Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Đẹp là một nỗi đau: Hai ý niệm song hành về những vẻ đẹp đầy khổ đau

Đăng từ

on

Đêm buông thõng một tiếng thở dài. Giữa thinh không, thành phố ngủ vùi trong cơn mưa đầu mùa lạnh lẽo. Mưa hối hả xối ướt những con đường. Mưa lạnh căm. Và tịch mịch. Trong căn phòng nhỏ với từng nỗi ngổn ngang đang ngập ngụa trong lòng, tôi đọc đến trang bốn trăm bốn mươi, và cũng là trang cuối cùng của một cuốn sách – đã khiến tôi phải nhọc lòng nghĩ ngợi nhiều đến vậy. Đẹp là một nỗi đau, ôi những điều xa xôi diệu vợi nào đó giữa cuộc đời, tôi đã tìm thấy được, trong cuốn sách này. Và đêm nay, khi trang sách cuối cùng khép lại, lòng tôi bỗng chộn rộn những xúc cảm lạ thường. Một hành trình dài, tôi đã vừa khép lại, với chính mình, với cuốn sách này, như thể tôi vừa khám phá ra một thế giới của cái đẹp – nhưng đầy đau đớn, hay chính thế giới của những sự đau đớn – nhưng vẫn đẹp đẽ vô cùng?

*

Đẹp là một nỗi đau, cuốn sách ấy thật lạ kì làm sao! Lạ kì như cái cách mà tác giả đã đặt tên cho đứa con tinh thần của mình. Khi nghĩ về tựa đề của cuốn sách, một câu hỏi thảng thốt bất chợt vang lên trong tôi: Tại sao đẹp lại là một nỗi đau? Tôi đi tìm câu trả lời ấy, qua từng chương của cuốn tiểu thuyết này. Nó đưa tôi đi xa, xa mãi, đến những vùng miền kì lạ của đất nước Indonesia thời bấy giờ, khi chiến tranh và hiện thực khắc nghiệt cứ đeo bám lấy số phận của từng người, từng người một…

Cuốn sách bắt đầu bằng một sự kiện quái dị: Dewi Ayu – một người đàn bà đã chết cách đây hai mươi mốt năm bất ngờ đội mồ sống dậy, bằng xương bằng thịt trong cơ thể của một con người, chứ không phải những hồn ma vất vưởng đã lăn trôi bất tận giữa xứ sở này từ bao lâu. Bà rời khỏi nghĩa trang, bà bước đi, bà ghé ngang qua những phố phường, rồi lại trở về căn nhà xưa cũ của bà khi còn sống. Bà bỗng xuất hiện giữa cuộc đời, một lần nữa, như chưa hề có chuyện đã chết vùi giữa mộ địa bao nhiêu năm qua. Sự kiện ấy đã khiến cho rất nhiều người dân trong vùng sợ hãi và bỏ chạy tán loạn. Họ biết rõ Dewi Ayu là ai, họ biết Dewi Ayu sao lại chết, và họ biết Dewi Ayu có sức ảnh hưởng lớn thế nào đến tất cả mọi người. Nhưng họ không biết sao bà lại trở về. Và liệu rằng, ngay lúc này, Dewi Ayu thật sự vẫn còn sống, hay chỉ là một hồn ma đáng sợ trong thế giới tâm linh nhỏ bé của con người? Chưa ai biết, chưa ai hiểu, nhưng sự trở về của bà đã mở ra vô vàn những câu chuyện nối đuôi nhau tiếp diễn một cách lạ kì, như một sợi dây dài được đan xen nhau bằng các chuỗi mắt xích của quá khứ, hiện tại – và cả tương lai.

Trong thành phố này, không ai là không biết đến Dewi Ayu, người đàn bà xinh đẹp sở hữu nhan sắc tuyệt trần làm tất cả đàn ông say đắm. Bà lớn lên trong một gia đình mà mối quan hệ giữa các thành viên lại là một chuỗi những rắc rối lạ kì. Thật khó khi phải nói ra, nhưng có lẽ, những khổ đau từ ban sơ đã bắt đầu ngủ ngầm trong giai đoạn này, trong chính những thứ tình cảm tội lỗi, trong chính những phiền não của các thế hệ ông bà, cha mẹ của bà. Phải chăng, vì lẽ đó, kể từ khi còn nhỏ, bà đã là một cô bé có những suy nghĩ và hành động khác biệt so với tất cả mọi người. Bà mạnh mẽ, gan dạ, hiếu động và thông minh. Nhưng những điều đó dường như đã không giúp ích được gì cho bà. Bởi thời cuộc! Thời cuộc của chiến tranh. Rồi mọi thứ bỗng chốc xảy ra một cách đột ngột không báo trước. Bà không còn được gặp lại ông bà. Bà không còn có người giúp việc kề cận. Bà bỗng cô độc. Và bị rời xa ngôi nhà quyền quý của mình. Và bị trở thành gái điếm trong nhà thổ – một cách thường tình như bao cô gái khác cũng bị bắt đi. Chiến tranh đến trong cuộc đời của tất cả mọi người dân nơi này.

Từ đó trở đi, Dewi Ayu trở thành một gái điếm vô cùng nổi tiếng. Bà đẹp, đẹp lắm. Một vẻ đẹp làm tất thảy mọi đàn ông say đắm. Ai cũng khao khát được âu yếm, vuốt ve, nâng niu bà, và hơn hết, là được ngủ cùng bà – bằng những cuộc làm tình bất tận. Điều đó dễ thôi, bà chẳng cần quan tâm gì hết, miễn là họ có tiền, và đưa cho bà, vì bà làm nghề gái điếm đấy thôi. Gái điếm! Một cái nghề “sung sướng” trong mắt của những kẻ hoan lạc, nhưng thật ra lại vô cùng “bạc bẽo” trong lòng của những kẻ bi thương. Vì đâu mà bà làm gái điếm? Vì đâu mà bà lại phơi bày tấm thân và vẻ đẹp tuyệt sắc của mình cho mọi loại đàn ông trên đời, dù là lão già héo úa hay đứa trẻ vừa mới mộng tinh, dù là gã cô đơn hay là kẻ đã có gia đình? Bà muốn vậy chăng? Không không. Vì số phận, số phận đó thôi. Số phận đã sắp đặt và an bày lên mảnh đời của bà. Và số phận trôi đi trong cái guồng quay luân hồi không bao giờ dừng lại. Bà chỉ đứng nhìn số phận và lặng lẽ sống cùng nó. Và đợi trả thù!

*

Trong những tháng ngày làm nghề gái điếm, bà đã có con. Những đứa con của bà đều là con gái, và chúng xinh đẹp, như bà. Hoặc thậm chí, là đẹp hơn cả bà. Một lần nữa, sự ra đời của những đứa trẻ này làm cho cuộc sống của người dân trong thành phố náo loạn. Chúng lớn lên, mặn mà và kiều diễm. Chúng biết xinh đẹp và cũng biết yêu thương. Chúng xinh đẹp trong mắt của mọi gã đàn ông. Và chúng yêu thương trong những xúc cảm chân thành của một người phụ nữ. Thời gian trôi đi, cùng với bao thăng thầm xứ sở, chúng lại có gia đình, có con cái. Những tưởng hạnh phúc sẽ theo chúng lâu dài. Vì chúng đẹp. Một vẻ đẹp rạng ngời trên trái đất. Nhưng than ôi. Đó lại là một thảm bi kịch. Những người chồng của chúng, những đứa con của chúng, những mối quan hệ kì lạ của chúng – đều là khổ đau. Sự khổ đau hiện hữu từng ngày, từng phút, từng giây, và cả từng sát na ngắn ngủi, trong cuộc đời của chúng. Và khổ đau nối đuôi nhau, theo đến đời những đứa con của chúng. Trải dài. Bất tận.

