Nối kết với chúng tôi

Sáng tác

Thơ: dấu hiệu kết thúc (Vũ Lập Nhật)

Published

on

khi một bộ phim về nỗi buồn kết thúc

những người tạo tác nó hiện ra dưới những cái tên

như trong chứng minh nhân dân của họ

qua những con chữ bò từ chỗ giá sách vừa tầm tay ta

lên trần nhà cao chót vót đôi khi họa may có vài con thằn lằn

cũng giống như cách một bộ phim về niềm vui sẽ kết thúc

nhưng trái ngược với chiều chuyển động

khi ta ngắm hoàng hôn rồi nhìn xuống đôi chân mình

bầu trời những lúc ấy luôn trong vắt

như cốc nước cam lọc hạt cẩn thận

hay ruột dưa hấu loại sạch hạt đen

vốn không cần thiết như trên lông loài chó đốm

mà nếu không tồn tại chúng đã là chó lông trắng

ta khạc những hạt cam, hạt dưa hay hạt của bất kì loại quả nào

xuống ngay hai bàn chân đang giúp ta đứng trên mặt đất

như để xua đuổi những nguy cơ

về sức khỏe, bản ngã, nỗi buồn và cả niềm vui

trong khi lẽ ra ta có thể dịch điểm kết thúc của chúng thêm vài phân

xuống đất nơi chúng sẽ cho ra những khả thể mới

thay vì xuống chân ta nơi khó xảy ra thêm diễn biến đột phá nào

nhưng biết sao được khi những đám mây cũng phân biệt màu sắc

vào một số buổi chiều, chúng truyền nhau tín hiệu ngày tàn

rồi bay đi mất

để lại ta hoàng hôn thuần túy cam hoặc đỏ không có những chuyển sắc

đôi khi là xanh ngọc lục

dù sao cũng không quan trọng

tất cả rồi sẽ sớm trở về màu bóng đêm

Hết.

Vũ Lập Nhật

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Sáng tác

Truyện ngắn: Giáng Sinh (Vladimir Nabokov)

Published

on

Sau khi đi bộ từ trong làng trở về trang viên băng ngang cánh đồng tuyết sáng lờ mờ, Sleptsov ngồi vào trong góc nhà, trên cái ghế bọc nhung ông không nhớ đã từng dùng đến nó. Tương tự như những chuyện chúng ta thường thấy sau một cơn đại họa. Không phải anh em mà lại là một người quen sơ, ông láng giềng ở nông thôn bạn chẳng mấy khi để ý đến, lúc bình thường bạn chẳng buồn trò chuyện đến, lại chính là người an ủi bạn, rất khéo léo và hoàn toàn dịu dàng, nhặt hộ bạn cái mũ bạn đánh rơi sau khi tang lễ chấm dứt lúc bạn đang bị choáng váng trong nỗi đau khổ, răng bạn đang run lập cập, và mắt bạn đang mờ nước mắt. Người ta cũng có thể nói như thế về đồ vật. Bất cứ căn phòng nào, ngay cả những căn phòng ấm áp thân mật nhất và nhỏ đến vô lý nhất, trong cái chái nhà ít khi được sử dụng của một trang viên đồ sộ ở nông thôn cũng có một góc không ai lui tới. Và đó là cái góc nhà Sleptsov đang ngồi.

Chái nhà này nối liền, bằng một hành lang dài và hẹp bằng gỗ, đang bị cơn tuyết miền Bắc Nga lấp đầy, với phần chính của ngôi nhà, chỉ được dùng vào mùa hè. Không cần thiết phải đánh thức hay sưởi ấm nó; chủ nhân của ngôi trang viên đến từ Petersburg ở chỉ đôi ba ngày và chỉ cần dùng phần nối liền của ngôi nhà, chỗ này đơn giản chỉ cần nhóm cái bếp bằng sứ Hòa Lan.

Chủ nhân của trang viên ngồi trong cái góc nhà không ai qua lại này, trên cái ghế bọc nhung, như thể ông đang ngồi chờ trong phòng mạch của bác sĩ. Căn phòng trôi nổi trong bóng tối, và màu xanh thẫm của hoàng hôn lọc thấm qua chòm lông tơ pha lê của sương giá trên khung kính cửa sổ. Ivan, ông giúp việc bệ vệ và ít nói, mới cạo sạch bộ ria mép nên trông ông rất giống ông bố đã qua đời, trước là quản gia, mang vào một cây đèn dầu hỏa, lau chùi sạch sẽ và sáng rực. Ông đặt đèn lên cái bàn nhỏ và, rất êm ả, ông lấy cái chụp đèn lụa màu hồng rào vây chung quanh đèn. Trong một thoáng ngắn ngủi cái gương nghiêng phản chiếu ánh sáng lên lỗ tai và mái tóc bạc cắt ngắn của ông. Xong, ông thoái lui và cánh cửa kêu kẽo kẹt nho nhỏ.

Sleptsov nhấc bàn tay ra khỏi đầu gối, chậm chạp quan sát. Một giọt nến đã dính và đông cứng lại ở khoảng da mỏng giữa hai ngón tay. Ông xòe các ngón tay và lớp vảy mỏng màu trắng bị vỡ tan.

*

Sáng hôm sau, sau một đêm đầy những giấc mơ vụn vằn vô nghĩa hoàn toàn chẳng liên hệ với nỗi buồn khổ của ông, khi Sleptsov bước ra ngoài hàng hiên lạnh giá, nền nhà thoát ra tiếng kêu răng rắc như tiếng súng nổ vui vẻ dưới chân ông, và ánh phản chiếu của các ô kính cửa sổ nhiều màu sắc kết hợp lại thành những hình thoi đẹp tuyệt trần chiếu lên trên những cái ghế trắng không bọc nệm đặt cạnh cửa sổ. Thoạt tiên lớp cửa bên ngoài hơi khó đẩy, rồi thì nó chịu mở ra với tiếng kêu giòn giã răng rắc, và hơi băng giá choáng ngợp tạt vào mặt ông. Lớp cát màu đo đỏ được rải lên lớp băng che phủ những bậc thềm của hiên trước trông giống như bột quế, và các thỏi băng nhũ thật dày có màu xanh lơ pha lục treo lủng lẳng trên mái nhà. Lớp tuyết dày len lỏi vào tận trong mấy cái cửa sổ của phần nhà nối, xiết chặt dãy hành lang hẹp bằng gỗ gọn gàng này bằng gọng kềm giá lạnh. Cái khối màu trắng ngà, trước là nơi trồng hoa vào mùa hè, đã phồng to lên, hơi cao hơn mực tuyết của hàng hiên trước, và xa xa là ánh sáng lộng lẫy của rừng, nơi ấy tất cả các cành cây màu đen đều được viền ánh bạc, và những ngọn thông xanh dường như co rúm những cái vấu màu xanh lục bên dưới sức nặng đẫy đà sáng rực của chúng.

