Nối kết với chúng tôi

Sáng tác

Truyện ngắn: Những người của biển

Published

on

Bão tới. Mới hơn sáu giờ chiều mà trời tối thui. Trong căn nhà cấp bốn lụp xụp nằm gần cạnh bờ biển, hai mẹ con dì Tư ngồi ăn cơm dưới ngọn đèn dầu leo lắt đang chực tắt. Dì Tư lọ mọ lừa mấy miếng xương cá để riêng ra mâm, rồi gắp khúc cá đã sạch xương bỏ vào chén thằng Ghe, biểu nó ăn. Thằng Ghe lấy cái muỗng múc miếng nước mắm ớt thiệt cay chan vào chén rồi đưa khúc cá lên miệng ăn ngon lành, lâu lâu nó lại hỏi, “Hông biết tới khi nào mới có điện lại, má ha!” Dì Tư không nói gì. Qua cái cửa sổ nhỏ bị hư chốt, dì Tư nhìn sang nhà mấy người hàng xóm. Nhà nào nhà nấy cũng tối thui. Có nhà xịn hơn mua được mấy cây đèn sạc điện, bây giờ lấy ra xài cũng coi như có chút ánh sáng.

Ở cái xóm này, hầu như nhà ai cũng đều câu điện lại từ nhà ông Tám. Giờ nhà ổng cúp điện thì cả xóm coi như cũng không có điện xài. Cũng trách sao cái đường dây điện nhà ông Tám cứ hay bị chập mạch mỗi lần trời mưa gió bão bùng, mà cũng trách cả xóm này nghèo quá, nhà nào nhà nấy đều nằm san sát nhau gần bờ biển, ngay cả tiền để ăn sang một bữa lẩu bò ngoài phố chợ còn không có, lấy đâu ra tiền để bắt điện từ công ty điện lực.

Ngoài trời, mấy hàng dừa nối dài đứng phe phẩy trước gió nhìn như những hồn ma ai đó hiện về. Gió thổi một rít hơn, còn mưa thì xối xả, cọ xát với cái mái tôn cũ nghe điếc cả tai. Trong những âm thanh hỗn loạn và đảo điên của cơn bão, dì Tư nhìn xa xăm ra ngoài, thấy biển và trời đều một màu đen thẫm.

*

Bão tan. Bốn giờ rưỡi sáng, dì Tư thức dậy, ra sau bếp chẻ mấy cọng ngo rồi bỏ than nhóm lửa. Còn ít gạo trong khạp, dì Tư định nấu một nồi cháo trắng, để dành ăn cả ngày với mấy con cá cơm ram sẵn còn dư. Trong lúc ngồi chờ gạo nở, dì Tư đi lên bàn thờ, thắp cho dượng Tư cây nhang, cũng không quên sửa lại mấy cành bông cúc ở trong bình cho ngay ngắn. Trên tấm ván ép bị nứt một đường dài ở mặt ván, thằng Ghe nằm ngủ chèo queo, nhìn nó như mấy con cá khô mà người ta vẫn thường hay treo tòn ten ở ngoài chợ. Dì Tư tới lấy mền đắp lên người cho nó. Bão tan, nhưng mà trời vẫn lạnh.

Trời sáng hơn, dì Tư chạy ra làng chài, nhìn ngó xung quanh mà không thấy ghe thuyền nào vô bờ hết. Đúng rồi. Mấy nay bão to, biển động mạnh, nhiều nhà đều sợ không dám đi. Có mấy ghe lớn hơn của nhà bà Phước, ông Hạp được đóng ráp chắc chắn, trang bị nhiều máy móc hiện đại thì may ra còn dám ra khơi, nhưng mà bao nhiêu thứ đánh bắt được thì mấy người đó đều đem lên chợ trên. Lên trên đó trả tiền cho nhân công giá rẻ hơn, mà bán cho mấy thương lái cũng được giá cao hơn nữa.

