trong tâm hồn. Tôi vẫn chưa phải là bậc thầy chuyển đổi sao cho thật suôn sẻ. Thỉnh thoảng tôi thấy nghe nhạc giúp ích khi tôi dịch chuyển từ tư duy toán học sang lối suy nghĩ của một nhà văn. Nhưng không phải nhạc nào cũng làm được. Tôi cần cái gì đó giống như những bản dân ca ngày xưa chạm đến cảm xúc của mình hơn là những kiệt tác cổ điển của Bach hay Mozart. Tôi ước một thứ thuốc tiên cho sự biến đổi này, hoặc giá tôi là một nhẫn giả thần tốc chứ không phải là chú cừu vụng về, cứ nấn ná trên cây cầu nối giữa toán học và văn chương. Sau đó nữa, một phần trong tôi từ chối thừa nhận rằng có thể có thứ thuốc như vậy. Rốt cuộc, tôi vẫn ở trên cây cầu ấy, đi thế này hay bước thế kia, ngập ngừng giữa hai bên, chẳng đến được bờ sông phía nào. Tuy vậy, dường như tôi đang tận hưởng điều đó.

Hết.

Masahiko Fujiwara là nhà toán học và tiểu luận. Sinh ra ở Mãn Châu và lớn lên ở Tokyo, ông lấy bằng Tiến sĩ Toán học tại Đại học Tokyo. Sau khi làm việc tại Đại học Colorado và Đại học Cambridge, ông trở thành giáo sư toàn phần Đại học Ochanomizu, Tokyo. Fujiwara đã giành giải thưởng Câu lạc bộ tiểu luận Nihon cho tác phẩm đầu tay Wakaki Sugakusha no America năm 1977 và từ đó nhiều tác phẩm được xuất bản, bao gồm cả cuốn sách bán chạy nhất năm 2005 Kokka no Hinkaku với hơn hai triệu bản tiêu thụ tại Nhật. Cha ông – Jirō Nitta là tiểu thuyết gia đoạt giải Naoki và mẹ ông – Tei Fujiwara là một tác giả có sách bán chạy.

Chú thích:

  1. Tên người cha của tác giả.
  2. Học viện công nghệ Massachusetts, là một viện đại học nghiên cứu tư thục ở thành phố Cambridge, bang Massachusetts, Hoa Kỳ. MIT nổi tiếng nhờ hoạt động nghiên cứu và giáo dục trong các ngành khoa học vật lý, kỹ thuật, cũng như trong các ngành sinh học, kinh tế học, ngôn ngữ học, và quản lý.
  3. Là một nhà toán học, nhà vật lý lý thuyết, và là một triết gia người Pháp.
  4. Những tác phẩm văn học xuất sắc của Nhật Bản thời Edo.
  5. Wabi-sabi là một thuật ngữ đại diện cho thẩm mỹ Nhật Bản và một thế giới quan của văn hoá Nhật Bản, tập trung vào việc chấp nhận tính phù du và sự không hoàn hảo. Wabi ban đầu tham chiếu đến sự cô độc sống giữa thiên nhiên, xa khỏi xã hội con người; sabi mang nghĩa là “lạnh”, “nghiêng” hoặc “sự héo tàn”. Khoảng thế kỷ thứ 14, những ý nghĩa này bắt đầu thay đổi, mang hàm nghĩa tích cực hơn. Wabi hiện tại bao hàm sự tinh giản hoá, tươi mát hoặc tĩnh lặng một cách mộc mạc, hoặc sự sang trọng được giảm bớt đi, và có thể sử dụng với cả đối tượng tự nhiên và nhân tạo. Nó cũng có thể tham chiếu đến những đường nét lỗi hoặc dị thường phát sinh trong quá trình xây dựng, thứ tạo nên sự độc đáo và sang trọng cho đối tượng. Sabi là vẻ đẹp hoặc sự tĩnh lặng tới theo thời gian, khi sự tồn tại của đối tượng và sự vô thường của nó được chứng thức bởi lớp gỉ sét (hoặc lớp ngả màu do thời gian và không khí tác động) và lớp bên ngoài của nó, hoặc ở bất kì sửa chữa nào có thể nhìn thấy.

3V dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Masahiko Fujiwara, đăng tại Asymptote Journal.

Hình ảnh minh họa đầu bài được thực hiện bởi Kevin Kunstadt.


Xem tất cả những bài viết của 3V.


Những bài viết có cùng chủ đề


Trà chiều

Vai trò của bìa sách trong ngành xuất bản hiện đại

Vì mọi chuyện không đơn giản chỉ là gỗ và nước sơn.

Published

on

Là yếu tố hữu hình cấu thành nên một cuốn sách, bìa sách là một lớp da, một lớp màng bọc tế bào, và là tấm khiên bảo vệ: áo sách bảo vệ bìa cứng khỏi trầy xước và tác hại của ánh sáng mặt trời, trong khi lớp bìa mềm không chỉ kết nối các trang với nhau mà còn giữ giấy sạch sẽ và không bị rách. Trong quá khứ, áo sách chỉ là những tờ giấy gói đơn giản có chức năng bảo vệ phần gáy sách đã được trang trí; nhưng từ khoảng đầu thế kỷ XX, những tác phẩm minh họa đã được chuyển từ bìa cứng sang chính lớp áo sách.

Vai trò thoạt tiên của bìa sách

Dưới góc nhìn ẩn dụ, bìa sách là khung bao quanh văn bản và là cầu nối giữa văn bản và thế giới. Bìa sách đóng vai trò như lời mời đến những độc giả tiềm năng, một lối bước vào cái thế giới mà nhà văn đã tạo ra – cho dù là hư cấu, lịch sử, tự truyện hay thể loại khác. Hãy đến đây – bìa sách lên tiếng – hãy hòa mình vào bữa tiệc, hoặc ít nhất hãy lưu lại một cái hẹn.

