Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Vòm rừng: “Bản hùng ca Moby Dick trên cạn”

Published

on

Khi thế giới kết thúc lần đầu tiên, Noah đã đưa tất cả động vật, từng cặp mỗi loài, và đưa chúng lên con thuyền thoát hiểm của Ngài để đi sơ tán. Nhưng điều buồn cười là: Ngài để mặc cây cối chết.

Một điều thú vị là vào ngày The Overstory (hay tựa chuyển ngữ Vòm rừng) được xướng tên chiến thắng giải Pulitzer 2019, giới vận động hành lang – những người theo dõi tin tức văn chương thế giới – gọi đây là một trò đùa. Điều giễu nhại rằng tuy là cuốn sách viết về cây cối và các mối quan hệ tương hỗ, nhưng với bề dày (gần 600 trang sách khổ 24), điều này tương tự như việc mặc màu đỏ vào đám tang. Nhìn nhận một cách khách quan, dù nhà xuất bản có dán nhãn FSC (The Mark of Responsible Forestry(1)) hay không đi nữa, thì với chiều dày nguyên bản này, Vòm rừng ít nhiều gây được sự chú ý nhờ vẻ ngoài sử thi, mà như Margaret Atwood so sánh – như bản hùng ca Moby Dick trên cạn. 

The Overstory như đúng tên gọi của nó, vừa là bài hùng ca tầng tầng lớp lớp khoảng xanh (story đồng âm với storey = tầng), nhưng cũng đồng thời là câu chuyện dài dằng dặc những đời người (story = câu chuyện). Với Vòm rừng, Richard Powers đã tiến hành một khảo sát tương đối sâu rộng vào trong những loài sinh vật bất động này, ở đó ông phân tích mối tương quan giữa chúng, mà quan trọng hơn hết, là sự tương hỗ giữa con người và cây cỏ. Bằng sự nhạy cảm của văn chương và cái thực tế của những bằng chứng khoa học, Vòm rừng là tổng hòa của hiện trạng đi xuống kèm theo nỗ lực cuối cùng trong mối quan hệ hài hòa giữa Mẹ thiên nhiên với loài homo sapiens bé nhỏ. Như Ann Patchett nhận xét, đây thật sự là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất thời kì này.

*

Vòm rừng là câu chuyện của chín cá thể khác nhau, đều có liên kết với những loài thực vật nhất định trong tuổi thơ hay tuổi trưởng thành. Đó là dòng họ Hoel hơn mười đời chụp ảnh cây dẻ. Đó là gia đình nhà Ma người Hồi, di cư từ Trung Quốc sang Mỹ nhằm tránh những biến động chính trị. Đó còn là cậu bé Adam – đứa trẻ say mê học hỏi và những mánh lới của tuổi trưởng thành. Là cặp đôi Ray và Dorothy với những bất trắc tình yêu. Là Douglas – cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam. Là Neelay – người Ấn và cha đến thung lũng Sillicon nước Mỹ. Là Patricia Westerford – tiến sỹ thực vật học và Olivia, cô nàng vừa trải qua những biến động tuổi trưởng thành: ly hôn, chết lâm sàng cho đến giác ngộ. Thoạt tưởng mỗi một người họ không có sợi dây liên hệ nào với nhau; nhưng bằng độ dài sử thi và sự sắp đặt tình tiết khéo léo, Richard Powers đã tạo nên bản đồ những mối quan hệ với thiên nhiên thông qua những nhân vật này, như trình tự diễn biến của một cái cây: từ gốc rễ, thân, ngọn và cuối cùng hóa thân thành những hạt giống.

Nhưng tại sao là chín, liệu số lượng chín nhân vật ở đây có ý nghĩa gì? Theo thần thoại Bắc Âu, Yggdrasil (còn được gọi là Mímameiðr hay Lérað, trong tác phẩm này Richard Powers gọi là Mimas) là “Cây thế giới”, một cây thần khổng lồ nối liền chín thế giới trong vũ trụ. Cây Thế giới có mối liên hệ mật thiết với các giai đoạn sáng thế, thành trụ và hoại diệt của nhân loại. Cây Thần dạy chúng ta rằng cây cối gắn liền với số phận của nhân loại, và mỗi người nắm giữ trách nhiệm phải coi sóc quá khứ, ghi nhớ những gì đã mất, đồng thời trân trọng thế giới tươi đẹp phồn vinh này, khoảnh khắc hiện tại, trong khi hướng tới một viễn cảnh trong tương lai. Và như thế chín mảnh ghép được kết nối với nhau, như chín địa hạt riêng tụ chung vào một cây lớn, từ đó câu chuyện thành hình.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Vòm rừng.

1. Gốc rễ

Một cách tuần tự, Richard Powers khắc họa sự đối nghịch hay thân thuộc của thực vật với con người. Trong giai đoạn gốc rễ, ông đi tuyến tính vào từng nhân vật, vào từng ngóc ngách đời sống của khoảng thời gian kéo dài; những sợi dây liên kết mỏng manh nhất bắt đầu thành hình.

Nếu cây dẻ nhà Hoel đứng đó như chứng nhân cho cuộc tình đời đầu giữa Jørgen với Vi – ông bà cụ kỵ của Nick; thì Patricia và cha cô là những người lắng nghe thực vật từ sớm: học hỏi, thí nghiệm và đọc Aldo Leopold để hiểu cách thức cây cối giao tiếp. Nếu nhà Adam chọn bốn loài cây đại diện cho từng đứa con của gia đình họ; thì cũng từ cây sồi già to lớn một buổi tan học, Neelay vì nỗi sợ vô cùng trẻ con đã gắn đời mình với chiếc xe lăn không thể đi lại. Những nhân vật này gắn bó với loài cây từ thuở ấu thời; từ sâu trong họ một sợi dây liên kết hình thành. Cây cối như điềm báo, như là phúc lành đối với trẻ con. Chúng đứng đó, rực rỡ hay tàn lụi cũng đồng thời dự báo số phận của những đứa trẻ. Chúng trở thành máu mủ, mao mạch; chúng ẩn hiện trong số phận và định mệnh của mỗi một người. Thế mới có chuyện khi cây du chết, Leigh – chị cả của Adam – mất liên lạc và không bao giờ trở lại một tối mùa xuân; hay khi Jørgen gieo sáu hạt cây dẻ chỉ có năm hạt nảy mầm, và người con đầu tiên chết.

Liệu đây có phải là cách mà Richard Powers khẳng định cây cối có một linh hồn bất diệt, và chúng gắn bó với thực thể con người – loài homo sapiens – bằng sợi dây vô hình nhưng mạnh mẽ? Không dừng ở đó, ông tiếp tục nêu bật sợi dây này ở các nhân vật không gắn bó với cây cối từ đầu. Chẳng phải nhờ một cây đa to lớn mà Douglas thoát nạn từ chiếc máy bay? Cũng chẳng phải cây sồi trong vở Macbeth là dấu mốc cho cuộc hôn nhân nhiều sóng gió của Dorothy và Ray? Hay với Olivia, tiếng nói của những hiện thân chẳng phải là yếu tố khiến đời cô rẽ một bước ngoặt vô cùng to lớn, khiến cô từ một cá thể mất dấu giữa dòng, bỗng trở nên có lý tưởng và sống có trách nhiệm? Richard Powers sử dụng các yếu tố văn chương một cách tài tình để cho ta thấy cây cối – bằng cách nào đó – gắn bó với con người hơn cách ta vẫn thường nghĩ. Thực vật gắn bó mật thiết, một kiểu tâm linh thần giao cách cảm với loài người, bí ẩn nhưng kỳ diệu, lạ lẫm nhưng thẫm sâu.