Suốt cả một hành trình dài của cuốn sách, thứ hiện lên rõ ràng và xuyên suốt nhất, chính là vẻ đẹp, và hơn hết là vẻ đẹp của những người phụ nữ. Những người phụ nữ ấy là ai? Là Dewi Ayu, là Maya Dewi, Alamanda, Adinda – ba đứa con gái của bà, là Nurul Aini và Rengganis Xinh Đẹp – hai đứa cháu ngoại của bà, là công chúa Rengganis trong truyền thuyết, là các số phận không tên khác. Tất cả họ, tất cả những vẻ đẹp của họ – đều được phơi bày cặn kẽ trước cuộc đời như công thức chung của những người phụ nữ đẹp. Ai cũng đẹp. Ai cũng làm người khác mê mẩn. Ai cũng sở hữu thứ nhan sắc vượt trên mọi ý niệm về cái đẹp là gì. Nhưng rồi được gì, khi mà đằng sau đó, tất cả những gì họ có được, là sự khổ đau. Mà sự khổ đau này từ đâu ra? Từ chính vẻ đẹp.

Vì sao vẻ đẹp lại gây ra đau khổ? Vì con người chấp vào vẻ đẹp đó, cho rằng nó vĩnh hằng, nó bền vững, nó luôn trường tồn và ở đó mãi mãi. Mà quên mất rằng, cái đẹp chỉ là một khái niệm mong manh giữa cuộc đời. Cái đẹp chỉ là giả tạm. Rồi cái đẹp sẽ tan biến. Sẽ tan đi. Sẽ theo thân xác nằm dưới nắm mồ. Và chôn vùi vào đất. Thế là xong.

Nhưng không ai tin điều đó. Trước mắt họ, cái đẹp vẫn là nhất. Họ làm tất cả mọi chuyện, dù đúng dù sai, thậm chí cả giết nhau, chỉ vì cái đẹp. Đó lại là một câu chuyện khác, của những gã đàn ông đam mê cái đẹp xuất hiện trong cuốn sách này. Thế hệ ông bà, cha mẹ của Dewi Ayu, cái đẹp đã vô tình tạo dựng nên những mối quan hệ đau lòng, những cuộc tình oan trái mà từ đó trở thành mầm mống của các chuyện bi thương về sau. Rồi họ, Shodancho, Maman Gendeng, Kliwon, Krisan – những gã đàn ông của thế hệ sau này, vẫn cứ thế tiếp tục xuôi theo cái vòng tròn luẩn quẩn của một kiếp người say đắm cái đẹp. Họ yêu bằng cái đẹp hiện hữu. Họ cho cái đẹp là tuyệt vời. Họ không thể nào cưỡng lại được cái đẹp. Và cái đẹp đã thống trị họ – cả thể xác lẫn tinh thần. Họ lao vào làm tình với những người phụ nữ đẹp, mà không cần biết đó là mối quan hệ gì. Họ chỉ yêu và yêu như thể nếu không yêu thì sự sống sẽ ngừng lại. Họ khao khát vẻ đẹp trong tình yêu. Nếu phải làm mọi thứ để có được vẻ đẹp trong tình yêu, họ sẽ làm mà không màng suy nghĩ. Và họ đã làm như vậy, với nhau, trong nỗi thống khổ và dày vò vô hình đáng sợ. Làm sao tin được khi con rể lại chính là người đã từng ngủ với mẹ vợ, gã em trai lại đem lòng yêu chị họ của mình nhưng lại làm tình với một người chị họ khác, rồi em vợ lại là người từng làm tình với chị vợ của mình… Rồi các mối quan hệ mà người đời vẫn gọi là “loạn luân” và phi đạo đức cứ thay phiên nhau xuất hiện đầy rẫy trong cuốn sách này. Đến tội nghiệp. Và trơ trọi. Tất cả những câu chuyện ấy, đều là vì cái đẹp mà ra.

*

Một yếu tố khác mà tôi muốn đề cập đến, chính là sự “hoang đường” trong cuốn sách này. Một sự hoang đường thực tế và vô cùng hợp lý. Đó là khi tác giả lồng ghép những chất liệu hư cấu (mà nhỡ đâu nó có thể là sự thật thì sao?), khi cho phép các yếu tố quỷ dị vào câu chuyện của mình. Những hồn ma có năng lực phép thuật, cách thức người chết sống lại, những người có khả năng gọi hồn và trò chuyện cùng ma quỷ… Dù những điều ấy, với thực tại, nó vốn không có thật, nhưng trong thế giới của những con người mà chuyện kì lạ nào cũng có thể xảy ra, thì tại sao nó lại không thể xảy ra? Chính những điều mơ hồ quỷ dị ấy đã làm cho cuốn sách thêm phần hấp dẫn, và lôi cuốn, và thu hút độc giả qua từng chương.

Tôi đã từng chê cuốn sách này. Tôi đã bỏ dở. Tôi đã khiên cưỡng khi nghĩ về những nhân vật lạ kì trong cuốn sách và nghi ngờ cái cách mà tác giả bày trí cho sự hiện diện của mỗi người. Tại sao lại có quá nhiều nhân vật với quá nhiều cái tên và câu chuyện khiến độc giả không thể mường tượng và xâu chuỗi lại được? Tại sao mọi thứ lại khó hiểu và rắc rối ngay từ những trang đầu như thế. Tại sao nội dung lại không liên quan gì đến tựa đề cuốn sách? Tại sao và tại sao? Và cuối cùng, khi cuốn sách khép lại, tôi bỗng vỡ òa ra. Hóa ra, mọi thứ đều có những nguyên nhân của nó. Mọi nhân vật xuất hiện đều đầy đủ, vừa vặn và vẹn tròn. Họ bổ sung cho nhau. Họ tôn vinh vẻ đẹp của nhau. Và họ cũng làm nhau đau khổ. Mối tương quan lạ kì này thật khó hiểu. Cái đẹp thường phải song hành cùng hạnh phúc. Nhưng cuốn sách đã đưa ra những tình tiết dẫn dắt bất ngờ, những biểu tượng ẩn dụ đầy tinh tế, để chỉ ra và kết luận một điều, “đẹp là một nỗi đau”.

Khi cuốn sách khép lại, tôi bỗng lặng người đi. Cả vô vàn muôn sự đau khổ. Trong ngần ấy thời gian sống của một kiếp người, họ đã làm gì, ngoài việc theo đuổi cái đẹp giả tạm, để rồi khi lần lượt những nhân vật chủ chốt đều chết đi, đầy đau thương, vì cái đẹp, và họ nhận ra rằng, đẹp chính là một nỗi đau, khi mà Krisan bị bắn chết sau khi làm tình với dì ruột của mình – một cô gái xấu xí đến rợn người mang trên mình cái tên kiều diễm – Đẹp! Trớ trêu thay, đến khi Krisan nhận ra được điều ấy, thì đã chẳng còn ai ở lại trên cõi đời…

“Đẹp là một nỗi đau”, tôi không biết phải dùng hơn bất kì thứ ngôn ngữ nào để lột tả được các lớp nghĩa đằng sau nó. Tôi chỉ có thể cảm nhận những sự trống rỗng, bệ rạc, và nặng nề – qua từng số phận đầy đau thương kia. Cái đẹp như một lời nguyền bám dính lấy từng thế hệ của gia đình nhà Dewi Ayu. Cái đẹp mang đến những đau khổ tột cùng. Và cái đẹp lần lượt giết chết những ai tham đắm nó – trong tội lỗi, và trong luân hồi. Rồi cái đẹp có dừng lại ở đó không? Rồi oán hận có dừng lại ở đó không? Hay vẫn cứ trôi đi, và tiếp diễn.