Dưới tư cách một vật thể được thiết kế, bìa sách là cái nhìn đầu tiên về văn bản và là phương thức trực quan thể hiện những gì văn bản muốn nói: nó vừa là một sự diễn giải, vừa là một bản dịch từ ngôn ngữ viết sang ngôn ngữ hình ảnh. Mặc dù nhà thiết kế bìa có thể muốn truyền tải điều gì đó mới mẻ, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế trong quá trình thiết kế vì bìa sách còn phải là “quầy thông tin”: không chỉ cho biết tên tác giả, tên sách và nhà xuất bản, mà còn xác định thể loại cuốn sách.

Có rất nhiều hình ảnh rập khuôn tồn tại lâu đời khi thiết kế các thể loại như trinh thám tội phạm, khoa học viễn tưởng, giả tưởng và lãng mạn, nhưng mọi cuốn sách phải thể hiện cái tôi của mình trong sự tôn trọng các cuốn sách khác. Không ai thích quảng cáo sai sự thật.

Sách cũng cần phải tự bán, vì vậy trang bìa có thể được hiểu như là đoạn giới thiệu – tương tự teaser phim – cung cấp cho chúng ta vừa đủ thông tin, bao gồm nhận xét từ những độc giả khác, để lôi kéo chúng ta mua sách. Lời giới thiệu từ độc giả (“blurb”) là đặc trưng tiêu chuẩn của nhiều bìa sách, nhưng trong khoảng thời gian dài mà nó đã tồn tại, nó đã làm dấy lên nhiều nghi ngờ, chế giễu, và thậm chí là khinh miệt.

Blurb, hay những lời giới thiệu sách bị ghét bỏ

Vào năm 1936, George Orwell đã đổ lỗi sự thoái trào của tiểu thuyết là do “những dòng lằng nhằng kinh tởm được viết bởi đám phê bình chuyên đi viết giới thiệu”. Camille Paglia gọi những lời giới thiệu là “tuyệt đối tệ lậu” trong một bài phát biểu năm 1991. Truyền thống chống-lời-giới-thiệu (anti-blurb) bao gồm chính người phát minh ra cụm từ này, Gelett Burgess. Ông đã cho ra đời một thiết kế áo sách vào năm 1907 – trân trọng giới thiệu tác phẩm “Miss Melinda Blurb in the Act of Blurbing” (tạm dịch “Cô Melinda Mê Giới Thiệu đang Miệt Mài Giới Thiệu”) – để chế nhạo cái lệ thường đang càng trở nên phổ biến trong ngành xuất bản.

Burgess đã khai sinh ra thuật ngữ “blurb”, nhưng nhà thơ Walt Whitman mới là người sáng tạo nên bản thân hành động này. Ralph Waldo Emerson, sau khi đọc ấn bản đầu tiên của tập thơ Leaves of Grass (tạm dịch Lá cỏ, phát hành năm 1855), đã gửi cho Whitman một bức thư khen ngợi. Tại thời điểm đó, Emerson là một tri thức gia lỗi lạc, trong khi Whitman tương đối ít được biết đến ngoài phạm vi New York. Bức thư đáng lẽ chỉ là những lời động viên riêng tư. Nhưng Whitman đã đăng nó lên trên tờ New York Tribune.

Một năm sau, vào năm 1856, Whitman đã trích một dòng trong bức thư từ Emerson, rằng “Tôi gửi lời chào anh tại khởi đầu của một sự nghiệp vĩ đại” để in bằng lá vàng trên gáy của ấn bản Lá cỏ phát hành lần hai. Không có gì bất ngờ khi một nhà thơ, người từng bắt đầu tác phẩm nổi bật đầu tiên với câu “Tôi tự tán tụng mình”, có tài năng đặc biệt trong việc tự quảng cáo cho tên tuổi cá nhân.

Quả thật, Whitman hiểu rằng bìa sách không chỉ là quảng cáo cho bản thân cuốn sách mà còn là quảng cáo cho những thể loại độc giả mà chúng ta hằng mường tượng về bản thân mình, hoặc muốn trở thành. Có một mối liên hệ mật thiết giữa những gì chúng ta đọc và việc chúng ta là ai, giữa những giá sách và bản thân ta. Khi đọc xong một cuốn sách, bìa sách được xem là món quà kỷ niệm lưu lại trải nghiệm đọc xuyên suốt. Khi đọc xong một cuốn sách đặc biệt khó, bìa sách có chức năng như là huân chương trao thưởng lao động trí óc. Khi mang theo một cuốn sách ở nơi công cộng, bìa sách có thể tiết lộ những thông tin về bạn trước những người xa lạ, và họ sẽ đưa ra những phỏng đoán về bạn. Mặc dù cảm giác bị phơi bày có hơi mạo hiểm, nhưng đôi khi những phỏng đoán như thế lại được hoan nghênh, chẳng hạn như khi bìa sách – đột ngột bắt gặp trên toa tàu điện ngầm đông đúc – lại giống như cái bắt tay bí mật với một người khác đang đọc cùng thể loại.

Sau cùng, bìa sách là “phương tiện”, trung gian và nghệ thuật

Một tấm khiên bảo vệ, một cái khung, một cây cầu, một bản dịch, một sự diễn giải, một lời giới thiệu, một món quà lưu niệm, một chiếc huân chương, một cái bắt tay và hơn nữa – bìa sách là rất nhiều thứ. Và nó thực hiện nhiều chức năng. Chính vì lý do này mà chúng ta xem bìa sách như một phương tiện, mà thông qua nhiều nền tảng (ví dụ: áo sách, bìa mềm, hình ảnh kỹ thuật số) hoạt động cùng nhau để thể hiện văn bản một cách trực quan và giới thiệu cuốn sách với thế giới.