Mang đôi ủng nỉ và cái áo khoác ngắn bên trong lót bằng lông thú có cổ áo bằng lông cừu, Sleptsov bước chầm chậm dọc theo con đường nhỏ rất thẳng, con đường vỏn vẹn đã được dọn sạch tuyết chạy vào cánh đồng tuyết sáng đến lóa mắt phía đằng xa. Ông ngạc nhiên thấy mình vẫn còn sống, vẫn còn có thể nhận thấy cái sáng rực rỡ của tuyết, và cảm thấy đau buốt ở mấy cái răng cửa vì không khí lạnh. Ông cũng chú ý đến cái bụi cây bị tuyết phủ trông giống như một cái nguồn nước phông-tên, và con chó đã để lại trên bờ tuyết một chuỗi dấu chân màu vàng nghệ hằn sâu vào rìa của bờ tuyết. Xa hơn một chút nữa, những bộ phận chống đỡ cái cầu dành cho khách bộ hành thò ra khỏi tuyết, và Sleptsov dừng lại ở nơi ấy. Cáu kỉnh, giận dữ, ông xô lớp tuyết dày xốp phủ đầy lan can cầu. Ông nhớ thật sống động dáng dấp cây cầu vào mùa hè. Cậu bé con trai ông đi dọc theo những thanh gỗ cầu trơn trợt, lấm tấm điểm hoa dại, khéo léo dùng vợt bắt con bướm đậu trên thành cầu. Thế rồi cậu bé nhìn thấy ông bố. Đã mãi mãi mất rồi tiếng cười đùa trên mặt cậu bé, bên dưới cái vành nón rơm bẻ cụp xuống bị nắng rám đen; mấy món đồ chơi cầm tay và dây xích của cái ví da cột vào dây thắt lưng, đôi chân đáng yêu của cậu bé rám nắng nhẵn nhụi trong cái quần “sọt” vải và đôi săng-đan ướt đẫm như lệ thường đứng ở thế dạng chân rất vui vẻ. Chỉ mới đây thôi, ở Petersburg, sau khi say sưa ba hoa về chuyện ở trường, chuyện cái xe đạp, về mấy con bướm Á châu rất đẹp, cậu bé bỗng qua đời, và hôm qua Sleptsov đã mang cỗ quan tài – rất nặng nề, dường như nó chứa sức nặng của cả cuộc đời – về làng, đưa vào nhà mồ riêng của gia đình ở gần nhà thờ trong làng.

Không gian yên vắng như chỉ có thể yên vắng đến thế này trong một ngày sáng sủa và lạnh giá. Sleptsov nhấc chân lên, bước ra khỏi lối đi, và để lại những vết lõm sâu màu xanh lơ trong tuyết, tạo lối đi giữa những thân cây trắng lạ lùng đến nơi cánh rừng bắt đầu rẽ xuống hướng bờ sông. Phía dưới thật xa, những khối băng tỏa ánh sáng lấp lánh gần một cái lỗ bị cắt thủng trong một màu trắng mịn bao la, và, ở bờ bên kia mấy cột khói màu hồng đứng thẳng bên trên mái nhà phủ đầy tuyết của những căn nhà được xây bằng thân gỗ tròn. Sleptsov cởi cái mũ lông cừu đứng tựa lưng vào thân cây. Ở phía xa thật xa, nông dân đang bổ củi – âm thanh của mỗi nhát búa vang vọng lên không trung – và ở bên ngoài làn sương mỏng màu bạc bao phủ rặng cây, bên trên những túp lều gỗ đang ngồi xổm, ánh mặt trời chiếu sáng vẻ thư thái của cây thánh giá trên nhà thờ.

Ông sẽ đến nơi ấy sau bữa ăn trưa bằng cỗ xe trượt tuyết cũ kỹ có chỗ dựa lưng rất thẳng. Tiếng vó của con ngựa màu đen nện mạnh mẽ trong không gian lạnh băng, các chòm lông trắng của những cành cây thấp là đà trượt phía trên đầu, và dấu bánh xe ở phía trước lấp loáng màu xanh lơ có ánh bạc. Khi ông đến nơi, ông ngồi độ một giờ đồng hồ bên cạnh mộ, đặt đôi bàn tay đeo găng bằng len dầy nặng lên trên những thành cầu bằng sắt, hơi lạnh xuyên qua lớp len làm bỏng rát bàn tay ông. Ông về nhà với một nỗi thất vọng nhẹ nhàng, như thể để con trong nhà mồ càng làm xa cách với ông hơn là chỗ này, nơi để lại vô số dấu chân thoăn thoắt của cậu bé đã được bảo toàn bằng lớp tuyết bao phủ.

Chiều tối, bất chợt bị nỗi buồn mãnh liệt tràn ngập, ông bảo mở cửa gian nhà chính. Khi cánh cửa mở toang với tiếng kêu buồn phiền như tiếng khóc, thoang thoảng có một mùi đặc biệt, tươi mát chứ không mốc meo như mùi của mùa đông, thổi từ tiền sảnh có chấn song sắt, Sleptsov lấy ngọn đèn với tấm phản chiếu bằng thiếc từ tay người gác cửa rồi vào nhà một mình. Nền nhà bằng gỗ kêu răng rắc đầy vẻ rùng rợn dưới bước chân của ông. Từ phòng này sang phòng khác trong ánh sáng vàng vọt, và những vật dụng trong nhà được che phủ bằng những tấm vải trông rất xa lạ; thay vì tiếng rung lanh canh của cái đèn trần là một cái bao im lìm treo trên trần nhà, và cái bóng khổng lồ của Sleptsov, chậm chạp duỗi cánh tay, bồng bềnh trôi trên tường và bên trên những cái hình vuông xám của những bức tranh đã được phủ che.

Ông vào phòng cậu con trai đã dùng làm phòng học lúc mùa hè, để ngọn đèn lên bệ cửa sổ, rồi làm gãy móng tay khi ông cố mở cửa sổ, mặc dù ngoài kia chỉ toàn là bóng đêm. Trên tấm kính màu xanh, ngọn lửa vàng của cái đèn hơi bị khói ám hiện ra, và bộ mặt to lớn, râu ria của ông xuất hiện trong chốc lát.

Ông ngồi xuống ở cái bàn trống trải và nghiêm nghị, chau mày khám xét giấy dán tường màu nhạt viền quanh là những dây chuỗi hoa hồng xanh; một cái tủ hẹp thường được dùng ở các văn phòng với những ngăn kéo từ trên xuống dưới; một cái ghế nệm dài và mấy cái ghế bành được che trùm lại; rồi bất thần, gục đầu lên trên bàn, ông bắt đầu lắc mạnh, mê mải, mãnh liệt, ồn ào, áp đôi môi và sau đó đến gò má đẫm ướt vào cái mặt gỗ lạnh lẽo đóng đầy bụi và nắm chặt mấy góc bàn.

Trong ngăn bàn ông tìm thấy quyển vở, cái bảng, mấy cái kim găm màu đen, và một hộp bánh bích-qui bằng thiếc trong đó có chứa một cái kén rất lạ mắt trị giá ba rubles. Sờ vào, nó mỏng manh như giấy và dường như nó được làm bằng một chiếc lá màu nâu cuộn tròn. Cậu con của ông đã nhớ đến nó lúc cậu bé đang nằm bệnh, hối tiếc là mình đã bỏ nó lại ở nhà nhưng tự an ủi với ý nghĩ là con nhộng bên trong có lẽ đã chết rồi. Sleptsov cũng tìm thấy một cái vợt lưới đã mòn: một cái túi bằng vải mỏng như mút-xơ-lin đặt lên trên một cái vòng có thể xếp lại (và lớp vải này vẫn còn mùi của mùa hạ với mùi cỏ nóng vì ánh mặt trời).

Cúi gập người xuống thấp hơn, rồi thấp hơn nữa, ông khóc nức nở rung chuyển cả thân hình, rồi ông bắt đầu kéo ra từng chiếc ngăn có nắp đậy bằng kính trong cái tủ đứng. Trong ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn, những vật làm mẫu được sắp xếp ngay ngắn, chiếu sáng như lụa bên dưới lớp kính. Ở đây, trong phòng này, trên bàn ấy, con ông đã dang đôi cánh những động vật cậu bắt được. Trước tiên cậu dùng kim găm cắm con côn trùng đã được cẩn thận giết chết lên cái khe rãnh có đáy bằng gỗ xốp của cái bảng trưng bày, ở giữa những lát gỗ mỏng có thể điều chỉnh được và ép nó xuống cho thật phẳng bằng kim ghim trên những mảnh giấy lên đôi cánh vẫn còn tươi và mềm mại. Bây giờ thì chúng đã rất khô và đã được chuyển vào trong cái tủ đứng này – loài bướm Đuôi Én tuyệt mỹ, loại bướm hiếm màu Đồng và màu Xanh, và các loại bướm quí khác, một vài con bướm được gắn lên bảng ở vị thế nằm ngửa để trưng bày trứng bướm. Con ông từng đọc tên Latin của những loại côn trùng này với giọng than thở một cách đắc thắng hay rẻ rúng. Và lũ bướm, lũ bướm Diều Hâu Aspen đầu tiên xuất hiện hồi mùa hạ của năm năm trước.