Thật sự là tôi đã bị ám ảnh đôi chút về cuốn sách này, khi cơn mộng sâu ập đến vào một đêm nào đó tôi cảm thấy mình trơ trọi giữa cuộc đời. Không phải vì cuốn sách có những điều quỷ dị, mà là vì tôi thương cảm sâu sắc đến số phận của mỗi nhân vật. Ôi sao ai cũng đau khổ thế này? Ôi sao ai cũng bi thương thế này? Nhưng tôi biết phải làm gì hơn. Vì đó là sự lựa chọn của họ. Họ đã chọn cái đẹp. Họ đã lao đầu theo cái đẹp. Họ chưa nhận ra rằng, đẹp là một nỗi đau…

Với tôi, cuốn sách này vượt trên cả một chương tiểu thuyết về cái đẹp và sự khổ đau. Nó còn chứa đựng cả văn hóa, cả lịch sử, cả nền chính trị đương thời và các tập tục cũng như đời sống tinh thần của xứ sở Indonesia. Nó phản chiếu hình ảnh và tái hiện những tâm tư phức tạp trong mỗi con người. Nó phơi bày, nó soi rọi linh hồn đất nước, và, nó đẹp. Nhưng xin, nó hãy đẹp, nhưng đừng là nỗi đau…

Và như thế, trong tôi, cuốn sách khép lại giữa đêm. Đêm tịch mịch. Ngoài kia, biết bao người nữa, còn bao người nữa, đang lao đi, lao đi, và chôn vùi trong sự đau khổ vô minh, bởi những thứ họ thấy được, chỉ là cái đẹp.

“Sao anh muốn em?”
“Vì anh yêu em?”
“Anh yêu một người đàn bà gớm ghiếc?”
“Ừ.”
“Vì sao?”
“Vì đẹp là một nỗi đau.”

Vì đẹp là một nỗi đau…

Hết.

Lâm Lâm

Xem tất cả những bài viết của Lâm Lâm tại đây.


Review Đẹp là một nỗi đau

viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Những bí mật về Lehman Brothers: Từ Bavaria tới Alabama, từ đỉnh cao tới vực thẳm

Đăng từ

on

Người đăng

Đã có thời những người đam mê nghệ thuật trình diễn tại Mỹ luôn cập nhật thông tin về những vở diễn mới, ngay cả khi họ không sống ở New York hay không đủ khả năng chi trả cho những tấm vé đắt đỏ. Thay vào đó, họ “xem” chúng thông qua những kịch bản được xuất bản thành sách1. Kịch bản vở “Cái chết của người bán hàng” của tác giả Arthur Miller2, xuất bản bởi Viking Press, được lựa chọn vào câu lạc bộ những cuốn sách của tháng; hay kịch bản “Ai sợ Virginia Woolf?” của Edward Albee3 cũng kiếm bộn tiền về cho Atheneum với cả hai bản bìa cứng và bìa mềm.

Khi các nhà hát lớn đóng cửa vào tháng Ba, những buổi công chiếu của những vở kịch tiềm năng bị hoãn vô thời hạn. Một số sẽ không bao giờ xuất hiện trở lại, hoặc sẽ không bao giờ trở lại với diện mạo quen thuộc với khán giả. Một trong số đó là vở diễn “Bộ ba Lehman” của nhà viết kịch người Ý Stefano Massini, một thiên sử thi hoành tráng về hành trình đầy thăng trầm của tập đoàn Lehman Brothers.

Massini bắt đầu viết kịch bản cho “Bộ ba tác phẩm về Lehman” (The Lehman Trilogy) vào năm 2008, ngay sau khi công ty phá sản một cách nhanh chóng như tro tàn của điếu xì gà, giữa sự sụp đổ của thị trường tín dụng thế chấp với đầy những khoản nợ xấu. Lần đầu tôi được chứng kiến những tấm ảnh chụp vở diễn tại New York, một người đàn ông trong bộ vest tối màu đang chỉ trỏ trong khối văn phòng lấp lánh, tôi cho rằng vở kịch nói về sự sụp đổ kiểu “căn phòng lò hơi”4.

Đó không phải là tất cả. Vở kịch của Massini đã đi qua quá trình 160 năm lịch sử của tập đoàn, từ khi Hayum (hay chính là Henry) Lehman chuyển từ Baravia tới Alabama và gia nhập ngành kinh doanh sợi cotton. Vở kịch phiên bản Ý kéo dài tới 5 tiếng đồng hồ. Sam Mendes, đạo diễn cho vở kịch công chiếu tại London và New York, đã thu gọn lại còn 3 tiếng rưỡi.

Simon Russell Beale, Ben Miles và Adam Godley trong vở kịch “Bộ ba tác phẩm về Lehman”, về những thăng trầm của Lehman Brothers diễn tại sân khấu Park Avenue Armory ngày 27.03.2019. Ảnh được thực hiện bởi Stephanie Berger.

Bản nguyên gốc của Massini, một tiểu thuyết thơ, đã được xuất bản sang tiếng Anh lần đầu và được dịch bởi Richard Dixon5. Đó là một tác phẩm phi thường, một thứ ngôn ngữ trải dài 700 trang giấy hoàn toàn không có văn nói. Nhưng đây là sự thực, Massini hiện hữu – cái điều mà có thể cảm nhận thấy ngay từ những dòng đầu tiên của tác phẩm. Vở kịch của ông ấy diễn ra thật mạch lạc, uyển chuyển và dồn dập.

Đồng thời, như một tín hiệu, vở kịch của ông ấy xoay quanh những câu hỏi lớn: Bản chất của ba anh em nhà Lehman và hậu duệ của họ là những người hùng hay những kẻ phản diện? Có phải họ đã dẫn dụ linh hồn và thể xác người Mỹ bằng những thực nghiệm, hay họ chỉ đơn giản là những con tu hú đang đẻ trứng vào tổ của loài chim khác? Đây là một câu hỏi rất khó trả lời.

Những lời phê bình có vẻ ít phức tạp hơn. Một trong những lời phê bình chính xác nhất, được đưa ra bởi Sarah Churchwell trong bài viết trên chuyên trang New York Review of Books, bày tỏ quan điểm rằng tác phẩm của Massini vẫn che đậy việc nhà Lehman có dính dáng tới đường dây buôn bán nô lệ tại bang Alabama. Những vở diễn trong tương lai sẽ tập trung và phơi bày rõ ràng hơn vấn đề này.

Henry di cư tới New York. Khi tới nơi, ông ta

ngửi thấy sự thối rữa của thành phố New York,
bao quanh mình:
một hỗn hợp buồn nôn của thức ăn gia súc, khói bụi và mọi loài nấm mốc,
thật sự, thậm chí lỗ mũi của ông ta chẳng còn cảm nhận gì nữa,
thành phố New York mà ông hằng ao ước
trông có vẻ tồi tệ hơn cái chuồng gia súc của cha,
ở miền xa nước Đức, ở Rimpar, Bavaria.

Henry Lehman di chuyển về phía Nam, tới bang Alabama, vì một ngày mai tươi sáng hơn. Bertolt Brecht, một người Bavaria khác, chưa từng tới Alabama khi viết “Bài hát Alabama” (hay còn gọi là “Mặt trăng của Alabama”) vào những năm 19206. Người ta tự hỏi Henry mong đợi điều gì ở đó. Ông ấy tới, giống như hai người em ngay sau đó. Họ luôn tất bật, để đảm bảo nguyên vật liệu của họ là tuyệt vời nhất với mức giá hấp dẫn nhất.

Họ hoàn hảo, nếu không muốn nói, họ là hình mẫu trung gian lý tưởng trong quan niệm của người Mỹ. Họ trở thành nhà môi giới, mua sợi cotton và bán lại chúng ở đâu đó. Công việc kinh doanh của họ mở rộng sang lĩnh vực cà phê, dầu mỏ và than đá, với cả điện lực, đường sắt, sản xuất máy bay, truyện tranh, điện ảnh Hollywood và lắp ráp máy tính. Họ tham gia vào lĩnh vực ngân hàng, và thế là câu hỏi rốt cuộc họ đang làm gì ngày càng trở nên trừu tượng.

