Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Thoát đến phương Tây: Số phận kẹt giữa những thế giới

Published

on

Có một loại giày vò khi ta sống trong những thành phố bất ổn về mặt chính trị. Một nơi không thực sự là nơi để sống. Một chốn quyết định cuộc đời ta thay cho chính ta. Một thành phố khiến ta phải kiềm hãm hay giấu đi những mong muốn, dập tắt đi ý tưởng, và nuốt chửng lấy niềm tin. Nó buộc ta sống dưới cái bóng của ai đó mà ta không thể chối từ. Để sinh tồn, cách người ta làm là ép bản thân làm quen với cuộc sống đó. Ở những thành phố như Cairo hay Lahore, nhiều người lựa chọn rời đi thay vì ở lại. Tưởng tượng về một cuộc sống “bình thường” ở nơi khác cũng đủ để thôi thúc người ta rời bỏ quê hương, ngay cả khi văn chương dạy ta biết rằng, cái giá cho những cuộc “trốn chạy” ấy vốn rất đắt. 

Những mâu thuẫn này bao trùm cuốn tiểu thuyết của Mohsin Hamid, Thoát đến phương Tây (Exit West). Cuốn sách lấy bối cảnh tại một thành phố không tên, đang đứng trước bờ vực bùng nổ nội chiến sau nhiều năm người dân bị áp bức. Hai nhân vật chính, Nadia và Saeed, gặp nhau trong bối cảnh chính trị bất ổn đó, thời điểm mà dạo phố, đi làm hay hẹn hò cũng có thể là một canh bạc của cuộc đời. Bởi súng có thể được bóp cò, bom có thể phát nổ bất cứ lúc nào.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Thoát đến phương Tây.

*

Saeed là một nhân viên tương đối bảo thủ làm việc tại một công ty quảng cáo sự kiện. Chàng trai ngoài 20 được miêu tả là “nghiêm túc ngay cả trong việc chăm sóc bộ râu”, “như phần lớn đàn ông trong thành phố: độc lập, trưởng thành, học hành tử tế, chưa kết hôn và có việc làm ổn định”. Saeed vẫn đang sống với bố mẹ, một người là giáo viên về hưu, một người là giáo sư đại học.

Trong khi đó, Nadia hiện đại, phá cách, sống một mình tại một căn studio trên tầng cao. Cô nàng là nhân viên công ty bảo hiểm, thường di chuyển quanh thành phố bằng chiếc xe đạp địa hình trong bộ áo choàng đen phủ từ đầu đến chân “để bọn đàn ông không giở trò mất dạy”. Độc lập, dữ dội và có phần bất thường là điều người ta hay nghĩ về Nadia. Trái ngược với Saeed, cô bị gia đình cắt đứt liên lạc vì quyết chuyển ra ngoài sống riêng. Trong khi Saeed dành buổi tối ở nhà với cha mẹ, nhìn ra bầu trời mặc dù nó “trở nên quá ô nhiễm cho việc ngắm sao”, Nadia thường xuyên tham dự các buổi biểu diễn ca nhạc, ăn chơi buổi đêm.

Bất ổn chính trị, như chiến tranh, cách mạng hay thậm chí là một cuộc xung đột dân sự, đều có thể thay đổi gần như hoàn toàn bộ mặt cuộc sống của chúng ta hằng ngày. Tiếng pháo hoa vang xa có thể là tiếng súng nổ, hay “Cái chết có thể bất ngờ ập đến khi bạn bước chân từ nhà ra đường. Ranh giới giữa sinh và tử đôi lúc chỉ là chiếc cửa sổ nhà bạn”.

Trong bối cảnh thành phố biến động đó, Hamid xây dựng một thế giới của người trẻ đầy khát vọng. Với ngòi bút chi tiết và sâu sắc, tác giả miêu tả hai nhân vật chính độc lập, mang cá tính riêng. Từ bối cảnh chung của thành phố, Thoát đến phương Tây khéo léo đưa người đọc vào từng cảnh đời riêng lẻ của mỗi nhân vật, buộc người ta phải chú ý vào những chi tiết, khoảnh khắc. Từ những số phận bất hạnh nhỏ nhoi, tác giả phóng ra cái nhìn toàn cầu về vấn đề của thời đại như nạn vượt biên, dân tị nạn,… Bằng cách này, Hamid tạo ra một câu chuyện được xây dựng tỉ mỉ, bao hàm nhiều tầng ý nghĩa, làm nổi bật lên nhiều thực tế chính trị – xã hội, cuộc đời – con người dù thực tế ông chỉ tập trung vào miêu tả hai nhân vật chính. Thế giới trong sách, dường như đang được tác giả gợi ý, là thế giới tương lai của con người chúng ta. Nếu vậy, câu hỏi được tác giả đặt ra: làm sao để ngăn cho nó không xảy đến, hoặc ít nhất giảm thiểu những thiệt hại mà nó gây ra?

Mối quan hệ giữa Saeed và Nadia chớm nở và phát triển khi chiến tranh bùng nổ và hiểm nguy rình rập mọi ngõ ngách của thành phố. Đối với Nadia, đó là anh họ của cô, người đã bị nổ tung cùng với 85 người khác bởi một chiếc xe tải chở đầy bom. Đối với Saeed, một viên đạn lạc giết chết mẹ anh khi bà đang kiểm tra chiếc xe của gia đình. Cha của Saeed ngay lập tức bắt đầu gọi Nadia là “con gái”. Trong thời loạn, mọi thứ vô lí nhất trở thành có lí.

Một đôi tình nhân đang ngồi cạnh biển Caspi, bắc Iran, 2008. Ảnh: Newsha Tavakolian

Những người trẻ tuổi, trừ khi trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, thường là những người đầu tiên rời đi. Nadia, đã đoạn tuyệt với gia đình, là người quyết tâm rời quê hương nhất để tìm lối thoát cho chính họ. Nhưng đến lúc lên đường, cha của Saeed từ chối. Giống như nhiều thế hệ trong gia đình, sống qua nhiều thập kỉ trong sự bất ổn chính trị nhưng vẫn không có cuộc chiến tranh nào chính thức diễn ra. Với cha của Saeed, tương lai mà ông hướng đến là sống một cuộc sống bình thường, quen thuộc, ngay cả khi tình hình xã hội có diễn biến xấu đến đâu.