Thuật ngữ “phương tiện” (medium) có một số định nghĩa trùng lặp, cho phép nó thể hiện các đặc điểm nhận dạng và chức năng đa dạng của bìa sách trong thời đại của chúng ta.

Từ thế kỷ XVI, thuật ngữ “phương tiện” được sử dụng khi thảo luận về các nền tảng, phẩm chất, mức độ hoặc tình trạng trung gian: trạng thái ở giữa hai thứ. Đồng thời “phương tiện” cũng chỉ định bất kỳ sự can thiệp nào có thể truyền tải biểu hiện, cảm giác và tâm trạng. Song song với những định nghĩa này là hai khái niệm khác: khái niệm về hệ thống tiền tệ hoặc trao đổi trung gian, hoặc khái niệm về phương tiện trung gian với thế giới tâm linh. Khái niệm cuối cùng này không hề quá xa vời, vì công việc chính của bìa sách là cụ thể hóa cái trừu tượng, hình dung ra cái phù du và kết xuất cái siêu hình.

Sau đó, vào thế kỷ XIX, “phương tiện” bắt đầu mang những định nghĩa hiện đại hơn, gần giống với những gì ta hiểu ngày nay. Một mặt, tồn tại khái niệm về phương tiện giao tiếp: một kênh biểu đạt hoặc một hệ thống cung cấp thông tin mà qua đó các tín hiệu được trao đổi qua lại. Khái niệm này giao thoa với hình dung của ta về “các phương tiện truyền thông đại chúng” như một hệ thống báo chí và giải trí rộng lớn, bao gồm báo, tạp chí, truyền hình, radio và internet, cũng như nhiều người làm việc với tư cách là nhà sản xuất nội dung, biên tập viên, influencer và các học giả.

Mặt khác, tồn tại định nghĩa về “phương tiện nghệ thuật”: hội họa, điêu khắc, khiêu vũ, phim ảnh,… Trong nghệ thuật, thuật ngữ này đề cập đến cả chất liệuquá trình sáng tạo: đất sét hoặc đá cẩm thạch hoặc hỗn hợp papier-mâché có thể được xem là phương tiện của điêu khắc, nhưng bản thân việc điêu khắc cũng là một phương tiện. Và để nói đến điêu khắc với tư cách là một phương tiện không chỉ đơn thuần là thảo luận về chất liệu của nó, mà là đề cập đến một phong tục thẩm mỹ cổ xưa và đáng kính, mà ý nghĩa và giá trị của nó đã được các nghệ sĩ, triết gia và nhà phê bình tranh luận trong nhiều thiên niên kỷ. Khái niệm mở rộng về phương tiện này bao gồm cả lịch sử, lý thuyết và kỹ thuật sáng tạo của bất kỳ ngành nghệ thuật nào.

Vậy, việc xem bìa sách như một “phương tiện” có ý nghĩa gì? Đó là xem bìa sách như trung gian giữa văn bản và ngữ cảnh, một khu vực tương tác giữa tầm nhìn của nhà văn và phông nền văn hóa nơi cuốn sách được xuất bản.

Nhìn xa hơn, đó còn là việc xem bìa sách như một “người hòa giải” hoặc “trung gian” để chứng minh cho các khía cạnh xã hội của việc viết sách – vì dù một bản thảo là của tác giả riêng lẻ, một cuốn sách lại là nỗ lực tập thể. Bìa sách ra đời thông qua một quá trình có sự tham gia của nhiều bên liên quan, không chỉ tác giả và nhà thiết kế, mà còn cả biên tập viên, nhà xuất bản, giám đốc tiếp thị, nhà in,… và hơn thế nữa.

Những trang bìa cần sự kết hợp; quá trình thiết kế liên quan đến việc vòng lặp của phản hồi và sửa đổi. Kết quả cuối cùng là tạo ra một “phương tiện” giàu thông tin, và có lẽ cũng là một tác phẩm nghệ thuật.

Xin khẳng định lại, hầu hết các bìa sách không phải tác phẩm nghệ thuật, mà là các đóng gói thương mại. Tuy nhiên, gần như tất cả các bìa sách đều là tác phẩm đa phương tiện kết hợp các yếu tố lời nói và hình ảnh. Marshall McLuhan chia sẻ rằng, “nội dung của bất kỳ phương tiện nào luôn là một phương tiện khác” và tuyên bố này có vẻ đặc biệt phù hợp với bìa sách, nơi tái chế các bản vẽ, ảnh và văn bản từ các bài đánh giá sách và các nguồn khác.

Lấy trang bìa cuốn sách Homegoing (2016) của Yaa Gyasi làm ví dụ. Thiết kế ban đầu đã được sửa đổi để bổ sung những lời khen ngợi bất ngờ từ Ta-Nehisi Coates: “Homegoing là một nguồn cảm hứng.” Đây là ví dụ hoàn hảo cho câu nói của McLuhan, và nó cũng cho ta thấy cách mà bìa sách tồn tại như thế nào cả bên trong và bên cạnh môi trường kỹ thuật số ở thế kỉ XXI.

Một ví dụ khác là cuốn sách Citizen (2014) của Claudia Rankine, có trang bìa là bức ảnh chụp tác phẩm điêu khắc tường In the Hood (1993) của David Hammons – qua đó gợi lên lịch sử của tập tục hành hình tập thể trái phép (lynching). Tại đây, một tác phẩm nghệ thuật được hiển thị thông qua nhiếp ảnh như một phần của thiết kế tổng thể.

Bìa sách Citizen (2014) của Claudia Rankine.

