Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Call Me By Your Name: Còn gì để kể ngoài tiểu thuyết tuổi mới lớn?

Tại sao lại là “gọi em bằng tên anh?”? Đó là “anh” đang thuyết phục “em” trong một nụ cười buồn hay “em” đang gợi ý cho “anh” trên đôi môi sau nụ hôn vui đây?

Published

on

Tôi tin vào một câu của các bạn trẻ “Huấn luyện viên thì không ra sân” và mù quáng cộng thêm niềm tin vào cả cái mệnh đề ngược của nó. Ít có nhà văn nào thực sự nổi lên khi đang trong giảng đường hay làm ngành báo chí in ấn. Họ đều là những gã tay ngang bộc phát trong một cơn hoành hành của xúc cảm và diễn tiến tâm lý phức tạp tiềm ẩn. Cứ viết rồi được tung hê. Nhưng André Aciman là một ca thú vị nhưng không hoàn toàn là quá hiếm, và ông cũng không phải thực sự kinh điển gì cho lắm để mà lôi ngành nghiệp ra làm thú đặc biệt. Thực sự, cách mà André đến với ta mới đáng kinh ngạc. Đọc tiểu thuyết đầu tay của ông, ta chắc ngẩm đây là của một tay viết trẻ trung năng nổ, mới vào nghề và lập cú đúp như kiểu Old Town Road đây, nhưng không. Lần giở tiểu sử và ông khiến kẻ đọc rong chơi như tôi ngạc nhiên khi một nhà báo, giảng viên và học giả như ông lại lấn sân một cách đáng sợ như vậy. Và cú đúp Call Me By Your Name là điều phải có, là thứ nội lực ông đã tiềm tàng trong Out of Egypt, về một tính văn chương bùng nổ hơn, đi nguy hiểm hơn so với khi vận áo vest quần tây lên giảng đường và tốn nước bọt (tôi thích cà khịa những vị giáo sư kiểu vậy, nó vui). Đó là giọng văn trữ tình, lai láng ẩn sau cuốn hồi ký đạt giải Whiting trên, và một loạt truyện ngắn vô danh (với tôi, với độc giả Việt Nam) nữa. Gọi em bằng tên anh xuất hiện không quá bất ngờ với những ai đã theo dõi hoặc biết ông thầy này.

André Aciman trong buổi phỏng vấn với Charles Shafaieh.
Nguồn ảnh: Kinfolk Magazine

André Aciman đủ sức biết mình đang làm gì khi từ một ông giáo làng ngoan ngoãn (mà sau này là giáo New York, giáo Princeton) chuyên viết các loại bài xã luận, khảo cứu sang hồi ký, rồi tiếp tục đánh một cú home-run vào các tầng lớp khán giả thấp hơn một tí. Như một sự tính toán kiểu Haruki, và hoàn hảo thay, ông tới với độc giả trong con mắt ngưỡng mộ chỉ với một cuốn gay-fiction: Call Me By Your Name. Con người đó đủ sức tạo ra một sự mê hoặc đáng kể khi thể hiện nó dưới cú pháp viết tương tự của Proust, một nhà văn ông biết rõ hơn ai hết. Rõ ràng, trong Gọi em bằng tên anh, ông ta hiểu rõ một tiểu thuyết diễm tình thì sẽ khác với hồi ký như thế nào. Ta hiếm thấy một cuốn gay-fiction nào được nhắc tới và biết đến rộng rãi như tác phẩm này của André: ở quê nhà với cả truyện lẫn phim bom tấn khuấy đảo giới LGBT+ và ở Pháp, cái nôi của sự lãng mạn, nơi cuốn này được đọc đi đọc lại bởi hàng chục ngàn người mỗi năm và in đi in lại mệt nghỉ.

Nói Call Me By Your Name diễm tình từ ngay cái bìa (của Trẻ lẫn của Farrar, Straus and Giroux) không ngoa, nhưng có lẽ ta sẽ chọn mua bởi vì cái tên sặc mùi ngôn tình giới trẻ. Tại sao lại là “gọi em bằng tên anh”? Đó là “anh” đang thuyết phục “em” trong một nụ cười buồn hay “em” đang gợi ý cho “anh” trên đôi môi sau nụ hôn vui đây? Sở dĩ, quá nhiều câu hỏi được đưa ra xoay quanh cái tựa khá romantic lần mới này – nó gợi ý ta về một cuốn ngôn tình còn ướt át hơn Sài Gòn mấy ngày mưa.

Nhưng ngay từ lúc đầu tiên, André đã chứng tỏ mình không thuộc đẳng cấp đó. Một đẳng cấp cao hơn (hoặc chống chế để lắt léo hơn). Sở hữu một cốt truyện cũ nhạt, tình yêu giữa Elio – mười bảy tuổi, con của một gia đình chữ tràn cả ra ao và Oliver – một học giả luyên thuyên về chữ nghĩa và Heraclitus. Có vài yếu tố ngoại cảnh và có vẻ lãng mạn nữa xen vào, nhưng ý định của André chắc chắn là không để cốt truyện thêm drama tí nào, chỉ là họ cần thiết được đặt ở đó. Ông bà Pearlman, già Anchise, dì Mafalda, con bé Chiara, đứa bé bệnh bạch tạng bị bắt đội mũ vành rộng ngồi trên tảng đá Vimini,… Họ không được đưa vào với nghĩa vụ làm kịch tích cốt truyện, xoắn não gì, họ ở đó để làm rõ ràng tình yêu của hai người trẻ này, thứ mà chính tác giả luôn nỗ lực làm cho mờ đi bằng ngôn từ dài dòng kiểu Proust của mình (!?).

1. Trong tấm gương của Proust, đọc Gọi em bằng tên anh.

“Tuyệt nhiên có thứ gì bắt đầu sớm sủa hơn tôi nghĩ rất lâu, một sự dao động tôi cũng không nhận ra được. Bạn thấy ai đó, nhưng thực sự bạn đâu có thấu, anh ta như núp sau sân khấu hoành tráng, sau tấm mành. Hoặc bạn có thể để ý anh ta, nhưng chẳng có thứ gì xảy ra nữa, dù nắm bắt hay đuổi dạo cũng không. Chỉ chớm khi bạn nhận thức được sự hiện diện ấy hoặc điều làm bạn băn khoăn đôi chút thì sáu tuần đã trôi qua như gió, đến lúc anh đi rồi hoặc sắp sửa đi, và bạn đành vật lộn để chấp nhận rằng đã có một điều gì đó vô thức nung nấu hàng tuần ngay dưới mũi bạn, có đầy đủ triệu chứng của thứ bạn buộc phải gọi là tôi muốn. Bạn hỏi tại sao tôi lại không biết? Tôi biết khát khao là gì, nhưng lần này, nó trượt qua tôi hoàn toàn. Tôi mải kiếm tìm nụ cười ma mãnh đột nhiên bừng lên trên gương mặt anh khi đoán được tôi đang nghĩ gì, trong khi thứ tôi thực sự muốn giờ đây chỉ là da, chỉ là da, hoặc da trên da.”