Biển đục ngầu. Những con cá lèo tèo đã chết khô dưới cát từ bao giờ, nay nhờ có bão thổi bay lớp cát mà được dịp trồi mặt lên, nhìn quê hương xứ sở của nó cho thỏa con mắt của những kẻ thèm khát biển khơi. Bờ biển vắng lặng, xung quanh chỉ lác đác vài ba người đến rồi đi trong cái nhìn tràn đầy thất vọng. Họ cũng là những người như dì Tư, sống leo lắt từng ngày như ngọn đèn dầu bám trụ vào ngọn lửa biển khơi. Thường thì cứ đúng bốn, năm giờ sáng, họ lại tập trung ở làng chài để đợi ghe thuyền vào, thi nhau mà cạy sò, cạy ốc… để có cái giao cho thương lái. Cứ mỗi kí sò hay ốc cạy được thì họ sẽ được trả một khoản tiền nhỏ, cứ đó mà nhân lên. Vậy nên ai cũng ráng mà cạy cho thiệt nhiều, dù cũng có lúc bị vỏ ốc đâm vào tay chảy máu hay chính con dao cạy đó vô tình cứa vào cổ tay. Có mấy người thương lái tới mua sò, hỏi, “Bộ ngày nào cũng cạy sò như vậy mà không ngán hả?”. Mỗi lần nghe câu đó, dì Tư cười ngọt sớt, “Ngán chớ sao hông, mà cũng phải ráng thôi. Hông cạy thì tiền đâu mà ăn?” Ừ, không cạy thì tiền đâu mà ăn, bởi vì đây là công việc của những người phụ nữ nghèo ở cái xứ biển quanh năm mặn chát này mà, họ nghĩ. Rồi hôm nay thể nào cũng đói, may mà còn có nồi cháo trắng nêm thật nhiều muối vừa mới nấu ở nhà…

*

Trời xanh. Thằng Ghe ùa ra tắm biển cùng với mấy đứa nhỏ trong xóm, đứa nào cũng ốm nhom ốm nhách như khúc củi khô. Tụi nó dân biển, từ lúc sinh ra tới giờ đã quen lăn lộn với nắng gió duyên hải nên làn da tất nhiên là rám nắng, hoặc không muốn nói là đen thùi lùi. Niềm vui mỗi ngày của tụi nó là đi tắm biển, đi ra làng chờ người ta nướng sò để xin ăn chực, thi thoảng chạy ra chợ coi kịch hát, lô tô. Trong đám con nít xứ biển ấy, ít có đứa nào được học hành tử tế. Đa phần tụi nó đều đi học giữa chừng rồi nghỉ học, còn không là vẫn chưa biết mùi vị trường lớp là thế nào. Có nhiều lần mấy anh chị công tác tư tưởng ở địa phương xuống tận nhà để vận động, khuyến khích phụ huynh cho con em đi học, nhưng rồi kết quả cũng chẳng đâu vào đâu, vì ba mẹ tụi nó thì làm gì có tiền. Thành ra cứ hết lớp con nít này tới lớp con nít khác, tụi nó sống và lớn lên như những con thuyền không dây neo, cứ trôi lênh đênh giữa biển đời mênh mông vô định. “Mà trách ai đây, hoàn cảnh mà…”

Mấy hôm cạy sò được nhiều tiền, dì Tư dắt thằng Ghe ra chợ, kêu cho nó tô bún mắm nêm nhiều chả với thịt. Nghe tới được ăn ngon, thằng Ghe khoái lắm, nhưng nó còn hỏi lại cho chắc, “Thiệt hả má?” Dì Tư ờ một cái, “Thì lâu lâu má dắt mày ăn sang một bữa, chứ để mày ốm tong teo như xì ke vầy, sau này ai lấy mày?” Nghe tới ba cái chuyện này, thằng Ghe tít mắt cười ngặt nghẽo, để lộ cái răng sữa vừa bị gãy do hôm qua ngồi gặm càng ghẹ bà Ba cho.

Trong cái quầy bún mắm ruồi bu nhặng xị, dì Tư nhìn thằng Ghe ăn ngon lành. Lâu lắm rồi, cũng không biết là khi nào, thằng Ghe mới được ăn lại tô bún sang như vậy. Thiệt ra nó cũng không biết sang với không sang là như thế nào, nó chỉ biết là hôm nay nó đã được ăn một thứ rất là ngon, khác với mấy bữa cơm chỉ có le que vài ba cọng rau với mấy con cá kho mà má nó mua ở cuối chợ chiều.

Lúc chờ thằng Ghe ăn xong tô bún, dì Tư nhìn thấy một nhóm học trò đi ngang qua chợ. Tụi nhỏ ghé vào một hàng văn phòng phẩm, tìm tìm mua mua cái gì đó. Nhìn đứa nào cũng cao ráo sáng sủa, mà lại còn rất là trí thức. Dì Tư trộm nghĩ, rồi lại chợt ngó sang thằng Ghe. Nếu mà thằng Ghe được đi học đàng hoàng tử tế như con người ta, thì sao?

Tối đó trời nóng, ăn cơm xong, dì Tư rinh cái ghế bố ở trong nhà ra ngoài bãi biển, cốt để nằm ngả lưng một chút rồi đi vào đan cho xong tấm lưới. Ngoài mấy lúc đi làm công nhật, dì Tư cũng hay ở nhà ngồi đan lưới để giao cho mấy chủ ghe. Hễ cứ ở đâu có việc gì làm là dì Tư nhảy vào nhận việc ngay. Dì Tư làm quần quật từ sáng tới tối, ngày này qua ngày nọ, hết việc này tới việc khác mà cũng không sao khấm khá lên được. Mà cũng không phải riêng một mình dì Tư. Ở cái xóm này, và còn nhiều xóm nữa, mấy kiếp người rong ruổi cũng giống như bọt bèo ở đại dương. Tội nghiệp!