Lưu vong, trong hoàn cảnh này, trở thành sự lựa chọn. Mỗi người cân đo đong đếm giữa rủi ro và lợi ích, giá trị của cuộc sống mà tự đưa ra quyết định cho riêng mình. “Nhà”, phức tạp và loạn lạc, vẫn không dễ để rời đi – dòng cảm xúc được tác giả đan xen một cách tinh tế xuyên suốt câu chuyện. Với người lớn tuổi, họ sống vì quá khứ nhiều hơn là vì tương lai. Trong khi đó, người trẻ tuổi mãnh liệt hơn, khao khát hơn để sống cuộc đời mình mong muốn.

Thoát đến phương Tây tràn ngập những mất mát mà chúng ta đã biết trước từ lâu rằng nó sẽ đến. Một số nhân vật được đề cập lướt qua ở ngôi thứ ba, sau được tác miêu tả một cách chi tiết hơn về số phận của họ, chứng minh rằng mỗi nhân vật đều có giá trị. Bằng cách này, độc giả như được trải nghiệm đến hai hành trình cảm xúc, với hành trình sau sâu sắc hơn hành trình đầu.

*

Mohsin Hamid được biết đến nhiều như một cây viết có sự kết hợp hoàn hảo giữa những xúc cảm phức tạp của đời thường và hiện thực chính trị. Các tác phẩm trước đây của Hamid bao gồm The Reluctant Fundamentalist (2007), là cuốn tiểu thuyết về sự kiện 11/9 được viết dưới góc nhìn của một người Pakistan trẻ tuổi – cảm thông cho những kẻ khủng bố dù bản thân là một người nhập cư được nước Mỹ đón nhận.

Mặc dù Thoát đến phương Tây được viết trong tình trạng bùng nổ cuộc khủng hoảng tị nạn ở khu vực Trung Đông và Brexit, nhiều giả thuyết cho rằng cuốn sách đã được tác giả ấp ủ ý tưởng từ lâu trước đó. Nguyên nhân có thể vì kinh nghiệm là một người tị nạn, một người dân của thế giới thứ ba của chính Mohsin Hamid, trong đó có hành trình di dân từ Pakistan đến Mỹ, Anh, rồi lại về phía Đông.

Sau khi rời bỏ quê hương, cuộc sống của người tị nạn cũng không dễ dàng hơn. Saeed và Nadia đến được một trại tị nạn trên đảo Mykonos ở Hy Lạp, song đó không là cuộc sống mà họ mong muốn. Tất cả đều phải đối mặt với bài toán sinh tồn: ai là người đàm phán giỏi hơn, người thuyết phục hơn, người có trực giác nhạy bén hơn về nguy hiểm sẽ là người sống sót.

Ở nửa sau tác phẩm, Hamid đưa các nhân vật của mình từ Mykonos đến London, nơi họ được cấp cho một chốn ở tử tế hơn và chia sẻ với nhiều người tị nạn khác. Tại đây, tác giả nêu bật lên những sự đối lập: đối lập trong chính hình ảnh người tị nạn – giữa xuất thân khá giả ở quê nhà và hoàn cảnh khốn khó ở hiện tại khi tha hương và cả sự đối lập giữa người dân địa phương và người tị nạn. Qua đó, ông đề cập đến những vấn nạn còn nhức nhối của thế giới hiện tại như phân biệt chủng tộc hay chủ nghĩa bản địa bài ngoại ngày càng trở nên cực đoan. Đó là khi khu Hyde Park và Kensington Gardens (London) tràn ngập lều trại thô sơ của người tị nạn. Đến mức, người Anh nói rằng dân cư hợp pháp tại đây chỉ chiếm thiểu số bởi hầu hết là người tị nạn và số người bản địa rất ít. Truyền thông địa phương cũng không ít lần đề cập khu vực này là “lỗ đen” của quốc gia, nơi thường diễn ra tệ nạn.

Hamid có hiểu biết sắc sảo không chỉ về cuộc khủng hoảng ở thời điểm hiện tại mà còn về thói đạo đức giả trong chính trị – điều đã dẫn đến sự hình thành của cả một nhóm dân tị nạn – thông qua những cuộc xâm lược, can thiệp và các chính sách. Những cánh cửa thần kì dẫn đến những nơi khác bị kiểm soát một cách cẩn thận. Trong khi có những người được phép đi nghỉ mát ở những khu vực bình dị của Mykonos trong những tháng hè, một số khác bị giam cầm trong rào chắn của các khu ổ chuột. Thế giới của Hamid là một nơi mà sự tách biệt, phân biệt chủng tộc, chia rẽ ngày một tăng lên.

Tóm lại, Thoát đến phương Tây là cái nhìn ngoạn mục, phức tạp, bao quát của tác giả Mohsin Hamid về tình trạng thế giới hiện nay. Bên cạnh cuộc khủng hoảng người tị nạn, thế giới còn đang đối mặt bài toán hóc búa về biên giới và sự phân chia giàu – nghèo. Thế giới qua ngòi bút của Hamid là một thế giới mà chủ nghĩa tư bản và bản đồ thuộc địa bắt đầu đi xuống. Câu chuyện về thành phố không được tác giả đặt tên của hai nhân vật chính trong sách cũng giống như câu chuyện của Syria, Iran, Ethiopia, Ai Cập hay những người lao động Ấn Độ ở vùng Vịnh, người Mexico ở Mỹ. Đó là câu chuyện của những số phận đang cố gắng xây dựng cuộc sống mới ở một quốc gia khác, một số vì chạy trốn chiến tranh, một số vì muốn rời khỏi quê hương độc tài và áp bức.

Hamid viết rằng “Khi chúng ta di dân, chúng ta muốn giết chết ‘mình’ trong cuộc sống cũ.” Có lẽ những gì người di dân, người tị nạn thực sự cố gắng làm là quên đi quá khứ đau thương, nhưng nó vẫn luôn theo sau và ám ảnh họ trên bất kì nơi đâu họ đặt chân đến.

Hết.

Uyên lược dịch.