2. Thân

Với Vòm rừng, Richard Powers đã đi một vòng rất lớn trong lịch sử: từ nội chiến Nam – Bắc Mỹ 1864 đến Thế chiến thứ hai, từ công cuộc khai thác thuộc địa, Cách mạng 1911, thảm sát 1927, chiến tranh Việt Nam đến khủng bố 11/9 ; cây cối đứng đó như hiện thân chứng kiến con người qua bao biến đổi. Cây cối đứng đó vẫy chào cảm thông vào ngày Nick phát hiện ra cả gia đình chết do ngộ độc khí gas. Cây ăn sáng – loài dâu tằm không nhả tơ – là điểm tựa cho phát súng tự kết liễu của Ma thì Adam cũng từng khóc lóc khi cha cậu cho trồng cái cây còn giữ nguyên vải bọc rễ. Cây tương tác với các nhân vật, cây đóng vai trò quan trọng như những mạch nguồn nuôi dưỡng sự sống. Nhưng thực tế, con người đang làm gì với ngôi nhà nguyên thủy của tổ tiên?

Richard Powers phân ra hai thế đối đầu: nếu một bên là những cá thể riêng lẻ góp chút sức tàn vào công cuộc bảo vệ tổ tiên – thì phía bên kia là hệ thống công chính, là luật pháp chặt chẽ nhưng phục vụ chỉ những điều trước mắt, quên cả gốc rễ, quên cả tổ tiên. Ở đây, dễ thấy nguồn gốc phần lớn các nhân vật đều là dân nhập cư: Nick – Hà Lan, Ma – đạo Hồi, Neelay – Ấn Độ. Họ là những người dễ bị trục xuất, luôn phải cúi đầu, lắng nghe và đồng thuận. Thế nhưng đứng trước sự phá hủy ấy, họ bật dậy như không còn gì để mất.

Từ đấu tranh bất bạo động đến phá hủy máy móc (thiết bị của chính quyền công chính), từ đóng giả thú rừng giương biểu ngữ thu hút báo chí đến xây dựng trại Cascadia ngăn cản bước tiến của đoàn giết cây; tất cả bọn họ đứng đó như hiện thân của lẽ phải. Họ yêu và cảm nhận tình cảm của cây một cách thiêng liêng. Họ vận động và không ngừng đấu tranh cho mục tiêu phía trước, như lời trăn trối của Olivia trong những phút cuối cùng: Những thứ chúng ta có sẽ không bao giờ kết thúc. Phải không? Richard, lại một lần nữa, rất lý trí khi cho thấy vai trò của từng nhân vật trong cách giải thích vai trò của những tổ tiên nguyên thủy này. Nếu Ray – một luật sự về quyền sở hữu – mang cho người đọc những phân vân về việc liệu cây có quyền sở hữu những thứ nó sản sinh ra cho loài người; thì Patricia lại là một nhân vật đưa ra rất nhiều những phát kiến khoa học khiến ta bất ngờ như trong những cuốn sách thường thức khoa học. Nếu Adam – một tiến sỹ khoa học thống kê, đưa ra những nhận xét thức thời về tính bầy đàn, về hiệu ứng bàng quan; thì Neelay như cách cho thấy những khát vọng của con người đã quá mục ruỗng, khi phải nhìn thấy thiên nhiên từ những pixel nhân tạo.

Nhưng nếu mỗi một người họ có thể từ bỏ danh tiếng, địa vị, tài sản như Neelay, Mimi, Adam hay thậm chí mạng sống như Olivia, Patricia; thì phía bên kia – những người mang danh đại diện cho chính quyền liên bang, cho sự đoàn kết của tộc người cư xử ra sao? Họ đứng đó và xịt hơi cay hay đổ chất cay vào mắt người biểu tình ôn hòa, họ đánh và giam giữ trái phép, họ đàn áp và tra tấn trong mức độ ghê rợn nhất. Một điểm phải nhìn nhận ở Richard Powers trong cuốn sách này rằng, ông không nhắm hay phê phán bất cứ một cá nhân riêng lẻ nào. Dễ thấy ông cho những người đốn rừng một lý do hợp lý để đối đầu với phản ứng của giới cấp tiến vì môi trường – để nuôi vợ con họ, để kiếm tiền và đóng thuế cho nền công chính. Nhưng giới lãnh đạo pháp luật, tòa án, chính quyền bang và đầy đủ những cơ quan mang danh liêm chính khác cư xử ra sao? Họ không làm gì khác ngoài tra tấn và áp đặt, bóc lột và trừng phạt để không cần hiểu.

3. Ngọn

Cuối cùng, sau những cố gắng của họ: của việc ngồi 200 feet trên cao Mimas để giữ không cho bọn đốn rừng chặt cây, của việc đi khắp thế giới làm lạnh hạt giống trên chiếc thuyền ark, của việc đốt cháy máy móc, thiết bị như cách cuối cùng thu hút sự chú ý của báo giới; họ được gì? Có chăng là bản án hai lần 70 năm cho Adam vì tội khủng bố trong nước, có chăng là cái chết tự kết liễu của Paricia giữa hội nghị Sửa nhà khi đã quá căm phẫn vì tội ác loài người và sự ra đi của chồng bà – Denis. Hay có chăng là Neelay, khi nhận thức đã quá trễ với trò chơi giờ đây người ta không quan tâm gì hơn doanh thu của nó.

Loài người bị bệnh rồi” – câu nói của Ma với chú gấu trong lần cắm trại khi chúng đến tấn công, hay cậu bé Adam, bằng những suy nghĩ trẻ con, cũng thốt lên: “Loài người bị bệnh nặng rồi. Giống loài này sẽ không còn tồn tại lâu. Đó là một thí nghiệm sai lầm. Chẳng bao lâu nữa thế giới sẽ quay trở lại với những trí thông minh lành mạnh, những trí thông minh tập thể. Bầy đoàn và nhóm đông. Bằng một con mắt chỉ chăm chăm đời sống ngoại vi, Douglas trả thù Adam vì đứng trước Olivia sắp chết nhưng không làm gì; cũng tương tự thế, cái chết của Patricia như tiếng thét câm lặng để từ đó Neelay tỉnh thức, làm một cái gì khác hơn trò chơi chính ông tạo ra, nơi không gì hơn những pixel ảo. Như Patricia hay Mimi nói: “Chẳng có sinh vật nào tẩy chay nhanh hơn Homo sapiens. Loài người là giống du côn. Luật pháp là công cụ bắt nạt, và đúng như thế, cuối cùng trong cuốn sách này, những người phản đối vì môi trường mệt dần, họ tan hoang và rã rời, họ bất động và không niềm tin chống đối. Tất cả đã rệu rã, tất cả đã quá muộn; vì hiệu ứng bàng quan, vì nhận thức kế thừa? Không ai biết được, chỉ biết thêm một cái cây đốn hạ, tổ tiên ngã xuống, và loài người đang triệt đi chính cội nguồn mình từ một tỉ rưỡi năm trước.

