Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Rừng Na Uy, về Murakami và những kẻ cứ nghĩ là mình cô đơn lắm

Thì thỉnh thoảng mình ngước lên trời và tự hỏi mình đang làm gì giữa vũ trụ bao la này, hoặc đôi khi có những ngày thấy buồn chết đi được, chẳng muốn gặp mặt ai, chẳng muốn trò chuyện những thứ dông dài vô nghĩa, nhưng buồn đến như Naoko, buồn đến như Toru, buồn đến như Midori thì không bao giờ. Có khi toàn là những nỗi buồn được làm quá đấy thôi.

Published

on

Khi đứng lại và nhìn vào những chuyện đã qua, có những lúc đột ngột cảm thấy thế giới toàn những chuyện không thể nào đoán trước được. Chẳng hạn như vào một ngày nọ, Toru Watanabe đưa cô bạn gái say khướt của mình về hiệu sách Kobayashi, và trong khi cô đang ngủ ngon lành trong bộ y phục của người cha vừa chết, Toru đã tìm thấy một cuốn sách của Hermann Hesse mà anh từng đọc thời trung học. Nếu không có cái hoàn cảnh kỳ lạ ấy, có lẽ Toru đã chẳng bao giờ đọc lại cuốn sách này.

Tuần trước, mình vô tình đọc được trên một trang Confession, có người nói, đại để rằng, văn chương của Murakami thì có cái quái gì đâu cơ chứ, chỉ rặt làm màu, rồi những kẻ vỗ ngực nhận là fan của Murakami cũng vậy, chúng coi sách của ông như bộ quần áo mới của hoàng đế, tối ngày than vắn thở dài như thể mình sâu sắc hơn người. Giá như văn phong của người comment hay hơn một chút và lý lẽ thấu đáo hơn một chút, chắc mình sẽ nghĩ: À, cậu chàng Holden Caulfield trong Bắt trẻ đồng xanh đây rồi, có điều cách ăn nói của cậu ta tệ thật. Nhưng một cách chân thành nhất, mình vẫn muốn gửi lời cảm ơn tới người đó, bởi chỉ vì một lời ngắn ngủi ấy thôi mà mình đã đọc lại Rừng Na Uy, vừa đọc vừa bồi hồi tự hỏi: Có thật là suốt thời gian qua, mình đã làm màu không nhỉ?

Dễ là có lắm.

Ai lại đọc Rừng Na Uy vào những ngày này đâu. Mình thực sự nghĩ thế. Lẽ ra mình nên xem Euro. Không liên quan chút nào nhưng nếu không phải vì mải đọc lại Rừng Na Uy có lẽ mình đã xem Euro và không cần cảm thấy xa cách với phần còn lại của thế giới. Nhưng thôi, sau khi đọc xong cuốn sách này, mình sẽ thoải mái nằm xem bóng đá, còn giờ, mình sẽ đọc nó cho thật kỹ.

Rừng Na Uy gọi mình lại một giấc mơ nào đấy mà mình đã tỉnh dậy từ rất lâu về trước. Mình cứ chờ mãi để đọc tới đoạn Toru, Naoko và Reiko ngồi dưới ánh nến trong một đêm trăng, Reiko cầm cây đàn guitar và đánh những bài hát của The Beatles: Michelle, Yesterday, Nowhere Man, và tất nhiên, Norwegian Wood. Từng nốt nhạc vang lên rồi mất hút trong đêm tối, đột nhiên cảm thấy rất lạ lùng, rằng bao nhiêu năm đã trôi đi mà những giai điệu không hề thay đổi, chúng vẫn thế thôi, thế mà những con người thì đã khác xưa nhiều quá. Vào năm 1969 khi Reiko chơi những bản nhạc đó, Beatles vẫn còn chưa tan rã, Paul McCartney, Ringo Starr mới chỉ là những chàng trai chưa đến tuổi 30, John Lennon và George Harrison vẫn còn đang tận hưởng cuộc đời. Loáng một cái. Ai đó rơi xuống những cái giếng vô hình, chết mục bên dưới mảnh trăng lưỡi liềm ở tít trên cao. Cái người ta tạo ra thì sống, còn chính bản thân người ta thì chết. Đã từng có lúc thấy điều này kỳ diệu, giờ lại chỉ thấy đến là mỉa mai. Kiểu như luôn có một phần bên trong con người, mà thường là phần đẹp đẽ nhất, thủ thỉ với con người rằng: Ồ, sẽ sống bất kể người thế nào, mặc kệ ngươi, ta sẽ sống. Thế giới bỏ mình đã đành. Ngay đến chính mình cũng chả cần mình nữa, ngay cả nó cũng phản bội mình. Nhớ Woody Allen từng bảo: Tôi không muốn sống mãi trong trái tim các đồng bào của tôi, tôi muốn sống mãi trong căn nhà của tôi. Nhưng quên đi Allen ạ, rồi mai này những Manhattan, Annie Hall vẫn sẽ sống đời đời kiếp kiếp, trong khi ông đã thành bộ xương đeo kính cựa quậy trong chiếc quan tài chôn tít dưới đất sâu. Nhưng ông làm gì được?

Để đến được đoạn Reiko chơi guitar đó, mình sẽ phải đi qua rất nhiều đoạn khác nhau. Đầu tiên là đoạn Naoko cầu xin Toru hãy nhớ tới mình:

Mình muốn cậu luôn luôn nhớ đến mình. Cậu sẽ nhớ rằng mình đã tồn tại, rằng mình đã đứng cạnh cậu ở đây như thế này chứ?

Thế rồi, mùi đồng cỏ, tuyết, chiếc áo lông lạc đà, mái tóc đen của nàng, gương mặt nhìn nghiêng,… những thứ ngày hôm nay còn cảm thấy rõ ràng, ngày sau đã chỉ còn là một vệt mờ trên tấm kính. Nàng hy vọng gì? Cứ cho là Toru mãi nhớ đến nàng đi, nhưng cậu ấy cũng đâu sống mãi. Nghĩ thế cũng thấy thật kỳ. Những ký ức ấy đã đi đâu? Họ nói rằng năng lượng luôn được bảo toàn, chúng chỉ chuyển hóa từ dạng này qua dạng khác. Vậy thì những ký ức ấy đi đâu cả rồi, chúng đã biến thành cái gì rồi, sao không ai đưa ra được lời đáp nào cụ thể?

Cho nên mình chẳng hiểu tại sao Naoko phải làm như vậy. Nếu là mình, mình sẽ không mong ai nhớ tới. Họ cứ quên phứt đi là hơn. Một cuộc đời như thế cũng chẳng có gì đáng nhớ. Giá mà cứ như con kiến chẳng bao giờ tiến hóa mà Midori nhắc tới. Chúng cứ ngày đêm làm việc chăm chỉ mà không thiết tha gì đến chuyện có ai sẽ nhớ tới chúng. Ừ thì nếu ai đó có ý định giết chết chúng, bản năng sinh tồn cũng mách bảo chúng phải chạy đi, nhưng chúng hoàn toàn không hay biết tới cõi hư vô đang chờ đợi bên mép cuộc đời. Chúng không định nghĩa được ngày mai nên chỉ sống ở giây phút này. Chúng không chờ đợi nên không thất vọng. Chúng không yêu đương nên không đau khổ. Khi sống, chúng chỉ sống. Khi chết, chúng chỉ chết. Không ai làm tang ma cho một con kiến, chúng trôi tuột vào ống thời gian, trôi tuột vào cái giếng sâu hoắm, không ai vui cũng chẳng ai buồn, không ai quan tâm đến điều đó. Xong là xong.

Sân bay Hamburg ngày hôm ấy, tiếng nhạc Norwegian Wood cất lên, cất lên cả một thời đã nằm lại sau lưng Toru. Ai đó nói âm nhạc như một cỗ máy thời gian, đưa người ta quay về những ngày đã mất. Ký ức như một cơn mưa nhẹ, rỏ xuống từng giọt, tạo thành cả một vũng nước phản chiếu mây trời, tất cả những thứ ở rất xa xôi kia bỗng chốc thành hình rõ nét, rõ nét đến mức tưởng chừng có thể chạm vào, nhưng không bao giờ chạm được, thế rồi nắng lên và chúng bốc hơi đi hết.