Bản gốc do Yasmine El Rashidi thực hiện, đăng tại The New York Review of Books.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Jane Eyre: Bức họa về ý chí và nghị lực vượt lên số phận của con người

Published

on

Có đôi ba lần thế kỉ trôi qua, những đóm sao đêm đã sáng rồi lại tắt, những cuộc đời nối dài rong ruổi và miên man, bể dâu và đổi khác, tưởng rằng sẽ làm phôi phai đi tất cả những gì từng gọi là đẹp đẽ của một quá khứ huy hoàng, ấy vậy mà, Jane Eyre - một biểu tượng vững chãi của sự kiên cường và bất khuất - vẫn hiện lên thật rạng ngời và rực rỡ qua từng trang sách chứa đầy những hồi ức tự sự thật thà - bất chấp rằng thời đại đã đổi dời, bất chấp rằng thời gian đã cuồng quay. Jane Eyre, hơn cả một cuốn tiểu thuyết đã bao lần làm thổn thức trái tim độc giả, đó còn là một bức họa tuyệt đẹp về ý chí và nghị lực vươn lên số phận của con người.

Thật kì lạ là dù cuốn sách đã được nữ sĩ Charlotte Bronte viết cách đây gần hai trăm năm, ấy vậy mà, những câu chuyện, những sự kiện, những niềm vui hoặc chăng là sự đau khổ của mỗi nhân vật đều thân thuộc và tương đồng với những gì đang vận hành và xảy ra xung quanh con người thời đại này. Đó như là một tấm gương phản chiếu những mảnh đời, những số phận, những biến cố và trở ngại trong suốt hành trình làm người - của từng con người. Vậy phải chăng, con người dù ở bất kì thời điểm nào trong suốt chiều dài lịch sử - đều phải gặp và trải qua những hỉ nộ ái ố muôn thuở như những bậc tiền nhân đã từng?

“Jane Eyre”

Khi nghĩ về cái tên này, dù chỉ là cái tên trong một cuốn tiểu thuyết (hư cấu), nhưng tôi lại bỗng thấy xót xa lạ kì. Cô gái này vì sao lại bất hạnh đến như vậy? Bất hạnh như thể mọi thứ tồi tệ nhất trên đời đều đổ dồn về phía cô. Cô không có gia đình, không có người thân, cũng không có bạn bè gì cả. Những người mà cô còn có thể bám víu được suốt cả thời thơ ấu của mình lại chính là những người không hề muốn nhìn thấy sự hiện diện của cô. Chỉ vì lời hứa với người chồng đã mất, người mợ cay nghiệt đành phải cưu mang cô trong sự oán hận. Bà ghét cô. Bà khinh bỉ cô. Bà trừng phạt cô. Đến cả những đứa con của bà cũng đều khiến cho cô cảm thấy đau đớn. Chưa bao giờ cô thôi sợ hãi. Chưa bao giờ cô có quyền nói lên tiếng lòng mình, hoặc cũng thật khó để có thể chống lại tất cả bọn họ. Thứ duy nhất cô có thể làm chính là chấp nhận sống trong những thù hằn của đám người kia.

Tại sao cô không chạy đi?

Chạy? Chạy đi đâu bây giờ, khi cô chỉ là một đứa trẻ chẳng hay biết gì về cuộc đời ở bên ngoài, và có muôn vàn câu hỏi rằng thế giới xa lạ này ra sao. Cô bé đáng thương tội nghiệp ấy chỉ là một hạt cát nhỏ nhoi giữa sa mạc, chẳng tiếng nói, chẳng sức mạnh, cũng chẳng có ai để dựa vào...

Nhưng!

Jane Eyre! Cô bé nhỏ như một ngọn cỏ ven đường. Nhưng ngọn cỏ không yếu đuối bao giờ. Khi bão giông ập đến hay có ai tàn nhẫn giày xéo lên tấm thân mỏng manh ấy, ngọn cỏ vẫn sống và kiên cường vươn lên. Ngọn cỏ âm ỉ một sức mạnh phi thường - sức mạnh của nghị lực và niềm tin về sự sống của chính bản thân mình. Và Jane cũng vậy. Ai ngờ đâu đằng sau một cô gái trầm lặng ấy lại chính là một ý chí vươn lên không bao giờ ngơi nghỉ. Ý chí rằng mình sẽ được hạnh phúc. Nhất định sẽ được hạnh phúc.

“Tôi không phải là chim, không có chiếc lồng nào có thể bẫy được tôi. Tôi là một người tự do, với ý chí độc lập.”

Không chấp nhận quẩn quanh trong một giới hạn bị người ta rào cản, Jane luôn khao khát được bay đi, tìm kiếm cho mình những lí tưởng sống mới. Trên hành trình đi tìm kiếm tự do và hạnh phúc ấy, lắm khi, Jane đau khổ và thất vọng thật nhiều. Cái cay nghiệt đâu chỉ mãi quẩn quanh trong gia đình bà Reed, nó còn xuất hiện và liên tục lặp đi lặp lại mãi suốt cả quãng đời sau này của Jane: từ khi còn là nữ sinh ở trường Lowood cho đến khi về làm việc tại nhà của ông Rochester. Khi đã tưởng được yên bình rồi, thì bão giông lại bất ngờ ập đến. Khi đã tưởng kiếm tìm được hạnh phúc, thì đau khổ lại bỗng chốc lên ngôi. Cô gái bé nhỏ ấy cứ liên tục gặp phải những chuyện đau lòng. Đã từng đi qua mùa dịch bệnh, đã từng đói, từng khát, từng trở thành người vô gia cư - không thức ăn, không tài sản, từng hi vọng và bị cướp mất đi hi vọng, từng hạnh phúc vô bờ rồi bỗng rơi xuống đáy của nỗi đau... Những điều ấy, những tưởng sẽ quật ngã và giết chết Jane Eyre. Nhưng lạ thường thay, càng khó khăn, Jane lại càng vươn lên mạnh mẽ. Jane không bao giờ cam chịu hay chấp nhận những uất ức cuộc đời. Jane học được nhiều điều từ chính những khó khăn ấy. Jane phản kháng quyết liệt với những bất công mà cuộc đời đem lại. Tại sao chứ? Sao lại cúi đầu để nghiệt ngã lên ngôi, trong khi chính mình phải trở nên hiên ngang mới đúng?