Người ta sẽ nhanh chóng đọc tới đoạn này:

Đầu tiên: khi chúng ta đang kinh doanh
mọi người đưa chúng ta tiền
và chúng ta đưa họ một cái gì đó đổi lại
Bây giờ chúng ta đã trở thành một ngân hàng
mọi người vẫn đưa chúng ta tiền
nhưng chúng ta không đưa trả lại gì nữa
Ít nhất là trong lúc này. Rồi chúng ta sẽ xem xét sau.

Tới cuối cuốn sách, việc tráo đổi nợ nần và những tính toán phức tạp khiến cho mọi người phải tự hỏi, “Ít nhất, bạn đã từng tự hỏi rằng một cái trại chăn nuôi7 như thế liệu có hợp pháp?”

“Bộ ba Lehman” trở nên sống động trên từng trang giấy nhờ có những khoảnh khắc đầy tính người: sự tán tỉnh giữa những cặp vợ chồng; vụ bê bối và lừa đảo; những nỗ lực bất chấp để leo lên tầng lớp cao hơn.

Đoạn hay nhất của vở kịch là khi nhà Lehman muốn có một xếp hạng cao hơn trong ngôi đền Manhattan8, cạnh tranh với những tập đoàn gia đình như Goldmans và Sachses – những kẻ có rất nhiều điểm chung với họ. Massini viết:

Điểm khác biệt duy nhất
vì sự thật nên được phơi bày
chính là sự thật rằng nhà Goldmans
họ kinh doanh một thứ kim loại
gọi là vàng
và họ tự hào về điều đó
nên họ dùng nó làm họ.
Vì thế, và cũng chỉ vì lý do này
họ được xếp vào dãy thứ hai
trong Ngôi đền.”
9

Gia tộc có quá nhiều sự mộng tưởng đẹp đẽ, được nhào nặn bởi những ngón tay ma thuật, nhồi nhét vào đầu những thanh niên đời sau. Họ học được cách đánh bóng tên tuổi thông qua hoạt động từ thiện. Một hình thức tẩy não trong thời gian dài dành cho những thành viên trẻ trong gia tộc.

Anh em nhà Lehman ngày càng thèm muốn những con mồi mới. Massini có một quãng nghỉ để chỉnh sửa lại một số thuật ngữ tài chính. Trước đó, những từ như “vượt trội” hay “đối thủ cạnh tranh” vốn được sử dụng, bây giờ sẽ phải nhường chỗ cho “áp đặt” và “kẻ thù”. Nhà Lehman nắm chặt lấy quyền lực của họ thông qua kiểm soát, kỷ luật và trừng phạt. Khi mà kẻ thù đã bị chinh phục, họ sẽ áp đặt trạng thái Carthage10. Thương trường đã trở thành chiến trường.

Có một sự lệch lạc kỳ dị nhưng sâu sắc trong những bộ phim được sản xuất vào thời kỳ hoàng kim, mà đa phần được nhà Lehman tài trợ. Massini cho rằng những bộ phim đó, hay những diễn viên như John Wayne, đã mãi mãi bóp méo hình tượng nam tính của người Mỹ.

“Người đàn ông nên trao những nụ hôn? Chẳng bằng nhổ toẹt,” Massini viết. “Người đàn ông thấu hiểu? Tốt hơn là anh ta nên cắn càn”. Ông bổ sung thêm: “Năm này qua năm khác, những cư xử tốt đẹp / đã bị cuốn đi bởi hàng tá bộ phim.”

Massini sử dụng một thứ ngôn ngữ tự hào hứng với chính nó, và luôn luôn có khả năng thôi miên người đọc. Tuy nhiên, trong một vài khoảnh khắc, tôi ao ước phải chi mình đang đọc một đoạn thuật ngắn về lịch sử tập đoàn này, nhưng mà, chà, những khoảnh khắc đó cũng hiếm lắm.

Anh em nhà Lehman rất giỏi những việc họ đã làm. Họ còn được ban cho nhiều may mắn. Họ có phần nào đó giống với Rosencrantz và Guildenstern trong vở kịch của Tom Stoppard, những người đã tung được mặt ngửa đồng vàng trong 157 lần liên tiếp.

Công ty nên tiếp tục tung đồng xu cho tới khi, Massini viết:

họ đã đạt được thành công
và rồi họ hối hận.

Hết.

Bún Cứng dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Dwight Garner, đăng tại The New York Times.

Chú thích:

  1. Nguyên văn không có, dịch giả bổ sung để làm rõ nghĩa cho đoạn văn.
  2. Nguyên văn: vở kịch “Death of a Saleman” của nhà viết kịch Arthur Miller người Mỹ, được công chiếu trên sân khấu Broadway vào tháng 2 năm 1949. Vở kịch đã mang lại giải Pulitzer và giải thưởng Tony cho vở chính kịch hay nhất năm 1949.
  3. Nguyên văn: vở kịch “Who’s Afraid of Virginia Woolf?” của nhà viết kịch Edward Albee, được công chiếu trên sân khấu Broadway năm 1963. Vở kịch cũng mang lại giải thưởng Tony cho vở kịch hay nhất năm 1963 và được dựng thành phim năm 1966 bởi đạo diễn Ernest Lehman.
  4. Nguyên văn: Boiler-room, từ chuyên ngành trong kinh doanh, nói về một phòng làm việc của dân bán hàng tài chính, trong đó, những tay bán hàng gọi điện cho các nhà đầu tư tiềm năng và dùng mọi cách để thuyết phục họ bất chấp thủ đoạn.
  5. Richard Dixon (1956): Dịch giả, tiểu thuyết gia rất nổi tiếng người Anh với chuyên môn sâu về văn học Ý.
  6. Ý kiến dịch giả: trong câu này, ý người viết muốn ám chỉ suy nghĩ của Henry lúc đó, chưa từng tới Alabama nhưng tưởng tượng ra những điều tốt đẹp tại đó.
  7. Nguyên văn: rodeo – theo nghĩa Mỹ, nó chỉ cuộc tập trung gia súc tại các trại chăn nuôi để đóng giấu. Ý nói nơi tập trung hỗn tạp và làm những công việc bẩn thỉu.
  8. Nguyên văn: Mahattan temple. Tại Mahattan, New York có một kiến trúc tên gọi Mahattan temple. Tuy nhiên, trong đoạn văn này, cũng có thể hiểu người viết đang nhắc đến Temple of Capitalism – ngôi đền tư bản nhắc tới nhóm những Ngân hàng và Tổ chức tài chính lớn hoạt động theo kiểu tư bản tại phố Wall, Mahattan, New York.
  9. Tác giả muốn mỉa mai về các hoạt động của những ngân hàng lớn, kinh doanh quá nhiều ngành và nhiều thủ đoạn.
  10. Thuật ngữ “Hòa bình Carthaginian” xuất hiện khi đế chế La Mã tấn công thành phố Phoenicia của Carthage, một kiểu hòa bình giả vô cùng tàn bạo khi hoàn toàn nghiền nát kẻ thù, tiêu diệt hết người cầm quyền cũ, tiêu diệt quân đội và phá hủy hoàn toàn thành phố.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đỗ Quyên đỏ trên Bình nguyên

Đăng từ

on

Người đăng

Làm sao chúng ta có thể trốn thoát? Lưới ở trên và bẫy ở dưới. Chạy là chúng ta chết.

Nhưng loài lau sậy là không hủy diệt được. Chúng không sợ mặn và sinh tồn bừa bãi. Khi tôi nghĩ chúng biến đi rồi, chúng liền quay trở lại. Chúng mọc bất kì chỗ nào. Dù đó là muối.