– Trang 15, Gọi em bằng tên anh1

“Linh hồn của Marcel Proust đóng đô ở đây… “, Erich Ormsby (who?) đã nhận xét như thế và tôi đồng ý. Với một người thích Proust, tôi không biết ông này muốn khen hay muốn khẩy (tôi nghĩ là khen vì khẩy đời nào người ta cho vào đầu sách), nhưng thực sự, chất của Proust một phần làm nên sự thành công trong lòng người đọc của cuốn truyện này. Ở đó, ta bắt gặp những dòng ý thức tràn từ trang này sang trang khác, chương này sang chương khác bằng suy nghĩ miên man của Elio. Cấu tứ hoàn toàn toại nguyện, cách huy động trạng từ một cách triệt để trong cuộc đối thoại với cái mặt thứ ba (khán giả). Tác giả huy động tới hơn năm trạng từ kiểu Conrad rất phiếm chỉ và ít cần thiết trong một đoạn văn nhỏ trên: really (thực sự), by completely (hoàn toàn), suddenly (bất chợt),… hay chuyển đổi cảm giác một cách lý tính, đều là phong cách của Đi tìm thời gian đã mất. Elio có quyền, André có quyền hành người đọc của mình vật ra bằng những dòng văn không đầu không cuối, và toàn là những tư liệu hình như là quá ít và quá cá nhân để ta có thể tựa vào một cốt truyện vững chãi. Đó đơn giản chỉ là một buổi chiều và thằng trai tơ này nhìn vào các loại màu quần của “crush” và suy nghĩ, hoặc là chỉ cảm tác về một từ “gặp sau” ở cả chục trang phân đều ra các chương trong toàn tiểu thuyết. Và tiếp tục, ông lại kéo ta vào trong màn mưa mịt mờ của ngôn từ khi đưa cho chúng ta quá nhiều kiến thức hàn lâm: văn học, ngôn ngữ học, hội họa, nhạc lý. Ý tôi là, Elio chủ ý gì khi cứ một tí lại có một đoạn ta cảm giác ta quá ngu để hiểu một số kiến thức khá hàn lâm (với tôi). Điều này, trôi qua tôi như nước lũ mùa hạ và tuột luốt sang bờ biển Địa Trung Hải ngay lần đọc đầu tiên. Tại sao ông già này lại phải hành tôi bằng Heraclitus, bằng Liszt, Bach, Monet, apricot, mimish, bằng tiếng Đức, tiếng Ý? Ông đang cố chứng tỏ điều gì với một độc giả tầm tệ như tôi thì tôi chẳng biết, nhưng tôi đã vứt ngay cuốn sách khi có vài đoạn y như André nói chưa đã trên giảng đường và bê nguyên đống sắt đó vào trong tôi.

Nhưng trong một ngày đẹp trời nào đó, tôi nhận ra, chúng ta không cần phải hiểu tất cả những gì André viết, ta chỉ cần cảm. Đó là một hiệu ứng khá tâm lý, kiểu Freud hoặc Jung gì đó. Đại loại, thủ pháp khi đưa lần lượt và từ từ vào đầu người cảm nhận một số loại kiến thức khó hiểu cùng với nhân vật và cốt truyện (dù ít) thì tạo ra một hiệu ứng mù mờ (blur effection) trong văn chương. Ta chỉ có thể để ý những chi tiết nhỏ để lộ về cảm xúc và từ dân dã mà tác giả bỏ nhỏ ra, để quyết định cấu tứ chủ đạo của phân cạnh. Rõ ràng, ông rất khéo léo khi mà không chỉ đem lại sự mù mờ và vô định trong tác phẩm (đối với nhân vật) mà còn đem những cảm xúc thực với (đối với người thưởng thức). Và điều này thú vị thay, khi ta như có được một phần đồng cảm mà không phải là con người quá đa cảm đa sầu. Tức là ông ta đã tính toán theo hai chiều song song, nếu bạn chai sạn, bạn rơi vào lưới mù mờ vì bạn chỉ đi phân tích xem ở đây ông ta ý đồ gì; nếu bạn đa mang, bạn lọt một lần hai hố: ngôn từ tú lệ và hiệu ứng kể trên. Chỉ khi nó trôi qua bạn và vô hiệu khi bạn nắm được tất cả kiến thức tác giả bung ra (hơi khó). Nhưng nói gì thì nói, André chỉ là một người phân tích tập tành ứng dụng lý thuyết, là Proust con. Tính thô cứng của một vị giáo sư đôi khi làm tôi không khỏi chán chường với những đoạn ý thức dài dằng và không thể nào đọc nổi. Mà dù có đọc cũng chỉ thấy mệt mỏi thêm. Ở đây, tôi xin phép lấy những trang đầu tiên của chương ba (Hội chứng San Clemente) làm dẫn chứng khá là bi quan. Trong khi chương liền trước (Gò vẽ của Monet) với đoạn cuối làm tôi khá hài lòng, và nếu được tôi chỉ muốn cắt phần đầu của chương ba để gắn vào đuôi chương này. Ta thấy cuối chương hai, người kể là Elio bỏ lửng và kể ít về chuyến tàu làm tốt hiệu ứng gây tò mò, thì chương ba, ông này lại phá đi cái tính nghệ thuật đã dày công xây từ trước, chỉ để một vài dòng ý thức vô vị chán chường. Trong khi tôi cần Rome, thì anh kể về xe. Tôi chán văn anh. Đối với Proust, ta can tâm tình nguyện đọc ngàn trang Đi tìm thời gian đã mất vì ở đó ông ta làm ta mãn nguyện khi bị vật bởi ngôn từ hào phóng và quyến rũ, nhưng nếu ông tiếp tục làm như thế thì chẳng khác nào làm độc giả mệt mỏi. Và tôi thì quá lười biếng để chịu đựng quá ba bốn trang.

2. Tính điện ảnh của Call Me By Your Name và sự tương tác giữa phim và truyện.

Như trên tôi đã nói, Gọi em bằng tên anh đủ sức thu hút giới trẻ bằng những khung cảnh và phân đoạn được dàn dựng thơ mộng như điện ảnh Hollywood, một mỹ cảm đẹp đẽ xa lạ đầy lôi cuốn:

“Tôi đã say đắm cái kiểu thời tiết tháng Tám. Thị trấn vắng vẻ và yêu kiều hơn thường lệ bởi vì kỳ nghỉ, nhất là trong những tuần lễ cuối cùng của tháng mùa. Lúc ấy, những cư dân rời thủ phủ của mình cho những ngày ‘la vacanze’, và những đợt du hí theo mùa thường đem khách của họ rời khỏi trước bảy giờ tối. Tôi đã yêu những buổi chiều hơn hết, mùi của những loài hương thảo, cái nóng râm ran, những loài thiên di bằng đôi cánh, hay những loài ở lại với tiếng kêu hè còn sót. Thân cọ đu đưa tấm hình dìu dặt, sự im lặng vắt qua cõi thế như tấm khăn choàng lụa lanh mỏng tanh khi nắng sớm làm ta phải kinh hãi. Tất cả những thứ này làm việc thả bộ xuống bãi biển và trở lại phòng tắm trên lầu thêm phần ý vị. Tôi cũng đã thích việc nhìn chung quanh ngôi nhà mình từ sân tennis và tưởng tới những nơi ban công vắng nhúng mình trong ánh nắng chiều hôm, biết từ ai trong số bọn họ, bạn có thể phát hiện ra biển là vô tận. Ban công của tôi, mênh mông thế giới của tôi. Từ chỗ tôi đang ngồi bấy giờ, tôi có thể kể: đây là sân tennis, kia là mảnh vườn, vườn quả mọng của chúng tôi, kho chứa đồ của chúng tôi, nhà cửa, và những thứ ở thấp hơn là cầu gỗ bước ra mé sông, cũng của chúng tôi, những thứ tôi cần và tôi quan tâm đều hiển lộ ở đây. Gia đình, đàn nhạc, sách báo, dì Mafalda, Marzia, và anh, Oliver.”

– Trang 260-261-262, Gọi em bằng tên anh

Timotheé Chalamet trong một cảnh phim Call Me By Your Name
Nguồn ảnh: nme.com

Rõ ràng, tác giả đem tới một phong các ngụ tình kiểu Jane Eyre khi miêu tả chính xác tâm cảnh khi đan xen hình cảnh, mà ở đó quá đẹp khi dàn trải trong trí tượng tượng. Cách chọn bối cảnh là một mùa hè Địa Trung Hải nóng bỏng nhưng trải dài với những bãi bờ lau sậy và đường cỏ phơi phới làm câu chuyện có vẻ đầy sôi động và cháy bỏng. Ta có những le vancaze (kì nghỉ dài), rosemary (cây hương thảo), the sway of palm fronds (cái đu đưa của những lược lá cọ), empty balconies bask in the sun (những hành lang vắng tắm nắng), limitless sea (biển vô tận). Hay cao cấp hơn với phép liên tưởng độc đáo: dải lụa lanh như một sự im lặng phủ mờ cảnh sáng nóng kinh hãi, con đường vào nhà với lối kiến trúc cổ xưa mà nhạc piano làm chuẩn,… Một cách chuẩn xác thay, tĩnh và động nhịp nhàng kết hợp với tính từ đặt trước đem lại thứ văn chương màu mỡ về chất dựng hình. Nhưng tempo truyện dường như chậm và không nhịp nhàng bắt khớp với bối cảnh thuần điệu. Ở đó, hoạt động của các nhân vật luôn cũ cổ, rất chậm rãi và thong dong: cảnh làm bếp, cảnh những con phố xe qua,… Điều đó làm rối nhiễu tư duy tiếp cận và buộc ta phải lựa chọn một đức tin chính; và đa phần, ta chọn cảnh trầm lắng, chầm chậm, thong thả. Đó là tư duy rất điện ảnh, rót vào người xem những phong cảnh đẹp mà chậm, đủ để người ta có thời gian chiêm ngưỡng và thưởng nguyện sự tưởng tượng được khơi mào rất tốt của chính mình.

