Nối kết với chúng tôi

Truyện ngắn

Truyện ngắn: Người mẹ trong công viên (Emmanuelle Pagano)

Đăng từ

on

Vào những ngày Chủ nhật, tôi luôn muốn kéo mẹ ra công viên chơi. Mẹ lại thích đến bờ sông hơn nhưng không phải để đi tắm nắng mà là kiếm nơi nào đó ít người lai vãng. Những chốn bình yên. Tôi thì ngược lại, chỉ muốn mở trận đá banh với lũ bạn. Đối với mẹ, chốn thanh bình là nơi bà có thể yên lặng đọc sách. Bà chưa bao giờ chơi đùa với tôi, thảng hoặc mới nói vài câu và cũng chẳng mấy khi ra lời với người khác trừ khi cần thiết hoặc nói chuyện với đám con. Tôi là đứa út ít trong ba cậu nhóc – những cậu bé con đang tuổi ăn tuổi quậy.

Mẹ không thích công viên vì ở đấy đông người, nhưng thực ra không chỉ vì vậy, cũng chẳng phải vì bà muốn ở một mình mà bởi những người ở công viên này nhếch nhác hơn ở nơi khác. Họ lấm lem, hơi thở khò khè, thơ thơ thẩn thẩn và hay quấy rầy dai dẳng. Tất cả đều nghèo rớt mùng tơi, nghèo tới mức chẳng có nổi tấm bằng lái chứ chưa nói gì đến xe hơi. Cứ đến ngày chủ nhật, họ lại dạt về công viên, xúm xít quanh gốc cây chanh sừng sững, bao quanh là những băng ghế nguệch ngoạc hình vẽ graffiti. Trên các băng ghế gỗ chằng chịt những dòng chữ sai lỗi chính tả nhưng trên lớp vỏ cây cứng cáp thì tuyệt không thấy gì. Đám trẻ hiếu động rượt nhau chạy vòng quanh ghế, nhảy tót lên rồi chui xuống lăn lộn dưới gầm. Tôi rất muốn nhập hội với chúng, còn mẹ thì muốn tôi vui nên bà chiều lòng đưa tôi ra đây, bỏ lại cái êm đềm của dòng sông, âm thanh dịu dàng, đều đều của làn gió, tiếng sột soạt của những trang sách giở ra và âm thanh cô đơn của những trận đá banh một-cầu-thủ. Kết quả chung cuộc, mẹ lúc nào cũng nhượng bộ gật đầu. Mẹ sẽ ngồi dưới tán cây, tay ôm quyển sách mà bà biết rằng chẳng đời nào đọc nổi giữa không khí chộn rộn này, nhưng bà hạnh phúc khi thấy tôi cười ngoác miệng và nhiệt tình nhập hội với đám bạn.

Chủ nhật hôm ấy, bọn trẻ ra công viên khá đông. Chúng chơi đùa dưới sự giám sát của những ông bố bà mẹ đầy vẻ nghi ngại. Nhưng dưới tán cây chanh, vẫn có vài người trẻ tuổi hơn không dắt theo trẻ nhỏ, họ nằm ườn trên ghế, đánh một giấc ngon lành từ khuya hôm trước đến tận trưa hôm sau, dùng chân canh chừng chú chó cưng và những lon bia. Tôi có thể nhận ra cái nhìn dè dặt, sợ sệt trên khuôn mặt mẹ khi bà cố tìm chỗ ngồi càng xa họ càng tốt. Trong số đó, có một người thức giấc, với vẻ chán nản và sầu đời đã bắt chuyện với mẹ. Bà đáp trả với cung cách lịch sự, rằng bà muốn đọc sách và bắt đầu mở sách ra đọc thật. Mẹ giục tôi lấy banh ra khỏi giỏ (một trái bóng rổ và một trái bóng đá) rồi đi làm quen với những bạn khác. Chẳng khác gì tôi, chúng cũng đang ôm một mớ banh và háo hức tìm “đồng đội”. Nhưng tôi muốn nói chuyện với Jérémie hơn. Bác ấy vừa mới tự giới thiệu và chìa đôi tay rám nắng ra, nhờ vậy tôi mới biết tên bác. Bác đang tìm đứa con trạc tuổi anh tôi (bác nói với mẹ: Cô biết không, con tôi cũng lớn cỡ thằng bé nhà cô) và mẹ đã tìm được nó. Trông bác Jérémie có vẻ tử tế và thận trọng. Nhưng nếu bác muốn “đá lông nheo” với mẹ thì dứt khoát phải bước qua ải của tôi đã. Bác bắt đầu giải thích cho tôi về những kiểu rê bóng, chuyền bóng, tất tần tật về bóng đá và bóng rổ, thậm chí rất nhiều thứ chẳng “dây mơ rễ má” gì tới hai món này, chẳng hạn như thể thao sẽ dạy cho ta nhiều bài học về cuộc sống: lòng vị tha, tinh thần đồng đội, chơi đẹp, tuân thủ đúng luật, biết sống hòa đồng với người khác. Bác còn tâm sự với tôi về chuyện đời, về quãng đời đã qua với tấm bằng nghiên cứu thể thao bị xếp xó, về công việc của một huấn luyện viên nhiều môn thể thao và những vấn đề ngổn ngang. Tôi dám chắc rằng thật ra, bác đang kể những chuyện này cho mẹ tôi nghe chứ chẳng phải nói với tôi, nhưng chỉ sau mấy phút, bác đã trở thành ông bạn già chí thân của tôi ở chốn công viên này.

Mẹ vẫn cố chăm chú vào cuốn sách, thỉnh thoảng, bà thoáng liếc qua trông chừng tôi, thật nhanh và kín đáo để Jérémie không tài nào bắt được ánh mắt của mẹ. Nhưng mỗi lần chạm được ánh mắt đó, bác liền bắt đầu tung ra hàng tá lời khen có cánh về đôi mắt xanh của bà. Đôi mắt mà tôi may mắn được thừa hưởng. Một màu xanh thuần khiết, trong trẻo hơn cả dòng sông ngày nắng ấm, thăm thẳm hơn cả nền trời ngày không gợn áng mây. Đôi mắt sáng thắp sáng khuôn mặt có tuổi vốn đã nhuốm màu thời gian và phiền muộn của bà. Chút cảm giác đố kỵ dấy lên trong lòng tôi nhưng chỉ một chút thôi, vì tôi biết mẹ thương tôi nhất. Tôi biết người đàn ông ấy chẳng đời nào có cơ hội lại gần mẹ. Và tôi tận dụng triệt để sự cô đơn đó để chơi đùa với bác. Vì mẹ có bao giờ muốn chơi với tôi đâu.

Mẹ đã dùng hết kiên nhẫn cho anh chị của tôi nên tôi không nghĩ bà có thể chịu nổi bất kỳ trận bóng nào nữa. Bà chỉ muốn đắm chìm vào những trang sách và đi bộ. Mẹ thích ở bên cạnh tôi, thả bộ cùng với tôi. Mẹ thương tôi. Chỉ là mẹ không ưa thành phố này, không thích những con người thành thị, những con đường và công viên nhếch nhác. Vốn là con gái nông thôn, mẹ luôn tâm sự rằng hy vọng có một lúc nào đó được về thăm quê, trong khi chị em tôi lại bí xị vì chúng tôi thích ở đây hơn, nơi có nhiều cửa hàng và khu phố sầm uất, những cột bóng rổ và khung thành. Theo lời mẹ kể, anh trai tôi từng sống ở một thị trấn thậm chí còn to hơn nữa, một vùng đất trong mơ hay một chốn thần tiên.

