Nối kết với chúng tôi

Book trailer

Chúng tôi: Hoặc hạnh phúc mất tự do, hoặc tự do không hạnh phúc

“Chúng tôi” của Yevgeny Zamyatin là tuyệt tác khởi nguồn cảm hứng cho nhiều cuốn truyện dystopia gây chấn động sau này như 1984 của George Orwell, Thế giới mới tươi đẹp của Aldous Huxley hay Player Piano của Kurt Vonnegut.

Đăng từ

on

Đã bao giờ bạn hình dung về một thế giới toàn hảo vận hành nhịp nhàng theo vòng quay của cỗ máy logic trong sự chính xác tuyệt đối của toán học, nơi con người cá nhân trở thành các mã số trong tổng đại số chung, hoạt động theo Bảng Giờ bất di bất dịch; nơi hạnh phúc hay tình yêu cũng chỉ là những bài toán có công thức tổng quát còn đạo đức được xây dựng bằng những phép tính; nơi cuộc sống là một hằng số bất biến – một phương trình cân bằng không ẩn số; nơi trí tưởng tượng là thứ cần phải cắt bỏ và tâm hồn là một căn bệnh? Đó sẽ là một thiên đàng trong mơ hay là địa ngục trá hình?

Nếu bạn tò mò, hãy tìm câu trả lời trong Chúng tôi của Yevgeny Zamyatin – tuyệt tác khởi nguồn cảm hứng cho nhiều cuốn truyện dystopia gây chấn động sau này như 1984 của George Orwell, Thế giới mới tươi đẹp của Aldous Huxley hay Player Piano của Kurt Vonnegut. Cuốn tiểu thuyết được Zamyatin hoàn thành năm 1921, xuất bản lần đầu tại Mỹ năm 1924 nhưng bởi nhiều lý do mãi đến tận năm 1988 mới được phép xuất hiện tại quê hương của mình – Xô Viết. Bản thân tác giả đã từng bị bắt giữ và trục xuất hai lần, sau đó ông tự nguyện xin Stalin được lưu vong sang Paris và được chấp thuận.

Chúng tôi lấy bối cảnh ở tương lai ở một Quốc Gia Thống Nhất giả tưởng, nơi cả thành phố được làm bằng kính, đặt trong Bức Tường Xanh khép kín hoàn toàn, tia nắng mặt trời dịu nhẹ chiếu thành những đường song song, phản xạ theo những góc đều chằn chặn trên vỉa hè, không chim chóc, không cây cối, không hỗn loạn, không tự do. Ở đó, những con người cá nhân mất đi tên họ, trở thành những mã số hạnh phúc mặc đồng phục y sì nhau, sống trong những căn phòng trong suốt không giấu diếm, ăn, ngủ, giải trí, làm việc và… làm tình theo Bảng Giờ quy chuẩn đến từng phút, hoạt động trong tầm mắt của Phòng Bảo Vệ – những thiên thần hộ mệnh.

Thơ ca, âm nhạc không còn vị nhân sinh, vị nghệ thuật mà là vị Quốc Gia. Không có tài sản tư hữu, tất cả là của chung, kể cả trẻ con. Hơn nữa chỉ có những người đạt tiêu chuẩn Mẹ và Cha mới có quyền có con. Mọi thứ đều có thể đoán định trước, kể cả bầu cử. Một thiên đường đặt dưới sự cai trị nhân từ mà nghiêm khắc của Lãnh Tụ Thiện Nguyện với Cỗ Máy có thể khiến từng phân tử của mã số “lầm đường lạc lối” tan rã trong chớp mắt, bảo vệ sự “mất tự do” của toàn thể hay nói cách khác chính là “hạnh phúc” của số đông. Quốc Gia Thống Nhất chính là Thiên đường không có trái cấm và cả con rắn: “Hai người trên thiên đường được ban cho một lựa chọn: hoặc hạnh phúc mất tự do – hoặc tự do không hạnh phúc, không có phương án thứ ba.” Một mẫu hình tuyệt vời đến vậy mà chỉ giới hạn trên Trái đất thì có phải quá lãng phí không? Chính vì thế con tàu Tích Phân được dựng lên với mục đích lan truyền thứ hạnh phúc ấy ra khắp Vũ trụ, bằng thuyết phục và bằng vũ lực nếu cần.