Tuyên bố của McLuhan dẫn dắt sự chú ý của chúng tôi đến việc cải tạo – quá trình mà một phương tiện này “ăn thịt” một phương tiện khác – điều không bao giờ dừng lại trong văn hóa kỹ thuật số chia sẻ và kết hợp vô tận. Bìa sách đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, vừa là phương tiện vừa là đối tượng trong đó.

Là một tác phẩm nghệ thuật mang tính chính trị cao khi đề cập đến vấn nạn phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ, bản thân Citizen đã được “cải tạo” với mục đích bày tỏ chính kiến trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016. Lúc bấy giờ, tại một cuộc mít tinh vận động tranh cử ở Illinois, vì bất mãn trước lời nhận xét của ứng cử viên Donald Trump, một phụ nữ người da màu lặng lẽ mở cuốn sách Citizen và bắt đầu đọc, ôm cuốn sách ngang tầm mắt và phơi bày trực tiếp bìa sách trước máy quay truyền hình. Khi bị một người đàn ông da trắng lớn tuổi khiển trách, bà từ chối đặt cuốn sách xuống. Video quay lại cuộc nói chuyện giữa họ được lan truyền nhanh chóng, và sau đó được “cải tạo” thành một GIF động.

Hết.

Lalijade lược dịch.

Bài viết gốc What a Book Cover Can Do được thực hiện bởi Peter MendelsundDavid J. Alworth, đăng tại Literary Hub.

Đọc bài viết

Trà chiều

Xuân, Hạ, Thu, Đông: Bốn mùa Phương Nam tại Đường Sách TP. HCM

Kỉ niệm Đường Sách tròn 5 năm tuổi, mời bạn cùng tôi đếm lại bốn mùa của Phương Nam tại Đường Sách.

Published

on

Ngày 09.01.2021 vừa qua đánh dấu sinh nhật 5 năm của Đường Sách TP. HCM (2016-2021). Trong 5 năm qua, giữa muôn vàn những địa điểm tụ tập vui chơi, có một cộng đồng người Sài Thành vẫn lựa chọn dành những ngày cuối tuần cho con đường dài chưa đến 150 mét, nhưng ẩn chứa trong đó là cả một thế giới sách mầu nhiệm. Và cũng trong 5 năm này, Nhà Sách Phương Nam vẫn bền bỉ song hành cùng Đường Sách, chứng kiến sự ra đời, những thay đổi và phát triển của con đường đầy lá me bay.

Hôm nay, kỉ niệm Đường Sách tròn 5 năm tuổi, mời bạn cùng tôi đếm lại bốn mùa của Phương Nam tại Đường Sách, lắng nghe câu chuyện xuân, hạ, thu, đông,… rồi lại xuân này.

Nhà Sách Phương Nam vẫn bền bỉ song hành cùng Đường Sách, chứng kiến sự ra đời, những thay đổi và phát triển của con đường đầy lá me bay.

Xuân

Một năm bắt đầu bằng mùa xuân, và mùa xuân ở Sài Gòn bắt đầu khi thành phố thay áo đượm hương: đường hoa Tết trên phố đi bộ, pháo bông đì đùng trên góc trời rộng đêm giao thừa; và đặc biệt không thể không nhắc tới Hội Sách Tết - thú chơi Tết thanh tao của riêng người Sài Thành. Những mùa xuân qua, bắt đầu từ 21, 22 tháng Chạp, bạn bè đã khấp khởi hẹn nhau đi ngắm Hội Sách Tết. Và cái sự hoan hỉ ấy kéo dài mãi đến những ngày mùng 4, mùng 5 Tết Nguyên Đán.

Hội Sách Tết có chi hay mà ai cũng ngóng trông mỗi dịp xuân về?

Hội Sách Tết - thú chơi Tết thanh tao của riêng người Sài Thành.
Ảnh: Hội Sách Tết 2018

Đường Sách 5 tuổi là cũng bấy nhiêu mùa xuân Phương Nam đồng hành và tổ chức Hội Sách Tết tại Đường Sách. Và trong 5 mùa xuân ấy, xuyên suốt quá trình khai sinh nên Hội Sách Tết, từng khâu một - từ bản vẽ thiết kế sơ khai, đến dàn dựng thành hình, sắp xếp và trang trí - Phương Nam tâm nguyện rằng, đây không đơn thuần là địa điểm để dạo phố và mua sắm, mà thu nhỏ vào đó là một không gian văn hóa cổ truyền đậm chất Việt.

Vẫy chào khách tham quan là cổng chào được xây từ những chất liệu quen thuộc với làng quê như tre nứa, bắp, cành mai, cành đào. Từng gia đình, nhiều tốp bạn, đôi người thương trong tà áo dài đỏ vàng, tíu tít dắt nhau dạo phố ngắm hoa, thưởng sách, hái lộc đầu xuân, xin chữ ông đồ, bói toán cầu duyên và tận hưởng những trò chơi dân gian được tái hiện trong lễ hội đặc biệt. Và thật hiển nhiên, khi chơi Hội Sách, ai cũng gửi gắm hy vọng “mua con chữ lấy may” trong dịp khai niên, mong rằng những tác phẩm sách xuân chọn lọc sẽ mang đến trí tuệ, sự sáng suốt đến cho bản thân và cả nhà.

