Nối kết với chúng tôi

Sáng tác

Truyện ngắn: Người mẹ trong công viên (Emmanuelle Pagano)

Published

on

Vào những ngày Chủ nhật, tôi luôn muốn kéo mẹ ra công viên chơi. Mẹ lại thích đến bờ sông hơn nhưng không phải để đi tắm nắng mà là kiếm nơi nào đó ít người lai vãng. Những chốn bình yên. Tôi thì ngược lại, chỉ muốn mở trận đá banh với lũ bạn. Đối với mẹ, chốn thanh bình là nơi bà có thể yên lặng đọc sách. Bà chưa bao giờ chơi đùa với tôi, thảng hoặc mới nói vài câu và cũng chẳng mấy khi ra lời với người khác trừ khi cần thiết hoặc nói chuyện với đám con. Tôi là đứa út ít trong ba cậu nhóc – những cậu bé con đang tuổi ăn tuổi quậy.

Mẹ không thích công viên vì ở đấy đông người, nhưng thực ra không chỉ vì vậy, cũng chẳng phải vì bà muốn ở một mình mà bởi những người ở công viên này nhếch nhác hơn ở nơi khác. Họ lấm lem, hơi thở khò khè, thơ thơ thẩn thẩn và hay quấy rầy dai dẳng. Tất cả đều nghèo rớt mùng tơi, nghèo tới mức chẳng có nổi tấm bằng lái chứ chưa nói gì đến xe hơi. Cứ đến ngày chủ nhật, họ lại dạt về công viên, xúm xít quanh gốc cây chanh sừng sững, bao quanh là những băng ghế nguệch ngoạc hình vẽ graffiti. Trên các băng ghế gỗ chằng chịt những dòng chữ sai lỗi chính tả nhưng trên lớp vỏ cây cứng cáp thì tuyệt không thấy gì. Đám trẻ hiếu động rượt nhau chạy vòng quanh ghế, nhảy tót lên rồi chui xuống lăn lộn dưới gầm. Tôi rất muốn nhập hội với chúng, còn mẹ thì muốn tôi vui nên bà chiều lòng đưa tôi ra đây, bỏ lại cái êm đềm của dòng sông, âm thanh dịu dàng, đều đều của làn gió, tiếng sột soạt của những trang sách giở ra và âm thanh cô đơn của những trận đá banh một-cầu-thủ. Kết quả chung cuộc, mẹ lúc nào cũng nhượng bộ gật đầu. Mẹ sẽ ngồi dưới tán cây, tay ôm quyển sách mà bà biết rằng chẳng đời nào đọc nổi giữa không khí chộn rộn này, nhưng bà hạnh phúc khi thấy tôi cười ngoác miệng và nhiệt tình nhập hội với đám bạn.

Chủ nhật hôm ấy, bọn trẻ ra công viên khá đông. Chúng chơi đùa dưới sự giám sát của những ông bố bà mẹ đầy vẻ nghi ngại. Nhưng dưới tán cây chanh, vẫn có vài người trẻ tuổi hơn không dắt theo trẻ nhỏ, họ nằm ườn trên ghế, đánh một giấc ngon lành từ khuya hôm trước đến tận trưa hôm sau, dùng chân canh chừng chú chó cưng và những lon bia. Tôi có thể nhận ra cái nhìn dè dặt, sợ sệt trên khuôn mặt mẹ khi bà cố tìm chỗ ngồi càng xa họ càng tốt. Trong số đó, có một người thức giấc, với vẻ chán nản và sầu đời đã bắt chuyện với mẹ. Bà đáp trả với cung cách lịch sự, rằng bà muốn đọc sách và bắt đầu mở sách ra đọc thật. Mẹ giục tôi lấy banh ra khỏi giỏ (một trái bóng rổ và một trái bóng đá) rồi đi làm quen với những bạn khác. Chẳng khác gì tôi, chúng cũng đang ôm một mớ banh và háo hức tìm “đồng đội”. Nhưng tôi muốn nói chuyện với Jérémie hơn. Bác ấy vừa mới tự giới thiệu và chìa đôi tay rám nắng ra, nhờ vậy tôi mới biết tên bác. Bác đang tìm đứa con trạc tuổi anh tôi (bác nói với mẹ: Cô biết không, con tôi cũng lớn cỡ thằng bé nhà cô) và mẹ đã tìm được nó. Trông bác Jérémie có vẻ tử tế và thận trọng. Nhưng nếu bác muốn “đá lông nheo” với mẹ thì dứt khoát phải bước qua ải của tôi đã. Bác bắt đầu giải thích cho tôi về những kiểu rê bóng, chuyền bóng, tất tần tật về bóng đá và bóng rổ, thậm chí rất nhiều thứ chẳng “dây mơ rễ má” gì tới hai món này, chẳng hạn như thể thao sẽ dạy cho ta nhiều bài học về cuộc sống: lòng vị tha, tinh thần đồng đội, chơi đẹp, tuân thủ đúng luật, biết sống hòa đồng với người khác. Bác còn tâm sự với tôi về chuyện đời, về quãng đời đã qua với tấm bằng nghiên cứu thể thao bị xếp xó, về công việc của một huấn luyện viên nhiều môn thể thao và những vấn đề ngổn ngang. Tôi dám chắc rằng thật ra, bác đang kể những chuyện này cho mẹ tôi nghe chứ chẳng phải nói với tôi, nhưng chỉ sau mấy phút, bác đã trở thành ông bạn già chí thân của tôi ở chốn công viên này.