Trên bờ cát dài gió thổi mát lành, dì Tư vắt tay lên trán, miên man nhìn mấy ngọn đèn tàu xa tít ở ngoài khơi. Thằng Ghe ngồi bên cạnh dì, nó lượm mấy cái vỏ ốc ở trên bờ rồi quăng mạnh ra biển. Vỏ ốc bay đi xa, đập xuống nước kêu một cái “tũm” rồi cũng lặn chìm. Nó chìm hay trôi đi đâu thì cũng không ai biết. 

Nước biển văng lên làm dì Tư giật mình. Một cái vỏ ốc dạt lại vào bờ. Dì Tư quay sang nhìn thằng Ghe. Chần chừ một hồi, dì Tư hỏi:

“Ghe. Hay là má cho mày đi học nha!”

Thằng Ghe bất ngờ. Nó ngước lên nhìn dì Tư, đôi mắt tỏ vẻ khó hiểu:

“Ủa sao tự nhiên lại đi học hả má?”

“Thì cũng phải đi học cho biết với người ta chứ. Chứ ở nhà riết, cái mày ngu người.”

“Thôi thôi. Con không đi học đâu má. Đi học chán lắm. Con Lưới nhà ông Năm đó, ngày nào đi học cũng bị cô giáo bắt học bài. Mệt lắm.”

Thằng Ghe lại lượm được một cái vỏ ốc ở đâu đó. Nó tiếp tục quăng cái vỏ ốc đi. Lần này vỏ ốc rơi ngay trước mặt nó, đụng vào một tảng đá, rồi nứt ra.

Dì Tư ngồi dậy, nghiêm túc nhìn thằng Ghe.

“Hông đi học rồi sao mày khôn lớn được như người ta, hả con? Đi học đi, nha, má cho tiền. Má có tiền lo cho mày đi học mà, khỏi lo.”

Sóng lại đập vào bờ, mang theo mấy thứ rác rến ở đâu đó từ ngoài biển trôi vào. Cũng chẳng ai biết đây là con sóng thứ bao nhiêu, mà cũng chẳng ai quan tâm về điều đó. Từng đợt sóng cứ thế đến rồi đi, dữ dội cỡ nào rồi cũng đành tan biến.

“Con không đi học đâu. Đi học vừa tốn tiền của má, vừa hông có ai ở nhà phụ má làm lưới…”

Thằng Ghe nói, giọng nó buồn hiu. Cũng không biết là do nó không muốn đi học nên mới nói vậy, hay là do nó thiệt sự nghĩ như vậy. Nhưng mà nghe những lời nó nói, dì Tư thắt lòng.

“Rồi sau này mày làm cái gì, Ghe. Mày muốn cả đời khổ như má hả?”

“Má đừng có lo. Sau này con sẽ đi biển. Con theo ghe mấy anh xóm trên, tối tối ra khơi quăng lưới, tới sáng là có cá đem về cho má bán à. Lúc đó má con mình có tiền, tha hồ mà ăn bún mắm nêm nhiều chả với thịt.”

Thằng Ghe vô tư ngồi vẽ ra những viễn cảnh tươi đẹp về một tương lai mà nó mơ ước. Nó, hoặc là những đứa trẻ vùng biển khác, rồi cũng chỉ có cùng một suy nghĩ này thôi chăng? Rồi sẽ lớn lên và theo chân cha anh ra biển, sẽ đem những cá tôm trở về, sẽ sống một cuộc đời đánh bắt quẩn quanh cùng biển cả xa xôi? Mà cũng đúng thôi, vì không được đi học đàng hoàng, vì không được tiếp xúc nhiều với những điều mới lạ, nên tụi nhỏ cũng có biết gì về bác sĩ, kĩ sư, cũng có biết gì về công an, thầy giáo. Những ước mơ cứ thế bị mắc kẹt trong cái vỏ chai đậy kín nắp, bị ai đó ném xa ra biển rồi lại dạt vào bờ. Cứ thế, cũng chỉ là ở mảnh đất quanh năm mặn chát này.