Thôi đừng để ý tới những điều mình viết. Toàn là làm màu cả đấy. Sự thật là mình có thể tràng giang đại hải về những nỗi buồn trong khi bản thân đang vui cười hạnh phúc. 24 giờ một ngày, mình chẳng hơi đâu mà buồn bã hay suy tư về cuộc đời nhiều đến thế đâu. Thì thỉnh thoảng mình ngước lên trời và tự hỏi mình đang làm gì giữa vũ trụ bao la này, hoặc đôi khi có những ngày thấy buồn chết đi được, chẳng muốn gặp mặt ai, chẳng muốn trò chuyện những thứ dông dài vô nghĩa, nhưng buồn đến như Naoko, buồn đến như Toru, buồn đến như Midori thì không bao giờ. Có khi toàn là những nỗi buồn được làm quá đấy thôi.

Dẫu vậy, nếu như mình có thể kể lại một câu chuyện về cuộc đời mình, mình có cảm giác nó sẽ có hơi hướng như Toru hay ông già cha của Midori vậy. Mà mình nghĩ, có lẽ phần đông thế giới này cũng như mình, cho nên họ mới thích Rừng Na Uy đến thế. Họ muốn kể lại đời mình nhưng lại thấy tầm thường và vô vị quá, vì thế mà khi người ta thấy Toru cũng vô vị và tầm thường, thế mà vẫn có thể kể lại tất cả như một áng thơ lãng đãng trong chiều tuyết trắng, người ta thấy hạnh phúc vô ngần vì hóa ra cuộc đời xấu xí đến mấy cũng vẫn có thể nên thơ. Chuyện đó chỉ những kẻ tầm thường mới hiểu được, những con người với cuộc đời vẻ vang, viên mãn, tất nhiên họ không thể tìm được điểm chung. Đó không phải lỗi của họ, cũng không phải lỗi của Murakami. Đơn giản là có những người không bao giờ có thì giờ để nhìn hoàng hôn bởi vì cuộc đời họ quá bận rộn để làm việc đó. Họ thật may mắn vì chỉ những kẻ rách việc như mình mới phải nhìn hoàng hôn để khỏa lấp thời gian trôi chảy. Mình chẳng có gì để tự hào khi thích khóc lóc vì một câu truyện tiểu thuyết hay cảm nhận được một bộ phim hay. Nó chỉ cho thấy mình biếng lười và chậm tiến, nó chỉ cho thấy mình là gánh nặng mà thế giới phải đèo bòng. Mình đâu muốn thế, nhưng nói như Murakami, thì cái tạng người mình nó vậy, muốn cũng không biết phải làm thế nào để sống khác đi và có ích hơn.

Tuổi trẻ của những nhân vật trong Rừng Na Uy đã diễn ra vào những năm 69, cái thời kỳ biến động như thế, ấy vậy mà suốt cả truyện, hoàn cảnh lịch sử chỉ là một cái phông mờ. Cũng có nhắc đến vài ba cuộc bãi khóa, cũng có nói đến chiến tranh, cũng có nói đến chính trị chính em rồi xã hội chủ nghĩa của Karl Marx, nhưng là nhắc tới với sự thờ ơ đến tột cùng. Nếu Rừng Na Uy là một chiếc máy ảnh, thì hoàn cảnh lịch sử gần như đã bị blur. Ôi, những biến động của thời cuộc chẳng bao giờ ngừng lại. Hết đánh nhau ở Việt Nam họ lại kéo sang Iraq, hết Iraq lại tới Syria, rồi sau này còn những nơi nào nữa, ai mà biết trước. Còn mình, mình cóc cần biết. Có lẽ là mình thuộc giống loài vô cảm và ích kỷ, mình chẳng lo cho trẻ em ở châu Phi đang đói rách hay nội chiến Ukraine đâu, và chừng nào chiến tranh còn chưa gõ cửa nhà mình thì mình cũng mặc, rồi kể cả nếu Trung Quốc có chiếm biển Đông thì mình chắc chắn cũng không tức sôi máu lên mà một phen sống mái với chúng. Thế giới điên loạn diễn ra nhưng mình vẫn sống. Như Toru vẫn yêu, vẫn rối loạn vì tình yêu, vẫn đam mê tình dục, vẫn sửa một chiếc xe đạp, vẫn giặt và là quần áo mỗi tuần một lần, vẫn đọc F. Scott Fitzgerald và nghe nhạc rock. Chẳng có điều gì sẽ thay đổi được những quy luật sống ấy trừ cái chết. John Lennon đấu tranh cho hòa bình và ông cũng chết. Muhammad Ali thà vào tù chứ không chịu đi chiến đấu và ông cũng chết. Paul McCartney viết ra bao giai điệu đẹp đẽ về những nỗi đau nhưng rồi một mai cũng chết. Mình chẳng làm được gì ngoài bao biện cho sự vô dụng của bản thân và mình cũng chết. Khác gì nhau đâu. Cái chết san bằng tất cả. Cũng may sao thế giới không phải toàn những kẻ vô dụng như Toru và như mình.

Vậy đấy, Toru và những nhân vật của Rừng Na Uy chỉ là những kẻ lạc loài trong thời cuộc rối ren, họ hoàn toàn không nằm trong vòng lịch sử. Cha mẹ họ là đứa con của những thế hệ hoang mang và lạc lối. Đến lượt mình, họ tưởng như mình đang lạc vào một cảnh trí không liên quan gì tới họ, họ không biết cái quái gì đang diễn ra xung quanh mình, họ chỉ còn tin vào sự nổi loạn và cái chết sẽ cứu rỗi tâm hồn. Họ tự hủy hoại con người mình bằng đủ cách khác nhau: sống buông thả, gái điếm, tự cắt cổ tay, dùng hơi ga tự vẫn, treo cổ trong một khu rừng… Nhưng đâu phải cứ tự hủy hoại bản thân có nghĩa là vì chán ghét cuộc sống, có đôi khi, đó là cách yêu cuộc sống đến điên cuồng và tuyệt vọng. Giống như psychedelic rock mà Beatles đã tạo nên, giống như ma túy gây ra một loại ảo giác ở miền cực lạc, tách họ khỏi niềm tin lầm lạc và những khổ ải thế gian dù chỉ trong đôi ba phút. Kết cục lại, họ chỉ muốn hạnh phúc thôi. Tất nhiên, những người đã hài lòng với hạnh phúc của mình có sẽ không hiểu được chuyện này. Đây cũng không phải lỗi của bất cứ ai.

Trong tất cả những cuốn sách của Murakami mà mình đã đọc, Rừng Na Uy là cuốn mình kém yêu thích nhất. Mình đọc nó chỉ vì cái tên là bài hát của The Beatles, và sau khi đọc xong nó lần đầu tiên, những gì mình thích nhất vẫn là cái tên ấy. Lời cuối cùng của bài hát Rừng Na Uy có mấy câu mà mình tạm dịch là:

“Khi tôi thức giấc, tôi chỉ còn lại một mình
Cánh chim đã bay đi
Tôi châm một mồi lửa
Vậy có ổn không, Rừng Na Uy?
Vậy có được không, Rừng Na Uy?”

Như kiểu đốt một giấc mơ. Âm nhạc của Beatles vào thời Rubber Soul là sự chuyển mình từ hiện thực sang trạng thái nửa tình nửa mê, để rồi tới Sgt Pepper’s Lonely Hearts Club Band (album mà Naoko đã mở trong ngày sinh nhật của mình) thì hoàn toàn mộng mị. Mình vẫn tưởng tượng ai đó đã vẽ Rừng Na Uy, căn nhà, chiếc ghế, con chim, cô gái, bồn tắm, lên một trang giấy trắng, rồi đốt sạch nó đi, để lại bụi bay lả tả. Con chim bay đi không phải điểm kết thúc của khuôn hình, điểm kết thúc của nó nằm ở hành động “đốt” – hành động mà Ray Bradbury từng gọi là “một cái thú đặc biệt khi thấy thứ này thứ nọ bị ngốn ngấu dần”. Còn Naoko, nàng chết không phải vì nàng đã chết, nàng chết là bởi nàng sẽ bị lãng quên bởi Toru, những ký ức về nàng đã từng chỉ tốn năm giây để nhớ về, rồi dần dần là 10 giây, 20 giây, một tiếng, một năm, và rồi, một đời.