4. Những hạt giống

Những hy vọng được nhen nhóm trong phần cuối này, dẫu không nhiều nhặn gì mấy, nhưng Richard Powers ít nhiều mang một niềm tin vào cuối cuốn sách. Đó có thể là những công trình dựng nên từ thân cây chết của Nick với sự cộng tác của những người mới, được ghi nhận từ những vệ tinh trên cao – một trong những cảm biến do Neelay làm giúp đo lường bất cứ thông tin nào mới từ môi trường; là sự buông bỏ của Mimi trước quá khứ sai lầm trong sự hy sinh của Adam, Douglas; là cặp vợ chồng già Ray – Dorothy trong những ngày cuối lần mò học cách nhận biết phân loại cây cối. Không đơn thuần Richard Powers để chính những hy vọng nhen nhóm dần tàn này vào cuối, vào phần những hạt giống; vì rõ ràng hạt giống là thứ bắt nguồn, chúng mang bộ gene, bay cao bay xa; nhằm đến một ngày nào đó, chính những cố gắng riêng lẻ nhỏ nhoi ấy, sẽ làm nhận thức một lần thức dậy, thay đổi và đúng đắn hơn.

*

Với Vòm rừng, Richard Powers đã viết nên một biên niên sử về cây cối trong mối quan hệ đầy biến động với xã hội loài người, với loài homo sapiens nhỏ nhoi nhưng tham vọng. Bằng sự tinh tế của văn chương kết hợp với lý trí rành mạch của những ngành khác, ông viết nên Vòm rừng bằng cả trái tim và lý trí mình. Như Thoreau dạo bước trong khu rừng của những ngày này, Richard Powers kết cấu tiểu thuyết trong bốn giai đoạn phát triển của cây, để từ đó cho thấy hy vọng vẫn còn, dẫu nhỏ nhoi nhưng nhen nhóm. Dẫu còn đó những khai thác tâm lý chưa sâu, sự kiểm soát nhân vật chưa quá chặt chẽ đôi khi dẫn đến trạng thái mỏi mệt của những chi tiết thừa thãi trong các tiểu thuyết đoạt giải Pulitzer (nhược điểm mà đa số người đọc từ chối theo dõi); Vòm rừng rõ ràng là cuốn sách mà mỗi chúng ta nên đọc một lần, dẫu là người yêu quý hay cảm thấy bình thường trước tự nhiên, bởi lẽ, từ một tỉ rưỡi năm trước, chúng ta và cây cối là một. Hùng vĩ, nhạy cảm và bao quát; Vòm rừng lồng lộng mà đầy ý nghĩa.

Hết.

Ảnh đầu bài: I Love Books

Chú thích:

  1. FSC (The Mark of Responsible Forestry): Nhãn chứng nhận và cung cấp thông tin nguồn gốc, chất liệu bao bì và sản phẩm, chứng minh sản phẩm đã đóng góp vào công cuộc bảo vệ rừng.

Đọc tất cả bài viết của bí


Những bài viết có cùng chủ đề môi trường & thiên nhiên




Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Những cảnh đời tỉnh lẻ: Tự vạch trần nội tâm của người đàn ông yếm thế

Published

on

J. M. Coetzee không phải là một nhà văn đại chúng. Sách của ông chưa từng đứng nhất trên những bảng xếp hạng sách bán chạy. Tên tuổi ông cũng không phủ sóng rộng khắp các mạng xã hội (như Margaret Atwood). Hình ảnh của ông trước công chúng là một trí thức xa cách, cao ngạo; người chối từ đứng trước đám đông ở những buổi lễ tôn vinh mình. Dù không ẩn mình đến cực đoan như Thomas Pychon nhưng Coetzee cũng chẳng buồn làm gì để xua tan đi những ấn tượng đó; thậm chí, ông còn khuyến khích những phán đoán trên. Đa số độc giả tìm đến văn chương Coetzee sau những danh tiếng, giải thưởng mà ông nhận được. Hai giải Booker và một Nobel văn chương, vẫn có điều gì đó ở người đàn ông Nam Phi này làm người khác nghi ngại, bởi sự kín tiếng, bởi thói ẩn mình.

Đến khi Tuổi thơ ra đời như phát pháo đầu tiên cho bộ tự truyện – giả tưởng Những cảnh đời tỉnh lẻ, người ta mới bỗng chốc nhận ra Coetzee không đơn thuần là người kín tiếng, mà còn đáo để trong cách tự châm biếm bản thân mình. Động cơ đằng sau việc ra mắt ba tập tự truyện trong khi ẩn mình đến mức tối đa có lẽ ngoài bản thân ông ra thì không ai hiểu rõ. Nhưng với bộ ba này, ít nhiều một Coetzee yếm thế đã dần hiện ra: nhân vật chính, một nhà văn Nam Phi được đánh giá cao, hay phôi thai xanh xao chưa đủ sức bật… tất cả xoay vòng trong ba phần những trang viết này.

“Hắn sẽ giữ hết chúng trong đầu thế nào đây, tất thảy những cuốn sách, tất thảy những con người, tất thảy những câu chuyện này? Và nếu hắn không ghi nhớ chúng, thì ai sẽ làm?”

Một thoáng Coetzee.

Văn nghiệp của Coetzee bắt đầu khá muộn. Vào thập niên 70 tại Mỹ, khi phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đang lên đỉnh điểm, ông cùng đồng nghiệp – bấy giờ đang giảng dạy tại đại học Buffalo – cảm thấy mình cần làm một điều gì đó. Sau khi bị chính quyền bắt và bị từ chối cấp lại thẻ xanh, tình trạng pháp lý của ông càng trở nên báo động, dẫn đến việc ông trở về quê hương Nam Phi, khi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid vẫn đang hoành hành.

Không khó để nhận ra điểm nhấn văn chương của Coetzee vẫn thường trở đi trở lại trong những tác phẩm của ông. Nhân vật chính hầu hết là người đàn ông trung niên, một chút luống tuổi, có vị thế và bị mắc kẹt trong bộ máy chính quyền công chính và những mối quan hệ nhục dục không biết đường tránh. Từ những mối quan hệ này, hình ảnh tàn tạ, đơn độc của người đàn ông được khắc sâu thêm. Văn chương Coetzee mang sắc thái lạnh, một giọng văn tỉnh táo, trưởng thành, nhẹ nhàng nhưng thiếu vận động và nhiệt huyết sáng tạo. Độc giả có lúc tự hỏi, liệu những ám muội này xuất phát từ đâu, để chúng đến với văn chương ông như phong vị riêng, nét độc đáo riêng mà chỉ Coetzee mới tạo được căn phòng ấy, mùi hương ấy, cái lạnh ấy và buổi chiều tàn hôm ấy. Những cảnh đời tỉnh lẻ như bộ ba giải mã những thắc mắc trên, từ chính thâm sâu ở tận gốc rễ.

Tác giả J. M. Coetzee
Ảnh: Washington Examiner

Mẫu hình nhân vật đàn ông.

Mẫu hình nhân vật người đàn ông trở lại trong Những cảnh đời tỉnh lẻ. Nếu trong Ruồng bỏ là vị giáo sư đại học vướng vào lao lý tình yêu với cô sinh viên trẻ, trong Đợi bọn mọi là vị thẩm phán với cô thổ dân cùng nhau đối đầu với bộ máy công chính; thì ở đây là John - cậu bé da trắng, người Afrikan, yếm thế từ trong bản chất và rất dễ tổn thương. Khởi đầu bằng Tuổi thơ là quá trình lớn lên của John nơi bình nguyên Karoo đầy biến động. Tiếp đến là Tuổi trẻ tương ứng với giai đoạn giảng dạy tại Buffalo sau tuổi trưởng thành. Cuối cùng là Mùa hè, khi John trở lại Nam Phi những năm 71, 72. Bộ ba tác phẩm lần lượt lướt qua trường đoạn lớn lên của cậu bé John nơi thị trấn Worcester, để từ đó thấy được những ảnh hưởng sâu rộng đến tâm hồn nghệ sĩ. Sau thảm kịch Sharpeville và những biến động chính trị trong nước, John ôm mộng sang Anh trở thành một nghệ sĩ vĩ đại trong lĩnh vực thơ ca nối gót Pound, Eliot, Ford Madox Ford rồi bị dìm chết bởi những mánh khóe vật chất sinh tồn nơi đây. Cuối cùng về lại Nam Phi, trở thành một người đàn ông bình thường, trong căn nhà bình thường đến khi mất đi, và được thuật lại đầy đủ từ năm 71 bằng cuộc ghi chép một cuốn tiểu sử của Vincent.