Hồi còn bé, mẹ không chơi những trò chơi như chúng tôi bây giờ. Mẹ dành cả ngày mơ mộng dưới gốc cây, mê mải ghép tranh không biết chán, mẹ vẽ và đọc biết bao nhiêu sách. Mẹ sống một mình với ông ngoại ở một nơi xa xôi hẻo lánh, cách chỗ bà ngoại đến mấy tiếng đồng hồ đi đường. Nơi ấy xa lánh chốn thành thị lao xao đến mức bạn có thể biết được lúc nào có người hàng xóm đang đi qua chỉ bằng cách lắng nghe tiếng chân họ bước trên tuyết, đếm từng bước chân – một âm thanh khô, đanh, lạnh lẽo giữa không gian thinh lặng. Mẹ từng nói trên đời này không hề có sự im lặng tuyệt đối mà lúc nào cũng tồn tại những âm thanh tí hon, bị giấu đi và hiếm có thể nhận ra. Mẹ là chuyên gia trong việc cảm nhận những thứ không thể cảm nhận ấy. Toàn bộ tuổi thơ của bà được làm nên từ đó. Mẹ có đôi tay đỏ ửng, nhăn nheo trước tuổi, cứ như thể bà từng là lao công, là công nhân hay nông dân, dù thực tế bà chưa từng làm bất kỳ việc nào trong số đó. Chỉ là bà hiếm khi để mắt săn sóc bản thân, đôi tay, gương mặt, hay mọi thứ liên quan đến dung nhan của mình, bà vô tình đến mức có chút lạ kỳ, như thể mẹ muốn người ta nghĩ rằng mình là một người nào khác. Tôi chăm chú nhìn đôi tay đang cầm quyển sách của mẹ nên bỏ lỡ cú chuyền bóng của bác Jérémie. Chú chó nhỏ của bác bắt đầu sủa vang và nhảy lòng vòng một cách đầy phấn khích.

Sự thiếu tập trung của tôi càng khiến chú chó nhỏ hứng chí, cứ như thể mỗi lần đá hụt của tôi đã chạm vào nút bấm của chiếc điều khiển từ xa có liên kết với thân hình bé nhỏ của chú. Chú chó cắm cúi rượt theo trái bóng bị văng ra với sự ồn ào dư thừa năng lượng. Tôi cũng mải chạy theo sinh vật tí hon tràn trề niềm vui ấy mà quên bẵng mẹ trong chốc lát. Nhưng khi bác Jérémie kể rằng ngày hôm qua, chú chó này đã đánh hơi được mùi của cáo trong thùng rác, tôi liền quay sang mẹ, nở một nụ cười “ẩn ý”. Hồi còn nhỏ, mẹ đã dùng tay không kết liễu một chú cáo để chấm dứt sự đau đớn mà nó phải chịu. Mẹ vẫn thường kể cho chúng tôi nghe về kỷ niệm đó và chúng tôi cũng thường đòi mẹ kể đi kể lại. Có lẽ đối với tôi, việc con cáo có thể đi lạc vào thành phố là một sự kiện khác thường nhưng câu chuyện đó giống như một cách làm lành với mẹ. Mẹ nhìn tôi, cười đáp lại nhưng đưa ngón tay lên miệng, ra dấu tôi nên giữ bí mật của mấy mẹ con. Tôi cũng cảm thấy nên vậy. Mẹ lấy trong giỏ ra một gói bánh snack. Mẹ chưa bao giờ quên mang theo bánh, nước hay sách. Và cả những trái bóng cho tôi nữa.

Tôi chạy lại ngồi cạnh mẹ, và bác Jérémie nỗ lực thêm lần cuối những mong xin được số điện thoại của bà. Bác đưa cho chúng tôi một thùng nước ép táo rồi cuối cùng tạm biệt chúng tôi. Bác đánh thức những người bạn và huýt sáo gọi mấy con chó. Họ đều rời khỏi công viên mà không đóng cổng. Khi họ đi khỏi, một chú chó khác lại đến. Nó có bộ lông trắng, trông có vẻ già nua và đôi chân sau đi khập khiễng. Dù tiếng sủa của nó chẳng ồn ào nhặng xị như mấy cậu chó choai choai nhưng điều đó không ngăn nó nhiệt tình rượt theo trái banh của tôi. Tôi đã ăn xong miếng bánh và mẹ lại cầm sách lên.

Hết.

Phương Hạ dịch

Nguyên tác Mum at the Park (Emmaneulle Pagano), đăng tại Literary Hub.

*

Về tác giả: Emmanuelle Pagano là một tác giả người Pháp. Cô đã viết khá nhiều tác phẩm, trong đó có một số tiểu thuyết đã được dịch ra hơn mười thứ tiếng. Cô đạt được nhiều giải thưởng trong văn nghiệp của mình, gần đây nhất là giải thưởng EU về Văn học với tác phẩm Les Adolescents Troglodytes và giải Tiểu thuyết về đề tài sinh thái học của Pháp.

Mum at the Park (tạm dịch Người mẹ trong công viên) là một truyện ngắn nằm trong tuyển tập Faces on the Tip of My Tongue, quyển sách thứ hai của Emmanuelle được dịch sang tiếng Anh, do Sophie Lewis và Jennifer Higgins chuyển ngữ, nhà xuất bản Peirene Press phát hành.

viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đọc bài viết

Truyện ngắn

Truyện ngắn: Những người của biển

Đăng từ

on

Người đăng

Bão tới. Mới hơn sáu giờ chiều mà trời tối thui. Trong căn nhà cấp bốn lụp xụp nằm gần cạnh bờ biển, hai mẹ con dì Tư ngồi ăn cơm dưới ngọn đèn dầu leo lắt đang chực tắt. Dì Tư lọ mọ lừa mấy miếng xương cá để riêng ra mâm, rồi gắp khúc cá đã sạch xương bỏ vào chén thằng Ghe, biểu nó ăn. Thằng Ghe lấy cái muỗng múc miếng nước mắm ớt thiệt cay chan vào chén rồi đưa khúc cá lên miệng ăn ngon lành, lâu lâu nó lại hỏi, “Hông biết tới khi nào mới có điện lại, má ha!” Dì Tư không nói gì. Qua cái cửa sổ nhỏ bị hư chốt, dì Tư nhìn sang nhà mấy người hàng xóm. Nhà nào nhà nấy cũng tối thui. Có nhà xịn hơn mua được mấy cây đèn sạc điện, bây giờ lấy ra xài cũng coi như có chút ánh sáng.

Ở cái xóm này, hầu như nhà ai cũng đều câu điện lại từ nhà ông Tám. Giờ nhà ổng cúp điện thì cả xóm coi như cũng không có điện xài. Cũng trách sao cái đường dây điện nhà ông Tám cứ hay bị chập mạch mỗi lần trời mưa gió bão bùng, mà cũng trách cả xóm này nghèo quá, nhà nào nhà nấy đều nằm san sát nhau gần bờ biển, ngay cả tiền để ăn sang một bữa lẩu bò ngoài phố chợ còn không có, lấy đâu ra tiền để bắt điện từ công ty điện lực.