Mẹ vẫn cố chăm chú vào cuốn sách, thỉnh thoảng, bà thoáng liếc qua trông chừng tôi, thật nhanh và kín đáo để Jérémie không tài nào bắt được ánh mắt của mẹ. Nhưng mỗi lần chạm được ánh mắt đó, bác liền bắt đầu tung ra hàng tá lời khen có cánh về đôi mắt xanh của bà. Đôi mắt mà tôi may mắn được thừa hưởng. Một màu xanh thuần khiết, trong trẻo hơn cả dòng sông ngày nắng ấm, thăm thẳm hơn cả nền trời ngày không gợn áng mây. Đôi mắt sáng thắp sáng khuôn mặt có tuổi vốn đã nhuốm màu thời gian và phiền muộn của bà. Chút cảm giác đố kỵ dấy lên trong lòng tôi nhưng chỉ một chút thôi, vì tôi biết mẹ thương tôi nhất. Tôi biết người đàn ông ấy chẳng đời nào có cơ hội lại gần mẹ. Và tôi tận dụng triệt để sự cô đơn đó để chơi đùa với bác. Vì mẹ có bao giờ muốn chơi với tôi đâu.

Mẹ đã dùng hết kiên nhẫn cho anh chị của tôi nên tôi không nghĩ bà có thể chịu nổi bất kỳ trận bóng nào nữa. Bà chỉ muốn đắm chìm vào những trang sách và đi bộ. Mẹ thích ở bên cạnh tôi, thả bộ cùng với tôi. Mẹ thương tôi. Chỉ là mẹ không ưa thành phố này, không thích những con người thành thị, những con đường và công viên nhếch nhác. Vốn là con gái nông thôn, mẹ luôn tâm sự rằng hy vọng có một lúc nào đó được về thăm quê, trong khi chị em tôi lại bí xị vì chúng tôi thích ở đây hơn, nơi có nhiều cửa hàng và khu phố sầm uất, những cột bóng rổ và khung thành. Theo lời mẹ kể, anh trai tôi từng sống ở một thị trấn thậm chí còn to hơn nữa, một vùng đất trong mơ hay một chốn thần tiên.