Đó chính là lý do mà ngày ấy mình đã không chịu đựng nổi cuốn sách này. Mình không thể nào hiểu nổi làm sao người ta có thể già đi được với tất cả những nỗi đau như thế? Làm sao người ta có thể tiếp tục sống sau khi những người mà người ta từng yêu đã băng qua cây cầu dẫn lối tới thế giới bên kia? Chỉ nội nghĩ tới việc tiếp tục sống đã thật là khó tin. Họ nhìn thấy mối tình đầu của mình, người đã cùng mình nắm tay giữa trời tuyết trắng, ngân nga một khúc ca tươi đẹp như Here Comes The Sun, ôm lấy mình và nói với mình rằng đừng quên cô ấy, họ nhìn thấy mối tình đầu ấy bị nhốt trong chiếc quan tài đóng kín, bất động và lạnh căm. Làm sao người ta có thể quên cái hình ảnh ấy, nỗi ám ảnh ấy, nỗi đau thương ấy, để mà tiếp tục duy trì hít thở? Mình ghê sợ họ, mình ghê sợ tình yêu cuộc sống của họ, mình ghê sợ sự lì lợm của họ và sự gắng gượng của họ. Họ nói họ đau khổ đến chết nhưng họ vẫn vượt qua. Trái tim họ vỡ ra từng mảnh rồi mà họ vẫn có thể đứng dậy, hàn gắn nó, và sống với con tim băng bó và yêu thêm người khác bằng con tim băng bó, và vẫn yêu nhiệt thành như lần đầu tiên ấy. Mình thật sự đã không chịu đựng nổi chuyện này.

Nhưng mình đã học cách chịu đựng được nó. Bởi nếu không chịu đựng được, giờ này mình cũng chẳng còn ngồi ở đây. Như Toru đã dần dần quên bẵng đi người con gái anh yêu thuở 17, song chỉ một giai điệu của Rừng Na Uy, ký ức về nàng lại dần hiện lên như thể nó mới diễn ra hôm qua hôm kia vậy. Vừa viết, mình vừa đeo tai nghe và mở lại Yesterday, lắng nghe lời Paul hát: “Oh I believe in yesterday”, bỗng dưng mới hiểu vì sao Paul đã viết ra lời ca như vậy. Cái gì đã từng xảy ra sẽ luôn còn ở đó, dù người ta có quên hết, quên sạch, thì nó vẫn luôn ở đó, bất biến, vĩnh hằng. Đó là sự bao dung của thời gian, tuy một đi không trở lại, nhưng nơi nào đã đi qua, vết hằn của nó sẽ còn đọng lại mãi, có thể là đọng lại trong lòng một ai đấy, cũng có thể không đọng lại trong lòng một ai cả, nhưng vẫn có một dấu li ti mà nếu nhìn thật kỹ sẽ thấy khoảnh khắc đó sáng lên như chiếc đèn dẫn đường chỉ lối.

Nhất định rồi, cái thời đại buồn bã và hoang mang ấy sẽ qua đi. Kiểu như trong Tâm trạng khi yêu, Châu Mộ Văn thì thầm vào hốc đá của đền Angkor hùng vĩ, và khi bước ra, trông anh như đã bước ra khỏi mê lộ của lòng mình. Và để đáp lại câu hỏi “Vậy có ổn không, Rừng Na Uy?”, Rừng Na Uy sẽ đáp, giờ thì chưa, nhưng sẽ đến lúc mọi sự đều ổn và chúng ta đều tốt.

Đã thế thì cứ kệ đi, kệ đi mà lênh đênh trong những năm tháng điên rồ này, bởi vì mọi thứ rồi sẽ qua cả thôi, cho nên khi còn thời gian, hãy cứ ngụp lặn trong những nỗi buồn vô nghĩa, để mai này yên tâm rằng những hoài nghi không đáng để cuộc sống ngừng lại. Khi ấy, chúng ta sẽ sống thật tốt, còn ngay lúc này, tuổi trẻ là để lãng phí, tuổi trẻ là để buồn, nếu không buồn ngay lúc đó, sẽ lại phải trả giá như Naoko và Kizuki.

Những dòng chữ cuối cùng trong Rừng Na Uy, Toru gọi điện cho Midori, nàng hỏi rằng anh đang ở đâu, Toru ngẩng đầu lên và nhìn ra bên ngoài, tự hỏi mình đang ở đâu thế nhỉ? “Tôi đang ở đâu. Tôi không biết. Không biết một tí gì hết. Mắt tôi chỉ là vô số những hình nhân đang bước đi về nơi vô định nào chẳng hay. Tôi gọi Midori, gọi mãi, từ giữa ổ lòng lặng ngắt của chốn vô định ấy.”

Khung cảnh của một chiều mưa lâm thâm bên ngoài trạm điện thoại công cộng màu đỏ, những mặt người hối hả bước đi, tiến đến gần, lùi ra xa, biến mất. Nó nhắc mình nhớ tới câu hát trong Eleanor Rigby (lại một khúc ca khác của Beatles):

“All the lonely people.
Where do they all come from?
All the lonely people.
Where do they all belong?
Ah, look at all the lonely people.”

(Tất cả những con người cô độc đó.
Tất cả họ đến từ đâu?
Tất cả những con người cô độc đó.
Tất cả họ thuộc về chốn nào?
Ôi, nhìn xem những bóng người cô độc đó.)

Dẫu chẳng biết họ tới từ đâu và thuộc về chốn nào, nhưng mình có một linh cảm chắc chắn rằng, chính họ là những người đã say mê Rừng Na Uy bằng tất cả những nỗi buồn mơ hồ nhưng vô phương cứu chữa.

Hết.

Hiền Trang


Muôn màu của Haruki Murakami





2 Comments

2 Bình luận

  1. Trúc Quỳnh

    Tháng Tám 23, 2019 at 10:20 sáng

    Hay!!!!

  2. Thuỷ

    Tháng Mười Một 6, 2019 at 1:29 chiều

    Nói sao nhỉ. Cuốn rừng nauy là cuốn mình thích nhất của murakami. Đọc bài viết của bạn cho mình nhiều cảm xúc. Vừa như bị ném shit vào mặt, vừa như bạn đang đọc rừng nauy cho mình nghe. Bài viết hay, có phân tích rỏ ràng, viết ra cảm xúc của người đọc 1 cách chính xác, cảm thấy như bạn đang viết ra đúng tiếng lòng của mình. Rất thích cách viết và tính cách của bạn.

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

“Shuggie Bain” chiến thắng Booker Prize 2020: Văn chương chạm đến cảm xúc, hay là #bookersowhite?

Published

on

Chủ nhân của Booker Prize 2020 đã được xác định, và không quá bất ngờ khi nó thuộc về Douglas Stuart với cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình. Shuggie Bain vượt qua năm cuốn sách khác để giành giải, và với thắng lợi rực rỡ năm nay, ta thấy phần nào Booker đã trở về đúng vai trò của nó – văn chương chạm đến cảm xúc. Là cuộc dẫn nhập xuyên qua Glasgow những năm 80 dưới đế chế Thatcher u tối, Shuggie Bain là câu chuyện của một đứa trẻ gánh vác tránh nhiệm nặng nề: gia đình tan hoang, người mẹ nghiện rượu và những khám phá tự bản thân mình. Đầy cảm xúc, bi thương mà hồn nhiên đến mức tréo ngoe, Shuggie Bain - như một nhận định - là vở melodrama đỉnh nhất năm nay.