Ngoài trời, mấy hàng dừa nối dài đứng phe phẩy trước gió nhìn như những hồn ma ai đó hiện về. Gió thổi một rít hơn, còn mưa thì xối xả, cọ xát với cái mái tôn cũ nghe điếc cả tai. Trong những âm thanh hỗn loạn và đảo điên của cơn bão, dì Tư nhìn xa xăm ra ngoài, thấy biển và trời đều một màu đen thẫm.

*

Bão tan. Bốn giờ rưỡi sáng, dì Tư thức dậy, ra sau bếp chẻ mấy cọng ngo rồi bỏ than nhóm lửa. Còn ít gạo trong khạp, dì Tư định nấu một nồi cháo trắng, để dành ăn cả ngày với mấy con cá cơm ram sẵn còn dư. Trong lúc ngồi chờ gạo nở, dì Tư đi lên bàn thờ, thắp cho dượng Tư cây nhang, cũng không quên sửa lại mấy cành bông cúc ở trong bình cho ngay ngắn. Trên tấm ván ép bị nứt một đường dài ở mặt ván, thằng Ghe nằm ngủ chèo queo, nhìn nó như mấy con cá khô mà người ta vẫn thường hay treo tòn ten ở ngoài chợ. Dì Tư tới lấy mền đắp lên người cho nó. Bão tan, nhưng mà trời vẫn lạnh.

Trời sáng hơn, dì Tư chạy ra làng chài, nhìn ngó xung quanh mà không thấy ghe thuyền nào vô bờ hết. Đúng rồi. Mấy nay bão to, biển động mạnh, nhiều nhà đều sợ không dám đi. Có mấy ghe lớn hơn của nhà bà Phước, ông Hạp được đóng ráp chắc chắn, trang bị nhiều máy móc hiện đại thì may ra còn dám ra khơi, nhưng mà bao nhiêu thứ đánh bắt được thì mấy người đó đều đem lên chợ trên. Lên trên đó trả tiền cho nhân công giá rẻ hơn, mà bán cho mấy thương lái cũng được giá cao hơn nữa.

Biển đục ngầu. Những con cá lèo tèo đã chết khô dưới cát từ bao giờ, nay nhờ có bão thổi bay lớp cát mà được dịp trồi mặt lên, nhìn quê hương xứ sở của nó cho thỏa con mắt của những kẻ thèm khát biển khơi. Bờ biển vắng lặng, xung quanh chỉ lác đác vài ba người đến rồi đi trong cái nhìn tràn đầy thất vọng. Họ cũng là những người như dì Tư, sống leo lắt từng ngày như ngọn đèn dầu bám trụ vào ngọn lửa biển khơi. Thường thì cứ đúng bốn, năm giờ sáng, họ lại tập trung ở làng chài để đợi ghe thuyền vào, thi nhau mà cạy sò, cạy ốc… để có cái giao cho thương lái. Cứ mỗi kí sò hay ốc cạy được thì họ sẽ được trả một khoản tiền nhỏ, cứ đó mà nhân lên. Vậy nên ai cũng ráng mà cạy cho thiệt nhiều, dù cũng có lúc bị vỏ ốc đâm vào tay chảy máu hay chính con dao cạy đó vô tình cứa vào cổ tay. Có mấy người thương lái tới mua sò, hỏi, “Bộ ngày nào cũng cạy sò như vậy mà không ngán hả?”. Mỗi lần nghe câu đó, dì Tư cười ngọt sớt, “Ngán chớ sao hông, mà cũng phải ráng thôi. Hông cạy thì tiền đâu mà ăn?” Ừ, không cạy thì tiền đâu mà ăn, bởi vì đây là công việc của những người phụ nữ nghèo ở cái xứ biển quanh năm mặn chát này mà, họ nghĩ. Rồi hôm nay thể nào cũng đói, may mà còn có nồi cháo trắng nêm thật nhiều muối vừa mới nấu ở nhà…

*

Trời xanh. Thằng Ghe ùa ra tắm biển cùng với mấy đứa nhỏ trong xóm, đứa nào cũng ốm nhom ốm nhách như khúc củi khô. Tụi nó dân biển, từ lúc sinh ra tới giờ đã quen lăn lộn với nắng gió duyên hải nên làn da tất nhiên là rám nắng, hoặc không muốn nói là đen thùi lùi. Niềm vui mỗi ngày của tụi nó là đi tắm biển, đi ra làng chờ người ta nướng sò để xin ăn chực, thi thoảng chạy ra chợ coi kịch hát, lô tô. Trong đám con nít xứ biển ấy, ít có đứa nào được học hành tử tế. Đa phần tụi nó đều đi học giữa chừng rồi nghỉ học, còn không là vẫn chưa biết mùi vị trường lớp là thế nào. Có nhiều lần mấy anh chị công tác tư tưởng ở địa phương xuống tận nhà để vận động, khuyến khích phụ huynh cho con em đi học, nhưng rồi kết quả cũng chẳng đâu vào đâu, vì ba mẹ tụi nó thì làm gì có tiền. Thành ra cứ hết lớp con nít này tới lớp con nít khác, tụi nó sống và lớn lên như những con thuyền không dây neo, cứ trôi lênh đênh giữa biển đời mênh mông vô định. “Mà trách ai đây, hoàn cảnh mà…”

Mấy hôm cạy sò được nhiều tiền, dì Tư dắt thằng Ghe ra chợ, kêu cho nó tô bún mắm nêm nhiều chả với thịt. Nghe tới được ăn ngon, thằng Ghe khoái lắm, nhưng nó còn hỏi lại cho chắc, “Thiệt hả má?” Dì Tư ờ một cái, “Thì lâu lâu má dắt mày ăn sang một bữa, chứ để mày ốm tong teo như xì ke vầy, sau này ai lấy mày?” Nghe tới ba cái chuyện này, thằng Ghe tít mắt cười ngặt nghẽo, để lộ cái răng sữa vừa bị gãy do hôm qua ngồi gặm càng ghẹ bà Ba cho.

Trong cái quầy bún mắm ruồi bu nhặng xị, dì Tư nhìn thằng Ghe ăn ngon lành. Lâu lắm rồi, cũng không biết là khi nào, thằng Ghe mới được ăn lại tô bún sang như vậy. Thiệt ra nó cũng không biết sang với không sang là như thế nào, nó chỉ biết là hôm nay nó đã được ăn một thứ rất là ngon, khác với mấy bữa cơm chỉ có le que vài ba cọng rau với mấy con cá kho mà má nó mua ở cuối chợ chiều.

Lúc chờ thằng Ghe ăn xong tô bún, dì Tư nhìn thấy một nhóm học trò đi ngang qua chợ. Tụi nhỏ ghé vào một hàng văn phòng phẩm, tìm tìm mua mua cái gì đó. Nhìn đứa nào cũng cao ráo sáng sủa, mà lại còn rất là trí thức. Dì Tư trộm nghĩ, rồi lại chợt ngó sang thằng Ghe. Nếu mà thằng Ghe được đi học đàng hoàng tử tế như con người ta, thì sao?