Giai đoạn cuộn mình phôi thai trong Tuổi thơ, Coetzee tinh tế đưa John trở về thể dạng của một tạo tác dính nhớp, của một người bấu víu lấy mẹ, muốn bà hy sinh mọi khát vọng cho riêng mình và mắc kẹt trong tình yêu của bà. Đó còn là cậu bé sợ bị đánh roi vì lòng tự cao, yêu thích bãi cát hơn là dòng sông u ám, thích mang giầy hơn đi chân không… Coetzee chuyển hóa bản thân mình sang John bằng sự nhạy cảm đầy cuốn hút, để từ đó thế giới nội tâm dần dà phát triển, trở thành một nhân tế bào hình thành nhân cách của người đàn ông sau này theo nghĩa hẹp hay các nhân vật chính sau này theo lối nghĩa rộng.

Những cảnh đời tỉnh lẻ - Tuổi thơ

Thế giới nội tâm phát triển phong phú hơn mọi điều khác, đơm hoa kết trái, nhân bản theo cấp số nhân triệu triệu tế bào, hình thành nên thể yếm thế được máu nuôi dưỡng. Sự thiếu sót ấy, vẻ yếm thế ấy thể hiện ở cả hai mặt, về những ảo tưởng trở thành nghệ sĩ và những cuộc tình với những người khác. Coetzee hay John trong bộ ba này dường như mắc kẹt trong nỗi cô đơn và sự khốn khổ. Sự đùm bọc của người mẹ làm anh cảm thấy tuy đã 30 nhưng vẫn không hơn là một đứa trẻ. Việc phá trinh của Marianne rồi mặc kệ cô ra về với máu vẫn chảy từ giữa hai chân, về việc Sarah mang thai và anh hoảng lên để cô đi phá chỉ riêng một mình… Từ đầu chí cuối, John thử và lại mắc kẹt; thử lại lần nữa, và vẫn mắc kẹt. John là loại đàn ông không mang bất cứ sự cuốn hút nào đối với phái nữ: anh ngẩn ngơ, tuyệt vọng, rồi tự nghi ngờ để thử với bọn đàn ông, nhưng rồi mọi chuyện lại chẳng tới đâu.

Cái tự diệt ấy cũng đồng thời hiển hiện qua ảo mộng trở thành nghệ sĩ trong cuốn Tuổi trẻ. Rời xa Nam Phi khi bất bạo động chính trị mới vừa diễn ra để chứng minh rằng mỗi con người là một hòn đảo, không cần đến cha mẹ; nay anh sớm nhận ra con đường của Pound, của Eliot, của Picasso vốn không bằng phẳng. Giữa nỗ lực ở lại nơi đất khách quê người bằng việc cố định mình vào việc lập trình cho IBM hay International Computers, giấc mộng thơ ca đã tắt ngấm. Trong những ngày ngồi trước trang giấy trống rỗng không chứa một chữ, những tự vấn lương tâm trong cảnh chán ngán vật chất, nỗi luyến nhớ để lại đằng sau, còn Bộ Nội vụ đang ở phía trước, anh vặn mình rằng: Có gì bất ổn với hắn vậy? Tại sao hắn lại làm cho những điều bình thường nhất trở thành khó khăn là thế với mình? Nếu câu trả lời là bản tính hắn là thế, thì có ích gì khi mang một bản tính như vậy? Tại sao hắn không thay đổi bản tính mình?

Nhưng cái yếm thế một khi gắn vào không thể gỡ ra, nó bám vào ta như loài hà đá, như thép nung chảy, để hàn con người vào tình thế, để rồi rốt cuộc lý do rời khỏi Nam Phi không vì chính trị, không vì chiến tranh, mà bởi trốn chạy khỏi sự nhàm chán, khỏi sự phàm tục, khỏi sự teo tóp của đời sống đạo đức, khỏi nỗi hổ thẹn. Ở đó, John sẽ mãi là một bóng ma, là gã trai trẻ nhàn du quanh thành phố xa lạ, ăn dần khoản tiền để dành của mình, đĩ điếm, làm bộ mình là nghệ sĩ! Từ người chạy trốn bạo động trong nước, giờ đây trở thành chính người viết mã cho máy bay Anh trong Chiến tranh lạnh, lập trình Atlas ở những cuộc chiến rất vô nghĩa khác.

Từ cái yếm thế của nhân vật, Coetzee nhân rộng lên cùng với đại diện là chàng Ganapathy kỹ sư người Ấn không thể tự chăm sóc bản thân mình và cả cha John – người cha lụn bại, sặc sụa trong cơn trầm uất; để đến với đàn ông nói chung, đàn ông của dòng họ Coetzee trên bình nguyên Karoo bao đời để lại, mà nghĩa vụ đầu tiên của những phụ nữ dòng họ này là xoay xở tống dòng máu Coetzee ra khỏi những đứa con mình. Làm thế nào để tống dòng máu slap ra khỏi con người, chị không nói ngay được, ngoài việc mang họ đến bệnh viện cho bơm hết máu ra và thay thế nó bằng máu của người hiến tặng nghiêm khắc nào đó. […] Cậu ấy không có hoạch định. Cậu ấy là người nhà Coetzee, người nhà Coetzee không có hoạch định. Họ không có tham vọng, họ chỉ có những mong mỏi lười nhác.

Nhìn nhận một cách tựu trung, đây là lý giải của Coetzee cho toàn bộ vũ trụ nhân vật đàn ông trong tiểu thuyết của ông, những người lặt lìa trước đàn bà, trước cơn gió cuộc đời nhưng hàn chặt bản thân với nỗi yếm thế tự thân. Với riêng J. M. Coetzee, ông nhìn nhận thế nào về mình thì ta không hề biết. Nhưng ở điểm mấu chốt này, ít nhiều ta hiểu một cách sâu xa các tiểu thuyết này, nơi cái mắc kẹt, cô đơn, khốn khổ vẫn luôn trồi dậy. Một cách tự phẫu từ trong bản chất, Coetzee ít nhiều cung cấp cho ta lý giải nhất thời về văn chương, về con người ông, và trên hơn hết, về xã hội Nam Phi phân cấp vốn không ổn định.