Văn chương châu Á từ trước đến nay phần lớn vẫn luôn gắn liền với bối cảnh lịch sử. Đó có lẽ là lý do khi đọc văn học Hàn Quốc ta sẽ bắt gặp phong trào sinh viên, đọc Iran là Cách mạng Hồi Giáo hay Ấn Độ là thời kì đầy biến động dưới thời Indira Gandhi. Cùng chung một đặc điểm đó, nhắc đến Trung Quốc, điều ấn tượng nhất có lẽ là một trong những thời kì đen tối nhất của lịch sử đất nước này – Đại Cách mạng Văn hóa, xuất hiện trong văn chương của Mạc Ngôn, của Giả Bình Ao, của Lưu Chấn Vân, của Vương Mông… Trong số những tác gia kể trên, Anchee Min với Đỗ Quyên đỏ và Tất Phi Vũ với Bình nguyên dường như là hai tác phẩm có sự tương đồng về mặt nội dung, bối cảnh và tiếng nói về một thời đoạn rất nhiều biến động. Ở đó ta thấy được rất nhiều thứ: từ cuộc sống đè nén của tầng lớp trí thức đến những âm mưu tranh giành quyền lực, để từ trong đó bản chất con người hiện ra, giá trị xuống thấp và trên hết, nhiều dạng người ngợm lần đầu được phép tung bay.

Anchee Min viết Đỗ Quyên đỏ như trải nghiệm thực của bản thân mình. Phần lớn những chi tiết trong tiểu thuyết này là cuộc đời thực của bà, từ ý nghĩa tên mình đến các anh, chị em; từ ký ức doanh trại đến khi bước chân vào hãng phim, sau đó đến Mỹ và định cư hẳn. Có thể nói, với Anchee Min, Đỗ Quyên đỏ dường như trở thành máu thịt, thành một cái ung nhọt không thể không viết. Những ký ức về thời kỳ ấy như dây thường xuân quấn quanh cổ bà, càng buông lơi chúng càng thít chặt, và có cảm giác, chỉ có viết chúng mới nới ra đem lại hơi thở. Trong khi đó, với Tất Phi Vũ, giai đoạn Đại Cách mạng Văn hóa gắn liền với tuổi thơ ông, của những đấu tranh rầm rộ và những sự thật muốn quên. Nói thế để hiểu rằng, với cùng một chủ đề, Anchee Min gắn bó máu thịt của mình vào đó, là tiếng thở dài, là lời giải tỏa cho một số phận đã bị nhấn chìm. Trong khi với Tất Phi Vũ, ông đứng đó và tái hiện hoạt cảnh của bầu không khí ông từng hít thở, không là máu thịt, nhưng ít nhiều vẫn còn lưu lại trong huyết quản ông, một sự thân quen tưởng như xa lạ.

Với hai sự gắn bó khác nhau, hai cảm quan khác nhau hướng cùng về một thời kỳ, hai tiểu thuyết cũng có những khởi đầu khác nhau. Nếu Tất Phi Vũ hướng về nông thôn, là cái nôi rất thường thấy khi được tái hiện trong văn chương của Mạc Ngôn, của Lưu Chấn Vân; thì Anchee Min lựa chọn một nơi đầy học thức và sôi nổi hơn – Thượng Hải, nơi bà sống cùng gia đình từ những ngày đầu. Ở đây, nếu Tất Phi Vũ mở ra không gian của những ruộng mạch trải ngàn, của vụ lúa – vụ mạch, của người nông dân chất phác, hiền lành nhưng cam chịu; thì Anchee Min lại tái hiện những trí thức nơi chốn phồn hoa với cơn bão chỉ vừa chớm đến. Ở điểm này, cả hai tiểu thuyết cộng hưởng vào nhau, cho thấy bộ mặt của Trung Quốc ở cả hai phía thành thị – nông thôn của một thập kỷ vô cùng biến loạn.

*

Nếu Mạc Ngôn có vùng Cao Mật, Lỗ Tấn có Vị Trang, Trương Ái Linh hay Kim Vũ Trừng có Thượng Hải, thì may thay; ở đây Tất Phi Vũ có làng họ Vương. Bao nhiêu hỉ nộ ái ố đều xoay chuyển diễn biến trong ngôi làng này. Theo chân Đoan Phương – một thanh niên mới lớn với gia cảnh phức tạp, ở cùng một nhà với bố dượng, con mẹ, con bố; anh sớm chán nản và đâm ra không có phương hướng. Đến tuổi cập kê, anh rơi vào lưới tình với Tam A, nhưng không may bị cả hai bên gia đình ngăn cấm. Tam A vì muốn chứng minh tình yêu của mình, uống thuốc sâu đóng kịch tự vẫn như Shakespears thời hiện đại. Nhưng trêu ngươi thay, trên đường đến bệnh viện lại bị truyền nhầm sôđa thay vì truyền dịch, dẫn đến cái chết tức tưởi của người con gái hết lòng vì tình.

Đoan Phương từ đây căm ghét mọi thứ, chuyển đến chuồng lợn của lão Gù, học nuôi lợn và lờ mờ nhận thức chỉ có con đường đi bộ đội, đứng vào hàng ngũ của Đảng mới là lựa chọn sáng suốt. Nhưng chướng ngại lớn nhất lại là Ngô Mạn Linh – bí thư chi bộ, người thầm thương trộm nhớ anh nhưng vì sĩ diện một hôm uống rượu đã đập đầu vái lạy cô, làm cả hai người như đứng trên hai bờ vực thẳm. Kết thúc câu chuyện cũng là lúc Ngô Mạn Linh phát bệnh dại, cắn vào Đoan Phương và nói câu cuối: “Đoan Phương, cuối cùng em cũng bắt được anh rồi!”

Còn Đỗ Quyên đỏ là câu chuyện của nhân vật “tôi” – một Hồng vệ binh từ trong trứng nước, con gái của một gia đình tri thức, đến tuổi và bị dời đến nông trường Lửa Đỏ – nơi sát biển Đông, đất không thể cấy, nước không thể uống. Từ đây, cô bắt gặp Nghiêm – đại đội trưởng của nông trường và cảm nhận được sự đồng cảm. Hai người cùng nhau đấu tranh với Lu – người ham mê quyền lực và luôn mong muốn thay thế chỗ Nghiêm. Càng ngày cả hai nhận ra tuổi trẻ, sắc đẹp và mọi thứ của họ rồi sẽ chôn vùi nơi nông trường ấy. Nhưng may mắn thay, vở kinh kịch Đỗ Quyên đỏ của Giang Thanh hay Mao phu nhân – đang tuyển diễn viên để phổ biến tinh thần Cách mạng vô sản đến đại đa số quần chúng. “Tôi” may mắn lọt vào mắt xanh của Giám sát ủy viên, trở thành tình nhân của ông, đóng vai Đỗ Quyên đỏ. Nhưng lịch sử không dừng ở đó. Đến cuối tác phẩm là lúc Mao qua đời, đế chế Giang Thanh bật gốc, cuối cùng Đỗ Quyên đỏ không được công chiếu và mãi mãi chìm sâu vào tầng tầng lớp lớp thời gian, chỉ còn lưu lại ở trong ký ức.

Dù ít hay nhiều, với cả Bình nguyênĐỗ Quyên đỏ, cả hai đã cho thấy một Trung Quốc vô cùng biến loạn dưới thời Cách mạng Văn hóa. Ở đó cuộc sống của con người bị đè nén, ngạt thở bởi những cứng nhắc gắn khung của Hồng vệ binh, của loa tuyên truyền. Những người phục vụ Cách mạng không có gì hơn là cuộc đua tranh quyền lực. Từ tận cùng tầng lớp nông dân như Đoan Phương – Hỗn Thế Ma Vương; đến cao hơn – những chỉ huy Cách mạng như Ngô Mạn Linh, như Nghiêm, như Lu. Và cao hơn hết, là Giang Thanh, là Hoa Quốc Phong, là Đặng Tiểu Bình… Một thời đoạn sản sinh đầy đủ hạng người, đa thể xúc tu của loài bạch tuộc vươn vòi vào trong nhân dân; từ đó phóng mực, tháo tua hay ngụy trang vào trong lịch sử, làm nên thời đại đen tối vô cùng muốn quên.