Tối đó trời nóng, ăn cơm xong, dì Tư rinh cái ghế bố ở trong nhà ra ngoài bãi biển, cốt để nằm ngả lưng một chút rồi đi vào đan cho xong tấm lưới. Ngoài mấy lúc đi làm công nhật, dì Tư cũng hay ở nhà ngồi đan lưới để giao cho mấy chủ ghe. Hễ cứ ở đâu có việc gì làm là dì Tư nhảy vào nhận việc ngay. Dì Tư làm quần quật từ sáng tới tối, ngày này qua ngày nọ, hết việc này tới việc khác mà cũng không sao khấm khá lên được. Mà cũng không phải riêng một mình dì Tư. Ở cái xóm này, và còn nhiều xóm nữa, mấy kiếp người rong ruổi cũng giống như bọt bèo ở đại dương. Tội nghiệp!

Trên bờ cát dài gió thổi mát lành, dì Tư vắt tay lên trán, miên man nhìn mấy ngọn đèn tàu xa tít ở ngoài khơi. Thằng Ghe ngồi bên cạnh dì, nó lượm mấy cái vỏ ốc ở trên bờ rồi quăng mạnh ra biển. Vỏ ốc bay đi xa, đập xuống nước kêu một cái “tũm” rồi cũng lặn chìm. Nó chìm hay trôi đi đâu thì cũng không ai biết. 

Nước biển văng lên làm dì Tư giật mình. Một cái vỏ ốc dạt lại vào bờ. Dì Tư quay sang nhìn thằng Ghe. Chần chừ một hồi, dì Tư hỏi:

“Ghe. Hay là má cho mày đi học nha!”

Thằng Ghe bất ngờ. Nó ngước lên nhìn dì Tư, đôi mắt tỏ vẻ khó hiểu:

“Ủa sao tự nhiên lại đi học hả má?”

“Thì cũng phải đi học cho biết với người ta chứ. Chứ ở nhà riết, cái mày ngu người.”

“Thôi thôi. Con không đi học đâu má. Đi học chán lắm. Con Lưới nhà ông Năm đó, ngày nào đi học cũng bị cô giáo bắt học bài. Mệt lắm.”

Thằng Ghe lại lượm được một cái vỏ ốc ở đâu đó. Nó tiếp tục quăng cái vỏ ốc đi. Lần này vỏ ốc rơi ngay trước mặt nó, đụng vào một tảng đá, rồi nứt ra.

Dì Tư ngồi dậy, nghiêm túc nhìn thằng Ghe.

“Hông đi học rồi sao mày khôn lớn được như người ta, hả con? Đi học đi, nha, má cho tiền. Má có tiền lo cho mày đi học mà, khỏi lo.”

Sóng lại đập vào bờ, mang theo mấy thứ rác rến ở đâu đó từ ngoài biển trôi vào. Cũng chẳng ai biết đây là con sóng thứ bao nhiêu, mà cũng chẳng ai quan tâm về điều đó. Từng đợt sóng cứ thế đến rồi đi, dữ dội cỡ nào rồi cũng đành tan biến.

“Con không đi học đâu. Đi học vừa tốn tiền của má, vừa hông có ai ở nhà phụ má làm lưới…”

Thằng Ghe nói, giọng nó buồn hiu. Cũng không biết là do nó không muốn đi học nên mới nói vậy, hay là do nó thiệt sự nghĩ như vậy. Nhưng mà nghe những lời nó nói, dì Tư thắt lòng.

“Rồi sau này mày làm cái gì, Ghe. Mày muốn cả đời khổ như má hả?”

“Má đừng có lo. Sau này con sẽ đi biển. Con theo ghe mấy anh xóm trên, tối tối ra khơi quăng lưới, tới sáng là có cá đem về cho má bán à. Lúc đó má con mình có tiền, tha hồ mà ăn bún mắm nêm nhiều chả với thịt.”

Thằng Ghe vô tư ngồi vẽ ra những viễn cảnh tươi đẹp về một tương lai mà nó mơ ước. Nó, hoặc là những đứa trẻ vùng biển khác, rồi cũng chỉ có cùng một suy nghĩ này thôi chăng? Rồi sẽ lớn lên và theo chân cha anh ra biển, sẽ đem những cá tôm trở về, sẽ sống một cuộc đời đánh bắt quẩn quanh cùng biển cả xa xôi? Mà cũng đúng thôi, vì không được đi học đàng hoàng, vì không được tiếp xúc nhiều với những điều mới lạ, nên tụi nhỏ cũng có biết gì về bác sĩ, kĩ sư, cũng có biết gì về công an, thầy giáo. Những ước mơ cứ thế bị mắc kẹt trong cái vỏ chai đậy kín nắp, bị ai đó ném xa ra biển rồi lại dạt vào bờ. Cứ thế, cũng chỉ là ở mảnh đất quanh năm mặn chát này.

Trong tâm khảm lúc này, dì Tư đau lòng lắm, khi nghe thấy những lời non dại của thằng con trai mình.Có ai muốn cả đời quẩn quanh đi biển hoài hả con? Vì cái nghèo, cái khổ nên người ta mới chọn như thế. Mà đi biển có sung sướng gì đâu, bởi lúc nào người ta cũng ở trong tâm thế đối mặt với thiên nhiên, với những rủi ro chẳng một ai biết trước. Biển có lúc thì dịu hiền, êm ả, cũng có khi giận dữ với con người. Thì phải chịu vậy thôi, thì phải chọn vậy thôi, bởi cái số, cái nghiệp đã ám vào những mảnh đời này, biết khi nào mới có thể thoát ra được. Sinh ra ở vùng biển cũng là một lí do…

Dì Tư thở dài, nén một giọt nước mắt vào trong. Lại tựa lưng vào chiếc ghế bố, dì Tư nhìn ra biển. Có vài ngọn đèn tàu vừa tắt ngóm ngoài xa.

*

Nấu xong nồi cháo với mấy chén chè, dì Tư sửa soạn thêm ít nhang đèn, bình bông, trái cây… để bày lên bàn thờ dượng Tư. Trước cái bàn thờ cũ mèm rơi đầy tàn nhang, dì Tư nhìn di ảnh của chồng mình, rồi khấn. Dì Tư khấn cho thằng Ghe mạnh khỏe, khấn cho dì luôn ổn định công ăn chuyện làm, khấn cho biển êm sóng lặng, cho mọi người trong xóm đỡ nghèo, và cũng khấn cho cả dượng Tư luôn được an lạc.

Hôm nay là ngày giỗ của dượng Tư, lần thứ tư, cũng là ngày giỗ của ông Sáu, chú Hậu, thằng Bảy, thằng Ba – mấy người trong xóm từng đi biển cùng với dượng Tư năm nào. Mặc dù cũng đã bốn năm trôi qua, nhưng đôi lúc khi nhớ về chuyện này, dì Tư, và cả những người cũng là mẹ, là vợ… không sao tránh khỏi chạnh lòng. Họ đã ra đi, mãi mãi, ngủ vùi trong cơn bão của đại dương, nhưng cái đau lòng, mất mát của những người ở lại thì vẫn luôn còn hoài. Cuối cùng khi vừa xong đám tang, những người có người thân qua đời cũng chỉ biết đứng trước biển mà khóc. Họ chỉ khóc vậy thôi chứ họ cũng không biết trách ai được.