“Nếu người ta lúc nào cũng tử tế và vâng lời những kẻ độc ác bất công, thì chỉ tổ làm cho kẻ ác tha hồ được thể, chúng sẽ chẳng bao giờ e dè gì cả, và như vậy thì bao giờ mà chúng tay đổi được; trái lại, chúng sẽ ngày càng trở nên quá quắt.”

“Khi nào bị đánh đòn một cách vô lý, ta cần phải chống cự lại, thật táo bạo vào. Tôi cam đoan phải làm như thế, chống cự mạnh đến mức làm cho kẻ đánh đập chúng ta phải kệch hẳn.”

“Tôi phải kháng cự lại những kẻ phạt tôi một cách bất công. Điều đó cũng tự nhiên như tôi yêu một người nào tỏ ra yêu mến tôi, và phải chịu trừng phạt khi tôi thấy là đáng phạt.”

Vì đâu mà Jane lại có thể thốt ra những lý lẽ như vậy? Phải chăng là do đã bị chà đạp quá nhiều và dìm sâu xuống tận cùng sự khổ, cô ấy mới phải tự mình đứng dậy để tìm một lối thoát cho chính mình, và chống cự lại những kẻ đã luôn đay nghiến cô? Tức nước thì vỡ bờ. Cũng giống như câu chuyện của bao kẻ khốn cùng khác, khi không còn sự lựa chọn nào cho cuộc đời đau khổ của mình, họ đành chọn mạnh mẽ!

Jane mạnh mẽ để vượt qua sóng gió, nhưng sự mạnh mẽ đó không hề biến Jane trở thành một con người vô cảm và lạnh lùng. Jane vẫn là Jane, với trái tim nồng ấm yêu thương, biết cảm thông và chia sẻ, biết thấu hiểu và quên hết hận thù.

Giống như Jane từng nghĩ rằng mình sẽ căm ghét và thù hằn bà Reed đến cuối cuộc đời - sau những điều tồi tệ bà từng làm với mình, thế nhưng, khi gặp lại bà sau nhiều năm xa cách, Jane đã chẳng còn hận thù gì thêm nữa. Jane hiểu rằng quá khứ đã mãi mãi nằm lại ở phía sau, và hiện tại, những ân oán này đã không còn ý nghĩa gì hết. Jane bỗng muốn gọi bà Reed bằng tiếng gọi thân thương, “Mợ!”, để rồi sau đó, hận thù sẽ nhường chỗ cho yêu thương.

“Mợ Reed thân mến, mợ đừng nghĩ đến những chuyện cũ ấy làm gì nữa, xin mợ hãy quên đi...”

“Mợ ơi, giá mợ có thể quên những điều đó đi, và nhìn cháu với một lòng khoan dung thương mến...”

“Hồi còn bé, nhiều lần cháu rất muốn được yêu quý mợ nếu mợ cho phép. Và bây giờ cháu hết sức mong mỏi được làm lành với mợ, mợ ơi, mợ hôn cháu đi.”

Với Jane, yêu thương là một điều thiêng liêng mà cô đã dành cả tuổi trẻ của mình để tìm kiếm. Vậy nên, khi có được những yêu thương ấy từ người đàn ông mà cô có tình cảm, cô luôn biết ơn và trân trọng. Tuy vậy, Jane không bao giờ cho phép bản thân mình sở hữu thứ yêu thương “dễ dãi” và “tầm thường”, nếu hạnh phúc mà cô có được là điều không xứng đáng. Cô nào chấp nhận mình trở thành một người phụ nữ “rẻ tiền” khi kết hôn cùng một người đã có vợ, cùng làm chuyện bất hợp pháp và khinh thường đạo lí như vậy.

“Tôi càng cô độc, càng không bè bạn, càng không nơi nương tựa, thì tôi lại càng tự trọng.”

“Luật pháp và những nguyên tắc đạo đức đâu phải đặt ra cho lúc bình thường không có sự cám dỗ, mà là cho những lúc như thế này, khi thể xác và linh hồn nổi lên chống lại sự khe khắt của chúng. Chúng khe khắt, chúng sẽ không bị vi phạm. Nhưng vì thuận tiện cho mình mà tôi phá bỏ chúng thì chẳng hóa chúng không có giá trị gì ư?”

Thật xót xa ngay phút giây trong lễ đường, Jane đã phơi phới niềm tin về một hạnh phúc căng tràn trong lồng ngực, để rồi bỗng chốc, sự thật ập đến tai, hạnh phúc vỡ tan tành như bọt sóng giữa đại dương... Chính khoảnh khắc Jane Eyre quyết định rời đi khỏi căn biệt thự Thornfield sau khi biết người mình yêu thương đã có vợ, cũng là khi độc giả tìm thấy được hình ảnh của một con người can đảm, dũng cảm, và độc lập - dẫu đằng sau đó là những giọt nước mắt ê chề và đau khổ tận tâm can. Nhưng vì đã dũng cảm yêu thương, thì khi yêu thương không còn ý nghĩa nữa, chúng ta phải dũng cảm để từ bỏ mà thôi...

“Trên đời chưa ai có thể mong ước được yêu như tôi đã được yêu, và tôi tuyệt đối phụng thờ con người đã yêu tôi như vậy, ấy thế mà tôi phải từ bỏ tình yêu với thần tượng đó. Bổn phận khốc liệt của tôi nằm gọn trọng một chữ buồn rầu: Đi!”

“Vĩnh biệt”, đó là tiếng kêu của trái tim tôi lúc tôi rời ông. Sự tuyệt vọng nói: “Đời đời vĩnh biệt.”

Nhưng sẽ chẳng có đau khổ nào là mãi mãi, khi mà sau tất cả, cuối cùng thì hạnh phúc cũng đã đến bên Jane. Đó không phải là một điều may mắn. Đó là điều tất nhiên - phần thưởng dành cho những ai biết cố gắng, biết nỗ lực và vươn lên số phận. Biết sống không hoang phí - dẫu cuộc đời đầy rẫy nỗi trầm luân. Rồi khi giọt nắng đậu bên thềm, khi cơn bão qua đi và trời xanh trở lại, cũng là lúc hạnh phúc chạm đến. Sẽ có ai đó ở cạnh bên và lắng nghe những câu chuyện của Jane, sẽ lau khô giọt nước mắt đã bao lần cô từng khóc, sẽ an ủi và yêu thương cô. Sẽ đền đáp cho cô sau năm tháng khổ cực. Cuối cùng, và nhất định, hạnh phúc đã ghé qua!