Thế nhưng ở đâu cũng có những “con sâu làm rầu nồi canh” – không phải tất cả mọi mã số đều vui vẻ hòa mình trong toàn thể chúng tôi, đắm mình trong nhịp điệu toán học hoàn hảo. Họ muốn được tắm mình trong ánh nắng gắt gao, thoát khỏi bức tường chật hẹp, tự do yêu đương, tự do sinh hoạt, được mơ mộng và có cảm xúc, có tâm hồn – thứ bị “chúng tôi” coi là tật bệnh. Bởi thế họ – MEFI – những con người muốn trở thành “tôi” thay vì “chúng tôi” mưu đồ cách mạng: phá Bức Tường Xanh, cướp tàu Tích Phân, lật đổ Thiên đường. Nhưng liệu cách mạng có thể thành công khi tai mắt của Phòng Bảo Vệ ở khắp nơi, nhất cử nhất động đều bị theo dõi, kể cả thư từ đều bị kiểm soát, lại còn trách nhiệm của “một mã số trung thực” là phải tố cáo những “kẻ thù của hạnh phúc”, dám chối bỏ quyền “làm những viên gạch củng cố nền móng Quốc Gia Thống Nhất”?

Bập bềnh trong thế giới viễn tưởng đầy khoa học nhưng cũng đầy thi vị, Chúng tôi họa lại chi tiết cơn ác mộng nơi nền văn minh hiện đại tưởng chừng vô khuyết đi tới bước đường bế tắc. Xã hội càng được tổ chức chặt chẽ và phức tạp thì cá nhân càng mất đi tự do và cuối cùng sẽ biến mất vì lợi ích tập thể. Đồng thời, Yevgeny Zamyatin cũng đưa ra lời khẳng định đanh thép: Những giá trị nhân bản bất khả thay thế – quyền được sống, được tự do và được mưu cầu hạnh phúc – không thể bị chế độ toàn trị vùi lấp. Sẽ luôn có những cuộc cách mạng chống lại đàn áp, giống như vòng xoay vô tận của năng lượng và entropy, của âm và dương. “Không có cuộc cách mạng cuối cùng – chúng là vô tận.”

“1000 cuốn tiểu thuyết mà ai cũng phải đọc: tác phẩm dystopia số 1.” – The Guardian.

Hết.

viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giới thiệu sách

Niên lịch miền gió cát: Một trong hai cuốn sách đáng chú ý nhất về môi trường trong thế kỷ 20

“Niên lịch miền gió cát” là tác phẩm tổng hòa giữa lịch sử tự nhiên, nghệ thuật miêu tả phong cảnh bằng ngôn từ và cả triết học.

Đăng từ

on

Người đăng

Cuốn sách tiếp theo của Phương Nam Book viết về thiên nhiên nước Mỹ xanh biếc

Tiếp nối sự thành công của Mùa xuân vắng lặngĐời sống bí ẩn của cây, tháng 07.2020, Phương Nam Book ra mắt Niên lịch miền gió cát, tác phẩm tiếp theo viết về môi trường và thiên nhiên. Năm 1990, Niên lịch miền gió cát cùng với Mùa xuân vắng lặng của Rachel Carson đã được Hiệp hội Nghiên cứu Tự nhiên Mỹ bầu chọn là hai cuốn sách đáng trân trọng và đáng chú ý nhất về chủ đề môi trường trong thế kỷ 20.

Nếu như Mùa xuân vắng lặng của Rachel Carson là tác phẩm kinh điển khởi xướng phong trào bảo vệ môi trường trên toàn thế giới, thì cuốn sách phi hư cấu viết về môi trường của Aldo Leopold, xuất bản lần đầu năm 1949, được xem như một cột mốc quan trọng trong phong trào bảo tồn tự nhiên ở Mỹ. Tuy ban đầu ít được chú ý đến, nhưng vào những năm 1970 với sự nâng cao nhận thức về môi trường, Niên lịch miền gió cát bất ngờ lại trở thành một cuốn sách bán chạy. Đến nay, tác phẩm đã được dịch ra 14 thứ tiếng và vẫn được bán ra khoảng 40.000 bản một năm.

Kết hợp giữa khảo cứu và tranh phác thảo, tổng hòa giữa lịch sử tự nhiên, nghệ thuật miêu tả, ngôn từ và triết học

Niên lịch miền gió cát là tác phẩm tổng hòa giữa lịch sử tự nhiên, nghệ thuật miêu tả phong cảnh bằng ngôn từ và cả triết học. Thông qua việc ghi chép lại những thay đổi của sinh vật tại khu trang trại ở Wisconsin, Aldo Leopold đã khéo léo mô tả vẻ đẹp thiên nhiên, mối liên hệ giữa từng sinh vật với cả hệ sinh thái. Những bài viết trong Niên lịch miền gió cát không chỉ khéo léo mô tả vẻ đẹp thiên nhiên, mối liên hệ giữa từng sinh vật với cả hệ sinh thái, thể hiện sự quan sát, khảo cứu và kiến văn của Leopold về địa chất – sinh thái, mà còn bộc lộ rõ quan điểm của ông về đạo đức đất đai: Một hành động là đúng đắn khi nó hướng tới việc bảo tồn được tính toàn vẹn, ổn định và vẻ đẹp của cộng đồng sinh vật. Hành động đó là sai nếu không bảo tồn được những điều vừa nói.