Hồi còn bé, mẹ không chơi những trò chơi như chúng tôi bây giờ. Mẹ dành cả ngày mơ mộng dưới gốc cây, mê mải ghép tranh không biết chán, mẹ vẽ và đọc biết bao nhiêu sách. Mẹ sống một mình với ông ngoại ở một nơi xa xôi hẻo lánh, cách chỗ bà ngoại đến mấy tiếng đồng hồ đi đường. Nơi ấy xa lánh chốn thành thị lao xao đến mức bạn có thể biết được lúc nào có người hàng xóm đang đi qua chỉ bằng cách lắng nghe tiếng chân họ bước trên tuyết, đếm từng bước chân – một âm thanh khô, đanh, lạnh lẽo giữa không gian thinh lặng. Mẹ từng nói trên đời này không hề có sự im lặng tuyệt đối mà lúc nào cũng tồn tại những âm thanh tí hon, bị giấu đi và hiếm có thể nhận ra. Mẹ là chuyên gia trong việc cảm nhận những thứ không thể cảm nhận ấy. Toàn bộ tuổi thơ của bà được làm nên từ đó. Mẹ có đôi tay đỏ ửng, nhăn nheo trước tuổi, cứ như thể bà từng là lao công, là công nhân hay nông dân, dù thực tế bà chưa từng làm bất kỳ việc nào trong số đó. Chỉ là bà hiếm khi để mắt săn sóc bản thân, đôi tay, gương mặt, hay mọi thứ liên quan đến dung nhan của mình, bà vô tình đến mức có chút lạ kỳ, như thể mẹ muốn người ta nghĩ rằng mình là một người nào khác. Tôi chăm chú nhìn đôi tay đang cầm quyển sách của mẹ nên bỏ lỡ cú chuyền bóng của bác Jérémie. Chú chó nhỏ của bác bắt đầu sủa vang và nhảy lòng vòng một cách đầy phấn khích.

Sự thiếu tập trung của tôi càng khiến chú chó nhỏ hứng chí, cứ như thể mỗi lần đá hụt của tôi đã chạm vào nút bấm của chiếc điều khiển từ xa có liên kết với thân hình bé nhỏ của chú. Chú chó cắm cúi rượt theo trái bóng bị văng ra với sự ồn ào dư thừa năng lượng. Tôi cũng mải chạy theo sinh vật tí hon tràn trề niềm vui ấy mà quên bẵng mẹ trong chốc lát. Nhưng khi bác Jérémie kể rằng ngày hôm qua, chú chó này đã đánh hơi được mùi của cáo trong thùng rác, tôi liền quay sang mẹ, nở một nụ cười “ẩn ý”. Hồi còn nhỏ, mẹ đã dùng tay không kết liễu một chú cáo để chấm dứt sự đau đớn mà nó phải chịu. Mẹ vẫn thường kể cho chúng tôi nghe về kỷ niệm đó và chúng tôi cũng thường đòi mẹ kể đi kể lại. Có lẽ đối với tôi, việc con cáo có thể đi lạc vào thành phố là một sự kiện khác thường nhưng câu chuyện đó giống như một cách làm lành với mẹ. Mẹ nhìn tôi, cười đáp lại nhưng đưa ngón tay lên miệng, ra dấu tôi nên giữ bí mật của mấy mẹ con. Tôi cũng cảm thấy nên vậy. Mẹ lấy trong giỏ ra một gói bánh snack. Mẹ chưa bao giờ quên mang theo bánh, nước hay sách. Và cả những trái bóng cho tôi nữa.

Tôi chạy lại ngồi cạnh mẹ, và bác Jérémie nỗ lực thêm lần cuối những mong xin được số điện thoại của bà. Bác đưa cho chúng tôi một thùng nước ép táo rồi cuối cùng tạm biệt chúng tôi. Bác đánh thức những người bạn và huýt sáo gọi mấy con chó. Họ đều rời khỏi công viên mà không đóng cổng. Khi họ đi khỏi, một chú chó khác lại đến. Nó có bộ lông trắng, trông có vẻ già nua và đôi chân sau đi khập khiễng. Dù tiếng sủa của nó chẳng ồn ào nhặng xị như mấy cậu chó choai choai nhưng điều đó không ngăn nó nhiệt tình rượt theo trái banh của tôi. Tôi đã ăn xong miếng bánh và mẹ lại cầm sách lên.

Hết.

Phương Hạ dịch

Nguyên tác Mum at the Park (Emmaneulle Pagano), đăng tại Literary Hub.

*

Về tác giả: Emmanuelle Pagano là một tác giả người Pháp. Cô đã viết khá nhiều tác phẩm, trong đó có một số tiểu thuyết đã được dịch ra hơn mười thứ tiếng. Cô đạt được nhiều giải thưởng trong văn nghiệp của mình, gần đây nhất là giải thưởng EU về Văn học với tác phẩm Les Adolescents Troglodytes và giải Tiểu thuyết về đề tài sinh thái học của Pháp.