Đêm có màu xanh của khói và trăng rất sáng; mây mỏng lác đác trên trời nhưng không vệt mây nào chạm đến mặt trăng kiêu sa và mỏng manh. Rừng cây, những mảng dày băng giá màu xám, rải bóng đen trên tuyết, lấp lánh chỗ này nơi kia một thứ ánh sáng của kim loại. Trong cái ghế bọc nhung, gian phòng sưởi ấm áp của đoạn nối hai dãy nhà, Ivan đã đặt một cây thông cao chừng sáu hay bảy tấc trong một cái chậu đất sét nung lên bàn, và chỉ cắm một ngọn nến lên chân nến hình thánh giá khi Sleptsov từ gian nhà chính quay về, lạnh lẽo, mắt đỏ hoe, bụi xám còn dính đầy trên má, dưới nách cặp theo cái hộp gỗ. Nhìn thấy cây Giáng Sinh trên bàn, ông hỏi lơ đễnh, “Cái gì đây?”

Đỡ cái hộp gỗ trên tay ông, Ivan trả lời bằng giọng rất nhỏ nhẹ, dịu dàng, “Ngày mai là ngày lễ.”

“Không, mang nó đi chỗ khác,” Sleptsov nói với vẻ cau có, trong đầu thì suy nghĩ, “Có thể nào là đêm Giáng Sinh? Tại sao ta có thể quên chứ?”

Ivan dịu dàng giữ ý kiến, “Nó đẹp và xanh mướt. Cho nó đứng ở đây một thời gian.”

“Làm ơn mang nó đi,” Sleptsov lặp lại, cúi người trên cái hộp gỗ ông mang về. Trong đó ông đã mang hết đồ dùng của con trai – cái vợt bắt bướm có thể gấp lại được, hộp bánh bích-qui bằng thiếc với cái kén hình quả lê, cái bảng để giăng cánh bướm, những cây kim găm trong cái hộp sơn mài, cuốn vở màu xanh. Phân nửa trang đầu tiên đã bị xé đi, và phần còn lại chứa một phần bài chính tả tiếng Pháp. Sau đó có những bài nhật ký, tên của những con bướm bắt được, và những hàng ghi chú khác:

Đi ngang một vùng đầm lầy xa mãi tận Borovichi…

Hôm nay mưa. Đánh cờ với bố, sau đó đọc Frigate của Goncharov, cuốn sách chán kinh khủng.

Một ngày nóng tuyệt vời. Chạy xe đạp buổi chiều tối. Một con bọ bé xíu rơi vào mắt tôi. Cố ý đạp xe ngang ngôi nhà nghỉ hè của cô bé ấy hai lần, nhưng không gặp cô bé…

Sleptsov ngẩng đầu lên, nuốt cái gì đó rất nóng và to lớn. Con ông viết về ai thế?

Chạy xe đạp như thường lệ. Chúng tôi nhìn nhau. Cục cưng của tôi, người yêu ơi…

“Chuyện này không thể tưởng tượng được,” Sleptsov thầm thì. “Tôi không bao giờ biết…”

Ông lại cúi người xuống, tập trung cố giải mã nét chữ trẻ con hết nghiêng người đứng lên lại bẻ cong xuống lề quyển vở.

Nhìn thấy một loại bướm mới của giống Mỹ Nữ Camberwell hôm nay. Điều đó có nghĩa là mùa thu đã đến. Mưa lúc chiều tối. Cô bé có lẽ đã về thành phố rồi, chúng tôi chưa có dịp làm quen với nhau. Giã biệt, người yêu dấu. Tôi cảm thấy rất buồn…

“Nó chưa bao giờ kể tôi nghe những chuyện như thế này…” Sleptsov cố nhớ lại, xoa trán bằng lòng bàn tay.

Trên trang giấy cuối cùng có một bức họa vẽ bằng mực: cái nhìn từ phía sau của con voi – hai cái cột to xù, góc cạnh của hai lỗ tai, và cái đuôi bé xíu.

Sleptsov đứng lên. Ông lắc đầu, cố gắng tự kềm chế những tiếng nức nở khủng khiếp cứ chực trào ra.

“Tôi–không-thể-chịu-đựng-được-nữa,” ông lè nhè giữa những tiếng rên, lặp lại càng chậm hơn, “Tôi–không-thể-chịu-đựng-được-nữa…”

Ngày mai là ngày Giáng sinh, điều nhắc nhở đến bất chợt, và tôi sẽ chết. Dĩ nhiên. Đơn giản thế thôi. Chính đêm nay…

Ông rút cái khăn tay ra và lau khô đôi mắt, gò má. Những vết đen dính lại trên khăn tay.

“… cái chết,” Sleptsov nói nhỏ nhẹ như thể kết luận một câu dài.

Tiếng đồng hồ gõ nhịp. Những mô hình sương giá trùng lặp lên nhau trên tấm kính xanh của cửa sổ. Quyển vở mở được chiếu sáng rực trên bàn, bên cạnh nó ánh sáng xuyên qua lớp vải mút-xơ-lin của cái vợt bắt bướm, sáng lóng lánh ở một góc của cái hộp thiếc mở nắp. Sleptsov nhắm chặt mắt, mơ hồ cảm thấy sự sống của trần thế trước mặt ông, hoàn toàn trơ trụi đơn giản và buồn thảm khủng khiếp, vô lý vô dụng đến nhục nhã, tuyệt tự, thiếu vắng phép nhiệm mầu.

Ngay lúc ấy bỗng có tiếng nứt – âm thanh mỏng manh như tiếng sợi dây cao su bị căng thẳng rồi bị đứt. Sleptsov mở mắt. Cái kén trong hộp bánh bích-qui bằng thiếc đã vỡ ra ở phía trên đầu, và một con vật nhăn nheo màu đen to cỡ một con chuột sơ sinh đang bò lên trên tường phía trên bàn. Nó dừng lại, cố bám vào mặt tường bằng sáu cái chân cuống quít và bắt đầu phập phồng một cách lạ thường. Nó xuất hiện từ cái kén bởi vì người đàn ông vật vã trong nỗi đau khổ đã mang cái hộp thiếc vào căn phòng ấm áp của ông, và hơi ấm đã thấm vào cái vỏ kén bằng lá và lớp tơ dày chắc của nó; nó chờ đợi giây phút này từ lâu, gom góp tất cả sức lực, và giờ đây, đã nở, thoát ra, nó từ từ và đầy nhiệm mầu nở to lên. Dần dần những mảnh vỏ nhăn nheo, những đường viền nhung nở ra; những sợi gân hình quạt xếp trở nên cứng cáp hơn khi nó chứa đầy không khí. Nó trở nên loài vật có cánh, không thể nào tưởng tượng nổi, có khuôn mặt trưởng thành và trở nên rất xinh đẹp. Và đôi cánh – vẫn còn yếu ớt, và ướt át – tiếp tục lớn lên và mở ra, và bây giờ chúng phát triển đến mức toàn vẹn nhất mà Tạo Hóa đã xếp đặt, và nơi đó, trên vách tường, thay vì là một cái khối nhỏ của cuộc đời, thay vì là con chuột đen, là một con bướm Attacus như những loài có thể bay như chim, vòng quanh ngọn đèn trong những buổi hoàng hôn bên Ấn Độ.

Và rồi đôi cánh dày và đen ấy, với các đốm sáng ngời như đôi mắt trên ấy với một đóa hoa màu tím, nó xoa những cái chân trước vào nhau như phủi bụi, hít một hơi đầy bên dưới sự thôi thúc rất dịu dàng, khao khát, rất giống với hạnh phúc của loài người.

Hết.

Nguyễn Thị Hải Hà dịch.