*

Nam Phi với Coetzee như khung chống đỡ cho những giá trị nguyên bản nơi con người ông, nơi tiểu thuyết của ông. Xã hội Nam Phi đầy rẫy biến động trong sự đấu tranh giữa các sắc da, giữa người Da màu, người Bản địa và người Afrikan. Nếu trong Ruồng bỏ là cách mạng giành lại ruộng đất từ nông dân da trắng, trong Đợi bọn mọi là cuộc chiến với người bản địa – người Khoikhoi từ Hy Lạp di cư sang Nam Phi thế kỷ 17; thì trong Những cảnh đời tỉnh lẻ, mối chồng chéo ấy được khái quát hơn, hiển thị rõ hơn nơi thị trấn Worcester như mẫu nhặt ra từ một quần thể, nơi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc khoa học vẫn đang diễn ra, mà các biểu hiện là dùng cảnh sát kiểm soát văn hóa, quân phiệt lớp trẻ, tín ngưỡng nhà nước…

Một trong những chủ đề thường xuất hiện trong văn chương của Coetzee giai đoạn sau này là quyền động vật. Trong Những cảnh đời tỉnh lẻ, đề tài này cũng tìm cách len lỏi vào nơi trang trại Voëlfontein, nơi John về chơi vào một mùa hè, loài cừu bị giết một cách man dại trong khi những con còn lại be be bình thản mà không biết gì, đặt trong bối cảnh đối nghịch – góc nhìn của một cậu bé như John lúc này, gợi lên những điều suy tư. Và người nghệ sĩ không thành ấy biến hóa bản thân tựa như loài cừu, chỉ đợi biến động chính trị giày nát bày đàn thế hệ; và cũng có khi, là những ám ảnh theo suốt khi anh trở về Nam Phi từ Mỹ trục xuất, đã không thể ăn những món từ cừu trong cuộc họp mặt.

Với bộ ba Những cảnh đời tỉnh lẻ, J. M. Coetzee lần đầu tiên mở khóa cho người đọc thâm nhập vào những gì đã cấu thành nên một Coetzee vốn từ trước đến nay ta vẫn quen thuộc. Bộ ba tác phẩm là vũ trụ thu nhỏ của những gì rất Coetzee, những gì thuộc về và những thứ chỉ Coetzee mới viết ra được; vừa giả tưởng như cuộc đời cậu bé vô danh John giữa những biến động chính trị, giữa tầm hồn quá ư nhạy cảm, giữa mộng nghệ sĩ không thành; vừa bán tự truyện như lời phân trần, giãi bày và mở rộng ra cho ai muốn hiểu thêm về nhà văn ấy, người có tầm cỡ trí óc và đặc biệt là năng lực tưởng tượng phát triển trên mức bình thường, và cái giá phải trả chính là phần “con” bên trong anh ấy. Anh ấy là Homo sapiens, thậm chí là Homo sapiens sapiens. Một bộ ba chao đảo, một bán tự truyện vô tiền khoáng hậu với bút pháp bậc thầy. Một Coetzee đã một lần và chắc chắn sẽ không bao giờ mở lòng như thế. Tuyệt đẹp.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Cửa sổ trên Tháp đôi: Một tiểu thuyết DeLilloian

Bạn có nghĩ rằng sự phá hủy đẹp hay không? Trò đùa, Milan Kundera

Published

on

Sự kiện 11 tháng Chín và những xung động của nó đến nay vẫn để lại những dư chấn nhất định trong tâm thức những ai lớn lên trong thời đoạn này. Như Nina Simone từng nói, nghệ sĩ sẽ là ai nếu không phản ánh thời đại. Văn chương không là một ngoại lệ. Nước Mỹ đã thay đổi trong một khoảnh khắc, và hơn ai hết, chính tâm hồn nghệ sĩ là nơi chứa đựng những điều này một cách nhạy cảm và tinh tế nhất.

Một ngày sau khi nước Mỹ bị tấn công ba lần bằng máy bay bởi phần tử khủng bố quá khích, tờ The New York Times cho đăng trọn vẹn trang 7 bức hình Richard Drew chụp người đàn ông lao xuống từ Tòa tháp phía Bắc Trung tâm thương mại lúc 9g41 - tấm ảnh dữ dội và hiển hình nhất cho thảm họa này. Nhân vật người đàn ông ấy đến nay vẫn chưa được nhận dạng. Phần lớn những suy đoán rằng đây là một nhân viên làm việc trong nhà hàng Windows on the World ở tầng 106 tòa tháp phía Bắc, trùng đúng kết cục và nơi diễn tiến cho câu chuyện trong cuốn sách Cửa sổ trên Tháp đôi của Frédéric Beigbeder.

Nếu bức ảnh đơn thuần là hiện thân của sự thật nhưng vẫn có thể bị chỉ trích bởi các chuẩn mực đạo đức, thì sự kết hợp giữa Frédéric Beigbeder và chủ đề này lại khiến độc giả chìm trong cơn bấn loạn còn nhiều hơn. Beigbeder vốn từ trước đến nay vẫn được biết đến như giọng văn trào phúng châm biếm xã hội sâu cay, lãnh địa vốn suy tàn dần trong giới văn chương ngày nay mà may thay Woody Allen vẫn còn trụ vững sau ngần ấy năm. Thế cho nên việc kết hợp giữa châm biếm và sự kiện mang nhiều đau thương này dường như mang đến sự trái khoáy nào đó cho người đọc. Nhưng như mọi thứ vận hành trong vũ trụ này, mỗi nơi đều có đối nghịch. Và như câu dẫn của Milan Kundera hay văn chương của Don DeLillo, cái tự hủy cũng có vẻ đẹp riêng.

*

Cửa sổ trên Tháp đôi là câu chuyện song hành giữa trải nghiệm đi tìm dấu vết của bản thân tác giả và sự kiện khủng bố ngày 11 tháng Chín. Có thể nói đây dường như là trải nghiệm cá nhân nhất của Beigbeder trong số những cuốn sách từ trước đến nay của ông. Giữa một bên là Carthew Yorston – doanh nhân môi giới bất động sản, người đàn ông theo chủ nghĩa khoái lạc – tự do – trung dung miền Texas, cha của hai cậu con trai, người chồng đã ly dị vợ; và chính Beigbeder. Vào buổi sáng hôm ấy, Carthew dẫn hai cậu con trai đến Windows on the World tọa lạc tại World Trade Center, một nhà hàng sang trọng và dĩ nhiên vô cùng khó khăn để đặt được bàn như cách nhìn lại quãng đời ở tuổi trung niên, về việc ly dị vợ, về cô người yêu Candace và còn để nhìn thiên hạ thế thái trong đời sống thượng lưu tư bản. Người đàn ông tự nhận chưa hưởng thụ hết cuộc sống ấy không thể ngờ chỉ vài phút nữa, một chiếc máy bay sẽ đâm sầm vào tòa tháp phía bắc; và 101 phút tiếp sau đó, tòa tháp sẽ kết thúc sứ mệnh Babel của mình trên bầu trời New York.

Cửa sổ trên Tháp đôi

Song song cùng đó, một nhà văn họ Beigbeder tự đặt mình vào vị trí người đàn ông ấy, đến Ciel de Paris trong tòa tháp Montparnasse ở Paris để tự hỏi quá trình đi tìm sự tự do ấy diễn ra thế nào. Để mô phỏng Carthew, nhà văn nọ dắt theo cô con gái đi bộ hơn 50 tầng nhà hay tự mình đến khu 0 – khu Trade Center khi mọi thứ đã được thu dọn – để nhìn ngắm và trò chuyện cùng những người khác. Đến cuối cuốn sách, dường như cả hai nhập vào làm một, dẫn đến cuộc đối thoại không đầu không kết với cựu nhân viên của Windows on the World tại Quảng trường Thời đại. Với Cửa sổ trên Tháp đôi, Frédéric Beigbeder mang đến thế nhập nhằng vô cùng hiếm thấy giữa cái lưỡng nan của tình thế làm người và cách cuối cùng khi trò chơi số phận dường như đã ấn định mọi thứ.