Nhang đèn cho dượng Tư xong, dì Tư cũng sang nhà của ông Sáu, chú Hậu… để thắp cho họ mấy cây nhang. Ở cái xóm này, nghèo cái gì chứ tình nghĩa thì không, mà tình nghĩa của những người có chung hoàn cảnh lại càng quý giá hơn nữa. Ở nhà chú Hậu, dì Tư ngồi nói chuyện với bà Ba.

“Chiều nay con với dì ra biển, đem theo mấy cây nhang để thắp cho mấy ổng.”

“Ừ, tao cũng định bụng nói với mày. Hông biết mấy ổng còn ở ngoài đó hông hay là đi đâu rồi…”

“Thôi, cũng cầu cho mấy ổng đi kiếp khác. Chứ kiếp này khổ quá, ở lại đây làm chi!” Dì Tư cười, nụ cười đắng nghét, “Còn mình nữa, cái nghèo nó cứ ám cả xóm này miết luôn.”

Nghe dì Tư nói, bà Ba thở dài:

“Phải như có tiền rồi tự mua ghe, mua tàu, thuê người ra ngoài biển, may ra còn kiếm được nhiều tiền. Chứ cả đời cứ quẩn quanh đi cạy sò, cạy ốc, làm thuê lại cho người ta, không biết khi nào mới khá được. Chưa kể còn chuyện con cái. Như mày thì còn phải lo cho thằng Ghe, cũng đâu để cho nó lông bông được.”

Nhắc tới thằng Ghe, dì Tư bỗng thoáng buồn. Hôm đó về nhà, dì Tư cứ suy nghĩ mãi, cũng phải vỡ ra một cái gì đó trong đầu.

Tối đó, dì Tư ra làng chài, tới nhà ông Năm Hói. Lần này làm liều, dì Tư quyết định hỏi xin ông Năm Hói cho mình theo ghe ra biển. Dì Tư nghĩ, chỉ có cách này mới mong kiếm được nhiều tiền hơn để lo cho thằng Ghe. Nói chuyện mấy lần, ông Năm Hói nhất quyết không cho, vì dì Tư là đàn bà, vừa nhỏ con lại vừa yếu sức, làm sao mà kéo lưới lại bằng mấy thằng thanh niên. Nhưng với cái độ lì ra mặt cùng mấy câu chuyện hoàn cảnh đáng thương của dì Tư, cuối cùng ông Năm Hói cũng đành chấp nhận, với điều kiện là ông Năm Hói chỉ coi dì như đi làm công nhật, và chỉ trả cho dì bảy phần lương. Tính ra thì số tiền đó cũng lớn hơn nhiều gấp mấy lần so với tiền mỗi ngày mà dì Tư đi cạy sò, đan lưới. Không nghĩ ngợi gì nhiều, dì Tư liền đồng ý.

Sáng đó, dì Tư dậy sớm đi chợ, mua được một miếng thịt tươi, đem về luộc cho thằng Ghe chấm mắm nêm ăn cơm. Lúc quét dọn lại nhà cửa, thấy cái áo của thằng Ghe bị rách, dì Tư liền chạy ra lại ngoài chợ,  mua một cái áo mới cho nó. Mấy người ở chợ ngạc nhiên hỏi, “Nay tiền ở đâu nhiều mà mua tùm lum thứ vậy. Mọi khi thấy mày keo thí mồ!” Dì Tư chỉ cười không nói gì. Về nhà, nhìn thằng Ghe gắp miếng thịt luộc ăn một cách ngon lành, dì Tư nghĩ, sau này đi biển kiếm được chút tiền rồi thì nên cho thằng Ghe ăn mặc thoải mái chút, chứ đừng để nó phải khổ như mình.

Trời tối, trước lúc đi ra tàu ông Năm Hói, dì Tư ngồi căn dặn thằng Ghe đủ thứ. Đây là lần đầu tiên để thằng Ghe ở nhà một mình, dì Tư cũng không an tâm.

“Lát nữa má đi, mày ở nhà một mình chốt cửa đi ngủ sớm nha. Đêm hôm mà có đau đầu, đau bụng gì thì có chai dầu gió má để sẵn ở trên tủ đó. Còn có chuyện gì khác nữa thì nhớ chạy qua nhà bà Ba nha.”

“Má làm như con là con nít hông bằng. Đêm nào con cũng ngủ tới sáng, có gì đâu. Mà má đi đâu vậy cà?”

“Má đi kiếm tiền. Cỡ sáng mai má về á. Mai mày muốn ăn món gì, má có tiền má mua cho mày ăn.”

Nghe tới đồ ăn, thằng Ghe sáng mắt. Nó nghĩ về mấy món mà đám thằng Đực vẫn thường hay được ba mẹ cho tiền đi ra chợ ăn. Nhưng rồi khi sực nhớ mấy món đó cũng mắc tiền, nó mới nói:

“Gì chứ con cũng thèm cháo lòng. Thôi mai hai má con mình đi ăn cháo lòng. Ăn ở hàng bà Bảy, có mười ngàn một tô à, mà còn hay được cho thêm miếng dồi ngon ơi là ngon nữa.”

“Rồi, vậy mai má dắt mày đi ăn cháo lòng. Má xin cho mày hai miếng dồi luôn.”

Thằng Ghe lại tít mắt, nhe răng cười. Cái răng sữa của nó không biết khi nào mới mọc lại. Rồi dì Tư đi, ngang qua những rặng dừa chạy dài dọc bờ biển. Ở ngoài kia, biển đang chờ. Nghĩ về thằng Ghe, khát vọng kiếm tiền trong dì Tư lại dâng lên mãnh liệt.

*

Bão tới. Không ai biết trước được điều gì. Bão vẫn luôn ẩn mình trong những yên bình mà người ta không hề ngờ đến. Đêm hôm ấy, bão đồng lõa với đại dương, đánh tan nát chiếc tàu cá của ông Năm Hói. Mấy người trên tàu, kể cả dì Tư, chẳng ai còn sống sót. Vẫn là câu hỏi muôn thuở trong lòng của những người dân xứ biển từ xưa đến giờ, không biết những người đi biển hiện giờ đang ở đâu, vì biển đã giấu họ đi vào một góc sâu thẳm nào đó, chẳng trả lại thứ gì ngoài những niềm mất mát, đau thương…

Thằng Ghe đứng đực mặt ra khi nghe người ta nói là má nó đã chết. Vậy là má nó đã chết, như cái cách mà ba nó đã từng. Cái chết là gì, nó không hiểu. Nó vẫn còn quá nhỏ để thấu đáo nỗi đau mà cái chết đem lại. Nhưng nó lặng người đi. Nó bỗng thấy trơ trọi vô cùng. Nó không còn má nữa. Má nó đi rồi, má nó ngủ vùi dưới biển khơi.