*

Cái ngột ngạt ấy đè nén người ta không chỉ về cái ăn, cái mặc, nơi ở, chốn về, về sự công bằng – bình đẳng; mà còn về tình cảm lứa đôi, tình yêu nhục dục. Dễ nhận thấy ở cả hai tiểu thuyết trên, Anchee Min và Tất Phi Vũ đều xây dựng sự đè nén ấy bằng ngọn lửa dục tình. Nếu ở Bình nguyên là sự dằn vặt của Ngô Mạn Linh – người “là đàn ông, chẳng phải đàn bà. Hai tay hai súng, chẳng có ngày đêm”. Cô bị gắn chết bởi cái danh bí thư chi bộ, từ đó bản năng đàn bà trong cô dường như cũng chết theo. Cô tự dối mình về vị trí, về những vai trò cô đang mang tên; nhưng trước những đêm lạnh giá, sự tò mò về thân thể hay sức nặng của Vô Lượng – chú chó cô nuôi – vẫn luôn mang đến sức nặng của người đàn ông cô hằng mong ngóng. Dẫu nhìn ở góc độ nào, tình cảm bị đèn nén của Đoan Phương – Tam A – Ngô Mạn Linh làm nên cái ngột ngạt của thời khắc ấy. Họ là con người của thời đang yêu nhưng gục ngã và tự kiềm chế nhau ngay trong bản ngã, làm nên một sự kiềm giữ vô cùng nguy hiểm, để rồi chính từ trong đó, những bi kịch câu chuyện mới dần lộ ra.

Hơn một cấp nữa, Anchee Min bằng cảm quan nhạy bén và sự tinh tế của người phụ nữ đã viết nên cái đè nén dục tính vô cùng khiêu gợi. Ở đây là mối quan hệ giữa Nghiêm và “tôi”. Hỏi họ có phải một đôi yêu nhau kiểu Carol của Patricia Highsmith không cũng thật khó trả lời. Ban đầu, “tôi” đóng vai một người đàn ông thay thế chỗ Báo để đến với Nghiêm. Nhưng sự tiếp xúc xác thịt ấy xuất phát từ rất nhiều chỗ: từ sự đè nén, từ ham muốn cá nhân, từ sự tự huyễn hoặc bản thân. Đến khi sau này, khi chứng kiến cuộc làm tình giữa Báo và Nghiêm ngay trong ngôi nhà chính mình, “tôi” mới chợt nhận ra “chị đang giết chết tình yêu của chúng tôi bằng chính bàn tay chị”. Dù đấy là cuộc tình rất khó xác định, ngay cả khi sau này “tôi” lại đến trong vòng tay của giám sát ủy viên – một người đàn ông mang nét đẹp phụ nữ; nhưng sự thật về bản chất những đụng chạm ấy vẫn còn bỏ ngõ. Chỉ biết rằng là, với cuộc tình rất khó gọi tên ấy, Anchee Min đã vẽ nên không khí ngột ngạt của giai đoạn này vô cùng tinh tế bằng những màu phim như Vương Gia Vệ, tinh tế, đẹp đẽ nhưng đầy chật chội khung hình.

Cái không khí ấy còn được biểu hiện bằng cái thiếu ăn, thiếu mặc trong Bình nguyên của Tất Phi Vũ. Họ quanh năm làm lụng một vụ mạch – một vụ lúa nhưng vẫn chưa bao giờ đủ ăn. Thóc lúa làm hết bao nhiêu đều được chở đến Uỷ ban. Nhưng Uỷ ban chính ở nơi đâu họ cũng không rõ. Còn với người thành thị, cái không khí ấy biểu hiện rõ nhất là khi họ mất đi sự bình đẳng, là khi hai chữ “trí thức” đang hại đời họ. Ở đó không còn công bằng, không có công lý: “Họ xông lên mang theo những chiếc bô đổ đầy phân lên chăn chiếu nhà tôi. Không có cảnh sát […] Hồng vệ binh bắt đầu cướp phá các ngôi nhà. Chẳng một ai đáp lại lời kêu gọi giúp đỡ của chúng tôi. Hàng xóm chỉ đứng nhìn”.

Ngoài bức tranh hiện thực cuộc sống ở nông thôn – thành thị, ngoài những đèn nén ngột ngạt cá nhân; đâu đó vẫn còn lẩn khuất là những đam mê tham vọng quyền lực, từ đó bản chất con người, giá trị con người hay nói đúng hơn từng dạng người ngợm được lúc hiển hình. Họ sống trong một thời đoạn bị giam hãm về ý thức, mọi thứ trích dẫn được lôi từ cuốn Mao tuyển mà không suy nghĩ, tính toán một cách thiệt hơn. “Họ nhảy từ các cao ốc xuống để tỏ lòng trung thành với ông Mao. Có nghĩa cái chết thể xác chẳng là gì, nhẹ như lông hồng. Chỉ khi chết vì nhân dân, cái chết đó mới nặng hơn núi”.

Từ những tham vọng hẹp hòi, bản chất tị hiềm dần dần lột sạch trút bỏ xiêm y miệng đời vẫn thường hay thấy. Vì tham vọng cá nhân mà Hỗn Thế Ma Vương có thể cưỡng hiếp Ngô Mạn Linh để rồi để lại vết thương mãi mãi trong cô, để từ đó cô nuôi Vô Lượng, cũng là nguồn cơn cho cơn bệnh dại ở phía sau cùng. Cũng vì quyền lực mà Nghiêm và Lu luôn luôn thù địch, nghĩ bao mưu kế kiếm chuốc hại nhau. Họ ở đó, nhưng đồng thời không ở đó. Họ là xác không hồn, hay hồn không xác, không ai biết rõ. Đến cuối rồi thì, Đỗ Quyên đỏ chẳng phải là vở kinh kịch của riêng Giang Thanh – là vở ca kịch tái hiện cuộc đời của bà, từ người ưu tú trở thành vô dụng trong chính quyền Mao, từ con gà đất đến cái chết thiêu rụi trở thành phượng hoàng? Nhưng loài giống đó chỉ có trong truyện cổ tích, đến cuối rồi thì, gà vẫn là gà, Giang Thanh bị bắt và Đỗ Quyên đỏ vẫn mãi chìm trong bóng tối. Nhưng cuộc đua ấy liệu có dừng lại?

*

Anchee Min và Tất Phi Vũ bằng hai hướng tiếp cận khác nhau đã cho thấy một thời biến loạn vô cùng đen tối của lịch sử Trung Quốc. Bằng cuộc sống đè nén ngột ngạt và những trò chơi vương quyền chưa đến hồi kết, cả hai tác gia cung cấp cho ta góc nhìn vào trong bản chất con người ở thời đoạn ấy. Nói như một câu của nhân vật Nghiêm, Đây là một trại điên, cái nông trường Lửa Đỏ này. Mở rộng ra hơn, Trung Quốc ở thời gian ấy là một nồi sôi với sự đè nén lên đến cùng cực. Bình nguyên từng đứng ở vị trí thứ hai trong 10 tiểu thuyết hay nhất Trung Quốc năm 2005 không hẳn là sự bất ngờ, nó còn được dịch sang cả tiếng Pháp như cách chứng minh cho giá trị mình. Anchee Min sau này còn được biết đến với bộ tiểu thuyết viết về Từ Hy, nhưng Đỗ Quyên đỏ vẫn luôn là một dấu son chói lọi rất khó thay thế trong văn nghiệp bà. Hai tác giả, hai tác phẩm và một thời đoạn đã quá đảo điên.

Hết.

Ngô Thuận Phát

*

Những cuốn sách viết về thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa



Đọc tất cả bài viết của Ngô Thuật Phát.


Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Người trong gương: Những siêu hình tâm trí

Trái tim cần phải tan vỡ, tâm trí phải lạc đi sau một cái nhìn, cảm xúc và trực giác thì mắc kẹt. Như thế mới có trái tim, mới có tâm hồn.