Trong tâm khảm lúc này, dì Tư đau lòng lắm, khi nghe thấy những lời non dại của thằng con trai mình.Có ai muốn cả đời quẩn quanh đi biển hoài hả con? Vì cái nghèo, cái khổ nên người ta mới chọn như thế. Mà đi biển có sung sướng gì đâu, bởi lúc nào người ta cũng ở trong tâm thế đối mặt với thiên nhiên, với những rủi ro chẳng một ai biết trước. Biển có lúc thì dịu hiền, êm ả, cũng có khi giận dữ với con người. Thì phải chịu vậy thôi, thì phải chọn vậy thôi, bởi cái số, cái nghiệp đã ám vào những mảnh đời này, biết khi nào mới có thể thoát ra được. Sinh ra ở vùng biển cũng là một lí do…

Dì Tư thở dài, nén một giọt nước mắt vào trong. Lại tựa lưng vào chiếc ghế bố, dì Tư nhìn ra biển. Có vài ngọn đèn tàu vừa tắt ngóm ngoài xa.

*

Nấu xong nồi cháo với mấy chén chè, dì Tư sửa soạn thêm ít nhang đèn, bình bông, trái cây… để bày lên bàn thờ dượng Tư. Trước cái bàn thờ cũ mèm rơi đầy tàn nhang, dì Tư nhìn di ảnh của chồng mình, rồi khấn. Dì Tư khấn cho thằng Ghe mạnh khỏe, khấn cho dì luôn ổn định công ăn chuyện làm, khấn cho biển êm sóng lặng, cho mọi người trong xóm đỡ nghèo, và cũng khấn cho cả dượng Tư luôn được an lạc.

Hôm nay là ngày giỗ của dượng Tư, lần thứ tư, cũng là ngày giỗ của ông Sáu, chú Hậu, thằng Bảy, thằng Ba – mấy người trong xóm từng đi biển cùng với dượng Tư năm nào. Mặc dù cũng đã bốn năm trôi qua, nhưng đôi lúc khi nhớ về chuyện này, dì Tư, và cả những người cũng là mẹ, là vợ… không sao tránh khỏi chạnh lòng. Họ đã ra đi, mãi mãi, ngủ vùi trong cơn bão của đại dương, nhưng cái đau lòng, mất mát của những người ở lại thì vẫn luôn còn hoài. Cuối cùng khi vừa xong đám tang, những người có người thân qua đời cũng chỉ biết đứng trước biển mà khóc. Họ chỉ khóc vậy thôi chứ họ cũng không biết trách ai được.

Nhang đèn cho dượng Tư xong, dì Tư cũng sang nhà của ông Sáu, chú Hậu… để thắp cho họ mấy cây nhang. Ở cái xóm này, nghèo cái gì chứ tình nghĩa thì không, mà tình nghĩa của những người có chung hoàn cảnh lại càng quý giá hơn nữa. Ở nhà chú Hậu, dì Tư ngồi nói chuyện với bà Ba.

“Chiều nay con với dì ra biển, đem theo mấy cây nhang để thắp cho mấy ổng.”

“Ừ, tao cũng định bụng nói với mày. Hông biết mấy ổng còn ở ngoài đó hông hay là đi đâu rồi…”

“Thôi, cũng cầu cho mấy ổng đi kiếp khác. Chứ kiếp này khổ quá, ở lại đây làm chi!” Dì Tư cười, nụ cười đắng nghét, “Còn mình nữa, cái nghèo nó cứ ám cả xóm này miết luôn.”

Nghe dì Tư nói, bà Ba thở dài:

“Phải như có tiền rồi tự mua ghe, mua tàu, thuê người ra ngoài biển, may ra còn kiếm được nhiều tiền. Chứ cả đời cứ quẩn quanh đi cạy sò, cạy ốc, làm thuê lại cho người ta, không biết khi nào mới khá được. Chưa kể còn chuyện con cái. Như mày thì còn phải lo cho thằng Ghe, cũng đâu để cho nó lông bông được.”

Nhắc tới thằng Ghe, dì Tư bỗng thoáng buồn. Hôm đó về nhà, dì Tư cứ suy nghĩ mãi, cũng phải vỡ ra một cái gì đó trong đầu.

Tối đó, dì Tư ra làng chài, tới nhà ông Năm Hói. Lần này làm liều, dì Tư quyết định hỏi xin ông Năm Hói cho mình theo ghe ra biển. Dì Tư nghĩ, chỉ có cách này mới mong kiếm được nhiều tiền hơn để lo cho thằng Ghe. Nói chuyện mấy lần, ông Năm Hói nhất quyết không cho, vì dì Tư là đàn bà, vừa nhỏ con lại vừa yếu sức, làm sao mà kéo lưới lại bằng mấy thằng thanh niên. Nhưng với cái độ lì ra mặt cùng mấy câu chuyện hoàn cảnh đáng thương của dì Tư, cuối cùng ông Năm Hói cũng đành chấp nhận, với điều kiện là ông Năm Hói chỉ coi dì như đi làm công nhật, và chỉ trả cho dì bảy phần lương. Tính ra thì số tiền đó cũng lớn hơn nhiều gấp mấy lần so với tiền mỗi ngày mà dì Tư đi cạy sò, đan lưới. Không nghĩ ngợi gì nhiều, dì Tư liền đồng ý.