Vẫy chào khách tham quan là cổng chào được xây từ những chất liệu quen thuộc với làng quê.
Ảnh: Hội Sách Tết 2020

Từng gia đình, nhiều tốp bạn, đôi người thương trong tà áo dài đỏ vàng, tíu tít dắt nhau dạo phố ngắm hoa, thưởng sách.
Ảnh: Hội Sách Tết 2020

Ai cũng gửi gắm hy vọng “mua con chữ lấy may” trong dịp khai niên, mong rằng những tác phẩm sách xuân chọn lọc sẽ mang đến trí tuệ, sự sáng suốt đến cho bản thân và cả nhà.
Ảnh: Hội Sách Tết 2020

Hội Sách Tết cũng là một ngày lễ để hành hương tìm về những di sản văn hóa truyền thống.
Ảnh: Hội Sách Tết 2020

Người Việt ta luôn cầu chúc vạn điều may mắn, an lành trong những ngày đầu năm và mong muốn tìm lại một không khi Tết cổ truyền. Hội Sách Tết cũng là một ngày lễ để hành hương tìm về những di sản văn hóa truyền thống ấy, để trải nghiệm một không khí Tết xưa giữa hòn ngọc Viễn Đông hiện đại này.

Hạ

Mùa hè về bằng tiếng ve, và bằng một ngày hội khác - ngày Quốc tế Thiếu nhi 01.06, cũng là ngày bắt đầu kỳ nghỉ hè của học sinh. Mùa hè ở thành phố, nếu có ai chưa kịp đặt một chuyến du lịch đến những miền đất xa khác mà vô tình “kẹt” lại ở Sài Gòn, đừng buồn chi mà hãy dạo bước tới Đường Sách - vì con đường này chính là dành cho thiếu nhi, dành cho những cô bé, cậu bé yêu mến con chữ, yêu mến những niềm vui nho nhỏ thú vị.

Chào đón các em tham dự Hội sách Thiếu nhi Thành phố, đại diện là triển lãm sách thiếu nhi với ý tưởng: sách thiếu nhi cũng là một “bảo tàng” để chiêm ngưỡng và ngắm nghía. Những cuốn sách thiếu nhi chọn lọc, trong đó có tác phẩm đến từ Phương Nam Book được trưng bày trong tủ kính tại Đường Sách, như xây nên đường hoa chào các em đến nghe những câu chuyện thần kỳ. Từ những cuộc phiêu lưu của cô bảo mẫu thần kỳ Mary Poppins, tới những câu chuyện trong veo nâng đỡ tâm hồn bé trong Tủ Sách Chồi Non. Đây là một cách mới để các bậc phụ huynh hướng dẫn bé lựa chọn sách hay, bổ ích và chủ động tạo dựng thói quen đọc sách cho bé từ tuổi còn nhỏ.

Sách thiếu nhi cũng là một “bảo tàng” để chiêm ngưỡng và ngắm nghía.

Mùa hè, Phương Nam cũng mang đến các buổi giao lưu họp mặt, workshop để các bé trải nghiệm những hoạt động bổ ích. Như là thử tài vẽ nón: nơi các bé được khoe tài hội họa với năm ngón tay vương đầy màu nước, tô tô nghịch nghịch mà chẳng mấy chốc một thế giới tưởng tượng của trẻ con đã thành hình dưới dạng những chiếc mũ vải xinh đẹp. Hoặc học cách gấp giấy origami để vừa luyện tay, luyện kĩ năng tập trung. Hoặc như giao lưu với anh Long Journey để nghe những câu chuyện “giải cứu” động vật hoang dã, để em có thêm ý thức trách nhiệm với thiên nhiên và môi trường.

Mùa hè, Phương Nam mang đến các buổi giao lưu họp mặt, workshop để các bé trải nghiệm những hoạt động bổ ích.

Thu

Thu sang là khi tiết trời Sài Gòn không còn nóng bức, mùa mưa vẫn còn nấn ná cho tới cuối tháng 10. Mùa thu mưa bay như thế, con người ta cũng…. lười đi ít nhiều mà chỉ muốn tấp vào Phương Nam Book Café để đóng ổ đọc sách. Book Café đã “hạ cánh” nơi Đường Sách rất lâu rồi - từ những ngày đầu Đường Sách ghi tên mình lên bản đồ đọc của Sài Thành, nhưng chẳng bao giờ hết mới mẻ, đặc biệt là với giới văn nghệ sĩ và cộng đồng yêu sách.

Book Café như một trạm dừng chân quảng giao mà thân thiết mời chào mọi người nghỉ ngơi, để âm thầm đọc sách mình chọn nhưng không tách rời khỏi cảm quan cộng đồng.

Tọa lạc ở đầu Đường Sách, Book Café như một trạm dừng chân quảng giao mà thân thiết mời chào mọi người nghỉ ngơi, để âm thầm đọc sách mình chọn nhưng không tách rời khỏi cảm quan cộng đồng, chẳng rõ là đang thưởng cà phê, thưởng sách hay là thưởng ngoạn nhịp điệu của Sài Gòn trong một ngày bình thường.

Nhà văn, nhà báo Phạm Công Luận đã dành những lời trân trọng cho Phương Nam Book Café, rằng “Là nơi đậm đà niềm vui, khi ngồi giữa bạn bè thanh cảnh thích đọc và thích sống nhẹ nhàng như mình. Là nơi nhìn người đẹp đi lại. Nơi thỉnh thoảng nhận ra vài người Sài Gòn xưa qua phong thái, giọng nói, cách nói chuyện và ăn mặc. Là nơi uống ly cà phê ấm trong không khí lạnh buổi sáng, như ông cha ta trăm năm trước bên ly xây chừng ở chợ cũ, quán cà phê Nguyễn Văn Đắc bên hông chợ Bến Thành hay trên vỉa hè khách sạn Continental”.

Đến Book Café, dẫu là đi một mình hay đi nhiều mình thì cũng chẳng bao giờ thấy cô đơn hay gượng gạo. Vì thế giới của sách tri kỷ mà rộng lớn lắm!

Khi những chiếc đèn lồng mang ánh sáng lấp lánh trải dài Đường Sách, cũng là khi Trung Thu về...