Điều đầu tiên phải khẳng định rằng, Cửa sổ trên Tháp đôi không đơn thuần là một tiểu thuyết hư cấu dựa trên một bi kịch thật. Đa số cuốn sách này đều thật, cả mặt ngoại vi – câu chuyện và nội hàm – cảm xúc. Beigbeder không mượn nhân hình bóng dáng, không xào nấu hụp sâu; ông khẳng định bản thân rõ ràng bằng cốt truyện diễn ra song song với hai khoảng thời gian lệch nhau nhưng cùng chung trải nghiệm. Cuốn sách này nói sâu hơn không nhằm khắc họa những gì đã diễn ra, vì hẳn nhiên, đó là vết thù khó gột rửa và nằm chênh vênh giữa những mệnh đề đạo đức. Điều Beigbeder mang đến cho độc giả sâu xa hơn lớp da của tình tiết bên ngoài, về góc nhìn nước Mỹ, về xã hội hiện đại, về lề thói tư bản chủ nghĩa trong chính cách viết châm biến rất khó để không nhận ra.

Trước tiên là về nước Mỹ. Hẳn nhiên, đây là chủ thể không thể bỏ qua. Nước Mỹ của thô bỉ và tự mãn cá nhân. Nước Mỹ của chiếm hữu và mọi thứ khác. Đó có thể là bản chất nhưng cũng đồng thời mang trong mình phần lớn là những nguồn cơn. Beigbeder lướt trên làn gió trào phúng quen thuộc khắc họa sự vô ơn của Mỹ trước Pháp khi giúp họ chống Anh để rồi thứ được chỉ là một bảng tên nhỏ vô danh trên con phố nơi ký hiệp ước hòa bình. Ông cũng không ngần ngại phơi bày ra thói phù hoa dòng tư bản nước Mỹ, với Cửa sổ nhìn ra thế giới […] Cái tiêu đề này là một bằng chứng cho thấy sự kiêu ngạo điển hình mang màu sắc Mỹ: “Chúng tôi xây dựng khu Trung tâm thương mại thành bộ phận đầu não của chủ nghĩa tư bản thế giới”.

Không chỉ có thế, xã hội hiện đại che lấp đi mọi thứ khác. Từ những nhân tình dắt díu nhau đến nhà hàng hạng sang trong khi tình yêu pháp lý chỉ còn là thứ kéo dài ba năm; cho đến chủ nghĩa trung dung với lối sống phóng khoáng từng được nhắc đến trong 14.99 euro; tất cả làm nên nước Mỹ hiện đại giả hiệu, như cách Gatsby làm giàu từ trong lịch sử. Ở những năm đó, Mọi thứ từ nhà cửa, xe cộ đến sở thích, niềm vui đều có gì đó giả tạo. Mỗi sáng, người ta lại bịa ra sự thật. Đất nước này đã chọn cho mình cách thức hoạt động giống như trong một bộ phim viễn tưởng.

Trong mắt Beigbeder và những người khác, nước Mỹ ở thời điểm đó không khác Babylon những ngày cổ xưa. Ở mảnh đất huyền thoại phương Đông ấy, người ta cho xây tòa tháp Babel thách đấu với Chúa, để Ngài biết rằng con người không cần đến Ngài vẫn rất dễ dàng chạm đến thiên đường. Chúa biết sự thật nhưng không nói ngay. Ngài giáng những đòn ngôn ngữ khiến mỗi người thợ không còn hiểu nhau, thế giới hợp nhất trở thành phân mảnh, tồn tại giữa họ là những ranh giới quốc gia. Để từ đó phá hủy, diệt vong thêm một lần nữa từ sau trận Đại hồng thủy, chiếc thuyền Noah. Nhưng vì sao tháp Babel thế kỷ 21 lại là World Trade Center, mà không là trụ sở Liên Hiệp Quốc liên hiệp mọi thứ? Dễ thấy nước Mỹ đứng đó như cách quần gọi dân chủ trên toàn thế giới, chi phối những ai đang nói tiếng Mỹ, cư xử chất Mỹ, mọi thứ rặt Mỹ. Mỹ như chiếc áo vô hình trong tiểu thuyết H. G. Wells thâu tóm mọi thứ trong thế giới này. Là nơi đặt hòn đảo của tiến sĩ Moreau. Là nơi bành trướng nhất, đói ăn nhất.

*

Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, hiện thực không chỉ đã trôi ra ngoài sự tưởng tượng mà còn tàn phá luôn mọi điều hư cấu. Người ta chẳng thể nào viết về đề tài này được nhưng cũng chẳng thể viết về một đề tài nào khác nữa. Mà trong đó, nỗi đau là vô hình nên nó chẳng tồn tại, thêm nữa là chúng ta đang sống trong một thế giới vật chất, mọi thứ đều hữu hình, xác thực. Đó có thể là thế giới của những người bị cuốn theo vòng xoáy vật chất, để rồi nhận ra họ đã phung phí thời gian đến mức độ nào. Đó là người cha chưa bao giờ nói yêu cậu con trai mình, là cô phục vụ luôn giữ niềm tin vào đội cảnh sát phá cửa cứu cô, là đôi nhân tình bỏ chồng bỏ vợ vẫn chưa kịp đến với nhau… Chỉ một bữa sáng hôm ấy, con người có dịp nhìn nhau, nhìn lại những gì họ đã trải qua để thấy rằng, thế giới mà họ đang sống, những gì họ bị cuốn theo, những thứ họ đang chìm vào… tất cả dường như là nhà hàng ấy, nơi thép nung chảy nóng lên từng giây, nơi khói bốc lên trong mọi ngóc ngách, nơi người ta chứng kiến những người thân quen chết đi từng người một. Đến một mức độ không thể chịu nổi cái chết, họ bộc phát để lao ra ngoài tìm kiếm tự do khỏi những tầng lầu như Falling Man.

Nó pha lẫn giữa mùi của cao su cháy sém rồi chảy ra, bốc khói mù mịt, rồi mùi nhựa bị đốt, cả mùi từ những chiếc ghế bị thui đen, dầu hỏa cháy và vả mùi tro của xương thịt người. Khung cảnh lò thiêu tập trung và những con người lướt khỏi tòa nhà như những ám ảnh đè nén tâm hồn người đọc. Văn chương tại đây đạt được phần lớn mục đích của nó, hiện lên hiện sinh giữa những trang văn ngập ngụa niềm đau. Tại sao cảnh sát không lên nóc tháp cứu người mắc kẹt khi khoảng cách giữa họ chỉ là một cánh cửa thép? Tại sao hơn 200 người lao khỏi tòa nhà khi ngọn lửa đến, dù biết kết cục không khác nhau mấy? Tại sao lại là nước Mỹ, tháp Bắc, tháp Nam, là World Trade Center? Con người số phận nhỏ bé, nhưng hơn hết, là những tị hiềm trong mỗi dân tộc, giống nòi, cá nhân. Thế tị hiềm mang đến đau đớn của những niềm đau; để ta biết rằng, con người vốn vẫn là một sinh vật nhỏ bé, ngập ngụa trong những niềm đau, với khoái lạc, dục tính, với tị hiềm, nhỏ nhen.