Sáng đó, dì Tư dậy sớm đi chợ, mua được một miếng thịt tươi, đem về luộc cho thằng Ghe chấm mắm nêm ăn cơm. Lúc quét dọn lại nhà cửa, thấy cái áo của thằng Ghe bị rách, dì Tư liền chạy ra lại ngoài chợ,  mua một cái áo mới cho nó. Mấy người ở chợ ngạc nhiên hỏi, “Nay tiền ở đâu nhiều mà mua tùm lum thứ vậy. Mọi khi thấy mày keo thí mồ!” Dì Tư chỉ cười không nói gì. Về nhà, nhìn thằng Ghe gắp miếng thịt luộc ăn một cách ngon lành, dì Tư nghĩ, sau này đi biển kiếm được chút tiền rồi thì nên cho thằng Ghe ăn mặc thoải mái chút, chứ đừng để nó phải khổ như mình.

Trời tối, trước lúc đi ra tàu ông Năm Hói, dì Tư ngồi căn dặn thằng Ghe đủ thứ. Đây là lần đầu tiên để thằng Ghe ở nhà một mình, dì Tư cũng không an tâm.

“Lát nữa má đi, mày ở nhà một mình chốt cửa đi ngủ sớm nha. Đêm hôm mà có đau đầu, đau bụng gì thì có chai dầu gió má để sẵn ở trên tủ đó. Còn có chuyện gì khác nữa thì nhớ chạy qua nhà bà Ba nha.”

“Má làm như con là con nít hông bằng. Đêm nào con cũng ngủ tới sáng, có gì đâu. Mà má đi đâu vậy cà?”

“Má đi kiếm tiền. Cỡ sáng mai má về á. Mai mày muốn ăn món gì, má có tiền má mua cho mày ăn.”

Nghe tới đồ ăn, thằng Ghe sáng mắt. Nó nghĩ về mấy món mà đám thằng Đực vẫn thường hay được ba mẹ cho tiền đi ra chợ ăn. Nhưng rồi khi sực nhớ mấy món đó cũng mắc tiền, nó mới nói:

“Gì chứ con cũng thèm cháo lòng. Thôi mai hai má con mình đi ăn cháo lòng. Ăn ở hàng bà Bảy, có mười ngàn một tô à, mà còn hay được cho thêm miếng dồi ngon ơi là ngon nữa.”

“Rồi, vậy mai má dắt mày đi ăn cháo lòng. Má xin cho mày hai miếng dồi luôn.”

Thằng Ghe lại tít mắt, nhe răng cười. Cái răng sữa của nó không biết khi nào mới mọc lại. Rồi dì Tư đi, ngang qua những rặng dừa chạy dài dọc bờ biển. Ở ngoài kia, biển đang chờ. Nghĩ về thằng Ghe, khát vọng kiếm tiền trong dì Tư lại dâng lên mãnh liệt.

*

Bão tới. Không ai biết trước được điều gì. Bão vẫn luôn ẩn mình trong những yên bình mà người ta không hề ngờ đến. Đêm hôm ấy, bão đồng lõa với đại dương, đánh tan nát chiếc tàu cá của ông Năm Hói. Mấy người trên tàu, kể cả dì Tư, chẳng ai còn sống sót. Vẫn là câu hỏi muôn thuở trong lòng của những người dân xứ biển từ xưa đến giờ, không biết những người đi biển hiện giờ đang ở đâu, vì biển đã giấu họ đi vào một góc sâu thẳm nào đó, chẳng trả lại thứ gì ngoài những niềm mất mát, đau thương…

Thằng Ghe đứng đực mặt ra khi nghe người ta nói là má nó đã chết. Vậy là má nó đã chết, như cái cách mà ba nó đã từng. Cái chết là gì, nó không hiểu. Nó vẫn còn quá nhỏ để thấu đáo nỗi đau mà cái chết đem lại. Nhưng nó lặng người đi. Nó bỗng thấy trơ trọi vô cùng. Nó không còn má nữa. Má nó đi rồi, má nó ngủ vùi dưới biển khơi.