Mum at the Park (tạm dịch Người mẹ trong công viên) là một truyện ngắn nằm trong tuyển tập Faces on the Tip of My Tongue, quyển sách thứ hai của Emmanuelle được dịch sang tiếng Anh, do Sophie Lewis và Jennifer Higgins chuyển ngữ, nhà xuất bản Peirene Press phát hành.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Sáng tác

Truyện ngắn: Ngôn ngữ tình yêu (Nicolette Polek)

Published

on

Biba ngọ nguậy trên ghế máy bay, thả hồn theo điệu nhạc phát ra từ tai nghe. Cô không thể tránh khỏi cảm giác ngứa ngáy do vỏ bọc cọ vào tai và không khí mát mẻ len lỏi vào trong. Mỗi lần khỏi bất cứ nơi nào, Biba luôn thấy lòng mênh mang khó tả, cứ như thể cô sẽ vĩnh viễn rời xa nơi ấy.

Người hành khách ngồi cạnh Biba đeo một chuỗi hạt vàng to, rực rỡ và đang lầm rầm cầu nguyện. Cô cầu cho chuyến bay thượng lộ bình an và tiện thể, xin cho ông chồng cùng với gã nghệ sĩ dương cầm ngớ ngẩn đã dụ dỗ ông đi, đều sớm ngày… xuống lỗ. Trong khoảng thời gian tĩnh lặng hơn một chút của chuyến bay, cô quay ra phía ô cửa sổ bé xíu, thì thầm với những người ở dưới đất rằng họ sẽ sớm phải nếm mùi cay đắng.

Một tiếp viên trông có vẻ mũm mĩm và dễ chịu y như một cô bảo mẫu, hay một thanh xúc xích. Cô bước ra giữa lối đi để thông báo gì đó. Sự hỗn loạn trên chiếc máy bay chật chội khiến bụng của Biba đau nhói. Cô cần một viên thuốc an thần và một nụ hôn.

Cô tiếp viên thì thầm qua chiếc loa: “Chúng ta bay lạc rồi.” Câu nói đó quét qua khuôn mặt của tất cả mọi người nhiều biểu cảm khác nhau. Cô gái tiếp tục giải thích rằng phi công “chưa bao giờ nhìn thấy nơi này”, theo hệ thống định vị, chúng ta đang bay qua “một nơi mà hiện không còn ở đó nữa.”

Biba vươn vai ngó ra ngoài. Mây giăng đầy trời và đây đó có những mảng xám như mảnh vá. Cô nhún vai, nói với người phụ nữ đeo chuỗi hạt vàng:

- Tôi thấy có gì khác lạ đâu.

Lúc này, một số tiếp viên khác mặc đồng phục nghiêm trang, trông có vẻ không thoải mái như người ban nãy, đang đi khắp máy bay để nhắc nhở mọi người cách đeo mặt nạ dưỡng khí và tuyệt đối không nhìn ra cửa sổ.

Khung cảnh mây và núi trông thật đơn sơ và thân thuộc.

Giọng người phi công bắt đầu cất lên qua bộ truyền thanh. Anh cố kể vài câu chuyện tếu táo và hỏi han, gợi chuyện cho hành khách tám với nhau. “Anh chị thích ăn món gì?”, “Mọi người thích đi nghỉ ở nơi nào?” Biba thầm trả lời tất cả câu hỏi đó trong trí óc. Chúng làm đầu óc cô dịu lại. Cô cảm giác mình hoàn toàn có thể ra đi thanh thản như thế này. Người phụ nữ đeo chuỗi hạt vàng rít lên giận dữ với một gia đình ngồi ở băng ghế trên, sau đó, cô bắt đầu thở gấp. Bên ngoài, bầu trời dần ngả sang sắc đỏ rực rỡ và những đám mây biến thành những quả cầu bạc óng ánh. Dường như máy bay đang bay chậm lại, tựa hồ đang xuyên qua thứ gì đó dày đặc. Một cảm giác kỳ quặc lan tỏa khắp cabin như một cơn đau mình.