Nó không khóc, nó chỉ bất thần nhìn ra biển, rồi lặng lẽ đi về. Lúc ngang qua khu chợ gần nhà, nó nhìn vào hàng cháo lòng trước chợ. Nó nói, “Má ơi, con hết thèm cháo lòng rồi.” Nó cũng hết thèm miếng dồi ngon mà bà Bảy vẫn thường hay cho thêm rồi. Nó chỉ thèm má. Là má nó. Nó nghĩ như vậy, rồi chạy ù về nhà…

Xong đám tang của dì Tư, mấy người bà con hàng xóm không còn ai thấy thằng Ghe đâu nữa. Nhiều người chạy khắp nơi đi tìm nó nhưng cũng không có kết quả gì. Rồi nhiều năm về sau, căn nhà lụp xụp của dì Tư cũng chẳng còn ai ở, ngoại trừ bà Ba và mấy người hàng xóm vẫn thi thoảng lui tới để nhang đèn. Cứ như thế, năm tháng qua đi, cuộc sống của những người dân biển ở đây vẫn vậy, mỗi ngày đều vật lộn với cơm áo gạo tiền, với mưu sinh vất vả. Chẳng ai biết thằng Ghe đang ở đâu, phải chăng nó đã lặng lẽ ra đi vào một chiều mưa bão năm ấy, hoặc nó đang theo một con tàu nào đó ra khơi, lại tiếp tục cái vòng tròn luẩn quẩn nơi biển cả bao la như ba má nó. Không ai biết, không ai biết điều gì. Nó cũng chỉ là một phận bọt bèo trôi, giữa khơi xa.

Hôm đó, biển và trời đều một màu đen thẫm. Những kiếp người lầm lũi lại tiếp tục cá cược mạng sống của mình với biển cả, để chọn về những hỉ, nộ, ái, ố đời thường. Rồi cũng vậy thôi, một ngọn đèn dầu leo lắt ngoài biển khơi.

Sóng vỗ…

Hết.

Lâm Lâm


Xem tất cả những bài viết của Lâm Lâm tại đây.


Ảnh: Tranh sinh hoạt ở làng chài | Vân Quyên Gallery

Đọc bài viết

Truyện ngắn

Truyện ngắn: Hai người phụ nữ (Amos Oz)

“Có lẽ một chuyện gì đó rất tệ hại đã xảy ra với cả hai chúng ta mà không thể cứu vãn được.”

Đăng từ

on

Người đăng

TWO WOMEN
Amos Oz

Sáng sớm, khi mặt trời chưa mọc, tiếng gù của đôi chim bồ câu trong bụi cây bắt đầu trôi qua ô cửa sổ để mở. Âm thanh khàn khàn, đều đều và miên man ấy vỗ về cô. Làn gió nhẹ se sẽ thổi qua những ngọn cây thông và tiếng gà gáy lanh lảnh trên sườn đồi. Xa xa vọng lại tiếng chó sủa và một con khác đáp lại. Những thanh âm ấy đánh thức Osnat trước cả khi chuông báo thức kịp reng. Cô ra khỏi giường, tắt chuông, tắm rửa và thay quần áo đi làm. Đúng năm rưỡi, Osnat đến khu kibbutz1 giặt ủi làm việc. Trên đường, cô đi ngang qua căn hộ của Boaz và Ariella, khi ấy vẫn khóa cửa và tắt đèn. Hẳn là họ còn đang ngủ. Ý nghĩ ấy chẳng gợi lên trong Osnat cảm giác ganh tị hay tổn thương nhưng đâu đó, cô cảm thấy có chút ngỡ ngàng mông lung: chừng như mọi việc đã xảy ra với ai đó chứ không phải với cô, và hình như nó đã xảy ra từ nhiều năm trước chứ không phải mới hai tháng rồi. Khi đến kibbutz giặt ủi, Osnat bật đèn lên vì ánh nắng hôm nay còn uể oải quá. Rồi cô cúi xuống đống đồ đang đợi, bắt đầu tách riêng quần áo màu ra khỏi quần áo trắng, vải bông ra khỏi vải sợi. Mùi cơ thể chua lòm bốc lên từ mớ đồ dơ, quyện với mùi bột xà phòng. Osnat làm việc ở đây một mình. Cô để chiếc radio ra rả cả ngày để xua tan nỗi đơn độc, mặc dù tiếng o o của những chiếc máy giặt đã nuốt chửng mọi giai điệu lẫn tiếng nói trên đài. Đúng bảy rưỡi, cô giặt xong mẻ đồ đầu tiên, trút quần áo ra và xếp lại, sau đó xuống nhà ăn tập thể để ăn sáng. Lúc nào cũng vậy, Osnat cứ đi chầm chậm, như thể cô không biết chắc mình sẽ đi đâu hoặc cũng không mấy bận tâm. Ở kibbutz của chúng tôi, Osnat là một người phụ nữ vô cùng trầm lặng.

Hồi đầu hè, Boaz thú nhận với Osnat anh đã qua lại với Ariella Barash suốt tám tháng và thấy rằng cả ba người họ không thể tiếp tục sống trong sự lừa dối nữa. Hắn quyết định chia tay và chuyển sang nhà của Ariella. “Em có phải là trẻ con nữa đâu. Em biết chuyện này vẫn xảy ra như cơm bữa mà, kibbutz của chúng ta cũng thế thôi. May là chúng ta chưa có con chứ không thì mọi chuyện sẽ lôi thôi hơn nhiều.” Boaz sẽ mang theo chiếc xe đạp nhưng để lại cái radio. Hắn muốn cuộc chia tay này êm ái như những tháng ngày họ đã sống với nhau. Nếu Osnat nổi giận, hắn hoàn toàn thông cảm được, mặc dù thật ra, cô chẳng có gì để tức giận cả. “Anh không cố tình tổn thương em. Chuyện với Ariella, cứ đến là đến thôi. Mọi chuyện chỉ có thế.” Nhưng dù sao đi nữa, hắn cũng rất áy náy. Hắn dọn đi ngay và để lại cho cô không chỉ là chiếc radio mà tất cả mọi thứ, kể cả cuốn album, những chiếc gối thêu và bộ pha cà phê – món quà cưới của họ.

“Vâng”, Osnat đáp.

“Ý em là sao?”

“Đi,” cô nói, “anh đi đi.”

*

Ariella Barash là một người phụ nữ đã ly dị chồng, cao ráo, mảnh mai, với chiếc cổ thanh thoát, mái tóc bồng bềnh nhiều tầng và đôi mắt biết cười, trong đó có một con từng bị lé kim. Cô làm việc trong một trang trại gà và quản lý Phòng Văn hóa của kibbutz, chịu trách nhiệm tổ chức cưới hỏi, lễ kỷ niệm và kỳ nghỉ cho xã viên. Bên cạnh đó, cô còn mời diễn giả đến giảng dạy vào những buổi tối thứ Sáu và đặt phim chiếu trong nhà ăn vào tối thứ Tư. Ariella nuôi một con mèo già và một con chó nhỏ, hình như là chó con. Cả ba chung sống hòa bình với nhau trong căn hộ của cô. Con chó thường bị con mèo hăm he nên lịch thiệp nhường cho nó hẳn cả chiếc giường rộng. Con mèo phớt tỉnh người bạn chung nhà, lững thững đi qua mặt con chó như thể nó là kẻ vô hình. Suốt cả ngày, hai con vật hục hặc trong căn hộ của Ariella, mèo nằm trên sofa còn chó nằm trên thảm, “nước sông không phạm nước giếng”.

