Nối kết với chúng tôi

Sáng tác

Truyện ngắn: Hai người phụ nữ (Amos Oz)

“Có lẽ một chuyện gì đó rất tệ hại đã xảy ra với cả hai chúng ta mà không thể cứu vãn được.”

Published

on

TWO WOMEN
Amos Oz

Sáng sớm, khi mặt trời chưa mọc, tiếng gù của đôi chim bồ câu trong bụi cây bắt đầu trôi qua ô cửa sổ để mở. Âm thanh khàn khàn, đều đều và miên man ấy vỗ về cô. Làn gió nhẹ se sẽ thổi qua những ngọn cây thông và tiếng gà gáy lanh lảnh trên sườn đồi. Xa xa vọng lại tiếng chó sủa và một con khác đáp lại. Những thanh âm ấy đánh thức Osnat trước cả khi chuông báo thức kịp reng. Cô ra khỏi giường, tắt chuông, tắm rửa và thay quần áo đi làm. Đúng năm rưỡi, Osnat đến khu kibbutz1 giặt ủi làm việc. Trên đường, cô đi ngang qua căn hộ của Boaz và Ariella, khi ấy vẫn khóa cửa và tắt đèn. Hẳn là họ còn đang ngủ. Ý nghĩ ấy chẳng gợi lên trong Osnat cảm giác ganh tị hay tổn thương nhưng đâu đó, cô cảm thấy có chút ngỡ ngàng mông lung: chừng như mọi việc đã xảy ra với ai đó chứ không phải với cô, và hình như nó đã xảy ra từ nhiều năm trước chứ không phải mới hai tháng rồi. Khi đến kibbutz giặt ủi, Osnat bật đèn lên vì ánh nắng hôm nay còn uể oải quá. Rồi cô cúi xuống đống đồ đang đợi, bắt đầu tách riêng quần áo màu ra khỏi quần áo trắng, vải bông ra khỏi vải sợi. Mùi cơ thể chua lòm bốc lên từ mớ đồ dơ, quyện với mùi bột xà phòng. Osnat làm việc ở đây một mình. Cô để chiếc radio ra rả cả ngày để xua tan nỗi đơn độc, mặc dù tiếng o o của những chiếc máy giặt đã nuốt chửng mọi giai điệu lẫn tiếng nói trên đài. Đúng bảy rưỡi, cô giặt xong mẻ đồ đầu tiên, trút quần áo ra và xếp lại, sau đó xuống nhà ăn tập thể để ăn sáng. Lúc nào cũng vậy, Osnat cứ đi chầm chậm, như thể cô không biết chắc mình sẽ đi đâu hoặc cũng không mấy bận tâm. Ở kibbutz của chúng tôi, Osnat là một người phụ nữ vô cùng trầm lặng.

Hồi đầu hè, Boaz thú nhận với Osnat anh đã qua lại với Ariella Barash suốt tám tháng và thấy rằng cả ba người họ không thể tiếp tục sống trong sự lừa dối nữa. Hắn quyết định chia tay và chuyển sang nhà của Ariella. “Em có phải là trẻ con nữa đâu. Em biết chuyện này vẫn xảy ra như cơm bữa mà, kibbutz của chúng ta cũng thế thôi. May là chúng ta chưa có con chứ không thì mọi chuyện sẽ lôi thôi hơn nhiều.” Boaz sẽ mang theo chiếc xe đạp nhưng để lại cái radio. Hắn muốn cuộc chia tay này êm ái như những tháng ngày họ đã sống với nhau. Nếu Osnat nổi giận, hắn hoàn toàn thông cảm được, mặc dù thật ra, cô chẳng có gì để tức giận cả. “Anh không cố tình tổn thương em. Chuyện với Ariella, cứ đến là đến thôi. Mọi chuyện chỉ có thế.” Nhưng dù sao đi nữa, hắn cũng rất áy náy. Hắn dọn đi ngay và để lại cho cô không chỉ là chiếc radio mà tất cả mọi thứ, kể cả cuốn album, những chiếc gối thêu và bộ pha cà phê – món quà cưới của họ.

“Vâng”, Osnat đáp.

“Ý em là sao?”