Đăng từ

on

Người đăng

Những mặt phản chiếu từ trước đến nay vẫn luôn đóng một vai trò quan trọng trong dòng chảy văn hóa. Nó không những xuất hiện đầy chuyển động trong văn chương, phim ảnh hay âm nhạc; mà ở mặt khác, với mọi lứa tuổi, những mặt phẳng này cũng chứa trong mình những bí ẩn đáng ngờ ở phía sau. Nên nhớ rằng, nếu không bước qua chiếc gương thần kì, ta đã không có một Alice ở xứ sở thần tiên; cũng càng nên nhớ rằng, nếu không soi mình dưới hồ để rồi chết vì tự yêu thái quá, thì hẳn câu chuyện về chàng Narcissus đã đổi rất khác. Và còn gì còn nữa? Nếu nhà gương ở Santa Cruz không hiện diện, ta hẳn đã không có Us đầy cảnh báo về nước Mỹ đương thời; và cũng sẽ không có một cuốn sách đầy tầng lớp ẩn chứa như Người trong gương.

Người trong gương của Will Eaves là một cuốn sách lạ kỳ, như thể nó bị bám bụi những lớp thời gian mang tính nhận thức, mà mỗi lần đọc, mỗi lần giở trang; ta lại thấy xuất hiện một góc nhìn mới, một cảm quan mới không chỉ ở phía bên ngoài, mà tận thẳm sâu bên trong ta cũng thay đổi theo. Người trong gương mỏng manh nhưng chất chứa, trần trụi nhưng thẳm sâu; Will Eaves một cách tài tình đã biến một cuốn tiểu sử cá nhân thành tiểu thuyết văn chương vô cùng cuốn hút và mạnh mẽ như thế.

Ảnh: I Love Books

Người trong gương kể về câu chuyện của nhà toán học, logic học và mật mã học Alan Turing những năm cuối đời. Mặc cho những đóng góp to lớn của ông trong việc giải mã những mật mã Đức giúp Thế chiến thứ hai rút ngắn hơn hai tháng; nhưng chỉ vì tính dục và sự hấp dẫn vô hại giữa hai người đàn ông, ông bị chính quyền Anh kết tội và buộc phải chấp nhận liệu pháp hormone nữ thay cho việc ngồi tù. Người trong gương viết về những thay đổi, biến tướng, những tưởng tượng và ngộ nhận, nỗi sợ hãi và đầy hoài nghi của Alan Turing trong những ngày này, khi mọi thứ với ông như được nhân đôi: giữa một bản thể duy nhất và nhiều bản sao ở khắp xung quanh, nhìn ngắm, theo dõi và quan sát ông. Ở đó, bằng phản ứng của thứ stilboestrol ức chế các hormone làm biến đổi cơ thể, ông chìm vào trong những giấc mơ – thực tại pha lẫn, để một lần nữa lại sống cuộc đời mình: trong gia đình bất hạnh, về cuộc tình với Christopher, người hôn phu June hay công việc giải mã và lập trình máy tính. Bằng tính siêu hình của văn chương và góc nhìn biến thể đầy biên giới của toán học, vật lý học; Will Eaves đã viết nên cuốn sách đầy mơ mộng pha lẫn, đầy ảo ảnh hoài nghi và trên hết, siêu hình đến vô nghĩa lý nhưng hợp lý cho những gì đã xảy ra với Alan Turing.

Với Người trong gương, điểm độc đáo và đặc biệt nhất mà Will Eaves đã khắc họa được chính là cuộc đấu tranh giữa bản thể Alan Turing và những cái tôi – những bản sao vẫn vần vũ trong đầu ông, nó có thể hiển hiện như một hình bóng khác trong gương, như những giọng nói, cổ máy điều khiển hay những ảo ảnh bị bẻ cong… Có cảm giác như, chỉ qua một đêm và một biến cố, căn phòng của riêng ta nơi Orlando thiếp ngủ để sáng hôm sau từ người đàn ông trở thành phụ nữ đã được tái hiện, lần này không mang danh Woolf mà là Eaves. Orlando cũng không phải nhân vật tưởng tượng, mà đó là Alan Turing – con người thật, con thú bị dồn ép đến chân tường, một bệnh nhân, một tù nhân bị đặt trong một hệ thống công lý phi logic nơi người đồng tính mang theo mình cái bóng đen u ám về hình ảnh yếu đuối của bản thân khi đi đâu cũng gặp phải chống đối và kỳ thị, của tình cảnh thảm bại cùng cực khi bị đuổi việc, của hàng quán không ai chịu bán hàng cho, còn người quen thì làm như không biết nếu lỡ gặp ngoài đường.

*

Đầu tiên trước hết là một bản sao – người trong gương. Khi tác dụng của thứ hormone chuyển đổi giới tính bắt đầu kích hoạt, cũng là khi Alan nhận thức được sự thay đổi của bản thân mình. Những giấc mơ chập chờn kéo đến trong cơn mê sảng, nơi ông và người tình Christopher với mối tình thầm kín chưa kịp nói ra – cùng nhau bơi sang sông, nơi những ngôi nhà sang trọng trồng đầy mâm xôi nhiều màu sắc. Mối tình duy nhất từ thuở thiếu thời ám ảnh Turing trong mọi chi tiết, như điểm hội tụ cho từng câu chuyện phân kì, để rồi trở đi trở lại, ta thấy những ảo ảnh chòng chành khác dường như đều tỏa ra từ bữa tối hôm ấy – trên chiếc thuyền nơi C.C.Molyneaux lặn sâu xuống đáy sông của những phế tích tráng lệ một thời. Dòng sông phải chăng là một mặt phản chiếu khác, nơi cả Molyneaux và Alan đều bị hút vào, mà hành động xuẩn ngốc trong một giây phút? Cuộc tình cô độc ấy được Will Eaves khắc họa đẹp đến mức những liên tưởng liền quy về Bệnh nhân người Anh, nơi người phi công già hồi tưởng về những phiên chợ phương Đông bên rìa sa mạc sực nức mùi hương trên chiếc giường bệnh, hay một cảnh khác, khi Elio và Oliver đạp xe trên những phiến đá lát đường xứ Ý, đẹp đẽ đến độ nao lòng.

Bây giờ anh tắm chậm lắm, vì cơ thể anh đau đớn. Da anh nhức nhối, nhưng anh cũng quen dần với cái đau nhói khi chạm vào nước và cảm giác ngượng ngùng khi thấy hình dáng của mình sao mà thay đổi, với vết thâm dưới cánh tay, dấu vết của tính đàn ông dần biến mất trong anh, với cái hông phình ra béo núc ních […] Một con người với những nỗi đau […] Rồi khi ăn, anh lại chỉ dẫn cho acid trong dạ dày mình hoạt động. Mọi thứ tác động lên anh để có được phản hồi như người ta đã lập trình và đôi khi anh không thể tưởng tượng ra cách nào để lấy lại tự chủ. Có lẽ cũng có một lần ngoại lệ, bằng cách đo lường cực đoan đáng xấu hổ của việc gợi ý cho họ một cơ chế tạm dừng. Đó có lẽ cũng là lý do vì sao khi bình minh vừa rạng và người thầy giáo (trong mơ) cũng là bác sỹ tâm lý cho Alan (đời thực) cùng người góa phụ phụ tá đến căn nhà, Alan hay Molyneaux – lúc này ta không phân biệt nổi – đã trùm cái sọ hươu trống rỗng làm một biến thể người – hươu chạy trốn ánh sáng (hay sự thật khi cơ thể đã rành rành thay đổi). Chú hươu bơi sang sông, nhưng nỗi sợ nhấn chìm nó, nó càng vùng vẫy cặp sừng tráng lệ, nó chỉ càng chìm nhanh hơn. Những giấc mơ của Alan như tiên đoán trước một điều, và như câu văn trên – một cơ chế tạm dừng – rất có thể là chất cyanua ở phía cuối đời, dù cho vô tình hay là hữu ý. Một điềm báo thâm sâu, như bầy quạ xé toạc khoảng trời mười bảy năm tuổi. Cùng tuổi với Christopher, khi ông qua đời vì bệnh lao bò.