*

Khép lại cuốn sách, Beigbeder một mặt mang đến người đọc vở diễn nhập vai một trong những bi kịch lớn nhất của lịch sử hiện đại nước Mỹ; một mặt cho thấy cách xã hội vận hành với sự bành trướng, tham lam, háu ăn và nỗi tị hiềm. DeLilloian – một tính từ xuất phát từ tên gốc của nhà văn Don DeLillo mang nhiều hàm ý về cảm giác mãnh mẽ của hư vô, của dịch chuyển, của biến đổi và phân ly – như định nghĩa rõ ràng nhất về cuốn sách này. Falling Man là ai, và cho đến khi nào chúng ta biết được rằng anh là ai? Ta không thể biết. Điều duy nhất chúng ta biết là buổi sáng hôm ấy, hơn 200 cánh chim đã lao ra khỏi ngọn tháp bốc cháy. Khi tòa tháp đôi sụp đổ cũng là khi màn pháo hoa lớn bùng cháy. Ngọn lửa mới đẹp làm sao, những thi thể người cháy rực lên mới đẹp làm sao […] Tôi yêu làn khói đó không vì nét đẹp thuần khiết của nó mà còn vì nó gợi người ta nhớ đến ngày tận thế, nó bao hàm cả bạo lực và nỗi kinh khiếp.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Ảnh đầu bài: Falling Man, Richard Drew | Time

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đọc “Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương”, ngẫm về sự mất màu trong mỗi chúng ta

Published

on

Haruki Murakami là cái tên đã quá đỗi quen thuộc với 15 tác phẩm tiểu thuyết nổi bật và hơn 50 truyện ngắn đã được xuất bản với nhiều thứ tiếng. Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương là cuốn tiểu thuyết thứ 14 của nhà văn, phát hành tại Nhật Bản năm 2013 và đến tay người đọc Việt Nam vào cuối năm 2014, dưới bản dịch của dịch giả Uyên Thiểm (Lương Việt Dũng), người đã từng tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với Haruki Murakami tại Nhật Bản.

Nếu các bạn đã từng yêu mến tiểu thuyết Rừng Nauy (1987), vậy thì thực sự không nên bỏ qua cuốn tiểu thuyết Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương. Dù tuổi đời cách nhau hơn 26 năm - một khoảng thời gian dài đủ để cho mọi thứ thay đổi, thế nhưng với tác phẩm sinh sau đẻ muộn này, Haruki Murakami đã chứng minh con đường văn chương của ông không nằm trong những thứ đó. Đọc từ Rừng Nauy cho đến Tazaki Tsukuru, chúng ta như được đi trên một chuyến tàu thời gian, nơi mà Haruki Murakami sống hai lần tuổi trẻ, trải nghiệm và kể lại cho người đọc hai thế giới khác nhau trong cùng một linh hồn thanh xuân bất biến. Ở đó, vẫn là những câu chuyện sâu thẳm về tình bạn, tình yêu, về những ám ảnh hành hạ cả một kiếp người, những khổ đau trầm uất và cả những hi vọng thanh tân lóe lên để cứu chuộc những kẻ hành khuất đoạ đày.

*

Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương là cuốn sách tương đối ảm đạm và u uẩn, có nhiều tình tiết mang tính chết chóc, thần bí và thực sự khó giải thích. Thế nên bản thân mình có lời khuyên đến các bạn đang mang ý định tìm đọc tác phẩm này, đó là nên đọc vào những lúc thực sự có thời gian để chiêm nghiệm. Điều này sẽ tránh việc bị ngắt quãng trong tư duy, dẫn đến khó hiểu và có những đánh giá sai lệch về giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

Câu chuyện kể về chuyến hành hương của một người đàn ông 36 tuổi tên là Tazaki Tsukuru. Dưới sự thúc đẩy của người bạn gái Sara, Tazaki đã bắt đầu chuyến đi kiếm tìm lời giải đáp cho những câu hỏi, những nỗi ám ảnh triền miên mà tuổi trẻ anh đã hèn nhát chôn sâu vào tận đáy lòng. Đó là lời giải cho việc Tazaki bị nhóm bạn thân thiết bỏ rơi một cách đầy hụt hẫng vào năm 20 tuổi. Vì không đủ can đảm để truy nguyên đến cùng sự thật, vì lòng tự trọng và cả sự tự ti đã khiến Tazaki của lúc ấy tự chấp nhận cái lý do mình bị bỏ rơi là vì bản thân không đủ quan trọng với những người bạn, vì đã bỏ quê hương để đến Tokyo học hành, vì không có màu sắc trong tên gọi... Sự chối bỏ của nhóm bạn như phát súng kết thúc quãng đời thiếu niên của Tazaki, khai sinh ra một bản thể Tazaki trưởng thành, u uẩn, mang trong tâm thức những vết thương sâu cho đến tận mãi 16 năm sau này.

Trong chuyến hành hương đi tìm lại bản thể, ngoài việc khám phá ra cái lý do kinh hoàng và vô lý đã khiến anh bị bỏ rơi ngày xưa, Tazaki còn được chứng kiến sự đổi thay, sự “mất màu” của những người bạn một thời thân thuộc. Rõ ràng rằng khi đã trưởng thành thì ai cũng phải khác đi, ai cũng có những nỗi đau và cả sự chối bỏ, trốn chạy khỏi chính bản tâm mình. Nhận ra điều đó, Tazaki trở lại hiện thực cùng với quyết tâm truy cầu hạnh phúc, níu giữ lấy Sara, người con gái mà anh đang yêu thương để không phải hối hận thêm một lần nào nữa.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương.

Về Tazaki Tsukuru và những người bạn

Nếu nói cuộc đời này là một món ăn thì tình bạn chính là một loại gia vị không thể thiếu. Chúng ta ai cũng đã từng có bạn, thậm chí có những người bạn thân thiết như cùng một gia đình. Đó là những người mà khi ở bên họ ta được là chính bản thân ta, được ngông cuồng tự tại, được vui cười không một chút tính toan. Tazaki Tsukuru cũng có những người bạn như vậy, đó là:

Akamatsu Kei: Đỏ (Ako) - Thông minh, nhạy bén và kiêu hãnh.
Oumi Yoshio: Xanh (O) - Thật thà, bộc trực và vững tâm.
Kurono Eri: Đen (Kuro) -  Mạnh mẽ, gần gũi và thấu đáo.
Shirane Yuzuki: Trắng (Shira) - Mỏng manh, cao quý và tinh khiết.

Mỗi người trong nhóm bạn của Tazaki Tsukuru đều mang một màu sắc riêng trong tên gọi, và họ cũng có những cá tính, sở thích nổi bật của mình. Điều này đã khiến Tazaki cảm thấy tự ti. Tazaki không có màu sắc trong cái tên và cũng tự đánh giá mình là “tầm thường”, không ước mơ, sở thích hay tính cách gì đáng nói. Trong một nhóm bạn đầy màu sắc, sự tồn tại của Tazaki đúng thật là đôi lúc kém nổi trội hơn nhiều, nhưng chính sự kém nổi trội và trầm lắng của Tazaki lại là một thứ chất xúc tác, dung hoà các màu sắc khác nhau ở cạnh bên nhau. Ở bên nhóm bạn, Tazaki cảm nhận được sự gần gũi, tự nhiên, và chính những người bạn của anh cũng cảm giác như vậy khi ở bên anh, giống như Xanh đã nói:

Không, không phải theo cách đó. Rất khó giải thích nhưng có cái gì như thể chỉ cần mày ở đó thì cả bọn sẽ được là chính mình một cách hết sức tự nhiên. Mày không nhiều lời, nhưng sống với hai bàn chân bám chắc trên mặt đất, điều đó tạo cho cả nhóm một cảm giác vững vàng thầm lặng, giống như cái neo tàu. Từ khi không còn mày, bọn tao mới thật sự cảm nhận được điều này. Có lẽ vì vậy mà từ khi không còn mày, bọn tao bỗng trở nên tản mác.”  