“Đi,” cô nói, “anh đi đi.”

*

Ariella Barash là một người phụ nữ đã ly dị chồng, cao ráo, mảnh mai, với chiếc cổ thanh thoát, mái tóc bồng bềnh nhiều tầng và đôi mắt biết cười, trong đó có một con từng bị lé kim. Cô làm việc trong một trang trại gà và quản lý Phòng Văn hóa của kibbutz, chịu trách nhiệm tổ chức cưới hỏi, lễ kỷ niệm và kỳ nghỉ cho xã viên. Bên cạnh đó, cô còn mời diễn giả đến giảng dạy vào những buổi tối thứ Sáu và đặt phim chiếu trong nhà ăn vào tối thứ Tư. Ariella nuôi một con mèo già và một con chó nhỏ, hình như là chó con. Cả ba chung sống hòa bình với nhau trong căn hộ của cô. Con chó thường bị con mèo hăm he nên lịch thiệp nhường cho nó hẳn cả chiếc giường rộng. Con mèo phớt tỉnh người bạn chung nhà, lững thững đi qua mặt con chó như thể nó là kẻ vô hình. Suốt cả ngày, hai con vật hục hặc trong căn hộ của Ariella, mèo nằm trên sofa còn chó nằm trên thảm, “nước sông không phạm nước giếng”.

Trước đó, Ariella đã kết hôn với Ephraim – một quân nhân. Được một năm, anh bỏ cô để chạy theo một cô lính trẻ. Mối quan hệ của cô với Boaz bắt đầu vào cái ngày anh đến nhà cô, mặc chiếc áo ba lỗ đi làm đẫm mồ hôi loang lổ vết dầu máy. Ariella đã nhờ anh ghé ngang để sửa hộ cái vòi nước bị hỏng. Anh đeo một chiếc thắt lưng da có khóa bằng kim loại. Khi Boaz cúi xuống sửa vòi, cô dịu dàng vuốt ve tấm lưng rám nắng của anh mấy lần, cho đến khi anh quay lại mà hai tay vẫn không rời chiếc tua vít và mỏ lết. Kể từ hôm đó, anh thường lẻn sang căn hộ của cô, lúc thì nửa tiếng, lúc lại một tiếng. Người trong kibbutz Yekhat phát giác ra sự vụng trộm này và chẳng buồn giữ bí mật. Họ xì xầm: “Đúng là một cặp trái khoáy; anh ta thì câm như hến còn chị ta thì miệng mồm như tép nhảy.” Roni Shindlin – cái gã chuyên đùa cợt ví von: “Đúng là chạch đẻ ngọn đa.” Không ai nói gì với Osnat, chỉ có mấy người bạn của cô vẫn luôn bày tỏ sự cảm thông, rằng cô không hề cô đơn, và dù cô cần bất cứ thứ gì, từ những thứ nhỏ nhất… họ cũng sẵn lòng giúp đỡ.

Rồi Boaz chất đồ lên chiếc giỏ xe đạp và dọn sang căn hộ của Ariella. Buổi chiều, hắn sẽ từ ga-ra trở về nhà, thay đồ lao động ra rồi đi tắm. Ngay ngoài bậc cửa, hắn luôn hỏi vọng vào: “Hôm nay ở nhà có chuyện gì không?” Ariella sẽ đáp với vẻ ngạc nhiên: “Chuyện gì là chuyện gì? Chẳng có gì hết. Anh tắm đi rồi mình uống cà phê.”

*

Trong hộp thư riêng nằm phía bên trái, cách xa cái thùng thư gần với cửa ra vào nhà ăn tập thể, Ariella tìm thấy một tờ giấy nhắn được gấp lại. Trên đó là nét chữ viết tay tròn trịa, điềm tĩnh của Osnat:

Boaz hay quên uống thuốc huyết áp. Anh ấy cần uống vào mỗi sáng và tối trước khi đi ngủ. Buổi sáng, anh ấy còn phải uống nửa viên thuốc cholesterol. Chị đừng cho anh ấy ăn tiêu đen hay nhiều muối trong rau trộn, nên ăn phô mai ít béo nhưng đừng thêm thịt bò. Anh ấy có thể ăn gà và cá, nhưng đừng nêm nhiều gia vị quá. Và không nên để ảnh dùng quá nhiều đồ ngọt.
Osnat
T.B: Boaz nên uống ít cà phê đen lại.