Tiếp lời Margaret Busby, chủ tịch hội đồng giám khảo năm nay rằng: [Shuggie Bain] là câu chuyện cảm động kể về tình yêu vô điều kiện giữa Agnes Bain - trong bối cảnh nghiện rượu mà cuộc sống khó khăn gây ra cho cô - và cậu con trai út của mình... Được viết một cách duyên dáng và mạnh mẽ, đây là một cuốn tiểu thuyết có tác động lớn bởi nó có nhiều ghi chép cảm xúc và các nhân vật cũng đầy cảm hứng. Chất thơ trong các mô tả của Douglas Stuart và độ chính xác của các quan sát là đầy nổi bật: không gì là lãng phí".

Nếu năm ngoái có nhiều ý kiến bất đồng khi trao đồng thời đến hai giải thưởng mà một trong số đó thuộc về Margaret Atwood với nhiều đánh giá tiêu cực cho phần hai của Chuyện người tùy nữ, thì năm nay, một sự thống nhất đã được ấn định, ở cả hội đồng giám khảo và giới độc giả. Theo chủ tịch hồi đồng giám khảo Margaret Busby, quyết định cuối cùng đã được nhất trí chỉ trong một giờ; còn với Gaby Wood – giám đốc văn học của Booker Prize Foundation, việc xem xét người chiến thắng đã được siết chặt để không có hơn một người chiến thắng.

*

Một cách tổng quan ngay từ bước đầu, Shuggie Bain đã sở hữu trong mình rất nhiều yếu tố có thể chiến thắng: cốt truyện cảm xúc, bối cảnh đặc biệt và một lối viết đậm đặc chất thơ. Có thể nói, với những yếu tố vẫn cứ trở đi trở lại hàng năm trong danh sách đề cử Booker, thì Shuggie Bain không thể không thắng. Dạo lướt qua những đề cử những năm trước đó trong lịch sử 51 năm của giải thưởng này, ta thấy những tiểu thuyết thuộc quỹ tích tương tự Shuggie Bain là không hiếm. Cứ cách một năm lại thấy trong danh sách ấy tiểu thuyết kiểu ấy. Từ Ali Smith đến Anne Tyler, từ Elizabeth Strout đến Hanya Yanagihara; tất cả hợp thành một án tiền lệ mà nếu phông cảnh xã hội cùng với tình hình những dòng thời gian không quá đảo chiều, thì đây là những tiểu thuyết có một khả năng chiến thắng rất cao.

Quay ngược 15 năm trước vào năm 2005, khi giải Booker bất ngờ được trao cho John Banville – một tác gia có phần xa lạ và ít đột phá trong sự nghiệp mình, trước những Julian Barnes (tác giả của Nghe mùi kết thúc – Booker 2011), Kazuo Ishiguro (nhà văn đoạt giải Nobel), Ali Smith (nhiều lần đề cử Booker và người chiến thắng ở giải Orange) mà đặc biệt nhất là Zadie Smith. Giới phê bình đã thấy một sự trở về cùng với cố hương. Giữa một cuốn sách đầy những vận động và các xung đột mạch ngầm mới về sắc tộc, các mối quan hệ gia đình, cuối cùng giải thưởng hàng lâu đời này vẫn chọn The Sea. Tin tức hành lang cho biết On Beauty của Zadie Smith đã gây ra những nhiễu loạn tranh luận trên bàn giám khảo, nhưng đến cuối cùng, hương vị quen thuộc đã được chọn lựa. Tính trắng đã thắng.

Shuggie Bain có chính lợi thế đó - về “gu” của giải thưởng này. Nếu Nobel vẫn được gắn nhãn bới lá tìm sâu nơi những tác gia ít được biết đến, thì hơn ai hết, Booker dĩ nhiên là chính tính “trắng” ở trong văn chương. Việc vượt qua Burnt Sugar hay This Mournable Body cũng cho thấy một sự tự chủ của giải thưởng này. Nếu tháng tám vừa rồi giải Booker Quốc tế được trao cho The Discomfort of Evening bởi sự mới lạ, cách tân, không theo lẽ thường; thì hội đồng giám khảo cũng đã quyết định đi con đường riêng, để giải Booker (dù chính hay phụ) đều theo hướng khác mà không trùng lặp.

Tính tự chủ của giải thưởng này cũng được xác lập ở trong trường hợp của The Shadow King và giải Sách Quốc gia. Nếu trung tuần vừa rồi Winner of winner trong 25 năm lịch sử  giải Orange thuộc về Adichie với Nửa mặt trời vàng, thì Booker chẳng có cớ gì đi trao cho một cuốn sách khá tương đồng. Đó cũng hoàn toàn là một lý do, bên cạnh trào lưu tiểu thuyết lịch sử trong cơn thoái trào, cùng sự ngã ngựa của Hilary Mantel. Bên cạnh đó, giải sách Quốc gia được trao trước đó một ngày cũng đã trao cho Interior Chinatown của Charles Yu và Shuggie Bain hẳn nhiên mở rộng con đường chiến thắng của mình ra thêm. Quay về 17 năm trước vào năm 2003 khi cuốn Người tình của Bretch đã được trao trước hai tuần ấn định của giải Goncourt, chặn đứng việc công bố giải của giải Femina cho thấy sự cạnh tranh của những giải thưởng và tính tiên phong đôi khi đặc biệt, và đó hẳn nhiên là một may mắn khi giải Sách Quốc gia đã lựa chọn trước mà không trùng lặp, nếu không có trời mới biết ai sẽ chiến thắng.

Một yếu tố nữa không thể không nhắc, đó là tình hình địa - chính trị. Booker với tiếng nói trắng, một mặt nào đó, trở thành cơ quan ngôn luận không-hề-chính-thức cho việc nghệ thuật có thể ảnh hưởng ra sao đối với địa - chính trị. Như trong trường hợp Eurovision Song Contest trong lịch sử, với việc Romania bị rút khỏi giải do còn nợ tiền EU hay Nga rút khỏi cuộc thi vào năm Ukraine đăng cai tổ chức vì những tranh cãi chính trị… Tất cả cho thấy ở Lục địa già, nghệ thuật đang bị chi phối. Và khi Scotland đang đòi tách ra khỏi một nước Anh tràn ngập hoang mang thời Hậu Brexit, chiến thắng này cũng không nằm ngoài làn sóng chính trị. Và cũng như Douglas Stuart phát biểu sau khi nhận giải, anh cám ơn người dân Scotland, đặc biệt là người Glaswegians, họ có sự đồng cảm, hài hước và tình yêu cùng sự đấu tranh trong từng câu chữ của cuốn sách này.

*

Nói thế cũng không có nghĩa Shuggie Bain giành được chiến thắng chỉ bởi yếu tố bên lề. Shuggie Bain là cuốn sách hay, động vào cảm xúc và Douglas Stuart, bằng chính chất thơ, đã họa nên những nỗi buồn hết sức sâu sắc. Là tay ngang viết niên chiến thắng, ta khó đánh giá cuốn tiểu thuyết này bằng những dấu ấn đậm chất văn chương; nhưng ngược lại, bởi chẳng có gì, sự quan sát của Douglas vô cùng quý báu. Dưới sự quan sát của một đứa trẻ như Hugh, người đọc vừa thấy cảm thương, vừa thấy thích thú cũng vừa chua xót cho thân phận mình. Douglas chiến thắng bằng những quan sát tinh tế, bằng một câu chuyện cảm động mà hơn ai hết, chạm đến trái tim của mỗi một người.

Hơn nữa Shuggie Bain cũng mở cánh tay chào đón những yếu tố khác. Bối cảnh Glasgow thời hậu Thatcher xuất hiện khá ít trong các tiểu thuyết văn chương ngày nay, và Douglas bước vào một khe cửa hẹp để họa được nên bối cảnh lúc này. Ở kỷ nguyên mà Thatcher không muốn công nhân cần mẫn mà tương lai của bà nằm ở công nghệ, hạt nhân và tư nhân hóa y tế; Douglas đã viết nên được một cuốn tiểu thuyết đầy tính trải nghiệm trong quãng thời gian vô cùng đen tối, vô cùng muốn quên của giới thợ mỏ mới chớm đến gần chủ nghĩa xã hội.