Jane Eyre chính là tấm gương phản phất hình ảnh của một cô gái bé nhỏ với một nghị lực sống phi thường giữa muôn vàn trắc trở của cuộc đời. Dẫu bị xã hội đương thời ruồng rẫy hay ghét bỏ, thế nào, Jane vẫn kiên cường và bất khuất như một ngọn cỏ dại hiên ngang trước bão. Đọc Jane Eyre để tìm thấy những phẩm chất cao cả của một con người, để tự soi lại bản thân mình trong suốt hành trình sống, và để thấy, xen lẫn những chất liệu thi ca lãng mạn hay khắc tạc hiện thực khắc nghiệt, thì tình yêu vẫn đẹp biết bao: tình yêu nhân loại, và tình yêu giữa người với người...

Thật khó để có thể kể hết những điều thật sự có ý nghĩa với tôi trong cuốn sách này, bởi qua từng giai đoạn, từng chi tiết khác nhau, thì tôi lại cảm nhận được những giá trị riêng biệt cho riêng mình. Tôi học được từ Jane một ý chí mạnh mẽ vô cùng. Đã có lúc tôi nghĩ, nếu tôi là Jane, liệu rằng tôi có thể mạnh mẽ được như cô ấy, liệu rằng tôi có dám đương đầu vươn lên giông bão, liệu rằng tôi có vượt qua được cám dỗ để theo đuổi một niềm hạnh phúc thật sự của riêng mình. Tôi không biết tôi sẽ thế nào. Nhưng tôi biết, thứ tôi đang suy nghĩ là gì...

“Bạn đọc thân mến, cầu cho bạn đừng bao giờ cảm nghĩ như tôi lúc ấy! Cầu cho mắt bạn đừng bao giờ phải nhỏ những giọt lệ nóng hổi, tràn trề, xé ruột xé gan như tôi. Cầu cho bạn đừng bao giờ phải cầu xin Chúa một cách tuyệt vọng và đay khổ như tôi đã cầu xin trong giờ phút ấy, Cầu cho bạn đừng bao giờ lo sợ như tôi, phải trở thành nguồn đau khổ cho người mà mình yêu với tất cả tâm hồn.”

Jane Eyre!

Hết.

Lâm Lâm

*

Đọc tất cả bài viết của Lâm Lâm

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Louise Glück là ai mà đạt giải Nobel Văn chương 2020?

Cùng ba bài thơ trong tập “The Wild Iris” (1992)

Published

on

Louise Glück (1943) là một nhà thơ hiện đại Mỹ. Bà sinh ở New York và trải qua thời tấm bé ở Long Island. Bà là tác giả của nhiều tập thơ mang dáng dấp tự bạch, song, thơ của bà thường vượt ra ngoài những kiến trúc và sự bày trí hình thể để nói về những trải nghiệm cá nhân thật sự sâu sắc và cá biệt. Bởi vì thường đi tìm hiểu về những mất mát, tổn thương trong những câu chuyện gia đình, thần thoại (đặc biệt là hình ảnh của Odysseus và Penelope) mà thơ của bà thường được coi như là ảm đạm. Bon Bogen trên tờ Nation gọi “những mối quan tâm căn bản” của thơ bà là “bội phản, đạo đức, tình yêu và cảm giác cùng đồng hành. Một nhà thơ của thế giới tan vỡ.” Thế nhưng, ẩn sau trong những cảm xúc vượt ra ngoài biên giới, là một thế giới vật chất muôn màu, nhiều tác động, khiến cho ta cảm giác dễ chịu khi có cơ hội được bước qua cánh cửa hiện tại thậm phồn, trả đúng con người về đúng nỗi hỗn loạn tươi đẹp của Cioran từng mơ ước. Đó là những tập thơ The Triumph of Achilles (1985), The Wild Iris (1992), Meadowlands (1996) gần đây là Faithful and Virtuous Night (2014).

Mấy ngày trước, chúng ta lại được xem màn cua gắt của Viện và tất cả mọi suy đoán trôi đi như nước lụt. Tôi cũng thế. Tôi cứ nghĩ nếu gạt đi hết Ngũgĩ wa Thiong’o, Milan Kundera (vì vừa mới được giải Kafka tháng trước, tưởng một Handke thứ hai) hay đặc biệt “nặng ký” Haruki Murakami năm nào cũng toả khắp văn đàn để chửi cho bớt tức, thì tôi không bao giờ nghĩ Mỹ lại nhận lại một Nobel kể từ Toni (không tính Bob). Tôi luôn xem xét Mỹ đã là một địa hạt mà văn xuôi đã úa tàn từ lúc Toni Morrison mất, Stephen King được coi là bậc thầy,... (còn thơ thì tôi quan tâm đến Anne Carson, thế nhưng bà lại sinh ra ở Canada). Tôi bị cuốn vào dòng tranh luận và các bàn tròn rằng năm nay Viện sẽ cua bằng cách trở lại châu Âu, hoặc qua tận châu Phi để chọn Antjie Krog hay táo bạo hơn là tha cho Milan Kundera khoảng ngày đợi chờ ở tuổi 91. Thế mà, tôi lại nhận được kết quả từ fanpage của một một nhà xuất bản. Louise Glück đối với tôi cũng như hầu hết tất cả những ai khác, tôi chỉ nhớ từng đọc được vài bài thơ trên A Star Is Fading của Nguyễn Huy Hoàng và không có ấn tượng lắm. Thế nhưng, bằng một cách nào đó, với cái lý do mà Viện đưa ra năm nào cũng thật là huy hoàng: “cho một giọng thơ không thể nhầm lẫn trong việc đưa cái đẹp của sự khổ hạnh và tồn tại cá nhân ra thành cái toàn thế.” Quả thật, sức mạnh của Nobel đủ làm ta phải choáng mình, phải lụi bụi tìm xem liệu “cái đẹp”, “sự khổ hạnh” và “tồn tại cá nhân” đó thực sự là gì mà ghê gớm đến thế, mà đủ sức đánh bật soái ca Haruki mà ta thầm ngưỡng mộ dù giờ mua “Người tivi” hay “Ngày đẹp trời để xem kangoroo” cũng chẳng phải là điều mà fan-gơn fan-boy, fan-PhD, fan-only-for-Rừng Na-uy,... làm nổi.