Chủ nghĩa hoàn hảo được ứng dụng trong phép dựng cảnh. Bối cảnh hiện ra đôi lúc phi lý trong cách đưa vào thực tế (đôi khi các cảnh trí được bố trí một cách phi logic nếu trải lời văn ra mặt đất), nhưng nó hướng tới một mục đích cao cả hơn, tạo mỹ cảm cho người đọc cảm nhận được chất hoàn hảo mà tác giả cố gắng đem lại. Và cũng là đất để nhân vật tự do thể hiện tình cảm và hoạt động theo tuyến tính chia nhỏ của mình. Chúng phù hợp cho nụ hôn, chúng phù hợp cho cái ôm bởi vì cách thúc đẩy họ, một động lực vừa đủ, vừa vặn. Đôi khi ta bắt gặp chủ nghĩa hoàn hảo tương tự như Oscar Wilde, trữ tình thuần túy của Walt Whitman, nhất là khi Elio nghĩ về Oliver sau những giờ hạnh ngộ trĩu nặng tâm tư.

Như Chicago Tribune3 đã thống kê, gần nửa số người đọc Call Me By Your Name sau khi đã xem qua phim hai đến ba lần. Dễ dàng hiểu được, phim tạo mới sức vang quá lớn và lời PR to chưa hề có cho cuốn tiểu thuyết này của André. Thắng giải Oscar, cảnh quay quá đẹp và lãng mạn, dàn cast thủ vai nhập tâm cùng bộ phận xử lý âm thanh thiên tài làm ta phải tìm đến ngọn nguồn của bộ phim để mà đọc truyện. Nhưng nó mang lại một hiệu ứng khác, hiệu ứng mà có lẽ André đã mong chờ và Luca Guadagnino đã đoán được. Tư duy tưởng tượng về khung cảnh và nhan sắc định hình nhân vật bị chặn đứng vì có người đã nghĩ giùm ta, nhưng nó hoàn toàn đẹp đẽ và chẳng ảnh hưởng gì mấy. Cảnh phim sát với cảnh truyện, và André chắc mãn nguyện vì sự thiếu hụt này, Luca chặn đứng tưởng tượng của người đọc tốt, và tôi thích bị chặn bởi những cảnh phim và dàn cast như vậy.

Nói như vậy không có nghĩa là một nỗi thiệt cho những người tiếp cận truyện bằng phim, André không thể lường trước truyện mình mười năm sau khi viết lại được tung hê đến vậy, ông đã tự tính cho mình bằng những cách viết rất điện ảnh, rất hiển lộ đã kể trên. Và khi đã có phim, tôi cũng nghĩ đó là một sự trợ giúp đáng khen ngợi từ phía tác giả trong việc nỗ lực để người đọc tự suy nghĩ ra bối cảnh bằng những trang viết gợi ý có vẻ khá dài và khá đẹp.

3. Gọi em bằng tên anh liệu có phải là một bước đi bốc đồng không?

Tôi nghĩ lý trí của một kẻ đứng giảng đường cùng cái đầu lạnh của André không cho phép ông lơ là dù ta đang đòi hỏi một câu chuyện thực sự khêu gợi và thả dòng cho tự trôi tự chảy. Dù có những đoạn dường như chỉ có cảm xúc mới thi triển được thì ông chen vào đó gần như là lý trí để mó tay thêm thắt một vài thứ nghệ thuật tâm lý học. Có thể đổ cho bệnh nghề nghiệp nhưng nó tạo cho ta nhiều thứ còn vui hơn để cảm xúc thành dòng như vậy.

Không phải trùng hợp và đột nhiên mà cả mấy cuốn sách về chủ đề này luôn để nhân vật ở độ tuổi tầm mười bảy, mười tám đổ lại. Dường như ở đó, con người ta tập trung đủ mọi cảm xúc khi yêu đương. Có thể một chút hân hoan kiểu nhục cảm khi kề trái ngọt bên môi, sợ sệt vì bị phát hiện hoặc lo lắng, bồn chồn đến kinh hãi. Elio cũng vậy, từ ghét chuyển sang yêu, qua một đêm chuyển sang ghét và nỗi đau chuyển hóa không ngừng nghỉ sang mọi dạng thức khác nhau của tính sợ cô đơn của một kẻ chớm trưởng thành. Ở cậu có một cảm xúc khác, sự chiến đấu giữa lý trí và tình cảm. Với sự hiểu biết về tình yêu và ý thức được Oliver là ai và sẽ thuộc về đâu, cậu chống lại toàn bộ cảm xúc của mình. Gây ra một sự mâu thuẫn đáng yêu. Luôn muốn yêu thật nồng nhiệt nhưng biết chắc chắn càng nồng nhiệt sẽ càng đau đớn về sau. Nỗi tiềm thức sợ đau đớn và nỗi cô đơn và mong muốn yêu hết mình xâm lấn không ngừng nghỉ, biến đổi linh hoạt bằng dòng tâm tư không rõ làm người đọc không biết mình đang ở đâu trong dòng chảy đó.

Với tôi, một con người cổ hủ truyền thống tập bú mớm truyền thông, tôi ưa thích cảnh Elio và Chiara làm tình trên gác. Tôi bất ngờ về cảnh đó vì nó đáng lý phải đặt ở chỗ sớm hơn hoặc trễ hơn một tí. Khi nỗi đau không có hoặc nỗi đau quá lớn thì sẽ giải thích một cách dễ dàng hơn: bằng lý lẽ là phủ nhận hoặc phủ lấp khoảng trống. Nhưng việc đưa vào chính giữa tập hợp được cả hai lý lẽ trên. Đó là, khi tình cảm của mình với Oliver đã rõ mươi mười, Elio sử dụng Chiara như một que thử thai. Nhưng không thử bằng nước tiểu mà thử lòng mình, ta có thể hiểu nỗ lực đó là sự xác nhận lại bản thân mình, hoặc bất lực của một thân xác, hoặc trần trụi hơn, sự lên ngôi của tính dục và mong muốn chiếm hữu lên cao.

Tiếp theo, khi hai người đã có nhau, tình yêu đó được làm rõ bằng một buổi làm tình với nhau đầy khoái cảm thì ta bất ngờ bị chính Elio đánh ót. Tâm lý lại biến chuyển thành sự ghê tởm chính người tình trong mơ của mình. Đó là thứ mặc cảm độc hại, nó sẽ xâm chiếm và ta sợ nó sẽ không kiềm chân được một khách bộ hành như Oliver. Ta thấp thỏm lo sợ, nhưng sau đó André làm ta thở phào. Họ tiếp tục, họ lại yêu nhau bằng những tuần cuối cùng ngắn ngủi.

Thứ dụng ý nghệ thuật tôi thấy thú vị nhất mà André cố tình chen lý trí vào dòng tâm tưởng chính là đoạn chia tay. Ông ta không để Elio yên bằng một cuộc tiễn đưa Oliver, mà chính Elio sẽ phải bị bỏ lại trong sân ga đầy mùi nước uế và tạp phẩm, nhìn chuyến tàu đó đi xa mãi. Họ lao vào cuộc chia tay tạm bợ, cái bẫy trêu ngươi đầy dụng ý của tác giả, thỏa mãn và vui thú ở Rome, San Clemente, hội quán sách trong một nỗi chia lìa sắp tới. Niềm vui họ có ở Ý đã quá lớn, Elio rồi phải bị bỏ lại và ký ức đó sẽ tấn công cậu chàng và phương hại anh ta trong nỗi đau của người ở lại.