Dmitri Nabokov dịch từ bản tiếng Nga với sự góp ý của tác giả.
Ảnh đầu bài: A Winter Scene with Skaters near a Castle by Hendrick Avercamp (1608-9)

Vladimir Nabokov (1899 – 1977) nhà văn Nga biết rất nhiều thứ tiếng. Ông viết chín tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Nga rồi nổi tiếng trên toàn thế giới là nhà văn lớn chuyên viết tiếng Anh với văn phong tuyệt vời. Tác phẩm Lolita của ông ra đời năm 1955 là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của ông. Lolita, Pale Fire, và Speak, Memory là những tác phẩm nằm trong danh sách Modern Library 100 Best Novels và Nonfiction (100 quyển tiểu thuyết và các thể loại khác như ký, phê bình, tiểu luận hay nhất của Thư Viện Hiện Đại).

Lời người dịch: Tôi dịch truyện Giáng Sinh của Nabokov trước nhất vì tôi yêu cái hình ảnh đầy tuyết êm đềm thơ mộng ở một miền quê của nước Nga. Sau đó tôi bị cuốn hút vào nỗi đau đớn của người cha khi nhớ lại cậu bé con của ông mới còn nô đùa bắt bướm giữa mùa hè mà đã lâm bạo bệnh và qua đời trước ngày Giáng sinh. Trong nỗi đau khổ và cô đơn tận cùng ông nghĩ đến việc đi tìm cái chết thì phép lạ hiện ra. Nabokov đưa tôi từ cái đẹp của băng giá mùa đông qua cái nồng ấm của mùa hè, cái tuyệt vọng của người cha bên cạnh cái thơ ngây yêu đời của đứa con, người cha chợt khám phá bí mật của cậu bé con rồi đến cái bí ẩn của sự sống. Còn gì hơn trong đêm Giáng sinh người ta khám phá ra sự nhiệm mầu của một sự sống vừa mới khởi đầu mà sự sống đó tưởng đã chết trong cái lá khô.

Đọc bài viết

Sáng tác

Truyện ngắn: Người mẹ trong công viên (Emmanuelle Pagano)

Published

on

Vào những ngày Chủ nhật, tôi luôn muốn kéo mẹ ra công viên chơi. Mẹ lại thích đến bờ sông hơn nhưng không phải để đi tắm nắng mà là kiếm nơi nào đó ít người lai vãng. Những chốn bình yên. Tôi thì ngược lại, chỉ muốn mở trận đá banh với lũ bạn. Đối với mẹ, chốn thanh bình là nơi bà có thể yên lặng đọc sách. Bà chưa bao giờ chơi đùa với tôi, thảng hoặc mới nói vài câu và cũng chẳng mấy khi ra lời với người khác trừ khi cần thiết hoặc nói chuyện với đám con. Tôi là đứa út ít trong ba cậu nhóc - những cậu bé con đang tuổi ăn tuổi quậy.

Mẹ không thích công viên vì ở đấy đông người, nhưng thực ra không chỉ vì vậy, cũng chẳng phải vì bà muốn ở một mình mà bởi những người ở công viên này nhếch nhác hơn ở nơi khác. Họ lấm lem, hơi thở khò khè, thơ thơ thẩn thẩn và hay quấy rầy dai dẳng. Tất cả đều nghèo rớt mùng tơi, nghèo tới mức chẳng có nổi tấm bằng lái chứ chưa nói gì đến xe hơi. Cứ đến ngày chủ nhật, họ lại dạt về công viên, xúm xít quanh gốc cây chanh sừng sững, bao quanh là những băng ghế nguệch ngoạc hình vẽ graffiti. Trên các băng ghế gỗ chằng chịt những dòng chữ sai lỗi chính tả nhưng trên lớp vỏ cây cứng cáp thì tuyệt không thấy gì. Đám trẻ hiếu động rượt nhau chạy vòng quanh ghế, nhảy tót lên rồi chui xuống lăn lộn dưới gầm. Tôi rất muốn nhập hội với chúng, còn mẹ thì muốn tôi vui nên bà chiều lòng đưa tôi ra đây, bỏ lại cái êm đềm của dòng sông, âm thanh dịu dàng, đều đều của làn gió, tiếng sột soạt của những trang sách giở ra và âm thanh cô đơn của những trận đá banh một-cầu-thủ. Kết quả chung cuộc, mẹ lúc nào cũng nhượng bộ gật đầu. Mẹ sẽ ngồi dưới tán cây, tay ôm quyển sách mà bà biết rằng chẳng đời nào đọc nổi giữa không khí chộn rộn này, nhưng bà hạnh phúc khi thấy tôi cười ngoác miệng và nhiệt tình nhập hội với đám bạn.

Chủ nhật hôm ấy, bọn trẻ ra công viên khá đông. Chúng chơi đùa dưới sự giám sát của những ông bố bà mẹ đầy vẻ nghi ngại. Nhưng dưới tán cây chanh, vẫn có vài người trẻ tuổi hơn không dắt theo trẻ nhỏ, họ nằm ườn trên ghế, đánh một giấc ngon lành từ khuya hôm trước đến tận trưa hôm sau, dùng chân canh chừng chú chó cưng và những lon bia. Tôi có thể nhận ra cái nhìn dè dặt, sợ sệt trên khuôn mặt mẹ khi bà cố tìm chỗ ngồi càng xa họ càng tốt. Trong số đó, có một người thức giấc, với vẻ chán nản và sầu đời đã bắt chuyện với mẹ. Bà đáp trả với cung cách lịch sự, rằng bà muốn đọc sách và bắt đầu mở sách ra đọc thật. Mẹ giục tôi lấy banh ra khỏi giỏ (một trái bóng rổ và một trái bóng đá) rồi đi làm quen với những bạn khác. Chẳng khác gì tôi, chúng cũng đang ôm một mớ banh và háo hức tìm “đồng đội”. Nhưng tôi muốn nói chuyện với Jérémie hơn. Bác ấy vừa mới tự giới thiệu và chìa đôi tay rám nắng ra, nhờ vậy tôi mới biết tên bác. Bác đang tìm đứa con trạc tuổi anh tôi (bác nói với mẹ: Cô biết không, con tôi cũng lớn cỡ thằng bé nhà cô) và mẹ đã tìm được nó. Trông bác Jérémie có vẻ tử tế và thận trọng. Nhưng nếu bác muốn “đá lông nheo” với mẹ thì dứt khoát phải bước qua ải của tôi đã. Bác bắt đầu giải thích cho tôi về những kiểu rê bóng, chuyền bóng, tất tần tật về bóng đá và bóng rổ, thậm chí rất nhiều thứ chẳng “dây mơ rễ má” gì tới hai món này, chẳng hạn như thể thao sẽ dạy cho ta nhiều bài học về cuộc sống: lòng vị tha, tinh thần đồng đội, chơi đẹp, tuân thủ đúng luật, biết sống hòa đồng với người khác. Bác còn tâm sự với tôi về chuyện đời, về quãng đời đã qua với tấm bằng nghiên cứu thể thao bị xếp xó, về công việc của một huấn luyện viên nhiều môn thể thao và những vấn đề ngổn ngang. Tôi dám chắc rằng thật ra, bác đang kể những chuyện này cho mẹ tôi nghe chứ chẳng phải nói với tôi, nhưng chỉ sau mấy phút, bác đã trở thành ông bạn già chí thân của tôi ở chốn công viên này.

Mẹ vẫn cố chăm chú vào cuốn sách, thỉnh thoảng, bà thoáng liếc qua trông chừng tôi, thật nhanh và kín đáo để Jérémie không tài nào bắt được ánh mắt của mẹ. Nhưng mỗi lần chạm được ánh mắt đó, bác liền bắt đầu tung ra hàng tá lời khen có cánh về đôi mắt xanh của bà. Đôi mắt mà tôi may mắn được thừa hưởng. Một màu xanh thuần khiết, trong trẻo hơn cả dòng sông ngày nắng ấm, thăm thẳm hơn cả nền trời ngày không gợn áng mây. Đôi mắt sáng thắp sáng khuôn mặt có tuổi vốn đã nhuốm màu thời gian và phiền muộn của bà. Chút cảm giác đố kỵ dấy lên trong lòng tôi nhưng chỉ một chút thôi, vì tôi biết mẹ thương tôi nhất. Tôi biết người đàn ông ấy chẳng đời nào có cơ hội lại gần mẹ. Và tôi tận dụng triệt để sự cô đơn đó để chơi đùa với bác. Vì mẹ có bao giờ muốn chơi với tôi đâu.