Trước đó, Ariella đã kết hôn với Ephraim – một quân nhân. Được một năm, anh bỏ cô để chạy theo một cô lính trẻ. Mối quan hệ của cô với Boaz bắt đầu vào cái ngày anh đến nhà cô, mặc chiếc áo ba lỗ đi làm đẫm mồ hôi loang lổ vết dầu máy. Ariella đã nhờ anh ghé ngang để sửa hộ cái vòi nước bị hỏng. Anh đeo một chiếc thắt lưng da có khóa bằng kim loại. Khi Boaz cúi xuống sửa vòi, cô dịu dàng vuốt ve tấm lưng rám nắng của anh mấy lần, cho đến khi anh quay lại mà hai tay vẫn không rời chiếc tua vít và mỏ lết. Kể từ hôm đó, anh thường lẻn sang căn hộ của cô, lúc thì nửa tiếng, lúc lại một tiếng. Người trong kibbutz Yekhat phát giác ra sự vụng trộm này và chẳng buồn giữ bí mật. Họ xì xầm: “Đúng là một cặp trái khoáy; anh ta thì câm như hến còn chị ta thì miệng mồm như tép nhảy.” Roni Shindlin – cái gã chuyên đùa cợt ví von: “Đúng là chạch đẻ ngọn đa.” Không ai nói gì với Osnat, chỉ có mấy người bạn của cô vẫn luôn bày tỏ sự cảm thông, rằng cô không hề cô đơn, và dù cô cần bất cứ thứ gì, từ những thứ nhỏ nhất… họ cũng sẵn lòng giúp đỡ.

Rồi Boaz chất đồ lên chiếc giỏ xe đạp và dọn sang căn hộ của Ariella. Buổi chiều, hắn sẽ từ ga-ra trở về nhà, thay đồ lao động ra rồi đi tắm. Ngay ngoài bậc cửa, hắn luôn hỏi vọng vào: “Hôm nay ở nhà có chuyện gì không?” Ariella sẽ đáp với vẻ ngạc nhiên: “Chuyện gì là chuyện gì? Chẳng có gì hết. Anh tắm đi rồi mình uống cà phê.”

*

Trong hộp thư riêng nằm phía bên trái, cách xa cái thùng thư gần với cửa ra vào nhà ăn tập thể, Ariella tìm thấy một tờ giấy nhắn được gấp lại. Trên đó là nét chữ viết tay tròn trịa, điềm tĩnh của Osnat:

Boaz hay quên uống thuốc huyết áp. Anh ấy cần uống vào mỗi sáng và tối trước khi đi ngủ. Buổi sáng, anh ấy còn phải uống nửa viên thuốc cholesterol. Chị đừng cho anh ấy ăn tiêu đen hay nhiều muối trong rau trộn, nên ăn phô mai ít béo nhưng đừng thêm thịt bò. Anh ấy có thể ăn gà và cá, nhưng đừng nêm nhiều gia vị quá. Và không nên để ảnh dùng quá nhiều đồ ngọt.
Osnat
T.B: Boaz nên uống ít cà phê đen lại.

Ariella Barash viết vài dòng trả lời Osnat, với nét chữ sắc cạnh và chất chứa sự bất an. Cô bỏ mảnh giấy vào hòm thư:

Cảm ơn chị. Chị thật tử tế khi đã viết thư cho tôi. Boaz còn bị ợ nóng nhưng anh cứ bảo không sao hết. Tôi sẽ thử làm những việc chị đã dặn nhưng anh ấy không hề dễ tính chút nào. Anh ấy không hề để tâm đến sức khỏe, và cũng vô tâm với rất nhiều chuyện khác nữa. Chị biết mà phải không. Ariella B.

Osnat trả lời:

Nếu chị đừng cho anh ấy ăn thức ăn chiên, đồ chua hoặc cay, ảnh sẽ hết ợ nóng.
Osnat.

Vài ngày sau, Ariella Barash trả lời:

Tôi vẫn thường tự hỏi, rốt cuộc, chúng tôi đang làm gì vậy? Anh ấy thì chôn chặt cảm xúc còn lòng tôi thì không thể nào yên được. Ảnh bao dung với con chó của tôi nhưng không thể chịu nổi con mèo. Chiều nào từ ga-ra về, Boaz cũng hỏi tôi: Hôm nay có chuyện gì không? rồi đi tắm, uống chút cà phê đen, và ngồi lên ghế của tôi đọc báo. Khi tôi thử mang cho anh ấy tách trà thay vì cà phê, ảnh liền nổi đóa lên và cằn nhằn rằng tôi hãy thôi làm mẹ của anh ấy đi. Sau đó Boaz thiếp đi, tờ báo rơi xuống sàn. Bảy giờ tối, anh thức dậy nghe tin tức trên đài. Vừa nghe, anh vừa nựng nịu con chó và lẩm bẩm mấy lời âu yếm. Nhưng khi con mèo nhảy lên đùi anh và vòi vĩnh được cưng chiều thì Boaz lại hất nó ra với vẻ ghét bỏ khiến tôi xấu hổ vô cùng. Khi tôi nhờ anh sửa cái ngăn kéo bị kẹt thì anh ấy không chỉ sửa mà còn tháo nó ra và gắn vào hai cánh cửa tủ kêu cọt kẹt, rồi cười nhăn nhở hỏi liệu có nên sửa luôn nền nhà hay mái nhà không. Tôi tự hỏi trước đây, điều gì ở anh ấy đã thu hút tôi vậy và có lẽ bây giờ vẫn còn một chút chăng, nhưng tôi không tìm được câu trả lời nào rõ ràng. Thậm chí sau khi tắm xong, móng tay anh ấy vẫn xỉn màu dầu máy còn bàn tay thì thô ráp và nứt nẻ. Sau khi Boaz cạo râu, dưới cằm vẫn còn lún phún vài cọng. Có thể vì lúc nào anh ấy cũng ngái ngủ, ngay cả khi Boaz đang thức thì trông anh vẫn có vẻ buồn ngủ nên tôi luôn phải cố gắng đánh thức anh dậy. Nhưng tôi chỉ giữ cho ảnh tỉnh táo được một chút, chắc chị biết sao rồi đấy, không phải lúc nào tôi cũng làm được. Không một ngày nào mà tôi không nghĩ đến chị, Osnat ạ. Tôi tự hỏi liệu chị có thể tha thứ cho những việc tôi đã làm với chị không. Thỉnh thoảng, tôi tự nhủ phải chăng Osnat cũng chẳng quan tâm lắm, phải chăng chị hết yêu anh ấy rồi? Làm sao mà biết được. Có lẽ chị nghĩ rằng thật ra tôi đã chọn lựa như thế. Nhưng thực sự chúng tôi đâu hề có sự lựa chọn. Đó đơn thuần là sự lôi cuốn giữa người đàn ông và người đàn bà, đột ngột xảy ra và thậm chí có chút ngớ ngẩn. Chị có nghĩ giống tôi không? Nếu như chị có con rồi, hẳn chúng ta sẽ chịu nhiều tổn thương hơn thế. Vậy còn anh ta? Thật ra anh ta đang nghĩ gì? Liệu có ai nói cho tôi biết được không? Chị biết rất rõ Boaz nên ăn gì và không nên ăn gì. Nhưng chị có biết lòng ảnh đang nghĩ gì? Hay là, rốt cuộc anh ta có cảm xúc gì không? Có lần, tôi từng hỏi Boaz có hối hận không và anh ta đáp: “Em nhìn đi, anh đang ở đây với em. Không phải với cô ta.” Tôi mong chị biết điều này, Osnat ạ. Gần như đêm nào sau khi Boaz ngủ say, tôi cũng trằn trọc trên giường, nhìn ánh trăng lọt qua khe rèm chiếu vào căn phòng tối của chúng tôi và tự hỏi, nếu tôi là chị thì mọi chuyện sẽ thế nào. Tôi ngưỡng mộ sự điềm tĩnh của chị. Giá tôi có thể có một chút sự điềm tĩnh đó. Thỉnh thoảng tôi trở dậy, mặc quần áo và đi ra cửa, chợt nghĩ sẽ đến chỗ chị lúc nửa đêm và giải thích tất cả. Nhưng tôi có thể nói gì bây giờ? Tôi đứng ngoài ban công cả mười phút, nhìn lên bầu trời đêm trong veo và tìm kiếm chòm sao Đại hùng, rồi lại thay đồ ra, leo lên giường và tiếp tục trằn trọc. Boaz đang ngáy rất say sưa. Thốt nhiên, tôi cảm giác như mình đi lạc vào một nơi nào đó, thậm chí biết đâu là phòng của chị. Nhưng mong chị hãy hiểu cho, chuyện này chỉ xảy ra với tôi vào ban đêm, khi tôi không thể chợp mắt và không hiểu nổi rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra và tại sao lại như thế. Tôi chỉ cảm thấy có điều gì đó vô cùng gần gũi với chị. Tôi muốn đến tiệm giặt làm chung với chị. Chỉ hai chúng ta thôi. Lúc nào tôi cũng mang theo những mảnh giấy dặn dò của chị trong túi và lấy ra đọc đi đọc lại. Tôi muốn chị hiểu rằng tôi trân trọng từng câu, từng chữ chị viết và thậm chí, ngưỡng mộ cả những điều chị không viết. Mọi người trong kibbutz bàn tán về chúng tôi. Họ ngạc nhiên về Boaz. Họ nói tôi chỉ tình cờ đi ngang, cúi xuống và lôi anh ấy ra khỏi tay chị. Còn Boaz thì đâu quan tâm đến chuyện gì khác ngoài căn nhà để đi về mỗi ngày và chiếc giường để ngủ mỗi đêm. Hôm nọ, khi đến gần văn phòng, Roni Shindlin nháy mắt với tôi, cười toe toét và bảo: Thế nào, nàng Mona Lisa, chân nhân vẫn bất lộ tướng chứ hả? Tôi nín lặng và bỏ đi, lòng xấu hổ vô cùng. Rồi tôi về nhà và khóc. Có những đêm sau khi Boaz ngủ say, tôi lại khóc một mình, không phải và không chỉ vì anh ấy, mà vì tôi và chị. Có lẽ một chuyện gì đó rất tệ hại đã xảy ra với cả hai chúng ta mà không thể cứu vãn được. Thỉnh thoảng, tôi hỏi anh ấy: Cái gì vậy Boaz? Và nhận được câu trả lời: Có gì đâu. Tôi bị hút vào cái sự trống rỗng ấy – như thể anh ấy chẳng có gì để nói cả, hệt như anh ấy được sinh ra từ sa mạc cô đơn. Nhưng mà, tại sao tôi lại kể với chị mấy chuyện này nhỉ? Tôi biết chị sẽ buồn khi nghe vậy và tôi không bao giờ muốn khoét sâu thêm nỗi đau của chị. Ngược lại, tôi chỉ muốn chia sẻ với chị nỗi cô đơn khi cố gắng hiểu anh ấy thêm một chút. Hình như sáng nay, lúc anh ấy đang ngủ say, cuộn người lại như em bé nằm trong bụng mẹ, con chó nằm dưới chân còn con mèo đang nằm trên bàn, đôi mắt vàng vàng của ảnh vẫn dõi theo đôi tay tôi đang viết không ngừng dưới ánh đèn bàn. Tôi biết việc này là vô nghĩa. Tôi biết mình phải ngừng viết, thậm chí, chị sẽ không muốn đọc bức thư dài tận bốn trang này. Có lẽ chị sẽ xé và ném nó đi. Có lẽ chị sẽ nghĩ rằng tôi mất trí rồi mà đúng là thế thật. Chúng ta có thể gặp nhau nói chuyện được không? Không phải về chế độ ăn uống hay thuốc thang cho Boaz. (Tôi thật sự đã cố gắng nhắc nhở anh ấy đừng quên. Tôi đã cố, nhưng không phải lúc nào cũng được. Chị biết cái tính cứng đầu của Boaz mà, hình như anh ấy nghĩ nó không cần thiết hay đúng hơn là chẳng quan tâm.) Chúng ta có thể trò chuyện về những thứ khác nhau, như các mùa trong năm hay thậm chí bầu trời đêm đầy sao vào những tối mùa hè này. Tôi rất thích tìm hiểu về các vì sao và tinh vân. Có lẽ chị cũng thế chăng. Tôi sẽ chờ thư hồi âm và mong chị sẽ chia sẻ với tôi chị đang nghĩ gì, Osnat ạ. Chỉ hai từ thôi. Tôi đợi. Ariella B.

Osnat để lá thư nằm chờ trong hộp. Cô quyết định không trả lời. Cô đọc nó hai lần, gấp lại rồi bỏ vào ngăn kéo. Lúc này, Osnat đứng lặng thinh, nhìn ra ngoài cửa sổ. Ba con mèo đang ở bên hàng rào: một con bận nhay nhay cái chân; một con sà thấp người xuống đất hoặc cũng có thể đang lơ mơ gật gù nhưng đôi tai vẫn lay lay một cách đầy cảnh giác, như thể luôn sẵn sàng đón bắt mọi âm thanh mong manh nhất; còn con thứ ba đang rượt theo cái đuôi, xoay mòng mòng và nhẹ nhàng nằm ngửa ra vì nó còn quá nhỏ. Một cơn gió dịu dàng thoáng qua, chỉ vừa đủ làm nguội tách trà. Osnat rời khung cửa sổ, ngồi xuống ghế sofa, thẳng lưng, đặt hai tay lên đầu gối và nhắm mắt lại. Buổi tối sẽ sớm đến thôi, Osnat sẽ thưởng thức nhạc trên đài và đọc một cuốn sách. Sau đó, cô thay quần áo, gấp bộ đồ mặc nhà lại gọn gàng, sắp sẵn quần áo đi làm ngày mai, leo lên giường và chìm vào giấc ngủ. Kể từ hôm nay, giấc ngủ của cô sẽ thôi mộng mị. Và cô sẽ thức dậy trước khi báo thức reo. Những chú chim bồ câu sẽ đánh thức cô.

Hết.

Phương Hạ dịch

Ảnh đầu bài: Vô đề, Pinchas Abramovich | Photo © The Israel Museum, Jerusalem

Nguyên tác Two Woman, Amos Oz đăng trên tạp chí Harper’s.

Chú thích:

  1. Kibbutz (tiếng Do Thái) là một cộng đồng nông thôn độc nhất vô nhị trên thế giới hiện vẫn còn tồn tại ở Israel, một hệ thống kinh tế xã hội dựa trên nguyên tắc sở hữu chung tài sản, bình đẳng và hợp tác trong mọi mặt của đời sống; thực hiện lý tưởng một xã hội công bằng – nguồn: Thạc sĩ Trần Thị Thu Hương, IAMES.

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!