Rất rõ ràng là Tazaki đã tự đánh giá bản thân mình quá thấp, sự choáng ngợp trước những người bạn mang cá tính mạnh và màu sắc nổi bật đã khiến Tazaki trở nên tự ti. Anh không nhận ra được rằng giá trị của mình trong nhóm bạn quan trọng đến nhường nào, để rồi mặc định buông xuôi khi cho rằng mình bị bỏ rơi. Nếu nói một cách trừu tượng, Tazaki không màu chính là trang giấy để vẽ nên một bức tranh, một trang giấy không màu sắc nhưng có thể đón nhận tất cả các màu, có thể trở thành nơi mà các màu sắc có không gian để giao thoa cùng nhau. Nếu thiếu đi trang giấy tưởng chừng như không quan trọng đó, những màu sắc sẽ chỉ còn là những mảng riêng biệt nằm vô nghĩa mãi hoài trên những khay màu đơn độc.

Về sự “mất màu” trong tác phẩm và trong mỗi chúng ta

“Ai rồi cũng phải khác đi.”

Từ sâu trong cơ thể sinh học của chúng ta, các tế bào vẫn đang thay đổi hàng ngày. Sự thay đổi của con người chậm rãi như luộc ếch sống bằng nước lạnh, điều này khiến chúng ta không nhận ra thực tế là bản thân mình đang dần thay đổi, đang dần trở nên hoàn toàn khác so với quá khứ. Những người bạn của Tazaki cũng vậy, họ chỉ là những chú ếch chịu thỏa hiệp với dòng nước đang nóng dần lên theo dòng chảy thời gian, đến khi nhận ra thì màu sắc trong họ đã chết dần đi – không còn kịp để giãy dụa hay phản kháng. Như mình đã nói ở phần tóm tắt, trong quá trình đi tìm hiểu lý do cho việc bị bỏ rơi của ngày xưa, Tazaki đã được chứng kiến sự đổi thay, sự “mất màu” đến không ngờ của những người bạn thân thuộc một thời, cụ thể là:

Akamatsu Kei: Đỏ – Trở nên gian trá, lạnh lùng và tuyệt vọng.
Oumi Yoshio: Xanh – Trở nên hoạt ngôn, cứng nhắc và mỏi mệt.
Kurono Eri: Đen – Trở nên yếu đuối, trốn chạy và an phận.
Shirane Yuzuki: Trắng – Trở thành một người chết đầy bí ẩn sau quá trình khổ đau, hoang tưởng.

Ảnh: The New York Times

Đỏ không còn kiêu hãnh. Xanh không còn kiên định. Đen không còn mạnh mẽ. Trắng không còn tinh khiết. Mất đi những cá tính đặc trưng của tuổi thiếu niên, nhóm bạn của Tazaki không còn là Đỏ, Xanh, Đen hay Trắng. Họ chỉ còn là Akamatsu, Oumi, Kurono, Shirane, chỉ còn là những cái tên tầm thường dùng để định danh, là những kẻ trưởng thành “mất màu” và cô độc, vận hành một cách vô vọng với những nỗi đau trong guồng quay tất bật của cuộc đời.

Có lẽ, Tazaki chính là người ít thay đổi nhất trong nhóm bạn, anh của năm 36 tuổi vẫn vậy, vẫn là một Tazaki hiền lành ít nói, vẫn giữ cho mình ước mơ với những nhà ga và đã thật sự làm việc đúng với ước mơ của mình. Vị trí của những ga tàu trong xã hội cũng phản ánh lên vị trí của Tazaki trong nhóm bạn. Những nhà ga như một điểm giao thoa nhỏ bé và yên bình giữa người đến và người đi, nó dung nhập được tất cả loại người với tất cả màu sắc. Những chuyến tàu nếu không có nhà ga sẽ giống như nhóm bạn thiếu đi Tazaki vậy – rời rạc và không thể vận hành.

Mình cũng đã từng có những người bạn rất thân từ lúc ấu thơ, thân như ruột thịt. Vào thời điểm ấy, không một ai trong số chúng mình nghĩ rằng sẽ có một ngày không còn bên nhau nữa. Rồi thời gian trôi qua, cuộc đời cứ thế đẩy chúng mình rời xa nhau về cả khoảng cách địa lý lẫn địa vị xã hội. Để rồi đến khi gặp lại, ánh mắt những người bạn thân thiết ngày nào nhìn nhau đều không còn trong trẻo, vô tư nữa. Ai cũng đã trở thành người lớn, một kiểu người lớn quy chuẩn và nhạt nhẽo.

Sự ngăn cách vô hình khiến chúng mình không thể trải lòng cùng nhau, cũng vì thế mà không còn hiểu nổi nhau. Đó cũng chính là lúc mình nhận ra, mình – và tất cả bọn họ đều đã chết đi một phần hồn nhiên, đánh mất đi một phần sắc màu của tuổi trẻ. Chúng mình sẽ mãi mãi không thể thân thiết trở lại như ngày ấu thơ, bởi vì không còn ai là chính bản thân của ngày xưa nữa. Cả mình, cả họ, và tất cả chúng ta đều sẽ phải đánh đổi sắc màu của riêng mình để có thể tồn tại trong xã hội này, một xã hội cô đơn không có chỗ cho màu sắc.

Tạm kết

Mình gấp lại những trang sách trong sự bối rối và nhiều dòng suy nghĩ. Trong tác phẩm này của Haruki Murakami, mình nhìn thấy được nhiều mặt phản chiếu khá trùng hợp với bản thân, nên có thể nói là tác phẩm đã ảnh hưởng đến con người mình rất nhiều. Nhân vật chính Tazaki khá may mắn, anh có một gia đình giàu có hậu thuẫn và cũng vì thế mà anh tự do theo đuổi đam mê, được giữ lại màu sắc bình phàm của mình. Cuộc sống của đa phần chúng ta thì không được may mắn như vậy, chúng ta đều phải gieo mình ra xã hội để sống với những mục tiêu thực tế hơn. Như những chú khỉ buộc phải bơi, những loài cá buộc phải leo trèo. Chúng ta đôi khi phải làm những công việc mà mình không yêu thích, gồng mình 8 tiếng, 10 tiếng trong công việc tù túng và những mối quan hệ xã giao. Có lẽ, ngoài một số ít những người may mắn thì đa phần chúng ta ai rồi cũng sẽ như Xanh, như Đỏ - dần dần mất đi những màu sắc của riêng mình.

Khi giới thiệu tác phẩm này đến những người bạn, mình nhận được nhiều phản hồi tiêu cực hơn là tích cực. Mình chỉ muốn nói rằng Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương là một cuốn tiểu thuyết khá nặng nề và sâu sắc, thế nên vẫn còn rất nhiều vấn đề mình chưa thể nêu lên hết trong bài viết như: Về cái chết kỳ bí của Trắng, về lý do cô buộc tội Tazaki, lý giải về nhân vật Xám, về nhân vật Xanh lục trong câu chuyện mà nhân vật Xám kể, về những giấc mơ của Tazaki, về cái kết... Những chủ đề mở này đều có tính u ám và huyền bí, mỗi người đọc sẽ có những cách lý giải của riêng mình, cho nên tác phẩm này hay hay là dở, sâu sắc hay nông cạn là tùy vào gu đọc cùng với khả năng cảm thụ riêng của mỗi người đọc chúng ta.

Hết.

Nguyễn Đình Duy Lộc

*

Muôn màu Haruki Murakami





Đọc bài viết

Cafe sáng