Mẹ đã dùng hết kiên nhẫn cho anh chị của tôi nên tôi không nghĩ bà có thể chịu nổi bất kỳ trận bóng nào nữa. Bà chỉ muốn đắm chìm vào những trang sách và đi bộ. Mẹ thích ở bên cạnh tôi, thả bộ cùng với tôi. Mẹ thương tôi. Chỉ là mẹ không ưa thành phố này, không thích những con người thành thị, những con đường và công viên nhếch nhác. Vốn là con gái nông thôn, mẹ luôn tâm sự rằng hy vọng có một lúc nào đó được về thăm quê, trong khi chị em tôi lại bí xị vì chúng tôi thích ở đây hơn, nơi có nhiều cửa hàng và khu phố sầm uất, những cột bóng rổ và khung thành. Theo lời mẹ kể, anh trai tôi từng sống ở một thị trấn thậm chí còn to hơn nữa, một vùng đất trong mơ hay một chốn thần tiên.

Hồi còn bé, mẹ không chơi những trò chơi như chúng tôi bây giờ. Mẹ dành cả ngày mơ mộng dưới gốc cây, mê mải ghép tranh không biết chán, mẹ vẽ và đọc biết bao nhiêu sách. Mẹ sống một mình với ông ngoại ở một nơi xa xôi hẻo lánh, cách chỗ bà ngoại đến mấy tiếng đồng hồ đi đường. Nơi ấy xa lánh chốn thành thị lao xao đến mức bạn có thể biết được lúc nào có người hàng xóm đang đi qua chỉ bằng cách lắng nghe tiếng chân họ bước trên tuyết, đếm từng bước chân - một âm thanh khô, đanh, lạnh lẽo giữa không gian thinh lặng. Mẹ từng nói trên đời này không hề có sự im lặng tuyệt đối mà lúc nào cũng tồn tại những âm thanh tí hon, bị giấu đi và hiếm có thể nhận ra. Mẹ là chuyên gia trong việc cảm nhận những thứ không thể cảm nhận ấy. Toàn bộ tuổi thơ của bà được làm nên từ đó. Mẹ có đôi tay đỏ ửng, nhăn nheo trước tuổi, cứ như thể bà từng là lao công, là công nhân hay nông dân, dù thực tế bà chưa từng làm bất kỳ việc nào trong số đó. Chỉ là bà hiếm khi để mắt săn sóc bản thân, đôi tay, gương mặt, hay mọi thứ liên quan đến dung nhan của mình, bà vô tình đến mức có chút lạ kỳ, như thể mẹ muốn người ta nghĩ rằng mình là một người nào khác. Tôi chăm chú nhìn đôi tay đang cầm quyển sách của mẹ nên bỏ lỡ cú chuyền bóng của bác Jérémie. Chú chó nhỏ của bác bắt đầu sủa vang và nhảy lòng vòng một cách đầy phấn khích.

Sự thiếu tập trung của tôi càng khiến chú chó nhỏ hứng chí, cứ như thể mỗi lần đá hụt của tôi đã chạm vào nút bấm của chiếc điều khiển từ xa có liên kết với thân hình bé nhỏ của chú. Chú chó cắm cúi rượt theo trái bóng bị văng ra với sự ồn ào dư thừa năng lượng. Tôi cũng mải chạy theo sinh vật tí hon tràn trề niềm vui ấy mà quên bẵng mẹ trong chốc lát. Nhưng khi bác Jérémie kể rằng ngày hôm qua, chú chó này đã đánh hơi được mùi của cáo trong thùng rác, tôi liền quay sang mẹ, nở một nụ cười “ẩn ý”. Hồi còn nhỏ, mẹ đã dùng tay không kết liễu một chú cáo để chấm dứt sự đau đớn mà nó phải chịu. Mẹ vẫn thường kể cho chúng tôi nghe về kỷ niệm đó và chúng tôi cũng thường đòi mẹ kể đi kể lại. Có lẽ đối với tôi, việc con cáo có thể đi lạc vào thành phố là một sự kiện khác thường nhưng câu chuyện đó giống như một cách làm lành với mẹ. Mẹ nhìn tôi, cười đáp lại nhưng đưa ngón tay lên miệng, ra dấu tôi nên giữ bí mật của mấy mẹ con. Tôi cũng cảm thấy nên vậy. Mẹ lấy trong giỏ ra một gói bánh snack. Mẹ chưa bao giờ quên mang theo bánh, nước hay sách. Và cả những trái bóng cho tôi nữa.

Tôi chạy lại ngồi cạnh mẹ, và bác Jérémie nỗ lực thêm lần cuối những mong xin được số điện thoại của bà. Bác đưa cho chúng tôi một thùng nước ép táo rồi cuối cùng tạm biệt chúng tôi. Bác đánh thức những người bạn và huýt sáo gọi mấy con chó. Họ đều rời khỏi công viên mà không đóng cổng. Khi họ đi khỏi, một chú chó khác lại đến. Nó có bộ lông trắng, trông có vẻ già nua và đôi chân sau đi khập khiễng. Dù tiếng sủa của nó chẳng ồn ào nhặng xị như mấy cậu chó choai choai nhưng điều đó không ngăn nó nhiệt tình rượt theo trái banh của tôi. Tôi đã ăn xong miếng bánh và mẹ lại cầm sách lên.

Hết.

Phương Hạ dịch

Nguyên tác Mum at the Park (Emmaneulle Pagano), đăng tại Literary Hub.

*

Về tác giả: Emmanuelle Pagano là một tác giả người Pháp. Cô đã viết khá nhiều tác phẩm, trong đó có một số tiểu thuyết đã được dịch ra hơn mười thứ tiếng. Cô đạt được nhiều giải thưởng trong văn nghiệp của mình, gần đây nhất là giải thưởng EU về Văn học với tác phẩm Les Adolescents Troglodytes và giải Tiểu thuyết về đề tài sinh thái học của Pháp.

Mum at the Park (tạm dịch Người mẹ trong công viên) là một truyện ngắn nằm trong tuyển tập Faces on the Tip of My Tongue, quyển sách thứ hai của Emmanuelle được dịch sang tiếng Anh, do Sophie Lewis và Jennifer Higgins chuyển ngữ, nhà xuất bản Peirene Press phát hành.

Đọc bài viết

Sáng tác

Truyện ngắn: Những người của biển

Published

on

Bão tới. Mới hơn sáu giờ chiều mà trời tối thui. Trong căn nhà cấp bốn lụp xụp nằm gần cạnh bờ biển, hai mẹ con dì Tư ngồi ăn cơm dưới ngọn đèn dầu leo lắt đang chực tắt. Dì Tư lọ mọ lừa mấy miếng xương cá để riêng ra mâm, rồi gắp khúc cá đã sạch xương bỏ vào chén thằng Ghe, biểu nó ăn. Thằng Ghe lấy cái muỗng múc miếng nước mắm ớt thiệt cay chan vào chén rồi đưa khúc cá lên miệng ăn ngon lành, lâu lâu nó lại hỏi, “Hông biết tới khi nào mới có điện lại, má ha!” Dì Tư không nói gì. Qua cái cửa sổ nhỏ bị hư chốt, dì Tư nhìn sang nhà mấy người hàng xóm. Nhà nào nhà nấy cũng tối thui. Có nhà xịn hơn mua được mấy cây đèn sạc điện, bây giờ lấy ra xài cũng coi như có chút ánh sáng.