Chi bằng ta tự mình chiêm nghiệm các bài thơ được tôi dịch tỉ mỉ dưới đây, cả ba bài đều năm trong tập thơ The Wild Iris, được xuất bản năm 1992 và ngay lập tức được truy tặng giải Pulitzer cho Thơ Ca vào năm sau. Những bài thơ tôi dịch chắc chắn sẽ không đảm bảo được những điều mà một bài thơ nguyên bản yêu cầu, song, dễ đọc, và gần với cách chúng ta tiếp cận hơn. Dù thế, bạn có thể dễ dàng tìm thấy các bản gốc (tiếng Anh, ơn trời!) trên poemhunter.com hoặc pinterest.com.

HẠNH PHÚC

Một người đàn ông và một người phụ nữ nằm trên chiếc giường màu trắng
Lúc đó tinh mơ. Tôi nghĩ là
Họ sẽ thức dậy sớm thôi.
Trên bàn đêm cạnh giường là một lọ hoa
cắm những bông hoa lưu ly; ánh mặt trời
đục lỗ trong cổ họng.
Tôi nhìn chàng quay về phía nàng
như thể để gọi tên nàng
nhưng khẽ khàng, sâu trong họng nàng—
Trên gờ cửa sổ,
một lần, hai lần,
một con chim gọi.
Và sau đó nàng trở người; thân thể nàng
ngập trong hơi thở của chàng.

Tôi mở mắt ra; cậu đang nhìn tôi.
Gần như khắp phòng
ánh sáng mặt trời trượt đi.
Nhìn vào mặt cậu, cậu nói
nâng gương mặt cậu lại gần tôi
để làm thành một tấm gương.
Cậu mới bình tĩnh làm sao. Và bánh xe cháy trong lửa
lướt nhẹ nhàng qua chúng mình.

*

KHÚC RU

Mẹ tôi giỏi nhất một chuyện:
đem những người bà thương qua một thế giới khác.
Những thứ bé bỏng, những đứa bé—chúng nó
nàng ru, thầm thì và khẽ hát. Tôi không thể nói được
bà đã làm những gì cho bố;
dù gì đi chăng nữa, tôi đồ rằng nó là điều phải.

Cũng giống như thế, thật đấy, gói ghém một người
cho giấc ngủ, cho cái chết. Những khúc ru—họ đều nói
đừng có sợ, đó là cách họ quẩn quanh về
nhịp đập trái tim của người mẹ.
Thế nên sự sống nảy ra bình tĩnh yên ắng; điều đó chỉ
những người sắp chết, những người không thể, những người chối từ.

Sắp chết giống như những đỉnh cao, như con quay hồi chuyển—
chúng quay thật nhanh chúng trông vẫn đứng yên.
Xong thì cất cánh bay đi: trong vòng tay mẹ tôi,
chị tôi là một đám mây nguyên tử, của những hạt—đó là sự khác biệt.
Khi một đứa bé say ngủ, nó vẫn tròn vẹn.

Mẹ tôi trông như cái chết; bà không nói về sự thánh thoát của linh hồn.
Bà ôm trên mình một đứa bé mới sinh, một lão già, như thể sự chênh lệch của màn đêm hoá đặc xung quanh họ, cuối cùng cũng thay đổi thế giới.

Linh hồn cũng như tất cả vật thể:
thế tại sao nó lại mãi không bị dấy đến, chung thuỷ mãi với hình bóng của nó,
trong khi có thể tự do?

*

QUYẾT ĐỊNH CỦA ODYSSEUS

Người đàn ông vĩ đại quay lưng mình về phía đảo.
Giờ thì chàng sẽ không chết ở thiên đàng
cũng không nghe lại
những tiếng đàn luýt trên thiên đàng len giữa những cây ô-liu,
cạnh những cái hồ trong vắt dưới những cây bách. Thời gian
bắt đầu từ bây giờ, nơi chàng được nghe lại
nhịp đập đó là biển cả được
nghe kể lại, vào buổi bình minh lúc lực hút của nó là mạnh nhất.
Thứ gì đem chúng ta đến đây
sẽ dẫn chúng ta rời đi; con thuyền của chúng ta
chòng chành trên vùng nước cảnh những sắc màu kẻ sọc.
Giờ giờ nghỉ chân đã hết.
Trả chàng lại với cuộc sống của chàng,
biển chỉ có thể tiến về phía trước.

Hết.

S

*

Chuyện Nobel Văn chương



Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Bước tới thảnh thơi: Tự do khởi nguồn trong khuôn khổ là tự do vững chãi

Published

on

By

Phải đọc Bước tới thảnh thơi, hay phải đi xuyên suốt các tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong cái tâm không chướng ngại, có như vậy mới đủ kiên nhẫn để cảm nhận từng ý nghĩa, từng lợi ích sâu xa từ một cuốn sách có vẻ dành cho người xuất sĩ (xuất gia), hơn là hướng về đại chúng.

Tạo năng lượng trong những điều thường ngày

Người đi tu tạo ra năng lượng thông qua các sinh hoạt thường nhật. Bước tới thảnh thơi có ba nội dung chính nhằm miêu tả cuộc sống thường ngày nên có của một vị xuất sĩ.

Đầu tiên là Thi kệ

Đánh răng
Đánh răng và súc miệng
Cho sạch nghiệp nói năng
Miệng thơm lời chánh ngữ
Hoa nở tự vườn tâm

Đầu tiên là Thi kệ, công cụ giúp khởi tâm đúng đắn trước khi sinh hoạt, để duy trì chánh niệm được lâu hơn.

Chánh niệm là khả năng tập trung vào một hành động đang diễn ra, mà không suy nghĩ vẩn vơ bên này, bên kia. Giỏi hơn thì người duy trì chánh niệm nên có khả năng quán niệm về hành động mình đang làm, để có thể hoàn thành nó một cách đúng đắn và tạo tác được niềm vui trong quá trình sinh hoạt.