Đến đây, khi tới tận cùng của nỗi đơn côi và dòng tâm tưởng miên man của Elio, ta bỗng nhận ra sự thiếu hụt tư liệu cảm xúc của Oliver. Ta nhận ra ngôi thứ nhất thuộc về Elio chặn đứng nỗ lực ta tiếp cận với đối phương bên kia. Oliver bản thân đã là một vùng đất khó tiếp cận, ngôi một lại không thuộc về anh và không quá đi sâu về anh ta, làm ta cảm giác mù mờ trong tâm lý anh này. Hai mươi năm sau đó, cảm xúc này được đưa lên đỉnh điểm bằng một cú sốc mà ta tưởng sẽ chẳng bao giờ xảy ra: anh này cưới vợ và tái ngộ Elio. Hai người đã là hai ông già, và đến như thế thì ta vẫn thiếu thông tin về nhân vật chính này. Chỉ biết đó là một người đã có vợ, già nua xấu xí và khú đế, một kẻ tư tưởng hết thời.

Như thế, với một cốt truyện không mới và cách thể hiện dường như thuộc về tay của một nhà văn đi trước hơn trăm năm, nhà văn cũng biết cách tạo cho mình những lối đi riêng khá an toàn bằng sự tính toán của mình. Ông đủ vững chãi để dắt mũi người đọc đi qua con đường zigzag tâm lý của Elio, một cách đủ, đầy, và nên như vậy. Một sự khảo cứu chất lượng, ấn tượng và rõ ràng, bậc thầy.

4. Call Me By Your Name – Có vượt qua giới hạn của truyện tuổi mới lớn?

Tôi nghĩ là không. Xin lỗi phải từ chối mọi nỗ lực đem truyện tuổi mới lớn lên một tầm cao mới kiểu Salinger hay Charles Dickens thì tôi sẽ vẫn coi đây là một tiểu thuyết cho giới trẻ. Thật sự, André chưa có một cốt truyện thực sự ấn tượng và mang tính biểu tượng để có thể truyền cảm hứng và bật dậy mạnh mẽ như Bắt trẻ đồng xanh từng làm, cũng chẳng có sự tinh quái và twist độc đáo của David Copperfield. Nó nên hợp để dạy trẻ con xác định tâm lý, hoặc đọc để mà cảm động và du hành qua mọi cung bậc cảm xúc và sự mỹ mãn của thế giới tác giả dày công xây dựng. Vượt qua mọi tính nghệ thuật và ngôn từ khéo léo, tính tư tưởng và biểu tượng không cao của truyện làm nó sẽ lướt qua những người khó tính như bốn chai Aquafina hai lít nước mỗi ngày. Nhưng dù sao, Call Me By Your Name là một địa chỉ hay ho dễ cưng cho những người tìm tới văn học gaylit, nó đưa văn học trẻ đến với những mỹ cảm sâu xa hơn về tính dục, tình yêu và ý thức chiến đấu giữa lý trí và tình cảm. Và có lẽ, nó sẽ để qua trong lòng ta một thứ gì đó gọi là rung cảm, vì những điều tinh túy nhất tác giả đã cài vào, Find Me cũng phải tìm những tinh túy khác để thoát ra khỏi bóng của người anh trước. Song, tôi chân thành xin lỗi cả André lẫn Colm Tóibín khi nếu lần tới đây, khi tôi thấy Giovanni’s Room chung hàng với Call Me By Your Name, tôi sẽ lén tay để cuốn của André xuống một hàng, hoặc James lên hai hàng. Nếu nhà sách chịu. 

Hết.

Gia Bin

Chú thích:

  1. Mọi trích dẫn đều từ bản sách Call Me By Your Name của nhà xuất bản Picador. Phần biên dịch do người viết tự thực hiện dưới sự tham khảo bản dịch của Nhật Khoa.
  2. Theo bài viết ‘Call Me by Your Name’ review: At long last, first love của Chicago Tribube.

Đọc tất cả những bài viết của Gia Bin.


Bài viết có chủ đề liên quan



2 Comments

2 Bình luận

  1. Lưu Lưu

    Tháng Tám 23, 2019 at 3:45 chiều

    Bài này em đọc trong group rồi nè, rất ấn tượng với bài viết của bạn Gia Bin này: đầu tiên là về cái độ dài- không muốn đọc mà đi lướt thì mỏi tay à nha, thứ hai là cách trình bày từng phần một rất rõ ràng khoa học và tiếp theo là lối viết của bạn ấy. Thực sự bị thuyết phục bởi bài của bạn trong flash review 1.

  2. Pingback: Nhà Bookish Squad thích đọc gì? Kì 1: Giới tính, Drama, Giải thưởng văn học. – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Mọi người đều nói dối, còn dữ liệu thì không

Người ta nói dối với bạn bè. Họ nói dối với ông chủ. Họ nói dối với trẻ em. Họ nói dối với cha mẹ. Họ nói dối với bác sĩ. Họ nói dối với chồng. Họ nói dối với vợ. Họ nói dối với chính mình.

Published

on

By

moi nguoi deu noi doi

Bạn có bao giờ thắc mắc: Vì sao Trump đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 2016, dù các cuộc thăm dò ý kiến cho ra kết quả ngược lại? Ông từng lên tiếng xúc phạm rất nhiều nhóm thiểu số, và các cuộc thăm dò cho biết ít người Mỹ nào chịu bị xúc phạm như thế? Và dù rất nhiều cử tri có-vẻ-sẽ-đi-bầu cho biết họ không ưa gì ông lão da cam và cái quan điểm khó nuốt của ông ấy?

Kết quả như ai cũng biết: Trump đã có 4 năm ngồi ở chiếc ghế cao nhất nước Mỹ từ năm 2016 đến 2020. Tại sao kết quả thực tế lại khác với kết quả của những cuộc thăm dò khảo sát?

Nguyên nhân kỳ thực đơn giản, bởi vì ai cũng nói dối.

Người ta thường nói dối – với chính mình và với người khác. Người Mĩ da đen báo cáo với các cuộc thăm dò rằng họ sẽ đi bầu với số lượng lớn để chống lại Trump. Nhưng các kết quả tìm kiếm Google về thông tin bầu cử tại những vùng chủ yếu là người da đen lại rất thấp. Vào ngày bầu cử, Hilary Clinton bị thiệt hại bởi số người da đen đi bầu thấp.

Dữ liệu tìm kiếm tiết lộ rằng chúng ta sống trong một xã hội rất khác với xã hội mà giới hàn lâm và báo chí – dựa vào các cuộc thăm dò – vẫn tưởng.

*

Mọi người đều nói dối là một trong những công trình nghiên cứu mang tính cách mạng của tác giả Seth Stephens-Davidowitz về “bộ mặt thật” của Internet. Chính nhờ nguồn dữ liệu khổng lồ từ Google, Facebook,… mà Seth đã thành công trong việc khám phá ra nhiều thói quen mà đôi khi chính chúng ta cũng không nhận thức được từ những hoạt động của mình trên thế giới mạng.

Dữ liệu lớn (Big Data) là khái niệm đề cập đến hàng nghìn, hàng tá những thông tin trôi nổi trên Internet, phần nhiều lượng thông tin này được lưu chuyển từ Google cũng như các phương tiện truyền thông xã hội. Trong một thời đại mà người ta dối trá lẫn nhau, Google trở thành nơi chứa đựng những bí mật, những điều mà con người thực sự muốn nói. Khi có triệu chứng bệnh, bạn hỏi "bác sĩ Goo" xem mình bệnh gì; khi có khúc mắc tâm lý, bạn tìm lời khuyên bảo từ "phòng tư vấn Goo".

Ừ thì chúng ta biết Google lưu trữ một lượng thông tin khổng lồ đấy, nhưng chúng ta khai thác được gì từ nó?