Những mối quan hệ gia đình cũng là nhánh khác khiến nó đứng vững. Mối quan hệ giữa Agnes và chồng hay ba người con, mà đậm nét nhất là Hugh càng cho thấy rõ những gì xảy ra trong gia đình này. Từng đứa trẻ lớn lên, rời xa, những dằn vặt ở trong người mẹ, cái chua chát hy sinh của từng đứa trẻ. Douglas không chỉ quan sát qua một lăng kính của bản thân mình, anh còn đứng đó nhập vai vào bố mẹ mình, vào hàng xóm mình, vào người dân Glaswegians và cả câu chuyện của Shuggie Bain, khiến nó từ một tiểu thuyết nặng tính hồi ký trở nên trung dung mà đầy đồng cảm, ít nhất là cho những ai lớn lên từ khu mỏ than nơi những cá tính bắt đầu bộc lộ.

Sự tự khám phá bản thân cũng là yếu tố sau rốt làm nên tiểu thuyết dang rộng cánh tay. Nếu Brandon Taylor có những xung đột cùng với màu da nhưng thiếu chi tiết đặc trưng một cách nhất định; thì Douglas thông qua quan sát viết nên trải nghiệm trong Hugh đầy vẻ tự nhiên nhưng lại đồng cảm một cách khác thường. Từ những chi tiết bị bắt nạt ở trường cho đến lẳng lặng lấy trộm Pony, từ việc gần gũi với mẹ đến việc dạy cho bà nhảy những nhạc disco; Douglas Stuart cũng chứng minh mình ở địa hạt này, mà truyện ngắn khác – Found Wanting – cũng được đánh giá khá cao ở dòng văn chương LGBT và những dư vị xung quanh của nó.

*

Shuggie Bain và chiến thắng ở giải Booker 2020 hoàn toàn xứng đáng. Chỉ có một điều dường như vẫn đang tồn tại. Mặc cho chính những nỗ lực cố gắng thay máu của dàn giám khảo, thế nhưng kết quả vẫn không khác mấy. Thành thực phải nói, đứng ngang Shuggie BainBurnt SugarThis Mournable Body đầy tính thể nghiệm và văn chương hơn; thế nhưng lựa chọn vẫn “trắng” và khá “thông thường”. Ở một mặt khác ngoài chuyện sắc tộc, cả hai cuốn sách đều khá địa phương và quá mới mẻ - tiêu chí mà giải Quốc tế vô cùng yêu thích. Biết đến bao giờ quốc tế, quốc nội mới có một sự cạnh tranh công bằng? Cũng như cho đến khi nào giữa hai thị trường xuất bản London - New York mới hòa vào nhau?

Nhưng dẫu sao, Shuggie Bain vẫn là ngọn lửa ấm lòng giữa thời dịch bệnh, và là một tiếng nói mới, đánh dấu một nhân dạng mới trên nền văn chương. Chúc mừng tất cả.

Hết.

minh.

*

Toàn cảnh Booker Prize 2020: Cơn thoi thóp chờ thời đổi mới?


International Booker 2020: Những dự đoán trước thềm trao giải

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Toàn cảnh Booker Prize 2020: Cơn thoi thóp chờ thời đổi mới?

Published

on

The Booker Prize 2020 chứng kiến nhiều bất ngờ trong suốt hành trình của mình, từ danh sách đề cử đến 6 cái tên rút gọn đều là những kết quả vô cùng khó đoán. Trái với dự đoán của đa số độc giả khi cho rằng Hilary Mantel sẽ lần đầu trở thành tác gia có ba cuốn sách thuộc bộ trilogy cùng nhau đăng quang, thì bất ngờ lớn đã kịp xảy ra. Không chỉ Hilary Mantel mà những tên tuổi kỳ cựu khác như Anne Tyler cũng nằm ngoài danh sách rút gọn, hay Actress của Anne Enright thậm chí không lọt vào danh sách đề cử. Lần đầu ta có 4/6 cuốn sách đề cử đều là tác phẩm đầu tay, 4/6 tác giả là nữ và hầu hết đều khắc họa một điều gì đó đen tối trong thế hệ chúng ta. Nếu Diane Cook mang đến tiểu thuyết dystopia thời hậu tận thế thì Real Life là những xung động sắc tộc. Nếu Shuggie Bain là một nỗi buồn vô cùng đẹp đẽ thì Burnt Sugar lại nằm chông chênh giữa thế giằng co. Và nếu The Shadow King hát lên bài ca ca ngợi phụ nữ, thì The Mournable Body là những nhiễu nhương của thời đoạn này. Mỗi một cuốn sách, mỗi một câu chuyện tựu trung bóng dáng những ngày hiện tại.

Nếu năm ngoái chứng kiến sự bất lực (khi trao giải cho phần 2 Chuyện người tùy nữ) cũng như theo dòng thời sự (#Metoo cho Bernardine Evaristo), thì ta hoàn toàn có thể chờ đợi một kết quả khác hoàn toàn hợp lý cho giải năm nay. Việc chọn 6/13 cuốn tiểu thuyết đầu tay từ danh sách đề cử cũng như hành động án ngữ Anne Tyler hay Hilary Mantel khỏi danh sách rút gọn cho thấy một điều rất đáng suy ngẫm về động cơ của hội đồng giám khảo.

Với dàn giám khảo mới toanh có phần xa lạ, gồm Margaret Busby, Sameer Rahim, Lemn Sissay, Emily Wilson và nhà văn trinh thám quen thuộc Lee Child; giải Booker năm nay hứa hẹn một sự mới lạ, cùng những cơn bão không ngừng leo thang bởi sự bất đồng với tính mới này. Dẫn lời Gaby Wood, giám đốc văn chương Booker Prize Foundation: "Khi chúng tôi đưa ra danh sách đề cử gồm 13 cuốn sách, một trong số chúng tôi đã hỏi rằng: 'Có bao nhiêu cuốn sách đầu tay thế?' Chúng tôi đã đếm. Và kết quả là hơn một nửa. Một tỷ lệ cao bất thường. Đặc biệt còn gây ngạc nhiên cho chính các giám khảo, những người vốn ngưỡng mộ nhiều cuốn sách của các tác giả quen thuộc hơn, và rất tiếc khi phải để chúng ra đi. Có lẽ hiển nhiên là những câu chuyện mạnh mẽ có thể đến từ những nơi không ngờ tới và dưới những hình thức xa lạ.” Và đó là dấu chỉ cho thấy hội đồng giám khảo năm nay không quá bi lụy vào tình thân của giới xuất bản (mà Atwood hay Rushdie năm ngoái là một vết chàm) cũng không e sợ dư luận lên tiếng (mà Burnt Sugar là một ví dụ điển hình). Một trong những mùa giải thay máu và đáng trông chờ nhất những năm gần đây.

TIỂU THUYẾT ĐẦU TAY

Ngoại trừ Tsitsi Dangarembga và Maaza Mengiste đã xuất hiện trên văn đàn từ trước, 4 cái tên còn lại đều mới chạm ngõ văn chương. Nếu Douglas Stuart – nhà văn Scotland hoạt động trong lĩnh vực thời trang tại New York – viết nên Shuggie Bain bằng những trải nghiệm cá nhân khi sống chung mái nhà với bà mẹ nghiện rượu và làm mọi thứ để níu giữ bà ở tuổi rất nhỏ; thì Brandon Taylor – khi đặt bút viết Real Life – thì Wallace cũng chính là anh trong phòng thí nghiệm. Cả hai người họ đều dùng trải nghiệm cá nhân để làm chất liệu cho tiểu thuyết. Nhưng nếu Shuggie Bain có không gian mở và bối cảnh đầy những khúc quanh có thể khai thác là đế chế Thatcher với những chính sách bất lợi cho giới thợ mỏ; thì Brandon Taylor lại bị co cụm ở trong khuôn viên ngôi trường đại học, một khoảng không gian đã được khai thác rất lâu trước đây mà Zadie Smith, J. M. Coetzee… là những tên tuổi sừng sỏ cho địa hạt này; và dĩ nhiên, với tính chất mới, Brandon bị mắc kẹt và Real Life không quá đột phá.