Ariella Barash viết vài dòng trả lời Osnat, với nét chữ sắc cạnh và chất chứa sự bất an. Cô bỏ mảnh giấy vào hòm thư:

Cảm ơn chị. Chị thật tử tế khi đã viết thư cho tôi. Boaz còn bị ợ nóng nhưng anh cứ bảo không sao hết. Tôi sẽ thử làm những việc chị đã dặn nhưng anh ấy không hề dễ tính chút nào. Anh ấy không hề để tâm đến sức khỏe, và cũng vô tâm với rất nhiều chuyện khác nữa. Chị biết mà phải không. Ariella B.

Osnat trả lời:

Nếu chị đừng cho anh ấy ăn thức ăn chiên, đồ chua hoặc cay, ảnh sẽ hết ợ nóng.
Osnat.

Vài ngày sau, Ariella Barash trả lời:

Tôi vẫn thường tự hỏi, rốt cuộc, chúng tôi đang làm gì vậy? Anh ấy thì chôn chặt cảm xúc còn lòng tôi thì không thể nào yên được. Ảnh bao dung với con chó của tôi nhưng không thể chịu nổi con mèo. Chiều nào từ ga-ra về, Boaz cũng hỏi tôi: Hôm nay có chuyện gì không? rồi đi tắm, uống chút cà phê đen, và ngồi lên ghế của tôi đọc báo. Khi tôi thử mang cho anh ấy tách trà thay vì cà phê, ảnh liền nổi đóa lên và cằn nhằn rằng tôi hãy thôi làm mẹ của anh ấy đi. Sau đó Boaz thiếp đi, tờ báo rơi xuống sàn. Bảy giờ tối, anh thức dậy nghe tin tức trên đài. Vừa nghe, anh vừa nựng nịu con chó và lẩm bẩm mấy lời âu yếm. Nhưng khi con mèo nhảy lên đùi anh và vòi vĩnh được cưng chiều thì Boaz lại hất nó ra với vẻ ghét bỏ khiến tôi xấu hổ vô cùng. Khi tôi nhờ anh sửa cái ngăn kéo bị kẹt thì anh ấy không chỉ sửa mà còn tháo nó ra và gắn vào hai cánh cửa tủ kêu cọt kẹt, rồi cười nhăn nhở hỏi liệu có nên sửa luôn nền nhà hay mái nhà không. Tôi tự hỏi trước đây, điều gì ở anh ấy đã thu hút tôi vậy và có lẽ bây giờ vẫn còn một chút chăng, nhưng tôi không tìm được câu trả lời nào rõ ràng. Thậm chí sau khi tắm xong, móng tay anh ấy vẫn xỉn màu dầu máy còn bàn tay thì thô ráp và nứt nẻ. Sau khi Boaz cạo râu, dưới cằm vẫn còn lún phún vài cọng. Có thể vì lúc nào anh ấy cũng ngái ngủ, ngay cả khi Boaz đang thức thì trông anh vẫn có vẻ buồn ngủ nên tôi luôn phải cố gắng đánh thức anh dậy. Nhưng tôi chỉ giữ cho ảnh tỉnh táo được một chút, chắc chị biết sao rồi đấy, không phải lúc nào tôi cũng làm được. Không một ngày nào mà tôi không nghĩ đến chị, Osnat ạ. Tôi tự hỏi liệu chị có thể tha thứ cho những việc tôi đã làm với chị không. Thỉnh thoảng, tôi tự nhủ phải chăng Osnat cũng chẳng quan tâm lắm, phải chăng chị hết yêu anh ấy rồi? Làm sao mà biết được. Có lẽ chị nghĩ rằng thật ra tôi đã chọn lựa như thế. Nhưng thực sự chúng tôi đâu hề có sự lựa chọn. Đó đơn thuần là sự lôi cuốn giữa người đàn ông và người đàn bà, đột ngột xảy ra và thậm chí có chút ngớ ngẩn. Chị có nghĩ giống tôi không? Nếu như chị có con rồi, hẳn chúng ta sẽ chịu nhiều tổn thương hơn thế. Vậy còn anh ta? Thật ra anh ta đang nghĩ gì? Liệu có ai nói cho tôi biết được không? Chị biết rất rõ Boaz nên ăn gì và không nên ăn gì. Nhưng chị có biết lòng ảnh đang nghĩ gì? Hay là, rốt cuộc anh ta có cảm xúc gì không? Có lần, tôi từng hỏi Boaz có hối hận không và anh ta đáp: “Em nhìn đi, anh đang ở đây với em. Không phải với cô ta.” Tôi mong chị biết điều này, Osnat ạ. Gần như đêm nào sau khi Boaz ngủ say, tôi cũng trằn trọc trên giường, nhìn ánh trăng lọt qua khe rèm chiếu vào căn phòng tối của chúng tôi và tự hỏi, nếu tôi là chị thì mọi chuyện sẽ thế nào. Tôi ngưỡng mộ sự điềm