Nó không khóc, nó chỉ bất thần nhìn ra biển, rồi lặng lẽ đi về. Lúc ngang qua khu chợ gần nhà, nó nhìn vào hàng cháo lòng trước chợ. Nó nói, “Má ơi, con hết thèm cháo lòng rồi.” Nó cũng hết thèm miếng dồi ngon mà bà Bảy vẫn thường hay cho thêm rồi. Nó chỉ thèm má. Là má nó. Nó nghĩ như vậy, rồi chạy ù về nhà…

Xong đám tang của dì Tư, mấy người bà con hàng xóm không còn ai thấy thằng Ghe đâu nữa. Nhiều người chạy khắp nơi đi tìm nó nhưng cũng không có kết quả gì. Rồi nhiều năm về sau, căn nhà lụp xụp của dì Tư cũng chẳng còn ai ở, ngoại trừ bà Ba và mấy người hàng xóm vẫn thi thoảng lui tới để nhang đèn. Cứ như thế, năm tháng qua đi, cuộc sống của những người dân biển ở đây vẫn vậy, mỗi ngày đều vật lộn với cơm áo gạo tiền, với mưu sinh vất vả. Chẳng ai biết thằng Ghe đang ở đâu, phải chăng nó đã lặng lẽ ra đi vào một chiều mưa bão năm ấy, hoặc nó đang theo một con tàu nào đó ra khơi, lại tiếp tục cái vòng tròn luẩn quẩn nơi biển cả bao la như ba má nó. Không ai biết, không ai biết điều gì. Nó cũng chỉ là một phận bọt bèo trôi, giữa khơi xa.

Hôm đó, biển và trời đều một màu đen thẫm. Những kiếp người lầm lũi lại tiếp tục cá cược mạng sống của mình với biển cả, để chọn về những hỉ, nộ, ái, ố đời thường. Rồi cũng vậy thôi, một ngọn đèn dầu leo lắt ngoài biển khơi.

Sóng vỗ…

Hết.

Lâm Lâm


Xem tất cả những bài viết của Lâm Lâm tại đây.


Ảnh: Tranh sinh hoạt ở làng chài | Vân Quyên Gallery

Sáng tác

Truyện ngắn: Ngôn ngữ tình yêu (Nicolette Polek)

Published

on

Biba ngọ nguậy trên ghế máy bay, thả hồn theo điệu nhạc phát ra từ tai nghe. Cô không thể tránh khỏi cảm giác ngứa ngáy do vỏ bọc cọ vào tai và không khí mát mẻ len lỏi vào trong. Mỗi lần khỏi bất cứ nơi nào, Biba luôn thấy lòng mênh mang khó tả, cứ như thể cô sẽ vĩnh viễn rời xa nơi ấy.

Người hành khách ngồi cạnh Biba đeo một chuỗi hạt vàng to, rực rỡ và đang lầm rầm cầu nguyện. Cô cầu cho chuyến bay thượng lộ bình an và tiện thể, xin cho ông chồng cùng với gã nghệ sĩ dương cầm ngớ ngẩn đã dụ dỗ ông đi, đều sớm ngày… xuống lỗ. Trong khoảng thời gian tĩnh lặng hơn một chút của chuyến bay, cô quay ra phía ô cửa sổ bé xíu, thì thầm với những người ở dưới đất rằng họ sẽ sớm phải nếm mùi cay đắng.

Một tiếp viên trông có vẻ mũm mĩm và dễ chịu y như một cô bảo mẫu, hay một thanh xúc xích. Cô bước ra giữa lối đi để thông báo gì đó. Sự hỗn loạn trên chiếc máy bay chật chội khiến bụng của Biba đau nhói. Cô cần một viên thuốc an thần và một nụ hôn.

Cô tiếp viên thì thầm qua chiếc loa: “Chúng ta bay lạc rồi.” Câu nói đó quét qua khuôn mặt của tất cả mọi người nhiều biểu cảm khác nhau. Cô gái tiếp tục giải thích rằng phi công “chưa bao giờ nhìn thấy nơi này”, theo hệ thống định vị, chúng ta đang bay qua “một nơi mà hiện không còn ở đó nữa.”

Biba vươn vai ngó ra ngoài. Mây giăng đầy trời và đây đó có những mảng xám như mảnh vá. Cô nhún vai, nói với người phụ nữ đeo chuỗi hạt vàng:

- Tôi thấy có gì khác lạ đâu.

Lúc này, một số tiếp viên khác mặc đồng phục nghiêm trang, trông có vẻ không thoải mái như người ban nãy, đang đi khắp máy bay để nhắc nhở mọi người cách đeo mặt nạ dưỡng khí và tuyệt đối không nhìn ra cửa sổ.

Khung cảnh mây và núi trông thật đơn sơ và thân thuộc.