Với Real Life, Brandon Taylor ít nhiều thể hiện được thế giới quan cá nhân về người da màu yếm thế trong đời sống đầy tính tự do và tư bản giả tạm của dân tư bản da trắng.


Ở một mặt khác, Avni Doshi – người làm nghệ thuật, một nhà giám tuyển – cũng tái tạo nên Antara, nhân vật chính trong Burnt Sugar, theo nghề nghiệp này. Trái với trường hợp hai tác giả trên, Burnt Sugar có rất ít trải nghiệm cá nhân ở nơi tác giả. Và cũng có lẽ vì thế, cuốn tiểu thuyết này sắc sảo, lạnh lùng mà đầy mê hoặc về sự đối đầu, các khe hở nhỏ và những đường biên bến bờ đạo đức. Có vận động, chuyển biến, cao trào và đẩy đến cái lạnh tanh; Avni mở cho người đọc một sự trông chờ vào các tiểu thuyết tiếp sau của mình.

Để hỏi đâu là cuốn sách gây nhiều phân cực nhất của mùa giải năm nay thì câu trả lời chắc hẳn là Burnt Sugar của Avni Doshi.

Trong khi đó, Diane Cook, một nhà hoạt động môi trường với tập truyện ngắn Human Vs. Nature từng đạt được nhiều giải thưởng trước đây đã mở rộng cánh cửa bằng một tiểu thuyết vô cùng trường kỳ – The New Wilderness – với những khắc họa dystopia, vấn nạn môi trường và những xu thế thảm họa diệt vong. Thế nhưng Diane đã quá tham lam khi mượn cốt truyện về tình mẹ con để rồi dẫn dắt vào trong câu chuyện. Hơn nữa, yếu tố dystopia trong tiểu thuyết này cũng rất nửa vời, chưa đến tận cùng, chưa vào sau rốt. Rất tiếc phải nói rằng, nếu như được biên tập lại thật gọn hơn nữa thì đây sẽ là tiểu thuyết hiện sinh đại diện cho thế hệ chúng ta.

Diane Cook cũng họa nên một thế giới như thế, thế giới của tương lai, của đói khát của thảm họa.


Nếu cả 4 tác giả nêu trên không có quá nhiều dấu ấn cá nhân ở những tiểu thuyết đầu tay, (ngoại trừ Avni Doshi với cú debut vô cùng ấn tượng), thì Tsitsi và Maaza lại cho ta thấy ngòi bút lão luyện của những nhà văn sống trong nghệ thuật. Với This Mournable Body và là phần cuối của triology The Nervous Conditions bắt đầu từ năm 1988 (trường hợp ngược lại của Hilary Mantel), Tsitsi bằng chính mô tả nội tâm vô cùng ngột ngạt viết trong ngôi kể độc đáo cùng cách kể chuyện không hề câu dẫn đã họa nên bức tranh Zimbabwe trong thế loạn trí của Tambudzai – mà ta dễ thấy là hình bóng khác của chính Tsitsi. Một phiên bản mới đã thôi nhai lại của Người giao sữa.

This Mournable Body là cuốn tiểu thuyết lạ, lạ theo mọi phương cách ta có thể gọi tên. Từ ngôi kể, góc nhìn, tình tiết, nhịp điệu,… Tsitsi Dangarembga huyễn hoặc người đọc bằng tài năng kể chuyện.

Ở mặt trận khác, khi Ngozi Adichie được xướng tên chiến thắng ở giải Winner of Winner trong lịch sử 25 năm của giải Orange, thì cũng là khi The Shadow King mang đến trong mình một sự bứt phá từ trong bản chất. Xét về tổng quan, Nửa mặt trời vàng và The Shadow King không quá khá biệt – đều trong bối cảnh vô cùng đặc biệt, đều là hình tượng những người phụ nữ được miêu tả thật sự tinh tế, đi cùng theo đó là những lồng ghép thời đại – có chăng Maaza đã làm mới hơn khi xây dựng được một kết cấu mới vô cùng phức tạp: giữa hư và thực, giữa mới và cũ, giữa cái tưởng tượng và điều thực tế. Maaza viết nên The Shadow King không chứa quá nhiều yếu tố mới mẻ, thế nhưng về mặt tổng quan, đây là cuốn sách hài hòa, vừa đủ và đầy thông minh, dễ lấy cảm tình từ phía độc giả.

Với The Shadow King, Maaza Mengiste đã viết nên bản hùng ca về chiến tranh Ethiopia, về phụ nữ – những nữ chiến binh, về những mảng sáng tối trong tâm hồn mỗi một con người.

DẤU ẤN CÁ NHÂN

Nếu Douglas Stuart mang đến người đọc một sự đồng cảm khi lướt qua vùng Glasgow dưới đế chế Thatcher bằng một giọng kể đậm nỗi buồn thương nhưng cũng tươi sáng trong mắt trẻ thơ một cách kỳ lạ; thì Avni Doshi bằng sự mới mẻ, tiềm lực khai phá dẫn dắt người đọc qua sự đối đầu giữa những nhìn nhận về mặt đạo đức trong bản thân mình. Với Burnt Sugar, Avni đánh dấu được sự nổi bật trong cách lựa chọn đề tài, xây dựng diễn biến, nghệ thuật kỳ ảo, đẩy đến cao trào; và cũng chính những tranh cãi xung quanh cuốn sách là thứ khiến cho người đọc nhớ nhất, khiến nó vượt lên các đối thủ còn lại, một cách tiếp cận tương tự The Discomfort of Evening ở giải Quốc tế vừa rồi.

Giữa 6 tác giả ta đã kể trên, Tsitsi Dangarembga có vẻ nổi bật trước hết bằng phong cách viết vô cùng mới lạ của bản thân mình. Bằng bầu không khí ngột ngạt của những diễn biến nội tâm nhân vật cùng cách xây dựng ngôi kể, góc nhìn, pha chút kỳ ảo cùng đó là chính giọng văn dẫn dắt người đọc vào câu chuyện kể; Tsitsi đã làm nên một hố sâu giữ chân người đọc. Nếu ai từng thích cái ngột ngạt gò bó trong Người giao sữa của Anna Burns nhưng lại không thích dáng vẻ loạn trí trong tiểu thuyết đó, thì This Mournable Body là một cuốn sách không thể bỏ qua, về một xã hội Zimbabwe đầy thất bại sau khi độc lập, về những con người thật sự ủ ê cũng những đè nén với người da trắng… Hiếm có một tác phẩm nào được Doris Lessing, Alice Walker và cả Chinua Achebe ca ngợi “như cuốn tiểu thuyết ta hằng mong đợi”.

Còn lại nhạt nhòa không quá khác biệt. Brandon Taylor thiếu cái nhạy bén của những tiểu thuyết LGBT với những chi tiết thật sự lột tả. Anh nằm chênh vênh giữa hai tên tuổi James Baldwin và Sally Rooney khi phần nào đó đem được sắc tộc cùng nổi quẫn trí của thế hệ Y trong thời đoạn này. Diane Cook lại làm chưa tới. Maaza không quá đặc biệt khi ta bỏ đi chính bối cảnh đó.

VÀ NHỮNG ĐIỀU KHÁC

Nếu năm ngoái ta có #Metoo như cách dự đoán những người thắng giải, thì năm nay Covid-19 thật sự đã lấy đi mất ánh hào quang đó. 4/6 đề cử là tác giả nữ, thế nhưng nhìn chung, chỉ Avni và Tsitsi thật sự nổi bật. Thế nhưng nếu đi đúng hướng của giải Booker Quốc Tế được trao từ hồi tháng 6, Diane Cook - vừa là một tác giả nữ, vừa đang sở hữu tiểu thuyết dystopia nặng tính sinh thái - rất có lợi thế trong thời đoạn này. Nhưng nếu nhìn giải Orange vừa trao tuần rồi – nơi tiêu chuẩn kép rất giống Booker, viết bằng tiếng Anh và được xuất bản ở thị trường Anh – xu hướng đề cao tính nữ của Maaza trong The Shadow King rất có cơ hội.