Đông

Đông về, Đường Sách trở về với nguyên bản giá trị cốt lõi của mình, là con đường chứa đầy sách, là nơi để thỏa lòng đam mê sách cho người Sài Thành và những du khách đường xa.

Đường Sách là con đường chứa đầy sách, là nơi để thỏa lòng đam mê sách cho người Sài Thành và những du khách đường xa.

Người Sài Gòn thường đùa với nhau rằng, cái thành phố này chỉ có hai mùa: mùa nóng và mùa... rất nóng. Sài Gòn không có mùa đông, nhưng vài đợt gió lạnh hiếm hoi trong những tháng cuối năm lại làm cho nhiều người Sài Gòn mừng vui, chẳng chấp nhặt mà coi như “đông đã về”. Và cũng thật lạ thay, mùa đông ở Sài Gòn cũng là mùa nhộn nhịp nhất năm, nhà nhà người người khuyến mãi, thi nhau... sale sập sàn.

Một mùa rộn ràng như thế, làm sao người ta quên cái thú chọn sách khi đến chơi Đường Sách được?

Cuối năm 2020, mặc cho những thay đổi thất thường trong năm, thế giới sách vẫn rộn ràng như bù đắp, thổi thêm sức sống cho năm mới. Những tác phẩm ấp ủ cả năm nay được trình làng với đủ thể loại và hình thức: từ văn học, sách tâm lý - giáo dục, kỹ năng, sách viết về thiên nhiên - môi trường,... nhận được sự đón nhận nhiệt thành của cộng đồng yêu sách. Không ít tác phẩm lọt vào danh sách sách hay và bán chạy cả năm, từng đạt được những giải thưởng lớn trên văn đàn quốc tế. Không giới hạn ở đó, ngành sách còn rộn ràng những ngày gặp mặt, ra mắt sách, là dịp để những độc giả trao đổi, giao lưu với tác giả mình yêu mến tại Đường Sách.

Buổi giao lưu & ký tặng sách Hồi ký Nghệ sĩ Kim Cương: Sống cho người - Sống cho mình.

Buổi giao lưu cùng kiến trúc sư – tác giả Nguyễn Ngọc Dũng và giới thiệu chuỗi tác phẩm tranh & ký họa Lang thang phố thị.

Giao lưu ra mắt sách Thức dậy anh vẫn là mơ của tác giả - ca sĩ Jun Phạm.

Những ký ức về mùa Giáng Sinh 2018 tại Đường Sách.

Rồi lại xuân…

Chẳng mấy chốc lại sang năm 2021.

Tiết trời xoay vẫn, một năm mới lại đến. Không ai biết được sẽ có điều gì chờ đón ta trong năm nay. Thế nhưng, tôi mạnh dạn nghĩ rằng, sự tồn tại của Đường Sách trong lòng bạn đọc vẫn thế, vẫn sẽ vững chắc, cũng như mối dây gắn kết bền lâu giữa thương hiệu Phương Nam và bản thân Đường Sách. Bởi lẽ, Đường Sách ra đời, là sự hòa hợp tự nhiên của văn hóa đọc Sài Gòn cùng dòng chảy năng động luôn tồn tại trong lòng thành phố.

Nghe đâu, đã gần đến Hội Sách Tết Tân Sửu rồi nhỉ?

Hết.

Ảnh đầu bài: Tác phẩm Cảnh sắc phố thị Sài Gòn - Chợ Lớn (Tranh & Ký họa), tác giả Phạm Công Luận & Phạm Công Tâm

Đọc bài viết

Trà chiều

Con người cần làm gì trong thời đại của khủng hoảng khí hậu?

Bàn về cách học lại Lịch sử Trái Đất bên Bờ vực

Published

on

Ảnh: Một chú gấu Bắc Cực đang dần đói lả, được phát hiện trên một mảng băng trôi nhỏ. Hình ảnh do Kerstin Langenberger chụp vào tháng Tám ở Svalbard, phía bắc lục địa Na Uy.

Sức nặng của cuộc khủng hoảng sinh thái không khiến tôi bận tâm cho đến khi đứa con thứ hai của tôi chào đời. Tôi cảm nhận điều đó một cách rõ ràng hơn bao giờ hết khi hai vợ chồng tôi đang chuẩn bị sơ tán trước lúc trận siêu bão thứ ba càn quét bờ biển Đông Nam. Giữ chặt đứa con bé bỏng, đỏ hỏn trong vòng tay, đột nhiên, tôi nhận ra, cái thế giới tôi hằng vẽ ra cho những đứa con của mình đã không còn tồn tại nữa. Chúng ta đang sống ở một nơi nào đó khác - một nơi hoàn toàn mới, đang thay đổi, và dễ dàng bị thay đổi. Và tôi khiếp sợ trước sự thật này.

Có một thuật ngữ y khoa tên là “nỗi lo âu về khí hậu”, một trạng thái “cực kỳ hoảng hốt về sự diệt vong đã được khoa học tiên đoán của loài người”. Bạn bè và gia đình tôi nghi ngờ đó chỉ là hội chứng trầm cảm sau sinh, và một phần trong tôi hi vọng rằng họ đúng. Nhưng trong khi tôi chắc chắn các hoocmon chẳng giúp được gì, tôi biết những nỗi sợ của mình không hề vô lý. Trong tâm trí tôi, sẽ là vô lý nếu không khóc thương trước cái tương lai con cái chúng ta phải đối mặt, khi biết về những gì các nhà khoa học đã biết ngày nay.

Nhưng việc khóc lóc ảnh hưởng đến đứa bé mới sinh nhà tôi. Tôi đã thử tự khiến mình xao lãng trong một lúc, nhưng lại cảm thấy mất phương hướng, giống như cố gắng vào lại giấc mơ khi bạn không còn ngủ nữa.