Đơn cử như việc đánh răng, mục đích là để làm sạch bộ hàm và giúp khởi động một ngày mới tỉnh táo, thì nên đánh sao cho kĩ, cho nhẹ nhàng, cho ân cần; dành hết sự trân quý cho bộ hàm đã giúp mình nhai nhỏ thức ăn mỗi ngày, giúp mình cười duyên, cho cái lưỡi đã giúp mình nói những lời ái ngữ; thay vì suy nghĩ lan man như sau khi đánh răng thì nên ăn gì, hoặc sáng nay có cuộc họp nào không.

Hãy dành hết tâm trí để thực hiện những sinh hoạt này như lúc bản thân dành hết tâm trí khi ở bên người mình thương vậy. Bởi nếu thực sự tập trung và hiểu được ý nghĩa việc mình cần làm, thì làm sao nghĩ đến việc khác được.

Đó gọi là chánh niệm. Năng lượng an lạc khởi nguồn từ đây.

Có gần 100 bài thi kệ trong Bước tới thảnh thơi, bổ trợ cho người xuất sĩ khởi niệm về một sinh hoạt thường ngày một cách đúng đắn.

Thứ hai là Mười giới mà một vị Sa di (xuất sĩ) bắt buộc phải giữ gìn. 

Hãy xem về giới thứ tư: Thực tập chánh ngữ và lắng nghe

Vì lời nói thiếu chánh niệm sẽ gây khổ đau cho nhiều người, gây đổ vỡ, gây chia rẽ, gây căm thù, bạo động nên nguyện không nói dối, không phê bình, lên án, cũng không kể ra lỗi lầm của ai. Người xuất gia sẽ nguyện thực tập lắng nghe với tâm từ bi, tôi hiện diện ở đây là vì bạn, chỉ để mang đi những buồn phiền, trăn trở đang tồn tại trong lời người nói.

Giúp người khác thức tỉnh là một quá trình của duyên hội tụ, nên lời nói thẳng thắn, xát muối thường chỉ để lại nhiều day dứt mà không có tác dụng chữa lành ngay tức khắc.

Khi nói về đạo Phật thực hành, ta sẽ nói về sự hiểu biết đi kèm với sự thực tập bằng tâm từ bi. Khi phát nguyện giữ giới, người xuất sĩ từ đầu đã quán triệt triết lý duyên sinh duyên khởi và nguyện giữ giới để thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn đó hoặc không vẽ cái vòng đó cho người khác. Hiểu về nguồn gốc của khổ đau nên nguyện không sinh ra khổ đau cho chúng sanh. Công dụng của đạo Phật thực hành nằm ở đây.

Cho nên người ta mới thấy tự do mà chịu đưa mình vào khuôn khổ.

Tu tập cao hơn thì có thể thực tập chỉ trì. Nghĩa là khi sắp phạm giới đến nơi rồi, thì biết dừng lại và tiếp tục hành trì. Khả năng ý thức tập khí bên trong trỗi dậy và chuẩn bị tác động vào lời nói của mình, sau đó bình tĩnh dừng lại và duy trì việc lắng nghe người kia là một kiểu tay nghề điêu luyện của người chọn giữ giới. Phải kiên tâm tập hành thiền, tập giữ chánh niệm một thời gian dài.

Thứ ba là Bốn mươi mốt thiên uy nghi dành cho vị xuất sĩ thọ giới Sa di.

Nếu ngồi ăn một quả quýt trong chánh niệm, thì đâu là sự khác biệt giữa người có tu học và người chưa tu học? Vì đâu đó trong số đại chúng, vẫn có nhiều người ăn quýt chỉ để ăn quýt mà thôi, tận hưởng, không suy nghĩ đến việc khác, cũng không cần học về đạo mới biết cách ăn như vậy. 

Tuy nhiên, giữa người ngồi ăn quýt trong tư thế lịch sự, vững chãi, khoan thai và người ngồi gác một chân lên ghế, thì dễ phân biệt rồi đúng không?

Thiên uy nghi là vẻ đẹp của chánh niệm, biểu hiện trong tư thế, động tác, ngôn từ, và cách xử sự. Người thực tập thiên uy nghi sẽ tạo tác thêm nhiều kiên cố và ung dung trong từng động tác chánh niệm. Bốn mươi mốt thiên uy nghi này không phải thứ bạn có thể “nuốt ngay” như kiểu mì ăn liền. Đây là kiểu công thức, tuyệt chiêu dành cho những lúc cần đến, thì giở ra mà học.

Thiên uy nghi thứ bốn mươi: Làm mới

Trong tiến trình của một mối quan hệ, hay là của vạn vật, sẽ có giai đoạn đóng băng trước khi thoái trào. Làm mới là một sự chủ động, khi người xuất sĩ nhận ra giữa mình và một vị sư muội/sư huynh kia đang có sự “lăn tăn” dẫn đến khó mà cùng nhau tu học.

Vậy mới nói rằng đời sống tu sĩ đóng khuôn trong giới luật và uy nghi, xa rời thú vui tiêu khiển, đâu có nghĩa là buồn chán và lạc hậu. Uy nghi thứ bốn mươi chỉ rằng, khi biết người bạn đồng tu của mình có chút giận hờn, hiểu lầm, hoặc làm sai quấy, thì người xuất sĩ nên tìm cách giãi bày ngay với người bạn này, trong vòng bảy ngày nếu sự việc vẫn chưa êm xuôi, cần thông báo đến tăng thân trong tu viện để có biện pháp kịp thời.

Vậy giãi bày như thế nào cho khéo léo? Giãi bày như thế nào để không tạo thêm sân si, đổ vỡ?

Người tu học sẽ dùng sự hiểu biết và phân tích sâu của mình để khởi tâm chân thành và từ bi để làm theo 3 bước như sau: Công nhận, khen ngợi người bạn kia - Tự kiểm điểm những thiếu sót của chính mình - Nói ra những khổ tâm mà mình đang chịu đựng. Rồi kết luận bằng cách đề nghị hoặc nhờ vả người kia tiếp tục tu tập có hợp tác cùng nhau.

Đời sống thế tục cần bạn tranh thủ nghỉ ngơi mỗi khi được ở một mình, tái tạo lại năng lượng đã tiêu hao cho những thời giờ giao tiếp với xã hội. Còn đời sống tu học sẽ dạy bạn cách phát triển và nuôi dưỡng năng lượng tâm linh trong từng thời khắc của cuộc sống; cách bảo toàn sự an lạc khi gặp phải những bực dọc, giận hờn, lo toan, si mê trong công việc và các mối quan hệ.