Sau một tiếng đồng hồ, giọng của những người tiếp viên the thé vang lên. Đôi mày của họ chau lại, lộ vẻ hãi hùng. Họ tụ tập ở đuôi máy bay, lôi những chai slivovitz ra từ sau tấm màn đen. Một người đàn ông nước mắt lưng tròng liền nhập hội. Người phụ nữ đeo chuỗi hạt vàng cũng nối gót theo sau. Vừa hớp rượu, họ vừa nhìn chằm chằm vào vùng đất mơ hồ và đáng sợ như địa ngục bên dưới. Cảm giác hoang mang tột độ trong mỗi người càng bị khích động. Miệng họ nguyền rủa liên hồi. Họ uống bạo đến mức những chiếc chai thủy tinh rỗng mau chóng rải rác khắp mặt sàn. Bên ngoài, trời tối sầm lại, mấy đám mây bừng lên ánh lửa. Một âm thanh rùng rợn quét qua máy bay.

Cuối cùng, một hành khách tình cờ mở được cửa hầm thoát hiểm nhỏ xíu. Hệt như một trò đùa. Nhưng dù sao đi nữa cũng có chỗ leo xuống. Các hành khách khác lần lượt thoát thân, từng người, từng người một.

Sau một lúc, khoang hành khách vắng tanh, chỉ còn lại anh phi công, Biba và từng cơn gió rít.

*

“Cô thích loại nhạc nào?” anh cất tiếng hỏi. Biba cảm thấy người sốt lên. Chàng phi công bật một bản nhạc của Strauss. Giai điệu du dương tràn qua loa phát thanh.

“Nếu được, ngay lúc này cô ước mình đang ngồi ở đâu?” anh lại hỏi.

“Nếu được trở thành một người trong thư viện, cô sẽ là ai?” chàng trai hỏi tiếp.

Biba ngắc ngứ trong miệng. Cô cũng muốn hỏi chuyện người phi công.

Anh lại cất tiếng: “Cô nghe tôi nói chứ?”

Biba ước gì cô có thể đứng dậy, bước tới và ngồi xuống bên cạnh người phi công. Nhưng cô không nhấc người lên nổi. Hình như anh ấy đang bước lại gần hơn nhưng rồi vĩnh viễn đứng yên một chỗ.

Liệu anh có cảm nhận rằng cô còn ngồi trong máy bay với anh? Rằng cô còn bị mắc kẹt đâu đó? Cô tự hỏi mỗi khi máy bay cất cánh, anh có nghĩ đến gia đình, đến Chúa hay người thương chăng. Rồi cô lại băn khoăn anh có nuôi thú cưng không, nó sẽ chào đón anh bằng niềm vui khôn tả. Và anh có luôn để cửa mở để chờ người đi xa trở về?

“Khi chúng ta hạ cánh thì sẽ thế nào nhỉ?”

Em sẽ nắm tay anh và chúng ta thoát khỏi chiếc máy bay này - Biba thầm nghĩ.

Ga cuối là một căn phòng trống hoác, có mùi tựa như một chiếc găng tay. Một cậu bé thiếp đi trên chiếc ghế đỏ. Chúng ta sẽ bước vào xe hơi của anh và lái đi giữa trời mưa tầm tã. Chúng ta ngồi bên nhau. Không ai nói một lời. Cũng chẳng cần nhìn nhau. Anh sẽ đỗ xe bên bờ biển. Đó là điều dịu dàng nhất trên thế gian này.

Cô dựa sâu vào ghế.

Lâu thật lâu, cô lại nghe thấy giọng anh. Thật nhẹ nhàng, và lần này, Biba còn nghe thấy tiếng bước chân.

Bên ngoài, một rừng cây chanh.

Hết.

Phương Hạ dịch.

Nguyên tác được thực hiện bởi Nicolette Polek, đăng tại Literary Hub.
Ảnh đầu bài: The Kiss, Gustav Klimt.

Câu chuyện “Love Language” (Tạm dịch Ngôn ngữ tình yêu) được trích từ tuyển tập Imaginary Museums của Nicolette Polek. Nicolette Polek là nhà văn người Cleveland, Ohio. Năm 2019, cô được nhận giải thưởng nhà văn của Rona Jaffe Foundation.