Và một mặt khác về địa chính trị. Trong khi nước Anh rối bời tìm cách quay đầu khỏi những khủng hoảng thời hậu Brexit, thì nơi Scotland – một phần hợp thành, cùng với Ireland – đang trong khao khát muốn được tách ra và quay trở lại ngôi nhà rộng lớn từng bị ép bỏ. Và Booker biết đâu nhân cơ hội này mong muốn chứng tỏ văn chương đi theo thời sự, và trao ngôi vương cho chính nhà văn từ miền đất này. Sự thật trần trụi rất có khả năng, và cao hơn nữa là nhằm chớp thời cơ trước giải sách Quốc Gia mà Shuggie Bain cũng là một trong những đề cử với khả năng chiến thắng trên đà rất cao.

Shuggie Bain hùng vĩ và dậy sóng, chạm đến độc giả bằng sự chân thành. Một dẫn nhập xuyên suốt qua vùng Glasgow – Scotland những năm 1980 dưới đế chế Thatcher u tối.

KẾT

Rất khó dự đoán những gì xảy ra trong cơn bão tới. Với danh sách rút gọn từ 13 cuốn sách đề cử, dễ thấy ban giám khảo năm nay đang muốn đổi mới, mong muốn cách tân những tàn dư cũ của giải thưởng này. Xét về tổng thể, vừa là bối cảnh, vừa là câu chuyện, This Mournable Body của Tsitsi pha trộn hài hòa đầy mọi yếu tố – dấu ấn cá nhân, đời sống ngột ngạt, phản ánh thời đại. Nhưng để vượt qua tính hiện thực hóa đòi hỏi văn chương đi theo thời sự, cùng những yếu tố thuận lợi về địa – chính trị, Shuggie Bain là một vùng trùng dễ bị lắp đầy bằng một giải thưởng. Và để tìm kiếm một sự phá cách, một làn gió lạ – Burnt Sugar vừa đủ, thông minh mà đầy sắc sảo. Ngay đến Hilary Mantel vẫn còn ngã ngựa dĩ nhiên không gì hoàn toàn có thể chắc cả. Nhưng nếu Tsitsi hay Avni giành được chiến thắng, dĩ nhiên hoàn toàn là điều xứng đáng, và cả Douglas, và cả Maaza, và cả Diane hay là Brandon cũng luôn như thế.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Mình cần nói chuyện về Kevin và công cuộc trả đũa bạo tàn

Trong mắt tôi thế giới chia làm hai loại, kẻ xem và kẻ được xem, và càng nhiều người xem thì càng ít thứ để xem. Những người thực sự làm gì đó thực sự là loài có nguy cơ tuyệt chủng.

Published

on

Thật khó để tưởng tượng ra quá trình Lionel Shriver viết nên Mình cần nói chuyện về Kevin, một cuốn sách nằm chênh vênh giữa những bến bờ đạo đức, giữa lạnh lùng đỉnh điểm và những khúc cua ngoặt khỏi lý trí. Shriver đi ven biên giới của những quan điểm nhạy cảm: giữa tội ác – tình thân, giữa căm thù – tha thứ. Tuy dựa trên câu chuyện có thật về các sự kiện đã từng xảy ra, thế nhưng với cách viết khoắng sâu vào lòng người đọc, thậm chí đôi khi còn là nhát lẹm cắt phạm vào cực hạn đạo đức mà mỗi một người vẫn tự quy ước; Shriver mang đến cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng cho những ai đủ can đảm theo dõi xuyên suốt cuộc đấu của những bộ não lạc lối trong mê cung xã hội đầy nhiễu nhương, lệch lạc, loạn trí.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Mình cần nói chuyện về Kevin.

*

Cuốn sách được kể thông qua những lá thư mà Eva viết cho chồng mình – Franklin sau ngày thứ 5 đen tối ở trường Gladstone, nơi máu do vụ thảm sát Kevin gây ra rực sáng góc nhà thể chất như trong lễ hội ném cà chua ở những cảnh đầu phim chuyển thể. Từ đó, cô lần ngược về lại thời khắc của những dè dặt, tranh cãi nơi cặp vợ chồng vào độ trung niên hoang mang liệu nên có một đứa con; câu chuyện dần dà tiếp tục diễn tiến đến khoảng thời gian cậu bé lớn lên cùng những hành động kỳ lạ, những mưu tính khó đỡ và hơn hết là thế đối đầu giữa Eva và con trai mình. Ẩn sâu giữa những xung đột gia đình vợ – chồng – con cái, đồng thời hiện lên đời sống chính trị – xã hội ngột ngạt, những trào lưu mới, những làn sóng mới mà những đứa trẻ mới lớn bị hút chặt vào trong từ trường lệch lạc. Lionel Shriver am hiểu phụ nữ đến vô cùng tận. Bà viết Mình cần nói chuyện về Kevin trong giọng nói của Eva, nhưng từng câu, từng chữ và từng suy nghĩ của cô đều chứa đựng một sự chua chát ngấm ngầm. Và hơn ai hết, dường như chỉ có Shriver mới viết được một cuốn sách đầy gai góc và mong manh giữa những phạm trù đạo đức như thế.

Đi tuần tự tuyến tính theo ba khoảng thời gian: giữa quyết định có con, khi Kevin lớn lên và cuối cùng đến tuổi trưởng thành; Shriver đánh dấu tiểu thuyết của mình cũng theo ba giai đoạn đó. Với phần đầu khi cặp gia đình thành công, hạnh phúc, thượng lưu đang tận hưởng những ngày êm đẹp của mình, thì một thứ gì đó đánh thức họ sau cuộc nói chuyện ở nhà Louise nơi Eva thấy ở Franklin niềm khao khát phận sự lớn lao. Cũng chính trong đêm đó, những cãi vã lần đầu xuất hiện giữa họ, và cũng là nguồn cơn tạo ra mọi thứ. Là một doanh nhân thành đạt với công ty lữ hành, một nhà nhân chủng học, một người xem cả thế giới là nhà mình – Eva từ lâu vốn luôn ngờ vực về việc có con. Đối với cô việc có thêm một đứa trẻ chỉ đơn thuần như việc duy trì nòi giống, tiếp tục cuộc sống vốn luôn dè dặt, âu lo khi cả hai đã quá hạnh phúc từ trước đến giờ. Thế nhưng với những khúc quanh trong cảnh dè dặt đầy phiền muộn này, Shriver mở ra cả một vũ trụ của những quan điểm mang thai.

Đầu tiên về sự ích kỷ. Ở một khắc nào đó, ta thấy Eva và Franklin có đủ mọi thứ mà mọi người cần. Giàu có, sung mãn, hạnh phúc và cuốn hút lẫn nhau. Thế nhưng việc chần chừ mang thai đứa con liệu có xuất phát từ sự ích kỷ cho riêng bản thân? Là người điều hành công ty lữ hành, việc của Eva là xách ba lô lên và đi. Thế nên nếu có Kevin, nghĩa là việc đó sẽ phải chấm dứt. Và dù sau này khi Eva đã chấp nhận chính đường hướng đó, những lời kêu than về việc nhảy múa ở tháng thứ 7, những viễn cảnh đau đớn trong tháng mang thai hay cơn đau đớn lúc sinh Kevin; dường như gợi cho người đọc một chút gì đó về sự không mong muốn ở người phụ nữ này.

Sự không mong muốn đó có thể là khởi đầu cho những lý giải về cách Kevin hành xử và cho nguồn cơn của cuộc thảm sát mà cậu tạo ra. Bào thai gắn kết với mẹ một cách thiêng liêng, ít nhiều nếu có toan tính từ trong vật chủ, hẳn nhiên những sinh vật mới và đầy nhạy cảm ấy cũng sẽ là người cảm nhận rõ nhất. Từ khi Kevin còn nằm trên ngực em, em ngay lập tức cảm thấy nó đã là một con người đầy đủ tri giác với đời sống nội tâm phức tạp và khôn ngoan. Còn về phía Franklin, anh đón nhận việc có con đầy háo hức trong khuôn khổ những người đàn ông Mỹ điển hình – khoa trương, mềm yếu và đầy bao che. Việc dang tay che chở trong khao khát một đứa con trai, việc bảo bọc nó trong mọi khoảnh khắc… Kevin tuy nhiên chỉ là đứa trẻ từ lúc sinh ra, thế nhưng, nó xem cách cư xử của cha như một trò hề. Trong khi hai người họ tranh cãi về những thiên chức của mình, Kevin ở đó quan sát, lớn lên và hình thành trong mình dòng máu đầy những quả bom nổ chậm.