Ở cái xóm này, hầu như nhà ai cũng đều câu điện lại từ nhà ông Tám. Giờ nhà ổng cúp điện thì cả xóm coi như cũng không có điện xài. Cũng trách sao cái đường dây điện nhà ông Tám cứ hay bị chập mạch mỗi lần trời mưa gió bão bùng, mà cũng trách cả xóm này nghèo quá, nhà nào nhà nấy đều nằm san sát nhau gần bờ biển, ngay cả tiền để ăn sang một bữa lẩu bò ngoài phố chợ còn không có, lấy đâu ra tiền để bắt điện từ công ty điện lực.

Ngoài trời, mấy hàng dừa nối dài đứng phe phẩy trước gió nhìn như những hồn ma ai đó hiện về. Gió thổi một rít hơn, còn mưa thì xối xả, cọ xát với cái mái tôn cũ nghe điếc cả tai. Trong những âm thanh hỗn loạn và đảo điên của cơn bão, dì Tư nhìn xa xăm ra ngoài, thấy biển và trời đều một màu đen thẫm.

*

Bão tan. Bốn giờ rưỡi sáng, dì Tư thức dậy, ra sau bếp chẻ mấy cọng ngo rồi bỏ than nhóm lửa. Còn ít gạo trong khạp, dì Tư định nấu một nồi cháo trắng, để dành ăn cả ngày với mấy con cá cơm ram sẵn còn dư. Trong lúc ngồi chờ gạo nở, dì Tư đi lên bàn thờ, thắp cho dượng Tư cây nhang, cũng không quên sửa lại mấy cành bông cúc ở trong bình cho ngay ngắn. Trên tấm ván ép bị nứt một đường dài ở mặt ván, thằng Ghe nằm ngủ chèo queo, nhìn nó như mấy con cá khô mà người ta vẫn thường hay treo tòn ten ở ngoài chợ. Dì Tư tới lấy mền đắp lên người cho nó. Bão tan, nhưng mà trời vẫn lạnh.

Trời sáng hơn, dì Tư chạy ra làng chài, nhìn ngó xung quanh mà không thấy ghe thuyền nào vô bờ hết. Đúng rồi. Mấy nay bão to, biển động mạnh, nhiều nhà đều sợ không dám đi. Có mấy ghe lớn hơn của nhà bà Phước, ông Hạp được đóng ráp chắc chắn, trang bị nhiều máy móc hiện đại thì may ra còn dám ra khơi, nhưng mà bao nhiêu thứ đánh bắt được thì mấy người đó đều đem lên chợ trên. Lên trên đó trả tiền cho nhân công giá rẻ hơn, mà bán cho mấy thương lái cũng được giá cao hơn nữa.

Biển đục ngầu. Những con cá lèo tèo đã chết khô dưới cát từ bao giờ, nay nhờ có bão thổi bay lớp cát mà được dịp trồi mặt lên, nhìn quê hương xứ sở của nó cho thỏa con mắt của những kẻ thèm khát biển khơi. Bờ biển vắng lặng, xung quanh chỉ lác đác vài ba người đến rồi đi trong cái nhìn tràn đầy thất vọng. Họ cũng là những người như dì Tư, sống leo lắt từng ngày như ngọn đèn dầu bám trụ vào ngọn lửa biển khơi. Thường thì cứ đúng bốn, năm giờ sáng, họ lại tập trung ở làng chài để đợi ghe thuyền vào, thi nhau mà cạy sò, cạy ốc... để có cái giao cho thương lái. Cứ mỗi kí sò hay ốc cạy được thì họ sẽ được trả một khoản tiền nhỏ, cứ đó mà nhân lên. Vậy nên ai cũng ráng mà cạy cho thiệt nhiều, dù cũng có lúc bị vỏ ốc đâm vào tay chảy máu hay chính con dao cạy đó vô tình cứa vào cổ tay. Có mấy người thương lái tới mua sò, hỏi, “Bộ ngày nào cũng cạy sò như vậy mà không ngán hả?”. Mỗi lần nghe câu đó, dì Tư cười ngọt sớt, “Ngán chớ sao hông, mà cũng phải ráng thôi. Hông cạy thì tiền đâu mà ăn?” Ừ, không cạy thì tiền đâu mà ăn, bởi vì đây là công việc của những người phụ nữ nghèo ở cái xứ biển quanh năm mặn chát này mà, họ nghĩ. Rồi hôm nay thể nào cũng đói, may mà còn có nồi cháo trắng nêm thật nhiều muối vừa mới nấu ở nhà...

*

Trời xanh. Thằng Ghe ùa ra tắm biển cùng với mấy đứa nhỏ trong xóm, đứa nào cũng ốm nhom ốm nhách như khúc củi khô. Tụi nó dân biển, từ lúc sinh ra tới giờ đã quen lăn lộn với nắng gió duyên hải nên làn da tất nhiên là rám nắng, hoặc không muốn nói là đen thùi lùi. Niềm vui mỗi ngày của tụi nó là đi tắm biển, đi ra làng chờ người ta nướng sò để xin ăn chực, thi thoảng chạy ra chợ coi kịch hát, lô tô. Trong đám con nít xứ biển ấy, ít có đứa nào được học hành tử tế. Đa phần tụi nó đều đi học giữa chừng rồi nghỉ học, còn không là vẫn chưa biết mùi vị trường lớp là thế nào. Có nhiều lần mấy anh chị công tác tư tưởng ở địa phương xuống tận nhà để vận động, khuyến khích phụ huynh cho con em đi học, nhưng rồi kết quả cũng chẳng đâu vào đâu, vì ba mẹ tụi nó thì làm gì có tiền. Thành ra cứ hết lớp con nít này tới lớp con nít khác, tụi nó sống và lớn lên như những con thuyền không dây neo, cứ trôi lênh đênh giữa biển đời mênh mông vô định. “Mà trách ai đây, hoàn cảnh mà...”

Mấy hôm cạy sò được nhiều tiền, dì Tư dắt thằng Ghe ra chợ, kêu cho nó tô bún mắm nêm nhiều chả với thịt. Nghe tới được ăn ngon, thằng Ghe khoái lắm, nhưng nó còn hỏi lại cho chắc, “Thiệt hả má?” Dì Tư ờ một cái, “Thì lâu lâu má dắt mày ăn sang một bữa, chứ để mày ốm tong teo như xì ke vầy, sau này ai lấy mày?” Nghe tới ba cái chuyện này, thằng Ghe tít mắt cười ngặt nghẽo, để lộ cái răng sữa vừa bị gãy do hôm qua ngồi gặm càng ghẹ bà Ba cho.

Trong cái quầy bún mắm ruồi bu nhặng xị, dì Tư nhìn thằng Ghe ăn ngon lành. Lâu lắm rồi, cũng không biết là khi nào, thằng Ghe mới được ăn lại tô bún sang như vậy. Thiệt ra nó cũng không biết sang với không sang là như thế nào, nó chỉ biết là hôm nay nó đã được ăn một thứ rất là ngon, khác với mấy bữa cơm chỉ có le que vài ba cọng rau với mấy con cá kho mà má nó mua ở cuối chợ chiều.

Lúc chờ thằng Ghe ăn xong tô bún, dì Tư nhìn thấy một nhóm học trò đi ngang qua chợ. Tụi nhỏ ghé vào một hàng văn phòng phẩm, tìm tìm mua mua cái gì đó. Nhìn đứa nào cũng cao ráo sáng sủa, mà lại còn rất là trí thức. Dì Tư trộm nghĩ, rồi lại chợt ngó sang thằng Ghe. Nếu mà thằng Ghe được đi học đàng hoàng tử tế như con người ta, thì sao?