tĩnh của chị. Giá tôi có thể có một chút sự điềm tĩnh đó. Thỉnh thoảng tôi trở dậy, mặc quần áo và đi ra cửa, chợt nghĩ sẽ đến chỗ chị lúc nửa đêm và giải thích tất cả. Nhưng tôi có thể nói gì bây giờ? Tôi đứng ngoài ban công cả mười phút, nhìn lên bầu trời đêm trong veo và tìm kiếm chòm sao Đại hùng, rồi lại thay đồ ra, leo lên giường và tiếp tục trằn trọc. Boaz đang ngáy rất say sưa. Thốt nhiên, tôi cảm giác như mình đi lạc vào một nơi nào đó, thậm chí biết đâu là phòng của chị. Nhưng mong chị hãy hiểu cho, chuyện này chỉ xảy ra với tôi vào ban đêm, khi tôi không thể chợp mắt và không hiểu nổi rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra và tại sao lại như thế. Tôi chỉ cảm thấy có điều gì đó vô cùng gần gũi với chị. Tôi muốn đến tiệm giặt làm chung với chị. Chỉ hai chúng ta thôi. Lúc nào tôi cũng mang theo những mảnh giấy dặn dò của chị trong túi và lấy ra đọc đi đọc lại. Tôi muốn chị hiểu rằng tôi trân trọng từng câu, từng chữ chị viết và thậm chí, ngưỡng mộ cả những điều chị không viết. Mọi người trong kibbutz bàn tán về chúng tôi. Họ ngạc nhiên về Boaz. Họ nói tôi chỉ tình cờ đi ngang, cúi xuống và lôi anh ấy ra khỏi tay chị. Còn Boaz thì đâu quan tâm đến chuyện gì khác ngoài căn nhà để đi về mỗi ngày và chiếc giường để ngủ mỗi đêm. Hôm nọ, khi đến gần văn phòng, Roni Shindlin nháy mắt với tôi, cười toe toét và bảo: Thế nào, nàng Mona Lisa, chân nhân vẫn bất lộ tướng chứ hả? Tôi nín lặng và bỏ đi, lòng xấu hổ vô cùng. Rồi tôi về nhà và khóc. Có những đêm sau khi Boaz ngủ say, tôi lại khóc một mình, không phải và không chỉ vì anh ấy, mà vì tôi và chị. Có lẽ một chuyện gì đó rất tệ hại đã xảy ra với cả hai chúng ta mà không thể cứu vãn được. Thỉnh thoảng, tôi hỏi anh ấy: Cái gì vậy Boaz? Và nhận được câu trả lời: Có gì đâu. Tôi bị hút vào cái sự trống rỗng ấy – như thể anh ấy chẳng có gì để nói cả, hệt như anh ấy được sinh ra từ sa mạc cô đơn. Nhưng mà, tại sao tôi lại kể với chị mấy chuyện này nhỉ? Tôi biết chị sẽ buồn khi nghe vậy và tôi không bao giờ muốn khoét sâu thêm nỗi đau của chị. Ngược lại, tôi chỉ muốn chia sẻ với chị nỗi cô đơn khi cố gắng hiểu anh ấy thêm một chút. Hình như sáng nay, lúc anh ấy đang ngủ say, cuộn người lại như em bé nằm trong bụng mẹ, con chó nằm dưới chân còn con mèo đang nằm trên bàn, đôi mắt vàng vàng của ảnh vẫn dõi theo đôi tay tôi đang viết không ngừng dưới ánh đèn bàn. Tôi biết việc này là vô nghĩa. Tôi biết mình phải ngừng viết, thậm chí, chị sẽ không muốn đọc bức thư dài tận bốn trang này. Có lẽ chị sẽ xé và ném nó đi. Có lẽ chị sẽ nghĩ rằng tôi mất trí rồi mà đúng là thế thật. Chúng ta có thể gặp nhau nói chuyện được không? Không phải về chế độ ăn uống hay thuốc thang cho Boaz. (Tôi thật sự đã cố gắng nhắc nhở anh ấy đừng quên. Tôi đã cố, nhưng không phải lúc nào cũng được. Chị biết cái tính cứng đầu của Boaz mà, hình như anh ấy nghĩ nó không cần thiết hay đúng hơn là chẳng quan tâm.) Chúng ta có thể trò chuyện về những thứ khác nhau, như các mùa trong năm hay thậm chí bầu trời đêm đầy sao vào những tối mùa hè này. Tôi rất thích tìm hiểu về các vì sao và tinh vân. Có lẽ chị cũng thế chăng. Tôi sẽ chờ thư hồi âm và mong chị sẽ chia sẻ với tôi chị đang nghĩ gì, Osnat ạ. Chỉ hai từ thôi. Tôi đợi. Ariella B.