Giọng người phi công bắt đầu cất lên qua bộ truyền thanh. Anh cố kể vài câu chuyện tếu táo và hỏi han, gợi chuyện cho hành khách tám với nhau. “Anh chị thích ăn món gì?”, “Mọi người thích đi nghỉ ở nơi nào?” Biba thầm trả lời tất cả câu hỏi đó trong trí óc. Chúng làm đầu óc cô dịu lại. Cô cảm giác mình hoàn toàn có thể ra đi thanh thản như thế này. Người phụ nữ đeo chuỗi hạt vàng rít lên giận dữ với một gia đình ngồi ở băng ghế trên, sau đó, cô bắt đầu thở gấp. Bên ngoài, bầu trời dần ngả sang sắc đỏ rực rỡ và những đám mây biến thành những quả cầu bạc óng ánh. Dường như máy bay đang bay chậm lại, tựa hồ đang xuyên qua thứ gì đó dày đặc. Một cảm giác kỳ quặc lan tỏa khắp cabin như một cơn đau mình.

Sau một tiếng đồng hồ, giọng của những người tiếp viên the thé vang lên. Đôi mày của họ chau lại, lộ vẻ hãi hùng. Họ tụ tập ở đuôi máy bay, lôi những chai slivovitz ra từ sau tấm màn đen. Một người đàn ông nước mắt lưng tròng liền nhập hội. Người phụ nữ đeo chuỗi hạt vàng cũng nối gót theo sau. Vừa hớp rượu, họ vừa nhìn chằm chằm vào vùng đất mơ hồ và đáng sợ như địa ngục bên dưới. Cảm giác hoang mang tột độ trong mỗi người càng bị khích động. Miệng họ nguyền rủa liên hồi. Họ uống bạo đến mức những chiếc chai thủy tinh rỗng mau chóng rải rác khắp mặt sàn. Bên ngoài, trời tối sầm lại, mấy đám mây bừng lên ánh lửa. Một âm thanh rùng rợn quét qua máy bay.

Cuối cùng, một hành khách tình cờ mở được cửa hầm thoát hiểm nhỏ xíu. Hệt như một trò đùa. Nhưng dù sao đi nữa cũng có chỗ leo xuống. Các hành khách khác lần lượt thoát thân, từng người, từng người một.

Sau một lúc, khoang hành khách vắng tanh, chỉ còn lại anh phi công, Biba và từng cơn gió rít.

*

“Cô thích loại nhạc nào?” anh cất tiếng hỏi. Biba cảm thấy người sốt lên. Chàng phi công bật một bản nhạc của Strauss. Giai điệu du dương tràn qua loa phát thanh.

“Nếu được, ngay lúc này cô ước mình đang ngồi ở đâu?” anh lại hỏi.

“Nếu được trở thành một người trong thư viện, cô sẽ là ai?” chàng trai hỏi tiếp.

Biba ngắc ngứ trong miệng. Cô cũng muốn hỏi chuyện người phi công.

Anh lại cất tiếng: “Cô nghe tôi nói chứ?”

Biba ước gì cô có thể đứng dậy, bước tới và ngồi xuống bên cạnh người phi công. Nhưng cô không nhấc người lên nổi. Hình như anh ấy đang bước lại gần hơn nhưng rồi vĩnh viễn đứng yên một chỗ.

Liệu anh có cảm nhận rằng cô còn ngồi trong máy bay với anh? Rằng cô còn bị mắc kẹt đâu đó? Cô tự hỏi mỗi khi máy bay cất cánh, anh có nghĩ đến gia đình, đến Chúa hay người thương chăng. Rồi cô lại băn khoăn anh có nuôi thú cưng không, nó sẽ chào đón anh bằng niềm vui khôn tả. Và anh có luôn để cửa mở để chờ người đi xa trở về?

“Khi chúng ta hạ cánh thì sẽ thế nào nhỉ?”

Em sẽ nắm tay anh và chúng ta thoát khỏi chiếc máy bay này - Biba thầm nghĩ.

Ga cuối là một căn phòng trống hoác, có mùi tựa như một chiếc găng tay. Một cậu bé thiếp đi trên chiếc ghế đỏ. Chúng ta sẽ bước vào xe hơi của anh và lái đi giữa trời mưa tầm tã. Chúng ta ngồi bên nhau. Không ai nói một lời. Cũng chẳng cần nhìn nhau. Anh sẽ đỗ xe bên bờ biển. Đó là điều dịu dàng nhất trên thế gian này.

Cô dựa sâu vào ghế.

Lâu thật lâu, cô lại nghe thấy giọng anh. Thật nhẹ nhàng, và lần này, Biba còn nghe thấy tiếng bước chân.

Bên ngoài, một rừng cây chanh.

Hết.

Phương Hạ dịch.

Nguyên tác được thực hiện bởi Nicolette Polek, đăng tại Literary Hub.
Ảnh đầu bài: The Kiss, Gustav Klimt.

Câu chuyện “Love Language” (Tạm dịch Ngôn ngữ tình yêu) được trích từ tuyển tập Imaginary Museums của Nicolette Polek. Nicolette Polek là nhà văn người Cleveland, Ohio. Năm 2019, cô được nhận giải thưởng nhà văn của Rona Jaffe Foundation.