Tối đó trời nóng, ăn cơm xong, dì Tư rinh cái ghế bố ở trong nhà ra ngoài bãi biển, cốt để nằm ngả lưng một chút rồi đi vào đan cho xong tấm lưới. Ngoài mấy lúc đi làm công nhật, dì Tư cũng hay ở nhà ngồi đan lưới để giao cho mấy chủ ghe. Hễ cứ ở đâu có việc gì làm là dì Tư nhảy vào nhận việc ngay. Dì Tư làm quần quật từ sáng tới tối, ngày này qua ngày nọ, hết việc này tới việc khác mà cũng không sao khấm khá lên được. Mà cũng không phải riêng một mình dì Tư. Ở cái xóm này, và còn nhiều xóm nữa, mấy kiếp người rong ruổi cũng giống như bọt bèo ở đại dương. Tội nghiệp!

Trên bờ cát dài gió thổi mát lành, dì Tư vắt tay lên trán, miên man nhìn mấy ngọn đèn tàu xa tít ở ngoài khơi. Thằng Ghe ngồi bên cạnh dì, nó lượm mấy cái vỏ ốc ở trên bờ rồi quăng mạnh ra biển. Vỏ ốc bay đi xa, đập xuống nước kêu một cái “tũm” rồi cũng lặn chìm. Nó chìm hay trôi đi đâu thì cũng không ai biết. 

Nước biển văng lên làm dì Tư giật mình. Một cái vỏ ốc dạt lại vào bờ. Dì Tư quay sang nhìn thằng Ghe. Chần chừ một hồi, dì Tư hỏi:

“Ghe. Hay là má cho mày đi học nha!”

Thằng Ghe bất ngờ. Nó ngước lên nhìn dì Tư, đôi mắt tỏ vẻ khó hiểu:

“Ủa sao tự nhiên lại đi học hả má?”

“Thì cũng phải đi học cho biết với người ta chứ. Chứ ở nhà riết, cái mày ngu người.”

“Thôi thôi. Con không đi học đâu má. Đi học chán lắm. Con Lưới nhà ông Năm đó, ngày nào đi học cũng bị cô giáo bắt học bài. Mệt lắm.”

Thằng Ghe lại lượm được một cái vỏ ốc ở đâu đó. Nó tiếp tục quăng cái vỏ ốc đi. Lần này vỏ ốc rơi ngay trước mặt nó, đụng vào một tảng đá, rồi nứt ra.

Dì Tư ngồi dậy, nghiêm túc nhìn thằng Ghe.

“Hông đi học rồi sao mày khôn lớn được như người ta, hả con? Đi học đi, nha, má cho tiền. Má có tiền lo cho mày đi học mà, khỏi lo.”

Sóng lại đập vào bờ, mang theo mấy thứ rác rến ở đâu đó từ ngoài biển trôi vào. Cũng chẳng ai biết đây là con sóng thứ bao nhiêu, mà cũng chẳng ai quan tâm về điều đó. Từng đợt sóng cứ thế đến rồi đi, dữ dội cỡ nào rồi cũng đành tan biến.

“Con không đi học đâu. Đi học vừa tốn tiền của má, vừa hông có ai ở nhà phụ má làm lưới...”

Thằng Ghe nói, giọng nó buồn hiu. Cũng không biết là do nó không muốn đi học nên mới nói vậy, hay là do nó thiệt sự nghĩ như vậy. Nhưng mà nghe những lời nó nói, dì Tư thắt lòng.

“Rồi sau này mày làm cái gì, Ghe. Mày muốn cả đời khổ như má hả?”

“Má đừng có lo. Sau này con sẽ đi biển. Con theo ghe mấy anh xóm trên, tối tối ra khơi quăng lưới, tới sáng là có cá đem về cho má bán à. Lúc đó má con mình có tiền, tha hồ mà ăn bún mắm nêm nhiều chả với thịt.”

Thằng Ghe vô tư ngồi vẽ ra những viễn cảnh tươi đẹp về một tương lai mà nó mơ ước. Nó, hoặc là những đứa trẻ vùng biển khác, rồi cũng chỉ có cùng một suy nghĩ này thôi chăng? Rồi sẽ lớn lên và theo chân cha anh ra biển, sẽ đem những cá tôm trở về, sẽ sống một cuộc đời đánh bắt quẩn quanh cùng biển cả xa xôi? Mà cũng đúng thôi, vì không được đi học đàng hoàng, vì không được tiếp xúc nhiều với những điều mới lạ, nên tụi nhỏ cũng có biết gì về bác sĩ, kĩ sư, cũng có biết gì về công an, thầy giáo. Những ước mơ cứ thế bị mắc kẹt trong cái vỏ chai đậy kín nắp, bị ai đó ném xa ra biển rồi lại dạt vào bờ. Cứ thế, cũng chỉ là ở mảnh đất quanh năm mặn chát này.

Trong tâm khảm lúc này, dì Tư đau lòng lắm, khi nghe thấy những lời non dại của thằng con trai mình.Có ai muốn cả đời quẩn quanh đi biển hoài hả con? Vì cái nghèo, cái khổ nên người ta mới chọn như thế. Mà đi biển có sung sướng gì đâu, bởi lúc nào người ta cũng ở trong tâm thế đối mặt với thiên nhiên, với những rủi ro chẳng một ai biết trước. Biển có lúc thì dịu hiền, êm ả, cũng có khi giận dữ với con người. Thì phải chịu vậy thôi, thì phải chọn vậy thôi, bởi cái số, cái nghiệp đã ám vào những mảnh đời này, biết khi nào mới có thể thoát ra được. Sinh ra ở vùng biển cũng là một lí do...

Dì Tư thở dài, nén một giọt nước mắt vào trong. Lại tựa lưng vào chiếc ghế bố, dì Tư nhìn ra biển. Có vài ngọn đèn tàu vừa tắt ngóm ngoài xa.

*

Nấu xong nồi cháo với mấy chén chè, dì Tư sửa soạn thêm ít nhang đèn, bình bông, trái cây... để bày lên bàn thờ dượng Tư. Trước cái bàn thờ cũ mèm rơi đầy tàn nhang, dì Tư nhìn di ảnh của chồng mình, rồi khấn. Dì Tư khấn cho thằng Ghe mạnh khỏe, khấn cho dì luôn ổn định công ăn chuyện làm, khấn cho biển êm sóng lặng, cho mọi người trong xóm đỡ nghèo, và cũng khấn cho cả dượng Tư luôn được an lạc.

Hôm nay là ngày giỗ của dượng Tư, lần thứ tư, cũng là ngày giỗ của ông Sáu, chú Hậu, thằng Bảy, thằng Ba - mấy người trong xóm từng đi biển cùng với dượng Tư năm nào. Mặc dù cũng đã bốn năm trôi qua, nhưng đôi lúc khi nhớ về chuyện này, dì Tư, và cả những người cũng là mẹ, là vợ... không sao tránh khỏi chạnh lòng. Họ đã ra đi, mãi mãi, ngủ vùi trong cơn bão của đại dương, nhưng cái đau lòng, mất mát của những người ở lại thì vẫn luôn còn hoài. Cuối cùng khi vừa xong đám tang, những người có người thân qua đời cũng chỉ biết đứng trước biển mà khóc. Họ chỉ khóc vậy thôi chứ họ cũng không biết trách ai được.

Nhang đèn cho dượng Tư xong, dì Tư cũng sang nhà của ông Sáu, chú Hậu... để thắp cho họ mấy cây nhang. Ở cái xóm này, nghèo cái gì chứ tình nghĩa thì không, mà tình nghĩa của những người có chung hoàn cảnh lại càng quý giá hơn nữa. Ở nhà chú Hậu, dì Tư ngồi nói chuyện với bà Ba.

“Chiều nay con với dì ra biển, đem theo mấy cây nhang để thắp cho mấy ổng.”

“Ừ, tao cũng định bụng nói với mày. Hông biết mấy ổng còn ở ngoài đó hông hay là đi đâu rồi...”

“Thôi, cũng cầu cho mấy ổng đi kiếp khác. Chứ kiếp này khổ quá, ở lại đây làm chi!” Dì Tư cười, nụ cười đắng nghét, “Còn mình nữa, cái nghèo nó cứ ám cả xóm này miết luôn.”