Và cũng từ khi Kevin tồn tại ở đó, một sự gặm nhấm vào trong Eva được cô cảm nhận từ sâu trong mình. Cũng như những người đọc khác, một sự nghi ngại về tính khả thi của lựa chọn này không thể không đưa ra bình luận. Việc một đứa trẻ sinh ra và hiểu hầu hết mọi thứ trên đời trong vẻ lãnh cảm, xa cách và lạnh lùng cố hữu liệu có quá thực tế? Liệu Kevin quá thông minh hay Shriver đã viết nên một cuốn sách đầy tính thần thoại? Nếu con rắn ở vườn địa đàng dụ dỗ Eva thử ăn trái cấm; thì với Eva (trong cuốn sách này), một con rắn khác đã được hình thành và xui khiến cô - không khác mấy so với câu chuyện ban đầu. Việc từ chối sữa mẹ, lẳng lặng học đếm và không ăn khi có ai khác đang quan sát mình; những hình tượng thần thoại thế này dường như không quá phù hợp, và ở điểm này Shriver mang đến người đọc một sự hoài nghi về tính logic và sự xác thực. Thế nhưng cũng rất có thể bản chất của cái lãnh cảm đã được sinh ra từ trong nguyên bản, tồn tại và phân chia sâu.

*

Kevin ngày càng lớn lên thì những thứ đáng sợ lại càng dâng lên. Shriver nâng cấp những chi tiết này trong vẻ kinh dị của sự lạnh lùng. Từ việc trêu chọc người phục vụ có vết bớt là “mặt phân” đến phá hỏng những tấm bản đồ trên tường; từ việc không chịu đi vệ sinh mà vẫn mặc tã đến tận 6 tuổi cho đến nhại lại những khi Eva nổi nóng; Kevin từ lâu tạo nên cuộc chiến giữa mẹ và chính cậu ta – như lời sau này cậu nói ở lần thăm tù – Bà chưa từng muốn sinh ra tôi phải không? Và dĩ nhiên, mọi thứ chưa dừng ở đó. Việc dụ dỗ Violetta cào những lớp da từ phần cơ thể lành lặn do bệnh chàm, việc vặn bộ nhả phanh phía trước xe đạp của Corley, móc ruột chiếc bánh sinh nhật hay thì thầm và làm tổn thương cô bé ở vũ hội lớp tám… Tất cả dường như chỉ mới bắt đầu cho những tháng ngày kinh khủng.

Thế kình chống giữa Kevin và Eva cũng như sự hoang tưởng của Franklin là động lực chính khiến Kevin ngày càng trở nên dữ tợn trong hành động mình. Cậu tìm cách phá vỡ mối quan hệ của cha mẹ mình, luôn luôn đáp trả 1 chọi 1 với mẹ trong sự bao che của cha. Để rồi khi Celia ra đời, cậu càng cảm thấy vị thế đang bị đe dọa, đơn giản bởi lẽ bản thân không còn là cái đinh trong mắt để chọc tức được mẹ. Việc phân chia tình cảm một cách ngầm hiểu khi cậu cho cha và Celia cho mẹ làm cậu đau đớn. Cái đau đớn lạnh lùng ấy được hiện thực hóa bằng cách bỏ sâu trong cặp em gái, dụ dỗ cô bé leo cây để rồi mắc kẹt hàng tiếng đồng hồ. Hơn thế là món soup lõm bõm đánh vào nỗi sợ cố hữu và đẩy đến cao nhất bằng cách đổ nước thông cống vào mắt cô bé hay là thủ dâm trước mặt mẹ mình.

Kevin nâng lên từ từ những cách trả thù của bản thân mình mỗi khi Eva tìm được cách khác hẳn cao tay hơn. Việc làm mù một mắt Celia và biến dạng hoàn toàn bởi acid một bên mặt cô bé làm mẹ cậu đau đớn, dẫn đến rạn nứt trong mối nghi ngờ mà việc ngụy tạo vu khống cô Pargorski như giọt nước tràn ly khiến cuộc hôn nhân đi vào kết thúc. Và ngay sau đó cậu nhận ra rằng, thà sống với một kình địch như chính mẹ cậu còn hơn sống với người cha như một tên hề, kẻ bị dắt mũi để rồi mãi mãi mắc kẹt với bố.

*

Cũng chính ở chi tiết cuối làm nên bi kịch của ngày thứ năm ở sân thể chất. Việc mắc kẹt với bố và phải từ bỏ tình thế trả đũa Eva khiến Kevin nuôi thêm một sự trả thù ở cấp độ khác còn khủng khiếp hơn. Khi đã quá mỏi mệt với trò trả đũa lẻ tẻ, nay khi cuộc hôn nhân chìm xuồng đang ngay trước mắt, cuối cùng Kevin cũng đã phản công cướp hết những gì Eva từng dấu yêu. Từ người chồng, cô con gái đến niềm kiêu hãnh, bản năng của việc làm mẹ; nay Kevin cướp sạch mọi thứ không chừa thứ gì cho bà mẹ ấy.

Cây nỏ và chín mạng người ở phòng thể chất vốn bị khóa kín. Bảy học sinh – những ai cậu luôn cho rằng vốn thích tỏ vẻ, và một giáo viên từ lâu đọc vị được mình. Không dừng ở đó, vào buổi sáng trước khi bi kịch ở trường diễn ra, năm mũi tên cắm ngập Celia vào trong hồng tâm và một ngay ức người cha đáng thương đã mang tất cả ra khỏi Eva như điều cuối cùng. Mười một mạng người và bảy năm tù vì còn ba ngày mới kịp 18, đó là tất cả những gì cậu phải chịu đựng – những gì vốn hẳn đã toán tính trước. Từ kế hoạch trùng khớp đến từng chi tiết đến việc dùng nỏ thay súng để tránh tiếng động; từ việc đặt mua hàng tá chiếc khóa xe đạp đến việc dùng thuốc an thần như lời biện hộ… Tất cả cho thấy một nỗi bất ổn dâng lên từ từ, có kế hoạch, quá trình và dĩ nhiên, được nghiên cứu một cách cẩn thận.

Đến cuối cùng, vào sinh nhật lần thứ 18, cậu cũng đã sẵn sàng từ bỏ mặt nạ của người thiếu niên lạc lối trong những mê cung của bản thân mình. Ở chi tiết này Shriver cố gắng mang lại hy vọng nào đó từ phía Kevin, khi cậu nhận ra rằng những việc mình làm hoàn toàn vô nghĩa. Cậu gục đầu khóc trên vai Eva và thừa nhận rằng không hiểu những gì đã làm. Thế nhưng lại một lần nữa vượt lên trên hết, Eva đã thắng ở ván sau cùng khi không còn đó chứng kiến công cuộc trả đũa đi vào hồi kết. Cô đi một bước phía trước bằng chính cái chết nơi bản thân mình, khép lại những pha rượt đuổi như cuộc báo thù những gì đã qua.

*

Với Mình cần nói chuyện về Kevin, Lionel Shriver đã khắc họa nên bức tranh của những bất ổn tâm lý xã hội, của những đối lập trong mối quan hệ gia đình đầy sự trả đũa leo thang theo cấp số nhân. Đồng thời, bằng việc thấu hiểu cảm xúc của người phụ nữ cùng những trần thuật đầy vẻ chua cay, Shriver đã họa nên một tổng thể bi kịch xót xa. Được trao tặng giải thưởng Orange vào năm 2005, Mình cần nói chuyện về Kevin là cuốn sách dữ dội, đau đớn, bi thiết và đầy cảm xúc về một câu chuyện gia đình đầy sự tổn thương. Dữ dội muôn vàn lớp ngầm.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Ảnh: BachvietBooks

Đọc bài viết

Cafe sáng