Vì vậy, tôi đã thử tiếp cận theo hướng ngược lại. Giống như Bruce Wayne đến hang dơi, tôi đắm mình trong những tài liệu về điều mà tôi sợ nhất: cuộc khủng hoảng khí hậu của chúng ta.

Tôi bắt đầu với các bài báo, click vào từng cái tiêu đề khủng khiếp tôi thấy được, từ những con gấu Bắc Cực đang chết đói, những chỏm băng vỡ, đến những hòn đảo nhựa ở Vịnh Mexico. Các bạn độc giả thân mến, tôi không khuyên các bạn làm theo phương pháp này. Hãy chuyển tiếp những thông tin trên cho ông bác không-quan-tâm-đến-khí-hậu của các bạn, gọi cho các thượng nghị sĩ, rồi tiếp tục với cuộc sống thường ngày. Một vài cú nhấp chuột để lại trong tôi nỗi bất an hơn bao giờ hết và không có bất kỳ sự chắc chắn nào về những gì đang thực sự xảy ra với hành tinh.

Cây Joshua bốc cháy trong trận cháy rừng hủy diệt càn quét qua Hồ Hughes (California, Mỹ) vào tháng Sáu năm 2013.
Ảnh: David McNew

Tôi cần một cách tiếp cận chậm hơn — các tác phẩm được viết bởi những người sẵn sàng nghiên cứu và thấu đạt những kiến thức khoa học trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ, để cùng nhau viết ra lời hồi đáp của con người với cuộc khủng hoảng do chính con người gây ra.

Nói một cách khác, tôi cần sách. Những quyển sách tốt thật sự.

Tôi chưa bao giờ xuất sắc trong môn khoa học và cũng chưa từng tìm hiểu gì thêm từ sau khi tốt nghiệp trung học. Vì vậy tôi hiểu rất ít về biến đổi khí hậu. Tôi đã ném mình vào lịch sử đau thương, về nơi chúng ta đang sống và làm thế nào mà chúng ta đến được đây. Tôi bắt đầu với tác phẩm mang tính bước ngoặt của Al Gore, An Inconvenient Truth (tạm dịch Một sự thật phiền toái) - tác phẩm cho tôi những biểu đồ và số liệu để bám víu khi tôi thu thập những nhận thức về hành tinh mới này. Tôi trải qua tám ngày tàn khốc, đi qua Đợt tuyệt chủng thứ sáu của Elizabeth Kolbert và theo sau đó là Sapiens: Lược sử loài người của Yuval Noah Harari. Hóa ra, sự tuyệt chủng và xóa sổ môi trường đã theo dấu vết di cư của con người kể từ buổi bình minh của giống loài chúng ta, mặc dù điều này đã tăng nhanh theo cấp số nhân trong những năm gần đây. Những thông tin này vẫn không làm tôi cảm thấy an ủi.

Tôi đã quay lại và đọc Mùa xuân vắng lặng của Rachel Carson. Mặc dù không trực tiếp đề cập đến sự ấm lên của khí hậu, cuốn sách đã minh họa xu hướng khủng khiếp của chúng ta trong thế kỷ qua. Đó là thay đổi đặc điểm hóa học của hành tinh theo những cách hung ác nhất, từ phân bón hóa học đến thuốc diệt côn trùng.

Mùa xuân vắng lặng, cuốn sách có sức ảnh hưởng lên thế giới khoa học kỹ thuật tương đương với tác phẩm Nguồn gốc các loài (The Origin of Species) của Charles Darwin.
Ảnh: Nhà Sách Phương Nam

Đó là những cuốn sách kinh hoàng; cùng nhau, chúng đã khiến tôi bắt đầu xây dựng một khu vườn cho bướm và ong, chuyển sang sử dụng sản phẩm hữu cơ và ăn chay tại nhà. Quan trọng hơn, trong khi giải thích tình trạng đen tối của chúng ta hiện tại, những cuốn sách này đã tiết lộ cho tôi một sự thật: chúng ta thực sự đã không đi trên con đường này lâu đến thế. Và nếu chúng ta đã thay đổi cấu trúc của xã hội loài người quá nhanh trong vài thế kỷ qua, chúng ta hoàn toàn có thể làm như vậy một lần nữa.

Vậy nên, tôi chuyển sang các giải pháp. Một cuộc tìm kiếm nhanh chóng trong thư viện đã hé lộ toàn bộ những góc nhìn lạc quan về cách chúng ta có thể làm để giảm thiểu tác động tồi tệ nhất của khủng hoảng khí hậu. Tôi đã xem qua phần tiếp theo cuốn sách của Gore, Truth to Power (tạm dịch Từ Sự thật đến Sức mạnh), cũng như cuốn sách A World of Three Zeros (tạm dịch Một thế giới của ba con số không) của Paul Yunus - người từng đoạt giải Nobel Hòa bình. Tôi đã lướt qua bảng xếp hạng của Paul Hawken về mọi giải pháp thu giữ carbon chúng ta đã biết trong Drawdown - 99 giải pháp ngăn chặn thảm họa từ biến đổi khí hậu. Mỗi cuốn sách vang lên với một niềm hy vọng kiên định vào chuỗi những ý tưởng không ăn khớp này - nhiều ý tưởng trong số đó kêu gọi góp phần xóa đói giảm nghèo và tái phân bổ của cải, điều nghe có vẻ rành rành là không tưởng trên trang giấy.

Nhưng chúng cũng lặp đi lặp lại một điệp khúc chung: chúng ta có giải pháp, chúng ta chỉ cần quyết tâm chính trị. “Chính trị” thực sự đã làm giảm thước đo hy vọng của tôi. Tôi trở lại những kệ sách trong thư viện một lần nữa.