Osnat để lá thư nằm chờ trong hộp. Cô quyết định không trả lời. Cô đọc nó hai lần, gấp lại rồi bỏ vào ngăn kéo. Lúc này, Osnat đứng lặng thinh, nhìn ra ngoài cửa sổ. Ba con mèo đang ở bên hàng rào: một con bận nhay nhay cái chân; một con sà thấp người xuống đất hoặc cũng có thể đang lơ mơ gật gù nhưng đôi tai vẫn lay lay một cách đầy cảnh giác, như thể luôn sẵn sàng đón bắt mọi âm thanh mong manh nhất; còn con thứ ba đang rượt theo cái đuôi, xoay mòng mòng và nhẹ nhàng nằm ngửa ra vì nó còn quá nhỏ. Một cơn gió dịu dàng thoáng qua, chỉ vừa đủ làm nguội tách trà. Osnat rời khung cửa sổ, ngồi xuống ghế sofa, thẳng lưng, đặt hai tay lên đầu gối và nhắm mắt lại. Buổi tối sẽ sớm đến thôi, Osnat sẽ thưởng thức nhạc trên đài và đọc một cuốn sách. Sau đó, cô thay quần áo, gấp bộ đồ mặc nhà lại gọn gàng, sắp sẵn quần áo đi làm ngày mai, leo lên giường và chìm vào giấc ngủ. Kể từ hôm nay, giấc ngủ của cô sẽ thôi mộng mị. Và cô sẽ thức dậy trước khi báo thức reo. Những chú chim bồ câu sẽ đánh thức cô.

Hết.

Phương Hạ dịch

Ảnh đầu bài: Vô đề, Pinchas Abramovich | Photo © The Israel Museum, Jerusalem

Nguyên tác Two Woman, Amos Oz đăng trên tạp chí Harper’s.

Chú thích:

  1. Kibbutz (tiếng Do Thái) là một cộng đồng nông thôn độc nhất vô nhị trên thế giới hiện vẫn còn tồn tại ở Israel, một hệ thống kinh tế xã hội dựa trên nguyên tắc sở hữu chung tài sản, bình đẳng và hợp tác trong mọi mặt của đời sống; thực hiện lý tưởng một xã hội công bằng – nguồn: Thạc sĩ Trần Thị Thu Hương, IAMES.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Sáng tác

Truyện ngắn: Ngôn ngữ tình yêu (Nicolette Polek)

Published

on

Biba ngọ nguậy trên ghế máy bay, thả hồn theo điệu nhạc phát ra từ tai nghe. Cô không thể tránh khỏi cảm giác ngứa ngáy do vỏ bọc cọ vào tai và không khí mát mẻ len lỏi vào trong. Mỗi lần khỏi bất cứ nơi nào, Biba luôn thấy lòng mênh mang khó tả, cứ như thể cô sẽ vĩnh viễn rời xa nơi ấy.