Nghe dì Tư nói, bà Ba thở dài:

“Phải như có tiền rồi tự mua ghe, mua tàu, thuê người ra ngoài biển, may ra còn kiếm được nhiều tiền. Chứ cả đời cứ quẩn quanh đi cạy sò, cạy ốc, làm thuê lại cho người ta, không biết khi nào mới khá được. Chưa kể còn chuyện con cái. Như mày thì còn phải lo cho thằng Ghe, cũng đâu để cho nó lông bông được.”

Nhắc tới thằng Ghe, dì Tư bỗng thoáng buồn. Hôm đó về nhà, dì Tư cứ suy nghĩ mãi, cũng phải vỡ ra một cái gì đó trong đầu.

Tối đó, dì Tư ra làng chài, tới nhà ông Năm Hói. Lần này làm liều, dì Tư quyết định hỏi xin ông Năm Hói cho mình theo ghe ra biển. Dì Tư nghĩ, chỉ có cách này mới mong kiếm được nhiều tiền hơn để lo cho thằng Ghe. Nói chuyện mấy lần, ông Năm Hói nhất quyết không cho, vì dì Tư là đàn bà, vừa nhỏ con lại vừa yếu sức, làm sao mà kéo lưới lại bằng mấy thằng thanh niên. Nhưng với cái độ lì ra mặt cùng mấy câu chuyện hoàn cảnh đáng thương của dì Tư, cuối cùng ông Năm Hói cũng đành chấp nhận, với điều kiện là ông Năm Hói chỉ coi dì như đi làm công nhật, và chỉ trả cho dì bảy phần lương. Tính ra thì số tiền đó cũng lớn hơn nhiều gấp mấy lần so với tiền mỗi ngày mà dì Tư đi cạy sò, đan lưới. Không nghĩ ngợi gì nhiều, dì Tư liền đồng ý.

Sáng đó, dì Tư dậy sớm đi chợ, mua được một miếng thịt tươi, đem về luộc cho thằng Ghe chấm mắm nêm ăn cơm. Lúc quét dọn lại nhà cửa, thấy cái áo của thằng Ghe bị rách, dì Tư liền chạy ra lại ngoài chợ,  mua một cái áo mới cho nó. Mấy người ở chợ ngạc nhiên hỏi, “Nay tiền ở đâu nhiều mà mua tùm lum thứ vậy. Mọi khi thấy mày keo thí mồ!” Dì Tư chỉ cười không nói gì. Về nhà, nhìn thằng Ghe gắp miếng thịt luộc ăn một cách ngon lành, dì Tư nghĩ, sau này đi biển kiếm được chút tiền rồi thì nên cho thằng Ghe ăn mặc thoải mái chút, chứ đừng để nó phải khổ như mình.

Trời tối, trước lúc đi ra tàu ông Năm Hói, dì Tư ngồi căn dặn thằng Ghe đủ thứ. Đây là lần đầu tiên để thằng Ghe ở nhà một mình, dì Tư cũng không an tâm.

“Lát nữa má đi, mày ở nhà một mình chốt cửa đi ngủ sớm nha. Đêm hôm mà có đau đầu, đau bụng gì thì có chai dầu gió má để sẵn ở trên tủ đó. Còn có chuyện gì khác nữa thì nhớ chạy qua nhà bà Ba nha.”

“Má làm như con là con nít hông bằng. Đêm nào con cũng ngủ tới sáng, có gì đâu. Mà má đi đâu vậy cà?”

“Má đi kiếm tiền. Cỡ sáng mai má về á. Mai mày muốn ăn món gì, má có tiền má mua cho mày ăn.”

Nghe tới đồ ăn, thằng Ghe sáng mắt. Nó nghĩ về mấy món mà đám thằng Đực vẫn thường hay được ba mẹ cho tiền đi ra chợ ăn. Nhưng rồi khi sực nhớ mấy món đó cũng mắc tiền, nó mới nói:

“Gì chứ con cũng thèm cháo lòng. Thôi mai hai má con mình đi ăn cháo lòng. Ăn ở hàng bà Bảy, có mười ngàn một tô à, mà còn hay được cho thêm miếng dồi ngon ơi là ngon nữa.”

“Rồi, vậy mai má dắt mày đi ăn cháo lòng. Má xin cho mày hai miếng dồi luôn.”

Thằng Ghe lại tít mắt, nhe răng cười. Cái răng sữa của nó không biết khi nào mới mọc lại. Rồi dì Tư đi, ngang qua những rặng dừa chạy dài dọc bờ biển. Ở ngoài kia, biển đang chờ. Nghĩ về thằng Ghe, khát vọng kiếm tiền trong dì Tư lại dâng lên mãnh liệt.

*

Bão tới. Không ai biết trước được điều gì. Bão vẫn luôn ẩn mình trong những yên bình mà người ta không hề ngờ đến. Đêm hôm ấy, bão đồng lõa với đại dương, đánh tan nát chiếc tàu cá của ông Năm Hói. Mấy người trên tàu, kể cả dì Tư, chẳng ai còn sống sót. Vẫn là câu hỏi muôn thuở trong lòng của những người dân xứ biển từ xưa đến giờ, không biết những người đi biển hiện giờ đang ở đâu, vì biển đã giấu họ đi vào một góc sâu thẳm nào đó, chẳng trả lại thứ gì ngoài những niềm mất mát, đau thương…

Thằng Ghe đứng đực mặt ra khi nghe người ta nói là má nó đã chết. Vậy là má nó đã chết, như cái cách mà ba nó đã từng. Cái chết là gì, nó không hiểu. Nó vẫn còn quá nhỏ để thấu đáo nỗi đau mà cái chết đem lại. Nhưng nó lặng người đi. Nó bỗng thấy trơ trọi vô cùng. Nó không còn má nữa. Má nó đi rồi, má nó ngủ vùi dưới biển khơi.

Nó không khóc, nó chỉ bất thần nhìn ra biển, rồi lặng lẽ đi về. Lúc ngang qua khu chợ gần nhà, nó nhìn vào hàng cháo lòng trước chợ. Nó nói, “Má ơi, con hết thèm cháo lòng rồi.” Nó cũng hết thèm miếng dồi ngon mà bà Bảy vẫn thường hay cho thêm rồi. Nó chỉ thèm má. Là má nó. Nó nghĩ như vậy, rồi chạy ù về nhà...

Xong đám tang của dì Tư, mấy người bà con hàng xóm không còn ai thấy thằng Ghe đâu nữa. Nhiều người chạy khắp nơi đi tìm nó nhưng cũng không có kết quả gì. Rồi nhiều năm về sau, căn nhà lụp xụp của dì Tư cũng chẳng còn ai ở, ngoại trừ bà Ba và mấy người hàng xóm vẫn thi thoảng lui tới để nhang đèn. Cứ như thế, năm tháng qua đi, cuộc sống của những người dân biển ở đây vẫn vậy, mỗi ngày đều vật lộn với cơm áo gạo tiền, với mưu sinh vất vả. Chẳng ai biết thằng Ghe đang ở đâu, phải chăng nó đã lặng lẽ ra đi vào một chiều mưa bão năm ấy, hoặc nó đang theo một con tàu nào đó ra khơi, lại tiếp tục cái vòng tròn luẩn quẩn nơi biển cả bao la như ba má nó. Không ai biết, không ai biết điều gì. Nó cũng chỉ là một phận bọt bèo trôi, giữa khơi xa.

Hôm đó, biển và trời đều một màu đen thẫm. Những kiếp người lầm lũi lại tiếp tục cá cược mạng sống của mình với biển cả, để chọn về những hỉ, nộ, ái, ố đời thường. Rồi cũng vậy thôi, một ngọn đèn dầu leo lắt ngoài biển khơi.

Sóng vỗ…

Hết.

Lâm Lâm


Xem tất cả những bài viết của Lâm Lâm tại đây.


Ảnh: Tranh sinh hoạt ở làng chài | Vân Quyên Gallery

Đọc bài viết

Cafe sáng