Đọc bài viết

Sáng tác

Thơ: tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế (Vũ Lập Nhật)

tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế, để đốt cháy sự tồn tại của câu thơ này

Published

on

tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế
không phải để cất nó vào câu thơ
trong bài thơ tôi dự định sẽ viết
khi về nhà hoặc không về nhà
mỗi dòng thơ như một điếu thuốc
đầu lọc thuốc ở lề trái

phần để đốt cháy nằm cách lề phải vài phân
như mặt trời chỉ cách đám mây che mờ nó
một hay vài phép tu từ
rằng mây là rổ đựng trái cây màu trắng
trong đó đủ cam, đỏ, tím, vàng
khi buồn chán anh có thể chọn quả chuối
làm phép ẩn dụ cho mặt trời
dù rằng cam hay táo
trông có vẻ thích hợp hơn
khi ta lật ngược bài thơ này
nhìn nó từ phía sau
đầu lọc thuốc ở lề phải

phần để đốt cháy nằm cách lề trái vài phân
khi tôi đọc câu thơ này lên
làm sao diễn tả được sự dịch chuyển của nó từ phải sang trái
khi những câu thơ ở khổ trên
đã đi theo chiều hướng ngược lại
từ trái sang phải
những chữ cái nối đuôi nhau về một phía
và dấu thanh trong tiếng Việt trôi lơ lửng bên trên
nếu được dịch sang tiếng Anh
lịch sử tồn tại của chúng sẽ biến mất
giọng đọc tôi khi ấy
làm sao thể hiện được nỗi buồn
từ những dòng chữ bơ vơ chờ dấu thanh quay trở lại
liệu tôi có nên lên cao hay hạ giọng
để thể hiện sự tròng trành
như con thuyền lắc lư
giữa câu thơ này và câu thơ kia
là những điếu thuốc không thể xếp bằng nhau
điếu này tôi hút ở câu đầu tiên
điếu kia khởi sự từ khổ thứ hai
trang giấy là chiếc gạt tàn
ôm áp câu thơ đã hóa thành tro
làm sao cơ thể tôi biểu hiện được cái chết ấy
như một tấm bảng thông báo sự thật
rằng ngay khi một câu thơ chạy thoát sự giam cầm
từ đầu tôi để đáp xuống trang giấy
cũng là lúc nó đã chết đi
rằng tiếng phát ra từ mỗi đầu ngón tay
gõ mạnh hay không mạnh vào những ô chữ
cũng là lúc từng chiếc đinh đã được đóng
xuống nắp quan tài
chôn cất những điều có nhiều hơn một khả thể

tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế
để đốt cháy sự tồn tại của câu thơ này
cả lịch sử, hữu thể, và khả thể nó sản sinh
cho bài thơ tôi dự định sẽ viết
khi về nhà hoặc không về nhà

Hết.

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Sáng tác

Thơ: dấu hiệu kết thúc (Vũ Lập Nhật)

Published

on

khi một bộ phim về nỗi buồn kết thúc

những người tạo tác nó hiện ra dưới những cái tên

như trong chứng minh nhân dân của họ

qua những con chữ bò từ chỗ giá sách vừa tầm tay ta

lên trần nhà cao chót vót đôi khi họa may có vài con thằn lằn

cũng giống như cách một bộ phim về niềm vui sẽ kết thúc

nhưng trái ngược với chiều chuyển động

khi ta ngắm hoàng hôn rồi nhìn xuống đôi chân mình

bầu trời những lúc ấy luôn trong vắt

như cốc nước cam lọc hạt cẩn thận

hay ruột dưa hấu loại sạch hạt đen

vốn không cần thiết như trên lông loài chó đốm

mà nếu không tồn tại chúng đã là chó lông trắng

ta khạc những hạt cam, hạt dưa hay hạt của bất kì loại quả nào

xuống ngay hai bàn chân đang giúp ta đứng trên mặt đất

như để xua đuổi những nguy cơ

về sức khỏe, bản ngã, nỗi buồn và cả niềm vui

trong khi lẽ ra ta có thể dịch điểm kết thúc của chúng thêm vài phân

xuống đất nơi chúng sẽ cho ra những khả thể mới

thay vì xuống chân ta nơi khó xảy ra thêm diễn biến đột phá nào

nhưng biết sao được khi những đám mây cũng phân biệt màu sắc

vào một số buổi chiều, chúng truyền nhau tín hiệu ngày tàn

rồi bay đi mất

để lại ta hoàng hôn thuần túy cam hoặc đỏ không có những chuyển sắc

đôi khi là xanh ngọc lục

dù sao cũng không quan trọng

tất cả rồi sẽ sớm trở về màu bóng đêm

Hết.

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Cafe sáng