Đến thời điểm này, tôi đã hơi kiệt sức với những cuốn sách phi hư cấu. Vì vậy tôi quyết định nuông chiều bản thân trong những quyển tiểu thuyết. Tôi tìm thấy cli-fi (climate fiction), một thể loại viễn tưởng, suy đoán về xã hội loài người vài thập kỷ trong tương lai rất gần mà các nhà khoa học từng dự đoán. Tôi đi bộ dọc theo bờ biển California hoang tàn cùng với nữ chính của Octavia E. Butler trong Parable of the Sower (tạm dịch Ngụ ngôn Người gieo giống), bão sét, hỏa hoạn thường xuyên và những kẻ cuồng phóng hỏa đáng sợ bị ảnh hưởng bởi ma túy, những kẻ đang “phê pha” trên sự diệt vong của thế giới. Tôi đã cổ vũ những người sống sót sau trận dịch hoành hành trong The Year of the Flood (tạm dịch Năm của trận Đại hồng thủy) của Margaret Atwood.

Bất chấp những điều khủng khiếp trong những cuốn sách này, nhìn chung, tôi cảm thấy gần hơn với những gì tôi muốn: một bức tranh tinh thần về cách làm-một-con-người trong thời đại biến đổi khí hậu. Đáng sợ quá, phải không? Nhưng tôi đã nhảy quá xa vào tương lai. Thực tế là chúng ta đã thay đổi cả hành tinh. Tôi cần học cách sống ấy ngay bây giờ, trước khi những viễn cảnh tồi tệ kịp trở thành sự thật.

Tôi tìm thấy những chỉ dẫn đó ở một nơi chốn không ngờ: những câu chuyện kể địa phương được viết bởi các cây bút về môi trường. Thời còn là một sinh viên cao học, tôi từng gọi chúng là “lời-của-thiên-nhiên”, “chậm”, “chán” và “eww”. Nhưng càng đọc, tôi càng nhận ra rằng “lời-của-thiên-nhiên” là, và có lẽ luôn luôn là, những gì nguyên sơ nhất.

Những cây bút này quan tâm sâu sắc đến những nơi chốn cụ thể, đủ sâu để biết tên của từng bông hoa, từng cái cây và từng con ốc. Trước sự tàn phá sắp xảy ra, họ từ chối ngoảnh mặt làm ngơ. Từ một Rick Bass nài xin “hãy bảo vệ một thung lũng Montana chưa phát triển” trong The Book of Yaak (tạm dịch Sách về thung lũng Yaak), đến một Lauren Groff vật lộn với nỗi lo về tình trạng dễ bị tổn thương của quê nhà ở bang Florida, đến Elizabeth Rush ghi lại quá trình xóa sổ bờ biển nước Mỹ với những tiếng nấc đau lòng. Mỗi ấn bản đã cho tôi những gì tôi cần biết. Chúng đã cho tôi một chỗ đứng trong thực tại mới này, nơi, như Rush mô tả, "Niềm tin của tôi vào các quá trình tự nhiên, vào hệ thống tương hỗ phức tạp mà tôi được nuôi dạy để tin rằng phải giữ gìn cho thiên nhiên không bị mất cân bằng, đã mất đi." Đó không phải là một nơi thoải mái hay lạc quan gì. Nhưng đó là nơi để trở thành con người, để dễ bị tổn thương, để sợ hãi, để than khóc, đồng thời để thích nghi.

Tôi cần không gian này, và tôi nghĩ tôi cần một hành trình dài để vào trong đó. Tôi cần học lại lịch sử của trái đất, đọc qua sự khủng khiếp của cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang phải đối mặt và xem xét những điều chúng ta có thể làm để đối diện với những gì đang tới.

Đặc biệt, với tư cách là một bà mẹ làm việc tại nhà, với hai khuôn mặt ngây thơ luôn tươi cười với tôi mỗi ngày, tôi cần phải can đảm đọc những biên niên sử trung thực của những người đang sống qua thời khắc này. Tôi cần ngồi cùng thuyền với họ, với hy vọng rằng chúng ta có thể tự cứu lấy mình, và rằng chúng ta vẫn đáng được cứu.

Tôi không thể nói rằng nỗi lo âu của tôi đã được xoa dịu. Tôi vẫn lo lắng cho các cô con gái của mình. Tôi sợ rằng một ngày nào đó chúng sẽ trách móc tôi vì đã không làm nhiều hơn để ngăn chặn cuộc khủng hoảng mà tôi biết là đang đến. Nhưng khi tôi muốn ngoảnh mặt đi, tôi nhớ rằng đã không còn nơi nào để nhìn sang nữa. Tôi gieo thêm một vài hạt giống trong vườn, thứ tốt cho lũ bọ và thu giữ carbon nhiều hơn bất kì điều gì khác.

Chỉ là một khu đất nhỏ, nhưng đủ để con thằn lằn đẻ trứng vào một cây đậu bắp.

Bốn con ong ghé vào mỗi buổi sớm mai, đánh chén no nê những bông hoa mướp vàng tươi; những bông hoa nở, héo và tàn đi chỉ trong một ngày. Tôi ghé mắt nhìn chúng gần hết mức có thể. Chúng mang theo một loại bình yên. Mặc dù tôi biết, hôm nay, những điều đó mong manh tới mức nào, tôi cứ bất chấp vay mượn những bình yên ấy, mang theo mình, cho đến khi tôi lại ra vườn tưới nước vào sáng hôm sau.

Hết.

ichigo lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Elizabeth Putfark, đăng tại Literary Hub.

*

Những bài viết có cùng chủ đề môi trường & thiên nhiên



Đọc bài viết

Cafe sáng