Đọc bài viết

Sáng tác

Thơ: tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế (Vũ Lập Nhật)

tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế, để đốt cháy sự tồn tại của câu thơ này

Published

on

tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế
không phải để cất nó vào câu thơ
trong bài thơ tôi dự định sẽ viết
khi về nhà hoặc không về nhà
mỗi dòng thơ như một điếu thuốc
đầu lọc thuốc ở lề trái

phần để đốt cháy nằm cách lề phải vài phân
như mặt trời chỉ cách đám mây che mờ nó
một hay vài phép tu từ
rằng mây là rổ đựng trái cây màu trắng
trong đó đủ cam, đỏ, tím, vàng
khi buồn chán anh có thể chọn quả chuối
làm phép ẩn dụ cho mặt trời
dù rằng cam hay táo
trông có vẻ thích hợp hơn
khi ta lật ngược bài thơ này
nhìn nó từ phía sau
đầu lọc thuốc ở lề phải

phần để đốt cháy nằm cách lề trái vài phân
khi tôi đọc câu thơ này lên
làm sao diễn tả được sự dịch chuyển của nó từ phải sang trái
khi những câu thơ ở khổ trên
đã đi theo chiều hướng ngược lại
từ trái sang phải
những chữ cái nối đuôi nhau về một phía
và dấu thanh trong tiếng Việt trôi lơ lửng bên trên
nếu được dịch sang tiếng Anh
lịch sử tồn tại của chúng sẽ biến mất
giọng đọc tôi khi ấy
làm sao thể hiện được nỗi buồn
từ những dòng chữ bơ vơ chờ dấu thanh quay trở lại
liệu tôi có nên lên cao hay hạ giọng
để thể hiện sự tròng trành
như con thuyền lắc lư
giữa câu thơ này và câu thơ kia
là những điếu thuốc không thể xếp bằng nhau
điếu này tôi hút ở câu đầu tiên
điếu kia khởi sự từ khổ thứ hai
trang giấy là chiếc gạt tàn
ôm áp câu thơ đã hóa thành tro
làm sao cơ thể tôi biểu hiện được cái chết ấy
như một tấm bảng thông báo sự thật
rằng ngay khi một câu thơ chạy thoát sự giam cầm
từ đầu tôi để đáp xuống trang giấy
cũng là lúc nó đã chết đi
rằng tiếng phát ra từ mỗi đầu ngón tay
gõ mạnh hay không mạnh vào những ô chữ
cũng là lúc từng chiếc đinh đã được đóng
xuống nắp quan tài
chôn cất những điều có nhiều hơn một khả thể

tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế
để đốt cháy sự tồn tại của câu thơ này
cả lịch sử, hữu thể, và khả thể nó sản sinh
cho bài thơ tôi dự định sẽ viết
khi về nhà hoặc không về nhà

Hết.

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Sáng tác

Thơ: dấu hiệu kết thúc (Vũ Lập Nhật)

Published

on

khi một bộ phim về nỗi buồn kết thúc

những người tạo tác nó hiện ra dưới những cái tên

như trong chứng minh nhân dân của họ

qua những con chữ bò từ chỗ giá sách vừa tầm tay ta

lên trần nhà cao chót vót đôi khi họa may có vài con thằn lằn

cũng giống như cách một bộ phim về niềm vui sẽ kết thúc

nhưng trái ngược với chiều chuyển động

khi ta ngắm hoàng hôn rồi nhìn xuống đôi chân mình

bầu trời những lúc ấy luôn trong vắt

như cốc nước cam lọc hạt cẩn thận

hay ruột dưa hấu loại sạch hạt đen

vốn không cần thiết như trên lông loài chó đốm

mà nếu không tồn tại chúng đã là chó lông trắng

ta khạc những hạt cam, hạt dưa hay hạt của bất kì loại quả nào

xuống ngay hai bàn chân đang giúp ta đứng trên mặt đất

như để xua đuổi những nguy cơ

về sức khỏe, bản ngã, nỗi buồn và cả niềm vui

trong khi lẽ ra ta có thể dịch điểm kết thúc của chúng thêm vài phân

xuống đất nơi chúng sẽ cho ra những khả thể mới

thay vì xuống chân ta nơi khó xảy ra thêm diễn biến đột phá nào

nhưng biết sao được khi những đám mây cũng phân biệt màu sắc

vào một số buổi chiều, chúng truyền nhau tín hiệu ngày tàn

rồi bay đi mất

để lại ta hoàng hôn thuần túy cam hoặc đỏ không có những chuyển sắc

đôi khi là xanh ngọc lục

dù sao cũng không quan trọng

tất cả rồi sẽ sớm trở về màu bóng đêm

Hết.

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Cafe sáng