Tại Mỹ, bao nhiêu phần trăm nam giới là đồng tính? Bạn nên nói về điều gì trong ngày hẹn hò đầu tiên nếu bạn muốn mối quan hệ được đơm hoa? Vì sao Donald Trump đắc cử vào năm 2016 trong khi nhiều chuyên gia dự đoán rằng ông sẽ không thể trụ nổi? Các đại học danh giá có thật sự đào tạo được nhiều nhân tài hơn các trường khác không?

Nhờ khai thác dữ liệu lớn, Seth tìm được câu trả lời cho những vấn đề tồn tại trong xã hội Hoa Kỳ, từ nhỏ đến vĩ mô, từ gần gũi đến hóc búa. Mỗi câu hỏi đặt ra được tác giả lần mở thuyết phục. Một mặt ố á trước những vấn đề nan giải bỗng có lời giải, người đọc - mặt khác - rùng mình trước suy nghĩ rằng Internet biết quá rõ về những mặt sâu thẳm nhất của chúng ta, và nó sẵn sàng tiết lộ tất cả một khi được khai thác.

Người ta thường nói dối – với chính mình và với người khác.
Ảnh: Ecoblader

Mọi người đều nói dối, vậy quyển sách này nói điều gì?

Thứ nhất, đúng như tên quyển sách đã đề ra: ai cũng nói dối.

Nhiều người nói dối hoặc nói giảm nói tránh về các hành vi và suy nghĩ đáng xấu hổ của mình trên khảo sát để làm bản thân trông có vẻ tốt đẹp hơn. Và không chỉ nói dối người khác, ta còn tự lừa dối chính bản thân.

Họ nói dối số lần đi tập gym một tuần, về giá đôi giày mới mua, và cả về chuyện có đọc quyển sách mà họ đã nói hay không. […] Họ nói họ yêu bạn dù rằng họ không hề yêu. Họ nói họ vui dù rằng đang buồn chán. Họ nói họ thích phụ nữ dù thực tế họ thích đàn ông.

Tác giả chỉ ra nhiều người trả lời khảo sát rằng họ ủng hộ dân đồng tính, nhưng một khi đối tượng là con họ thì đây lại là một câu chuyện khác. Các bà mẹ giấu đi định kiến tại những cuộc thăm dò công khai, và chỉ tiết lộ sự thật ở một nơi mà họ nghĩ không ai phát hiện được - Internet. Họ có thể nói dối, chỉ có dữ liệu là không. Con người có thể nói dối, nhưng máy tính sẽ không bị đánh lừa. Một đất nước Hoa Kỳ luôn miệng kêu gọi tự do - bình đẳng - bác ái cho toàn thế giới thì làm gì có chuyện người Mỹ kì thị đồng tính? Đương nhiên, tất cả chỉ vì câu chuyện đen tối đã được khéo léo giấu đi khỏi những nguồn tin truyền thống mà thôi!

Chính vì thế, lời khuyên đúc kết là bạn không nên tin ngay tắp lự những gì người ta nói hoặc chắc chắn 100% vào những gì mình thấy trên khảo sát. Cần phải đối chiếu hành vi, đối chiếu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau trước khi đánh giá một vấn đề nào đó.

Thứ hai, đừng rơi vào cái bẫy mang tên “nghĩ/ tưởng là đúng”. Suy nghĩ theo lối mòn mà không có sự cập nhật chỉ làm ta nhỏ bé, hạn hẹp hơn trong cái thế giới dữ liệu ngày càng trở nên khổng lồ.

Chẳng hạn, "Ảo tưởng tinh hoa", hay elite illusion, là hiện trạng nhiều người "tưởng là" theo học tại một ngôi trường danh giá sẽ giúp ta thành công trong tương lai hơn những ngôi trường bình thường. Hãy lướt qua những trang sách của Seth và ông sẽ nói cho bạn nghe về những “ảo tưởng tinh hoa” ấy và kết quả thực tế khác nhau như thế nào. Cần hiểu rằng, những sinh viên đã tốt nghiệp ở các trường dù danh giá hay không thì xét về cơ hội việc làm hay thu nhập cá nhân đều như nhau, không chênh lệch mấy. Bởi thành công tương lai của một người còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là ở nỗ lực của bản thân, nên chúng ta không thể chỉ xét mỗi môi trường giáo dục mà đánh giá năng lực của một người được.

Thứ ba, không chỉ mỗi khoa học tự nhiên mới là thuần khoa học, khoa học xã hội cũng là khoa học đích thực. Và dữ liệu lớn chính là một nguồn thông tin quan trọng mang tính cách mạng đối với khoa học xã hội. Nó giúp chúng ta tiến gần hơn đến việc hiểu được tâm lý, suy nghĩ và hành động của con người.

Tuy nhiên, bộ não lại là một hệ thống cực kỳ phức tạp, và hành vi của chúng ta cũng thế. Vì vậy khoa học xã hội không thể có một công thức tóm tắt và ngắn gọn như E=MC2. Thay vào đó, khoa học xã hội sẽ đem đến cho chúng ta những nghiên cứu, những phát hiện cũng như khả năng xem xét nhiều khía cạnh của một vấn đề. Từ đó, ta rút ra được cái nhìn khách quan và toàn diện nhất, rồi đưa ra những cách ứng xử, dự đoán và giải pháp thích hợp.

*

Đóng quyển sách lại, đọng lại trong người viết không phải là cảm giác buồn bã thất vọng vì “mọi người đều nói dối”, thay vào đó chính là sự thích thú vì những kiến thức mới mẻ, gần gũi mà mình vừa được tiếp xúc. Điều mình thích nhất ở quyển sách là cách tác giả chia sẻ với chúng ta, không phải bằng những lý thuyết khô khan, mà với sự dí dỏm, những ví dụ và cảm nghĩ chân thật nhất của ông. Đặc biệt, Seth là một tác giả đầy hiểu biết và cực kỳ vui tính. Đến những trang cuối cùng của quyển sách ông đã tự hỏi không biết có bao nhiêu người đọc hết sách của mình. Ông tin rằng sẽ chẳng có mấy ai chú ý tới những trò chơi chữ, những ví dụ hài hước hay những đường dẫn câu từ mà ông phải trau chuốt suốt mấy năm trời để cho ra thành quả.

Thiết nghĩ, tựa sách này không hề kén người đọc vì nội dung gần gũi với thói quen, cuộc sống hằng ngày của cuộc sống. Những ai đang "lạc trôi" trong biển thông tin rộng lớn của mạng xã hội, không biết nên tin hay không tin những dòng trạng thái tâm trạng, những bức ảnh đại diện nghìn like, hay những breaking news giật gân… thì quyển sách này là thứ bạn cần.

Cái kết của quyển sách lôi cuốn và bổ ích này có thể chưng hửng với nhiều người, song là đúng nhất với tinh thần tác giả: sự hài hước phủ ngoài một bộ óc vĩ đại. Người viết cũng xin kết thúc bài viết này giống với cách Seth đã làm với đoạn cuối Mọi người đều nói dối:

“Tôi sẽ đi làm vài ba cốc bia với mấy ông bạn và thôi cạy cục viết cái kết luận chết tiệt này đây. Bởi Dữ liệu lớn đã cho tôi biết sự thật rằng, chẳng còn mấy ai đọc tới đoạn kết này.”

Hết.

Như Nguyễn

Ảnh đầu bài: bigdatadesigns

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Thoát đến phương Tây, một ý niệm về hành trình và những lựa chọn

Published

on

Có nhiều thứ chúng ta không thể chọn lựa cho mình từ lúc được sinh ra, đó là cha mẹ, giới tính, sắc tộc, nguyên quán, nhưng không vì vậy mà chúng ta không có quyền thay đổi cuộc đời mình. Mỗi con người có quyền chọn cho mình một (hay nhiều) cuộc đời. Những con đường họ chọn sẽ dẫn đến những kết quả khác nhau.