Người hành khách ngồi cạnh Biba đeo một chuỗi hạt vàng to, rực rỡ và đang lầm rầm cầu nguyện. Cô cầu cho chuyến bay thượng lộ bình an và tiện thể, xin cho ông chồng cùng với gã nghệ sĩ dương cầm ngớ ngẩn đã dụ dỗ ông đi, đều sớm ngày… xuống lỗ. Trong khoảng thời gian tĩnh lặng hơn một chút của chuyến bay, cô quay ra phía ô cửa sổ bé xíu, thì thầm với những người ở dưới đất rằng họ sẽ sớm phải nếm mùi cay đắng.

Một tiếp viên trông có vẻ mũm mĩm và dễ chịu y như một cô bảo mẫu, hay một thanh xúc xích. Cô bước ra giữa lối đi để thông báo gì đó. Sự hỗn loạn trên chiếc máy bay chật chội khiến bụng của Biba đau nhói. Cô cần một viên thuốc an thần và một nụ hôn.

Cô tiếp viên thì thầm qua chiếc loa: “Chúng ta bay lạc rồi.” Câu nói đó quét qua khuôn mặt của tất cả mọi người nhiều biểu cảm khác nhau. Cô gái tiếp tục giải thích rằng phi công “chưa bao giờ nhìn thấy nơi này”, theo hệ thống định vị, chúng ta đang bay qua “một nơi mà hiện không còn ở đó nữa.”

Biba vươn vai ngó ra ngoài. Mây giăng đầy trời và đây đó có những mảng xám như mảnh vá. Cô nhún vai, nói với người phụ nữ đeo chuỗi hạt vàng:

- Tôi thấy có gì khác lạ đâu.

Lúc này, một số tiếp viên khác mặc đồng phục nghiêm trang, trông có vẻ không thoải mái như người ban nãy, đang đi khắp máy bay để nhắc nhở mọi người cách đeo mặt nạ dưỡng khí và tuyệt đối không nhìn ra cửa sổ.

Khung cảnh mây và núi trông thật đơn sơ và thân thuộc.

Giọng người phi công bắt đầu cất lên qua bộ truyền thanh. Anh cố kể vài câu chuyện tếu táo và hỏi han, gợi chuyện cho hành khách tám với nhau. “Anh chị thích ăn món gì?”, “Mọi người thích đi nghỉ ở nơi nào?” Biba thầm trả lời tất cả câu hỏi đó trong trí óc. Chúng làm đầu óc cô dịu lại. Cô cảm giác mình hoàn toàn có thể ra đi thanh thản như thế này. Người phụ nữ đeo chuỗi hạt vàng rít lên giận dữ với một gia đình ngồi ở băng ghế trên, sau đó, cô bắt đầu thở gấp. Bên ngoài, bầu trời dần ngả sang sắc đỏ rực rỡ và những đám mây biến thành những quả cầu bạc óng ánh. Dường như máy bay đang bay chậm lại, tựa hồ đang xuyên qua thứ gì đó dày đặc. Một cảm giác kỳ quặc lan tỏa khắp cabin như một cơn đau mình.

Sau một tiếng đồng hồ, giọng của những người tiếp viên the thé vang lên. Đôi mày của họ chau lại, lộ vẻ hãi hùng. Họ tụ tập ở đuôi máy bay, lôi những chai slivovitz ra từ sau tấm màn đen. Một người đàn ông nước mắt lưng tròng liền nhập hội. Người phụ nữ đeo chuỗi hạt vàng cũng nối gót theo sau. Vừa hớp rượu, họ vừa nhìn chằm chằm vào vùng đất mơ hồ và đáng sợ như địa ngục bên dưới. Cảm giác hoang mang tột độ trong mỗi người càng bị khích động. Miệng họ nguyền rủa liên hồi. Họ uống bạo đến mức những chiếc chai thủy tinh rỗng mau chóng rải rác khắp mặt sàn. Bên ngoài, trời tối sầm lại, mấy đám mây bừng lên ánh lửa. Một âm thanh rùng rợn quét qua máy bay.