Đã một thế kỷ trôi qua kể từ khi Darwin vén màn bí mật về nguồn gốc muôn loài. Chúng ta giờ đây đã biết những điều mà các thế hệ đi trước không hề hay biết: con người chỉ là những người bạn đồng hành cùng các loài vật khác trong chuyến phiêu lưu tiến hóa. Nhận thức mới này đáng lẽ giờ đây đã phải khiến chúng ta có một tình anh em khăng khít với các sinh vật khác, một mong ước được sống và cùng sống, một tâm thế ngưỡng mộ trước sự đường bệ và chiều dài tiến hóa của cả cộng đồng sinh thể. Và trên hết, sau một thế kỷ, chúng ta đáng lẽ đã phải nhận ra rằng, mặc dù con người giờ đây đã trở thành thuyền trưởng lèo lái con tàu phiêu lưu này nhưng chúng ta không phải là hành khách duy nhất, và những lầm tưởng về vị thế của chúng ta đều bắt nguồn từ sự mông lung ngu muội.

Ảnh hưởng sâu rộng của cuốn sách, vượt ra khỏi tầm dự đoán của tác giả Aldo Leopold

Aldo Leopold (1887-1948) là nhà khoa học, nhà địa chất học, nhà triết học, nhà môi trường học người Mỹ, và cũng từng là giáo sư tại Đại học Wisconsin. Tác phẩm Niên lịch miền gió cátcó kết cấu gồm ba phần: Phần I là những quan sát về sự thay đổi theo từng tháng của sinh vật tại khu trang trại ở Wisconsin, phần II là ghi chép từ những hành trình khám phá đời sống hoang dã trải rộng khắp châu lục suốt 40 năm, và phần III trình bày những nhận định về một số vấn đề liên quan đến việc bảo tồn thiên nhiên hoang dã.

Khi viết ra các nhận định vào thời điểm những năm 1940, Aldo Leopold không hình dung được cuốn sách của mình sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến mức nào. Thế nhưng, cho đến nay, cuốn sách vẫn được ngày càng nhiều độc giả yêu thích, trở thành nguồn tư liệu quý giá, làm thay đổi phong trào môi trường và đóng vai trò nền tảng trong lĩnh vực chính sách, đạo đức và khoa học bảo tồn hiện đại.

Thông qua thể văn xuôi đậm chất hóm hỉnh kết hợp các yếu tố lịch sử, khoa học, Leopold đã mượn lời kêu gọi đạo đức đất đai của Niên lịch miền gió cát để truyền đạt mối liên hệ đích thực giữa con người với thế giới tự nhiên, cùng niềm hy vọng rằng mỗi độc giả sẽ bắt đầu đối đãi với đất đai bằng tình yêu và sự tôn trọng mà đất đai đáng được hưởng. 

*

Một số nhận xét về sách

“Một trong những tác phẩm cực kỳ quan trọng và có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào môi trường.”

The Boston Globe

“Cuốn sách có thể được đặt trên cùng kệ với các tác phẩm của Thoreau và John Muir.”

The San Francisco Chronicle

*

Thông tin tác phẩm

Tựa sách: Niên lịch miền gió cát

Tác giả: Aldo Leopold

Người dịch: Dương Mạnh Hùng

Thể loại: Sách khoa học

Số trang: 260 trang

Khổ: 15.5 x 23.5cm

Giá bìa: 149.000đ (giảm giá 10% tại Nhà Sách Phương Nam và website nhasachphuongnam.com)

*

Những cuốn sách viết về môi trường & thiên nhiên


Đọc bài viết

Giới thiệu sách

V. – Khi người đọc lạc trong Hoang tưởng và Hoài nghi

“Một cuốn sách rực rỡ và hỗn loạn”, “tiểu thuyết độc đáo số một xuất bản năm 1963”, “không một độc giả nào hay một tiểu thuyết nào của Mỹ lại không bị biến đổi hay bị thách thức bởi tác phẩm đáng kinh ngạc này”… đó chỉ là một vài trong số rất nhiều lời thán phục dành cho V. – tác phẩm đầu tay của nhà văn Mỹ Thomas Pynchon.

Đăng từ

on

Người đăng

Ra đời khi nhà văn mới là chàng thanh niên 26 tuổi, V. – cuốn sách đồ sộ kiến thức và đa tầng biểu tượng của Pynchon cho đến lúc này vẫn được hàng triệu học giả và người đọc khắp thế giới nghiên cứu và giải nghĩa.