Thoát đến phương Tây mượn câu chuyện tình của Saeed và Nadia để kể về tình yêu thời chiến, những cuộc đụng độ, mạng người, tôn giáo và hành trình xuyên qua những cánh cửa, vượt không gian và thời gian với một tương lai đầy bất định. Mỗi nhân vật trong tác phẩm mang một câu chuyện với những chiêm nghiệm và chọn lựa của riêng mình. Saeed - nhân viên văn phòng sống cùng với bố mẹ với tính cách truyền thống, là một người bình thường như bao người bình thường. Nadia - một nhân viên bảo hiểm tự lập với những phá cách trong suy nghĩ, lối sống, cô luôn mang trên mình một chiếc áo đen thụng và coi đó là lớp vỏ bảo vệ bản thân. Chiến sự nổ ra, họ nắm tay nhau, cùng nhau cố gắng, thật sự họ đã rất cố gắng trong hành trình ly hương, cùng nắm tay vượt qua những cánh cửa “tương lai”.

Ở lại quê hương là một chọn lựa.

Ví giai đoạn lịch sử là một giao lộ thì từ quá khứ đến hiện tại chỉ có một con đường duy nhất, nhưng đến tương lai thì có vô số ngã rẽ và chẳng ai biết trước được điều gì. Một số con đường to hơn, bằng phẳng hơn, được chỉ dẫn tốt hơn, và như thế sẽ có nhiều người chọn hơn; nhưng đôi khi lịch sử, hoặc những người làm nên lịch sử lại đi theo những ngã rẽ bất ngờ. Lịch sử không thể được lí giải một cách tất định, cũng như không thể dự đoán trước được, vì nó có tính hỗn độn. Ở một thành phố nọ, có những con người nhỏ bé, với những xáo trộn, toan tính cho cuộc đời bé mọn. Mạng sống của con người cũng không đoán trước được; khi họ sống trong chiến tranh, con người không còn nắm trong tay vận mệnh của mình, sự bất an luôn bủa vây, người ta thường có xu hướng tìm đến nơi bình yên hơn.

Khi cái chết như chiếc lá vàng trên cành cây, khi mạng sống con người bị đe dọa từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây, khi cúi đầu tìm vật rơi trong chiếc xe hơi của mình, ngẩng đầu lên một viên đạn có thể xuyên qua đầu; thì những người trẻ không tham gia vào cuộc chiến là những người đầu tiên muốn rời đi. Những người già, họ hoặc không muốn là gánh nặng của con cái hoặc không muốn rời khỏi sự “an toàn” thân thuộc nơi mảnh đất hơn nửa đời người gắn bó, họ chọn ở lại quê hương. Họ có những lí do thâm căn cố đế, bắt rễ sâu trong lịch sử, để chọn ở lại thay vì rời đi.

Bố và mẹ Saeed, những nhà giáo hiền lành, sống một đời đức độ với niềm tin vào tôn giáo hay bà hầu gái xuất hiện vào cuối câu chuyện, đã chọn ở lại mảnh đất nơi họ sinh ra. Đó là quê hương của họ, họ coi nơi đó là những mảnh miếng linh hồn tồn tại trong cuộc đời mình. Saeed và Nadia, họ chọn lựa việc rời đi sau những ngày tháng hẹn hò bí mật, ở lì trong phòng vì sự an toàn sau cú sốc về cái chết bất ngờ của mẹ Saeed. Hay người con gái của bà hầu gái, vì muốn một tương lai thay đổi, vì mong cầu một cuộc sống tốt hơn. Họ trở thành những kẻ ly hương.

Cánh cửa - biểu tượng của sự chuyển đổi.

John Truby từng viết: “Biểu tượng là một kĩ thuật của tiểu tiết. Nó là một từ hay một sự vật đại diện cho một ý nghĩa nào đó, và nó được lặp lại nhiều lần xuyên suốt tác phẩm”. Nếu vật chất tích tụ nhiều năng lượng thì biểu tượng cũng tích tụ nhiều ý nghĩa, và không khó để nhận ra, biểu tượng cánh cửa là một thế giới chuyển cảnh trong hành trình của các nhân vật. Cánh cửa xuất hiện ở những cột mốc then chốt, để giúp chúng ta theo dõi, đánh giá sự tha đổi của nhân vật. Cánh cửa dẫn đến một không gian khác, có thể là cơ hội và khởi đầu mới. Vì mạng sống, vì khao khác đổi đời, họ bước qua những cánh cửa, đó là cánh cửa đánh đổi bằng cả tương lai và sinh mệnh. Đầu tiên, họ đến đảo Mykonos ở Hy Lạp, sống tạm bợ trong túp lều, sau đó từ Mykonos đến London… cứ thế, mỗi lần tìm ra được những cánh cửa mới, họ đã cố thay đổi để cuộc sống tốt hơn.

Những cánh cửa mở ra và đóng lại, một thế giới với hy vọng hay những ngày tháng tăm tối đang chờ đợi những người đánh cược tất cả để bước qua. Không ai biết điều gì chờ đợi những người vượt biên đằng sau những cánh cửa, họ như bóng ma vất vưởng cần lắm một đời sống mới. Bước qua cánh cửa, đó là hy vọng cuối cùng cho họ, đằng nào mạng sống của họ luôn ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, một ván đỏ đen chỉ là một hướng đi trong đời. Ngày mai và hòa bình là điều họ hằng mong ước, nhưng điều đó như lớp sương mờ lởn vởn, là là trên mặt đất che chắn tầm nhìn của họ. Bao giờ, lúc nào, chính những người cầm súng giết người kia cũng chẳng biết thì làm sao những người dân vô tội biết được? Thoát ra và tìm cho mình một hy vọng là điều họ hướng tới, nhưng không phải bao giờ, nơi nào cũng mở cửa đón họ. Họ đi qua những cánh cửa trong bóng tối, họ không biết có những gì trong cánh cửa đó, từ khi bước vào cho đến khi thoát ra, những gì họ có thể làm là bò, trườn, lần mò trong bóng tối, đi ra con đường nhỏ hẹp và ngộp thở đó để đến được bên kia, nơi họ lờ mờ đón những ánh sáng yếu ớt đầu tiên và sau đó là cả thể giới với những hy vọng và vỡ mộng. “…Phía bên kia biên giới, bọn trẻ vẫn sống vắng bóng người thân cho đến khi chúng đủ lớn để vượt biên, hay đến khi người thân của chúng trở về vì quá bất lực, hoặc đôi khi là sự chia cách vĩnh viễn và chuyện này diễn ra khá thường xuyên, vì cuộc đời và cái kết của nó luôn khó lường, đặc biệt khi chúng ta xa quê hương, nơi cái chết vận hành với tầm ngắm ngẫu hứng”.

Chạy khỏi chiến tranh, họ đối mặt với vô vàn những vấn đề khác: không nhà, không cửa, không quê hương, không người thân thích và sự phân biệt đối xử, phân biệt chủng tộc, bài tị nạn. Những người phương Tây nhìn họ bằng con mắt căm thù, xua đuổi. Những người tị nạn họ chiếm đất, chiếm nhà, hình thành những khu ổ chuột, tệ nạn… Tuy rằng không phải ai cũng thế nhưng họ gặp những người “ai cũng thế” nhiều hơn những người nhập cư hợp pháp. Những người tị nạn, họ luôn phải cố gắng, luôn cần làm việc nhiều hơn, gần như hết sức có thể để có được căn nhà hay bữa ăn no, để có thể tồn tại, để được ở lại vùng đất đó. Nỗ lực đôi khi vẫn không đủ để thay đổi những thành kiến của “người bản xứ”. “Chuyện đó khác. Chúng ta là một nước nghèo. Chúng ta không cảm thấy mình có quá nhiều thứ để mất như những người ở đây”. Người bản xứ luôn thấy họ mất đi nhiều hơn nhận lại, nhưng làm sao trách họ được, họ cũng có lí lẽ của mình mà. Vậy đấy, đối mặt và thích nghi, con người ta luôn phải cố gắng để có cuộc sống tốt hơn. Hoặc thích nghi để tồn tại, hoặc bị đào thải theo quy luật tự nhiên.

Tôn giáo hay niềm tin cho những điều tốt đẹp sẽ đến.