Cuối cùng, một hành khách tình cờ mở được cửa hầm thoát hiểm nhỏ xíu. Hệt như một trò đùa. Nhưng dù sao đi nữa cũng có chỗ leo xuống. Các hành khách khác lần lượt thoát thân, từng người, từng người một.

Sau một lúc, khoang hành khách vắng tanh, chỉ còn lại anh phi công, Biba và từng cơn gió rít.

*

“Cô thích loại nhạc nào?” anh cất tiếng hỏi. Biba cảm thấy người sốt lên. Chàng phi công bật một bản nhạc của Strauss. Giai điệu du dương tràn qua loa phát thanh.

“Nếu được, ngay lúc này cô ước mình đang ngồi ở đâu?” anh lại hỏi.

“Nếu được trở thành một người trong thư viện, cô sẽ là ai?” chàng trai hỏi tiếp.

Biba ngắc ngứ trong miệng. Cô cũng muốn hỏi chuyện người phi công.

Anh lại cất tiếng: “Cô nghe tôi nói chứ?”

Biba ước gì cô có thể đứng dậy, bước tới và ngồi xuống bên cạnh người phi công. Nhưng cô không nhấc người lên nổi. Hình như anh ấy đang bước lại gần hơn nhưng rồi vĩnh viễn đứng yên một chỗ.

Liệu anh có cảm nhận rằng cô còn ngồi trong máy bay với anh? Rằng cô còn bị mắc kẹt đâu đó? Cô tự hỏi mỗi khi máy bay cất cánh, anh có nghĩ đến gia đình, đến Chúa hay người thương chăng. Rồi cô lại băn khoăn anh có nuôi thú cưng không, nó sẽ chào đón anh bằng niềm vui khôn tả. Và anh có luôn để cửa mở để chờ người đi xa trở về?

“Khi chúng ta hạ cánh thì sẽ thế nào nhỉ?”

Em sẽ nắm tay anh và chúng ta thoát khỏi chiếc máy bay này - Biba thầm nghĩ.

Ga cuối là một căn phòng trống hoác, có mùi tựa như một chiếc găng tay. Một cậu bé thiếp đi trên chiếc ghế đỏ. Chúng ta sẽ bước vào xe hơi của anh và lái đi giữa trời mưa tầm tã. Chúng ta ngồi bên nhau. Không ai nói một lời. Cũng chẳng cần nhìn nhau. Anh sẽ đỗ xe bên bờ biển. Đó là điều dịu dàng nhất trên thế gian này.

Cô dựa sâu vào ghế.

Lâu thật lâu, cô lại nghe thấy giọng anh. Thật nhẹ nhàng, và lần này, Biba còn nghe thấy tiếng bước chân.

Bên ngoài, một rừng cây chanh.

Hết.

Phương Hạ dịch.

Nguyên tác được thực hiện bởi Nicolette Polek, đăng tại Literary Hub.
Ảnh đầu bài: The Kiss, Gustav Klimt.

Câu chuyện “Love Language” (Tạm dịch Ngôn ngữ tình yêu) được trích từ tuyển tập Imaginary Museums của Nicolette Polek. Nicolette Polek là nhà văn người Cleveland, Ohio. Năm 2019, cô được nhận giải thưởng nhà văn của Rona Jaffe Foundation.