Bố là tổng hợp của rất nhiều người, rất nhiều thứ, khác nhau, cùng một lúc […] Một cậu bé sắp chết, một người phụ nữ trẻ, một hòn đảo với nhiều quạ đen, một người đàn ông đội gạc hươu lên đầu, một con thiên nga bay lên không, một cô y tá đang giơ kim tiêm lên… Nguồn: Đặng Xuân Lương

Không chỉ hình ảnh xuất hiện ở nơi hốc mắt, những bóng ma tiếp tục ám ảnh Alan đến độ siêu hình ở nơi âm thanh và những chuyển động. Không bất ngờ khi tên gốc của cuốn sách này (Murmur – Tiếng thì thào) cũng trùng khớp với Pedro Páramo (tên ban đầu – Los murmullos – Những tiếng thì thầm). Nếu Juan Rulfo khắc họa một địa ngục nóng đến cùng cực, nơi không có gió chỉ toàn đi xuống và xung quanh không có gì hơn ngoài tạp âm trắng của tiếng gió, tiếng sỏi lạo xạo; thì trong đầu Alan Turing, một nghĩa trang nơi linh hồn chết đã đến trú ngụ. Những linh hồn này – theo đúng nghĩa đen – đều chết, vì đó là khi Alan nghi ngại có một hệ thống máy móc làm việc bên trong mình. Không đến mức thành thực như H.G. Wells hay Karel Čapek để dựng lên một thế giới nơi máy móc ngự trị, con người bị đẩy thành thứ yếu; ở đây Will Eaves dường như khắc họa chính nỗi cơ đơn cùng cực của công việc giải mã mật mã – một trong những công việc tuyệt mật – làm nỗi đau đớn chịu tội của Alan càng thêm dày xé vì không thể chia sẻ cùng ai. Alan đến một mức độ chỉ hành động theo kiểu nhị phân, giữa 0 và 1, giữa những cỗ máy do ông tạo ra và không nghi ngờ gì nữa, một ngày nào đó sẽ trở nên thống trị trên chính thế giới mà ta đang sống.

Cũng chính những ung mủ chịu quá sức căng này làm câu chuyện Bạch Tuyết và bảy chú lùn hiện về trong giấc mơ ông đầy méo mó và quá sức chịu đựng. Nơi mẹ ông – người phụ nữ pha chế thuốc độc cho người thợ săn – June – chỗ dựa cuối cùng mà ông có – để giết chết ông. Người anh cay cú về vị trí hèn kém của mình, tị hiềm vì những công việc chân tay so với trí óc mà Alan có, người mẹ không thể đồng cảm vì những tuyệt mật công việc ông không thể nói; tất cả làm toàn cõi Alan mục ruỗng đau thương, để hiện về câu chuyện cổ tích thường thức là một cuộn phim kinh dị đến rợn người. Nơi đó mọi thứ với ông đều hiểm nguy, như một bầy ong đang cố bảo vệ thành lũy của mình – nhìn sâu bên trong đầy ắp mật ngọt, nhưng để vượt qua đó là những chông gai.

*

Hình tượng thứ ba, căn phòng – nơi ngàn con mắt đang theo dõi ông. Cảnh đồi mờ xám một ngày sương giăng nào đó Alan lần đầu tiên bắt gặp hiện thân thứ hai của mình, cũng chính trong căn phòng của cuộc sống – một thể đa bội đơn, nhưng mỗi người lại trang hoàng nó nội thất khác nhau và không ai trong chúng ta nhớ được nó đến từ đâu, dù trong sâu thẳm chúng ta đều cảm nhận rằng nó chứa đựng bên trong sự thật. Căn phòng của chúng ta là tất cả với chúng ta, là cả thế giới nội lẫn ngoại tâm, là vũ trụ và là mọi khả năng có thể của tự nhiên, của cảm xúc, giai đoạn và suy nghĩ. Mở rộng ra hơn định nghĩa một căn phòng hay một chiếc lồng, bất cứ một không gian kín nào đều cho Alan cảm nhận mình bị giam cầm, là bệnh xá nơi ông đến để chịu hình phạt để sau này trừu tượng lên thành phòng phỏng vấn; thành ngôi trường cùng học với Chris để sau này một cơn hồng thủy nhấn chìm tất cả trở về tro bụi – cũng chính là nơi con quỷ lần đầu hiện ra, vươn những xúc tu, nắm lấy chú hươu đang bơi qua sông.

Căn phòng thẩm vấn nơi Alan đối mặt với con người không có nhân dạng, nơi người điều tra và cô y tá lăm le những ống tiêm thuốc, cũng là lần đầu Alan hiểu được tình trạng của bản thân mình. Căn cước của ông lần đầu lộ diện, và đó là biến số x không hơn không kém. x là nơi ngã tư, x là nụ hôn cuối, x là một chữ cái… x là bất cứ những thứ gì đã từng tồn tại hoặc không tồn tại. x sẽ không bao giờ là một hằng số, như cuộc đời ông không là đường thẳng, chúng lên chúng xuống, cuối cùng là nỗi tuyệt vọng. như lời bộc bạch ở phía sau chót: “Tôi nghĩ mình giống như biến số x trong phép toán […] Vì sao chúng ta cứ loay hoay đi giải hết phương trình này sang phương trình khác?”

Để rồi cuối cùng mọi thứ xảy ra đều có kết thúc, căn phòng hiệu trưởng nơi Alan thọc sâu bàn tay vào cuống họng y, từ đó thoái trào một con quái vật đã dần lộ diện. Bóng nước từ đâu xuất hiện dìm hết tất cả, những thứ đẹp đẽ rồi thành phế tích. Trong căn phòng nơi tầng lầu Alan nhìn thấy Christopher rời đi cùng bố mẹ cậu, cũng là khi một sức mạnh nào đó nhen nhóm trong ông, dẫn đến hành động bạo liệt thọc sâu bàn tay. Căn phòng hiệu trưởng của người đứng đầu, liệu phải ám chỉ hệ thống xã hội vô cùng phi lý? Nơi công bằng đáng lẽ hiện diện cũng là nơi thực chất quái vật ngự trị âm mưu. Tiếng thét sau cuối là tiếng nước đổ nhấn chìm tất cả như thể tia sét sau cùng lấy lại công bằng, khi quái vật bị dìm chết và mọi thứ trở thành một kỷ nguyên sơ. Nhưng ở đó, chiếc thuyền Noah liệu có chứa nổi Alan mang đi trên mình? Hay chính chiếc thuyền vào đêm trăng sáng cả hai trèo tường vào hái mâm xôi là một dấu chỉ khi Noah xuất hiện? Nhưng đáng thương thay, vẫn là mất mát, vẫn là Molyneaux lội xuống nước sâu, để mãi mãi mất đi một nửa của mình.

*

Với Người trong gương, Will Eaves một cách tài tình đã khắc họa được một Alan Turing đầy những nghi hoặc trong cơn đau đớn bởi những áp bức phi lý của xã hội Anh những năm 50 áp đặt. Câu chuyện của Alan Turing không chỉ là một và là duy nhất, mà nó còn là tiếng nói cho những quyền lợi con người đã, đang và sẽ luôn bị áp bức; là tiếng thét khi sợi xích bất công vẫn còn quấn chặt và là tiếng nói của cơn tự hoặc tìm về bản thân. Bằng tính siêu hình văn chương vô cùng độc đáo kết hợp với những biên giới toán học vô biên, Người trong gương là cuốn sách vô cùng đáng đọc, để ngẫm, để hiểu và thẩm thấu. Không hẳn là một hành trình dễ dàng cho ai vốn ngại mạo hiểm, nhưng nếu vượt qua khúc sông cùng với chú hươu chiến thắng bạch tuộc thì Người trong gương sẽ mãi còn đó, và hành trình tìm về bản thân của mỗi chúng ta có thể bắt đầu. Một tiểu thuyết văn chương vô cùng giá trị.

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!