Bố mẹ Saeed không bắt buộc hay định hướng con trai mình trở thành một người luôn cầu nguyện và phải cầu nguyện. “Khi Saeed còn là một đứa trẻ, anh cầu nguyện lần đầu tiên vì tò mò. Anh đã chứng kiến bố anh và mẹ anh cầu nguyện, và hành động đó mang một vẻ bí hiểm đối với anh”. Một đứa trẻ, chỉ vì tò mò, niềm tin và tôn giáo đến với con người từ những điều đôi khi thật đơn giản. Con người ta đôi khi cần có niềm tin, và việc cầu nguyện đôi khi cũng vậy. Lẽ tất nhiên, người ta cầu nguyện vì nhiều lí do khác nhau: vì điều đó gợi nhắc đến người mà ta yêu quý, vì điều đó làm ta thấy vơi bớt nỗi lòng, tìm thấy được sự an ủi hay giải thoát, vì mong bình yên cho ai đó, vì điều đó làm rạng danh đấng sinh thành, vì một lời an ủi hay một tia hy vọng. Vào mỗi lứa tuổi, con người ta cầu nguyện và nghĩ về những điều khác. Có thể do những được mất trong cuộc đời phù du làm họ muốn cầu nguyện, những lo lắng về con người khi đồng tiền được sùng bái hơn hết thảy, những thứ đã mất và sẽ mất, những thứ không còn cách nào khác để yêu thương.

Tình yêu, sự quan tâm giúp họ đi cùng nhau trên đoạn đường dài.

Khi mượn chuyện tình yêu để lồng vào những vấn đề chính trị, câu chuyện dường như dễ đọc và ít khô khan hơn. Một dạo, tôi thường nghe Xone FM, cứ nhớ hoài câu “Đi một mình sẽ đi nhanh hơn, nhưng đi hai người sẽ đi được xa hơn”. Và đúng vậy, chính thứ tình cảm vượt qua mưa bom bão đạn, vượt qua những tối tăm, mịt mờ trong từng cánh cửa, Saeed và Nadia họ sánh bước trên hành trình thật dài. Những điều trần ai chúng ta san sẻ, những nỗi đau vô thừa nhận mà mỗi người mang nặng trong tim sẽ nhẹ bớt đi khi trên hành trình đó họ đã nghĩ đến nhau, hy sinh cho nhau. Không ít lần Saeed và Nadia có thể ổn định cuộc sống ở vùng đất mới nhưng mối quan hệ của họ không vậy, họ chọn bước qua cánh cửa khác để bảo vệ mối quan hệ như sợi dây mỏng manh chực đứt bất cứ lúc nào. Con đường đó với hai người có thể chưa trọn vẹn, nhưng tôi tin, đó là một cái kết có hậu cho cả hai. Cả hai người họ đã cùng nhau cố gắng.

Tạm kết

Tôi nhận thấy bản thân mình có nhiều điều muốn nói, muốn viết ra khi đọc xong Thoát đến phương Tây, về di dân, về những con người tị nạn, về chiến tranh, số phận của những kẻ ly hương,… nhưng ngôn ngữ có chút bất lực. Có lẽ, ám ảnh về số phận của những con người ly hương làm tôi trăn trở: có thể là hành trình qua những cánh cửa, có thể chăng đó là quyết định của những người ở lại hay rời quê hương. Tôi cũng thấy mạng sống con người đôi khi thật mong manh, những ý nghĩ, những dự định của con người cũng vậy. Đôi khi thật tầm thường giữa cuộc đời bình thường, nhưng dù sao, con người ta… ai cũng cần phải sống, hướng đến những điều tốt đẹp hơn mà, nhỉ! Có lẽ, vào một ngày nào đó, khi tôi xa quê chẳng hạn, tôi sẽ đọc lại cuốn sách này.

Hết.

Hoàng Anh
Viết trong một ngày nước lũ mênh mang ở Huế.

*

Đọc những bài viết của Hoàng Anh

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

“Shuggie Bain” chiến thắng Booker Prize 2020: Văn chương chạm đến cảm xúc, hay là #bookersowhite?

Published

on

Chủ nhân của Booker Prize 2020 đã được xác định, và không quá bất ngờ khi nó thuộc về Douglas Stuart với cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình. Shuggie Bain vượt qua năm cuốn sách khác để giành giải, và với thắng lợi rực rỡ năm nay, ta thấy phần nào Booker đã trở về đúng vai trò của nó – văn chương chạm đến cảm xúc. Là cuộc dẫn nhập xuyên qua Glasgow những năm 80 dưới đế chế Thatcher u tối, Shuggie Bain là câu chuyện của một đứa trẻ gánh vác tránh nhiệm nặng nề: gia đình tan hoang, người mẹ nghiện rượu và những khám phá tự bản thân mình. Đầy cảm xúc, bi thương mà hồn nhiên đến mức tréo ngoe, Shuggie Bain - như một nhận định - là vở melodrama đỉnh nhất năm nay.

Tiếp lời Margaret Busby, chủ tịch hội đồng giám khảo năm nay rằng: [Shuggie Bain] là câu chuyện cảm động kể về tình yêu vô điều kiện giữa Agnes Bain - trong bối cảnh nghiện rượu mà cuộc sống khó khăn gây ra cho cô - và cậu con trai út của mình... Được viết một cách duyên dáng và mạnh mẽ, đây là một cuốn tiểu thuyết có tác động lớn bởi nó có nhiều ghi chép cảm xúc và các nhân vật cũng đầy cảm hứng. Chất thơ trong các mô tả của Douglas Stuart và độ chính xác của các quan sát là đầy nổi bật: không gì là lãng phí".

Nếu năm ngoái có nhiều ý kiến bất đồng khi trao đồng thời đến hai giải thưởng mà một trong số đó thuộc về Margaret Atwood với nhiều đánh giá tiêu cực cho phần hai của Chuyện người tùy nữ, thì năm nay, một sự thống nhất đã được ấn định, ở cả hội đồng giám khảo và giới độc giả. Theo chủ tịch hồi đồng giám khảo Margaret Busby, quyết định cuối cùng đã được nhất trí chỉ trong một giờ; còn với Gaby Wood – giám đốc văn học của Booker Prize Foundation, việc xem xét người chiến thắng đã được siết chặt để không có hơn một người chiến thắng.

*

Một cách tổng quan ngay từ bước đầu, Shuggie Bain đã sở hữu trong mình rất nhiều yếu tố có thể chiến thắng: cốt truyện cảm xúc, bối cảnh đặc biệt và một lối viết đậm đặc chất thơ. Có thể nói, với những yếu tố vẫn cứ trở đi trở lại hàng năm trong danh sách đề cử Booker, thì Shuggie Bain không thể không thắng. Dạo lướt qua những đề cử những năm trước đó trong lịch sử 51 năm của giải thưởng này, ta thấy những tiểu thuyết thuộc quỹ tích tương tự Shuggie Bain là không hiếm. Cứ cách một năm lại thấy trong danh sách ấy tiểu thuyết kiểu ấy. Từ Ali Smith đến Anne Tyler, từ Elizabeth Strout đến Hanya Yanagihara; tất cả hợp thành một án tiền lệ mà nếu phông cảnh xã hội cùng với tình hình những dòng thời gian không quá đảo chiều, thì đây là những tiểu thuyết có một khả năng chiến thắng rất cao.

Quay ngược 15 năm trước vào năm 2005, khi giải Booker bất ngờ được trao cho John Banville – một tác gia có phần xa lạ và ít đột phá trong sự nghiệp mình, trước những Julian Barnes (tác giả của Nghe mùi kết thúc – Booker 2011), Kazuo Ishiguro (nhà văn đoạt giải Nobel), Ali Smith (nhiều lần đề cử Booker và người chiến thắng ở giải Orange) mà đặc biệt nhất là Zadie Smith. Giới phê bình đã thấy một sự trở về cùng với cố hương. Giữa một cuốn sách đầy những vận động và các xung đột mạch ngầm mới về sắc tộc, các mối quan hệ gia đình, cuối cùng giải thưởng hàng lâu đời này vẫn chọn The Sea. Tin tức hành lang cho biết On Beauty của Zadie Smith đã gây ra những nhiễu loạn tranh luận trên bàn giám khảo, nhưng đến cuối cùng, hương vị quen thuộc đã được chọn lựa. Tính trắng đã thắng.