Có phải đại đa số chúng ta đều tìm được công việc mình yêu thích, để có thể sống trọn từng ngày? Hay đại đa số chúng ta, đều có thể tránh né được những điều kém may mắn, phật lòng? 

Người viết nghĩ lợi ích của Bước tới thảnh thơi chính là ở đây. “Cầm tay” chỉ ngay phương pháp tu tâm dưỡng tính mà bạn có thể áp dụng tại nhà. Và vì sao cuốn sách này nên được gọi là sách gối đầu giường của tất cả mọi người.

Lời khuyến khích dành cho người tu học

Người ta hay nói rằng

Nhất niên Phật hiện tiền
Nhị niên Phật ngoài hiên
Tam niên Phật thăng thiên

Ý chỉ việc học lúc nào bắt đầu cũng thật nhiều thôi thúc, nhiều sáng suốt nhưng về sau thì động lực càng vơi dần, kiến thức nhiều không biết vận dụng, tổng hợp cũng dẫn đến ngu muội. Lúc này nên quay về quán chiếu lại những hạt giống ban đầu, để soi rọi lại lý tưởng ban sơ, để xem đường mình đi đang là chính đạo hay rẽ lối nào rồi. Những lời khuyến khích của người đi trước là lời nhắc nhở về những cái cơ bản như vậy.

Trong số những vị xuất sĩ thọ giới Sa di, giới Tỳ kheo,... có bao nhiêu vị bị mắc kẹt trong cấp bậc, chức danh, địa vị, tuổi đạo? Có bao nhiêu vị giữ được tâm vô ngã khi đối tiếp bạn đồng tu và đại chúng? Kiến thức không phải là tuệ giác. Kiến thức không phải sự nghiệp của tu học.

Nếu bạn là một xuất sĩ, bạn sẽ đem lại hạnh phúc cho rất nhiều chúng sanh. Vô số chúng sanh được giải thoát sẽ là mục tiêu của bạn. Nếu bạn là cư sĩ (người tu tại gia), bạn sẽ là người con, người vợ, người chồng, cha, mẹ hoặc bất kỳ vai trò nào đem lại hòa khí và an lành cho gia đình bạn; tất cả bằng sự hiểu biết, tâm từ bi, khả năng lắng nghe và rất nhiều công phu tu tập khác. Tu dưỡng thân tâm cũng là tu dưỡng nguồn năng lượng yêu thương cho những người xung quanh.

Sơ tâm là tâm buổi ban đầu, là một trái tim tốt lành nguyên vẹn, và còn nóng hổi. Vạn vật rồi sẽ thay đổi, nhưng năng lượng chân thành của sơ tâm sẽ lắng đọng hoài trong từng khoảnh khắc yêu thương của cuộc sống. Nhiều vết thương xung đột được chữa lành nhờ sơ tâm, nhiều sai trái được uốn nắn trở lại cũng nhờ sơ tâm. Và đôi khi ta bám víu vào những điều dĩ vãng cũng vì sơ tâm lúc ấy quá mạnh mẽ, quá trong sáng. Trong đạo Phật, sơ tâm còn được gọi là tâm Bồ đề do người tu học phát nguyện gieo trồng và vun tưới tâm yêu thương dành cho mọi loài. Đây được xem là suối nguồn năng lượng, không bao giờ cạn kiệt. Và vì vậy cần phải được người tu học ra sức giữ gìn, chăm nom. Giữ gìn sao cho suối nguồn cứ chảy hoài, phải chảy mạnh hoài để cuốn trôi những tiêu cực, buồn phiền trong đời sống gây ra. Giữ gìn sao cho đầu nguồn không bị ô nhiễm, không vẩn đục để đời sống trong tăng đoàn nhờ mình mà được trong sạch.

Còn rất nhiều lời khuyến học khác mà người viết muốn người cầm sách có thể đọc chậm rãi, đọc mỗi ngày một chút, một ít, rồi ngẫm nghĩ để có thể soi ra cái sơ tâm mà Sư Ông - Thiền sư Thích Nhất Hạnh - người thầy của Tỉnh thức và Yêu thương dành cho đại chúng.

Bước tới thảnh thơi còn một số nội dung khác cũng rất hữu ích dành cho bạn nếu muốn tìm hiểu đầy đủ về đời sống người xuất sĩ, và xem thử mình có thể áp dụng tại nhà cái gì không.

Bài viết dành cho những ai đã cầm cuốn sách trên tay nhưng cảm thấy ngột ngạt hoặc khó hiểu vì những lớp từ ngữ của giới tu học, và cho những ai có ý định tìm hiểu nghiêm túc về dòng tu Tiếp Hiện của các chư tăng Làng Mai. Hy vọng mọi người sẽ thấy dễ dàng tiếp cận Bước tới thảnh thơi hơn, và chắt lọc nhiều điều bổ ích để ứng dụng ngay tại giây phút này.

Hết.

Anh Đào

*

Tắm mình trên dòng sông tuệ giác



*

Đối với các đệ tử của Thầy, cũng như những người yêu kính Thiền sư Nhất Hạnh, ngày 11 tháng 10 hằng năm không chỉ là ngày sinh nhật của Thầy mà còn được biết đến với tên gọi Ngày Tiếp Nối, với ý nghĩa tiếp tục lưu giữ và truyền lại những tư tưởng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh cho thế hệ sau.

Nhân Ngày Tiếp Nối, các tác phẩm sách của Thiền sư Thích Nhất Hạnh được trưng bày trang kính ở hệ thống Nhà Sách Phương Nam trên toàn quốc. Là đơn vị liên kết xuất bản, phát hành nhiều đầu sách của Thiền sư, Nhà Sách Phương Nam tự hào tiếp nối những giá trị tư tưởng của Thiền sư, từ đó trao truyền từng trang sách thấm đẫm những tư tưởng ấy đến với nhiều đối tượng bạn đọc.

Các tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh mà Phương Nam Book đã xuất bản.
Mỗi quyển sách là mỗi giá trị tư tưởng mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh trao truyền cho đại chúng.
Ảnh: Nhà Sách Phương Nam Phú Thọ
Đọc bài viết

Cafe sáng