Đọc bài viết

Sáng tác

Thơ: tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế (Vũ Lập Nhật)

tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế, để đốt cháy sự tồn tại của câu thơ này

Published

on

tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế
không phải để cất nó vào câu thơ
trong bài thơ tôi dự định sẽ viết
khi về nhà hoặc không về nhà
mỗi dòng thơ như một điếu thuốc
đầu lọc thuốc ở lề trái

phần để đốt cháy nằm cách lề phải vài phân
như mặt trời chỉ cách đám mây che mờ nó
một hay vài phép tu từ
rằng mây là rổ đựng trái cây màu trắng
trong đó đủ cam, đỏ, tím, vàng
khi buồn chán anh có thể chọn quả chuối
làm phép ẩn dụ cho mặt trời
dù rằng cam hay táo
trông có vẻ thích hợp hơn
khi ta lật ngược bài thơ này
nhìn nó từ phía sau
đầu lọc thuốc ở lề phải

phần để đốt cháy nằm cách lề trái vài phân
khi tôi đọc câu thơ này lên
làm sao diễn tả được sự dịch chuyển của nó từ phải sang trái
khi những câu thơ ở khổ trên
đã đi theo chiều hướng ngược lại
từ trái sang phải
những chữ cái nối đuôi nhau về một phía
và dấu thanh trong tiếng Việt trôi lơ lửng bên trên
nếu được dịch sang tiếng Anh
lịch sử tồn tại của chúng sẽ biến mất
giọng đọc tôi khi ấy
làm sao thể hiện được nỗi buồn
từ những dòng chữ bơ vơ chờ dấu thanh quay trở lại
liệu tôi có nên lên cao hay hạ giọng
để thể hiện sự tròng trành
như con thuyền lắc lư
giữa câu thơ này và câu thơ kia
là những điếu thuốc không thể xếp bằng nhau
điếu này tôi hút ở câu đầu tiên
điếu kia khởi sự từ khổ thứ hai
trang giấy là chiếc gạt tàn
ôm áp câu thơ đã hóa thành tro
làm sao cơ thể tôi biểu hiện được cái chết ấy
như một tấm bảng thông báo sự thật
rằng ngay khi một câu thơ chạy thoát sự giam cầm
từ đầu tôi để đáp xuống trang giấy
cũng là lúc nó đã chết đi
rằng tiếng phát ra từ mỗi đầu ngón tay
gõ mạnh hay không mạnh vào những ô chữ
cũng là lúc từng chiếc đinh đã được đóng
xuống nắp quan tài
chôn cất những điều có nhiều hơn một khả thể

tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế
để đốt cháy sự tồn tại của câu thơ này
cả lịch sử, hữu thể, và khả thể nó sản sinh
cho bài thơ tôi dự định sẽ viết
khi về nhà hoặc không về nhà

Hết.

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Sáng tác

Thơ: dấu hiệu kết thúc (Vũ Lập Nhật)

Published

on

khi một bộ phim về nỗi buồn kết thúc

những người tạo tác nó hiện ra dưới những cái tên

như trong chứng minh nhân dân của họ

qua những con chữ bò từ chỗ giá sách vừa tầm tay ta

lên trần nhà cao chót vót đôi khi họa may có vài con thằn lằn

cũng giống như cách một bộ phim về niềm vui sẽ kết thúc

nhưng trái ngược với chiều chuyển động

khi ta ngắm hoàng hôn rồi nhìn xuống đôi chân mình

bầu trời những lúc ấy luôn trong vắt

như cốc nước cam lọc hạt cẩn thận

hay ruột dưa hấu loại sạch hạt đen

vốn không cần thiết như trên lông loài chó đốm

mà nếu không tồn tại chúng đã là chó lông trắng

ta khạc những hạt cam, hạt dưa hay hạt của bất kì loại quả nào

xuống ngay hai bàn chân đang giúp ta đứng trên mặt đất

như để xua đuổi những nguy cơ

về sức khỏe, bản ngã, nỗi buồn và cả niềm vui

trong khi lẽ ra ta có thể dịch điểm kết thúc của chúng thêm vài phân

xuống đất nơi chúng sẽ cho ra những khả thể mới

thay vì xuống chân ta nơi khó xảy ra thêm diễn biến đột phá nào

nhưng biết sao được khi những đám mây cũng phân biệt màu sắc

vào một số buổi chiều, chúng truyền nhau tín hiệu ngày tàn

rồi bay đi mất

để lại ta hoàng hôn thuần túy cam hoặc đỏ không có những chuyển sắc

đôi khi là xanh ngọc lục

dù sao cũng không quan trọng

tất cả rồi sẽ sớm trở về màu bóng đêm

Hết.

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Cafe sáng