Shuggie Bain có chính lợi thế đó - về “gu” của giải thưởng này. Nếu Nobel vẫn được gắn nhãn bới lá tìm sâu nơi những tác gia ít được biết đến, thì hơn ai hết, Booker dĩ nhiên là chính tính “trắng” ở trong văn chương. Việc vượt qua Burnt Sugar hay This Mournable Body cũng cho thấy một sự tự chủ của giải thưởng này. Nếu tháng tám vừa rồi giải Booker Quốc tế được trao cho The Discomfort of Evening bởi sự mới lạ, cách tân, không theo lẽ thường; thì hội đồng giám khảo cũng đã quyết định đi con đường riêng, để giải Booker (dù chính hay phụ) đều theo hướng khác mà không trùng lặp.

Tính tự chủ của giải thưởng này cũng được xác lập ở trong trường hợp của The Shadow King và giải Sách Quốc gia. Nếu trung tuần vừa rồi Winner of winner trong 25 năm lịch sử  giải Orange thuộc về Adichie với Nửa mặt trời vàng, thì Booker chẳng có cớ gì đi trao cho một cuốn sách khá tương đồng. Đó cũng hoàn toàn là một lý do, bên cạnh trào lưu tiểu thuyết lịch sử trong cơn thoái trào, cùng sự ngã ngựa của Hilary Mantel. Bên cạnh đó, giải sách Quốc gia được trao trước đó một ngày cũng đã trao cho Interior Chinatown của Charles Yu và Shuggie Bain hẳn nhiên mở rộng con đường chiến thắng của mình ra thêm. Quay về 17 năm trước vào năm 2003 khi cuốn Người tình của Bretch đã được trao trước hai tuần ấn định của giải Goncourt, chặn đứng việc công bố giải của giải Femina cho thấy sự cạnh tranh của những giải thưởng và tính tiên phong đôi khi đặc biệt, và đó hẳn nhiên là một may mắn khi giải Sách Quốc gia đã lựa chọn trước mà không trùng lặp, nếu không có trời mới biết ai sẽ chiến thắng.

Một yếu tố nữa không thể không nhắc, đó là tình hình địa - chính trị. Booker với tiếng nói trắng, một mặt nào đó, trở thành cơ quan ngôn luận không-hề-chính-thức cho việc nghệ thuật có thể ảnh hưởng ra sao đối với địa - chính trị. Như trong trường hợp Eurovision Song Contest trong lịch sử, với việc Romania bị rút khỏi giải do còn nợ tiền EU hay Nga rút khỏi cuộc thi vào năm Ukraine đăng cai tổ chức vì những tranh cãi chính trị… Tất cả cho thấy ở Lục địa già, nghệ thuật đang bị chi phối. Và khi Scotland đang đòi tách ra khỏi một nước Anh tràn ngập hoang mang thời Hậu Brexit, chiến thắng này cũng không nằm ngoài làn sóng chính trị. Và cũng như Douglas Stuart phát biểu sau khi nhận giải, anh cám ơn người dân Scotland, đặc biệt là người Glaswegians, họ có sự đồng cảm, hài hước và tình yêu cùng sự đấu tranh trong từng câu chữ của cuốn sách này.

*

Nói thế cũng không có nghĩa Shuggie Bain giành được chiến thắng chỉ bởi yếu tố bên lề. Shuggie Bain là cuốn sách hay, động vào cảm xúc và Douglas Stuart, bằng chính chất thơ, đã họa nên những nỗi buồn hết sức sâu sắc. Là tay ngang viết niên chiến thắng, ta khó đánh giá cuốn tiểu thuyết này bằng những dấu ấn đậm chất văn chương; nhưng ngược lại, bởi chẳng có gì, sự quan sát của Douglas vô cùng quý báu. Dưới sự quan sát của một đứa trẻ như Hugh, người đọc vừa thấy cảm thương, vừa thấy thích thú cũng vừa chua xót cho thân phận mình. Douglas chiến thắng bằng những quan sát tinh tế, bằng một câu chuyện cảm động mà hơn ai hết, chạm đến trái tim của mỗi một người.

Hơn nữa Shuggie Bain cũng mở cánh tay chào đón những yếu tố khác. Bối cảnh Glasgow thời hậu Thatcher xuất hiện khá ít trong các tiểu thuyết văn chương ngày nay, và Douglas bước vào một khe cửa hẹp để họa được nên bối cảnh lúc này. Ở kỷ nguyên mà Thatcher không muốn công nhân cần mẫn mà tương lai của bà nằm ở công nghệ, hạt nhân và tư nhân hóa y tế; Douglas đã viết nên được một cuốn tiểu thuyết đầy tính trải nghiệm trong quãng thời gian vô cùng đen tối, vô cùng muốn quên của giới thợ mỏ mới chớm đến gần chủ nghĩa xã hội.

Những mối quan hệ gia đình cũng là nhánh khác khiến nó đứng vững. Mối quan hệ giữa Agnes và chồng hay ba người con, mà đậm nét nhất là Hugh càng cho thấy rõ những gì xảy ra trong gia đình này. Từng đứa trẻ lớn lên, rời xa, những dằn vặt ở trong người mẹ, cái chua chát hy sinh của từng đứa trẻ. Douglas không chỉ quan sát qua một lăng kính của bản thân mình, anh còn đứng đó nhập vai vào bố mẹ mình, vào hàng xóm mình, vào người dân Glaswegians và cả câu chuyện của Shuggie Bain, khiến nó từ một tiểu thuyết nặng tính hồi ký trở nên trung dung mà đầy đồng cảm, ít nhất là cho những ai lớn lên từ khu mỏ than nơi những cá tính bắt đầu bộc lộ.

Sự tự khám phá bản thân cũng là yếu tố sau rốt làm nên tiểu thuyết dang rộng cánh tay. Nếu Brandon Taylor có những xung đột cùng với màu da nhưng thiếu chi tiết đặc trưng một cách nhất định; thì Douglas thông qua quan sát viết nên trải nghiệm trong Hugh đầy vẻ tự nhiên nhưng lại đồng cảm một cách khác thường. Từ những chi tiết bị bắt nạt ở trường cho đến lẳng lặng lấy trộm Pony, từ việc gần gũi với mẹ đến việc dạy cho bà nhảy những nhạc disco; Douglas Stuart cũng chứng minh mình ở địa hạt này, mà truyện ngắn khác – Found Wanting – cũng được đánh giá khá cao ở dòng văn chương LGBT và những dư vị xung quanh của nó.

*

Shuggie Bain và chiến thắng ở giải Booker 2020 hoàn toàn xứng đáng. Chỉ có một điều dường như vẫn đang tồn tại. Mặc cho chính những nỗ lực cố gắng thay máu của dàn giám khảo, thế nhưng kết quả vẫn không khác mấy. Thành thực phải nói, đứng ngang Shuggie BainBurnt SugarThis Mournable Body đầy tính thể nghiệm và văn chương hơn; thế nhưng lựa chọn vẫn “trắng” và khá “thông thường”. Ở một mặt khác ngoài chuyện sắc tộc, cả hai cuốn sách đều khá địa phương và quá mới mẻ - tiêu chí mà giải Quốc tế vô cùng yêu thích. Biết đến bao giờ quốc tế, quốc nội mới có một sự cạnh tranh công bằng? Cũng như cho đến khi nào giữa hai thị trường xuất bản London - New York mới hòa vào nhau?

Nhưng dẫu sao, Shuggie Bain vẫn là ngọn lửa ấm lòng giữa thời dịch bệnh, và là một tiếng nói mới, đánh dấu một nhân dạng mới trên nền văn chương. Chúc mừng tất cả.

Hết.

minh.

*

Toàn cảnh Booker Prize 2020: Cơn thoi thóp chờ thời đổi mới?


International Booker 2020: Những dự đoán trước thềm trao giải

Đọc bài viết

Cafe sáng