V. là tác phẩm giành giải thưởng William Faulkner Foundation Award cho tiểu thuyết ra mắt xuất sắc nhất và được đề cử cho Giải thưởng sách Mỹ National Book Award năm 1964. V. kể về Benny Profane, một thanh niên hậu đậu, nay đây mai đó, vừa xuất ngũ Hải quân Mỹ đang trong quá trình tái hòa nhập đời sống New York cùng một hội nghệ sĩ lông bông mất gốc; và Herbert Stencil, một nhà phiêu lưu hoang tưởng truy tìm nhân vật bí ẩn tên “V.” được nhắc tới trong nhật ký của người cha. Hai cốt truyện xoay quanh hai tình trạng đối lập tột cùng: tình trạng hỗn loạn ngẫu nhiên của hiện tại (Profane) và tình trạng trật tự hoang tưởng cưỡng ép của quá khứ (Stencil). Hai nhân vật lẫn chức năng của họ, tuy vậy, đều được Thomas Pynchon khắc hoạ một cách mỉa mai, tự trào, đầy tính châm biếm. Hai trạng thái đối lập này dần tịnh tiến về phía nhau và giao thoa tại cuối truyện, khi Stencil và Profane hội ngộ, rồi khởi sự hành trình cuối cùng tìm kiếm V.

Thomas Ruggles Pynchon Jr. là một trong những tiểu thuyết gia quan trọng nhất của Mỹ kể từ Chiến tranh thế giới thứ II. Tuy là một sinh viên ngành kỹ thuật xuất sắc tại trường đại học, năm thứ hai ông đã nghỉ học để gia nhập Hải quân Mỹ trong hai năm, một khoảng thời gian đã để lại dấu ấn sâu đậm cho các câu chuyện của ông sau này.

Năm 1957, ông quay lại học tại Đại học Cornell, có lẽ đây chính là thời điểm ông được tiếp nhận ảnh hưởng của Vladimir Nabokov. Có một điều chắc chắn là, những tưởng tượng có tính cách tân của ông, sử dụng các chủ đề về việc diễn giải những mấu chốt, những trò chơi, và mật mã có thể xuất phát từ Nabokov, còn giọng văn linh hoạt của Pynchon có thể được phát triển từ chứng hoang tưởng trong thi ca. 

Về đời tư, Thomas Pynchon là một người sống ẩn dật, tránh mọi tiếp xúc với công chúng lẫn giới truyền thông. Suốt bốn thập kỷ ông tránh né gần như mọi cuộc phỏng vấn, ảnh chụp ông chưa từng được phép in trên bìa sách, và chữ ký của ông có thể đáng giá tới hàng chục nghìn đô. Rất nhiều giả thuyết đã nổi lên về hành tung hay thậm chí nhân thân của ông. Có người nghĩ ông chính là nhà văn J.D. Salinger, có người đoán thực chất có một bút nhóm sáng tác dưới tên Thomas Pynchon, thậm chí có người còn cho ông chính là… tay sát nhân hàng loạt Unabomber (!).

Mọi thông tin cá nhân về ông dường như đã chấm dứt quanh năm 1963, tức là đúng khoảng thời gian ông sáng tác V. – tiểu thuyết đầu tay.

Điểm đặc trưng về kết cấu trong các tiểu thuyết của Thomas Pynchon là vô cùng nhập nhằng chồng chéo. Thông thường Pynchon để cốt truyện của mình tự trương nở thành hình xuyên suốt tiểu thuyết thay vì vạch ra một cốt truyện mạch lạc ngay từ đầu. Đường đi diễn tiến của câu chuyện dường như có sự sống riêng, chúng ẩn hay hiện, chúng tẽ nhánh hay tụ hội, chúng bị triệt tiêu hay được tô đậm lên hoàn toàn một cách tình cờ và ngẫu nhiên, buộc người đọc từ bỏ thói quen thông thường khi đọc sách là “cố gắng liên kết dữ kiện để hiểu, thay vào đó hãy thả lỏng cơ quan thần kinh, ngồi vào ghế sau và tận hưởng chuyến tàu lượn siêu tốc mà tác giả cầm lái” (lời khuyên từ Cẩm nang đọc sách của Thomas Pynchon).

Về mặt nội dung, các tiểu thuyết của Thomas Pynchon là hỗn độn những chỉ dấu kì bí, những hình ảnh biểu tượng, những văn bản đa nghĩa khó lý giải. Nhân vật chính trong tiểu thuyết của ông thường mắc chứng “hoang tưởng xã hội” – tức ý thức về “một mạng lưới âm mưu siêu phàm, mờ ám và rộng lớn, tiếp tay cho hành động của một nhân vật quái ác xấu xa nhất.” (định nghĩa của học giả Richard Hofstadter trong The Paranoid Style in American Politics). Có thể thấy thời kỳ đầu sáng tác, Thomas Pynchon tận dụng cốt truyện hoang tưởng này khá thường xuyên. Trong Gravity Rainbow (1973), nhân vật Tyrone Slothrop tin rằng tên lửa V-2 và toán điệp viên có ý định trực tiếp tấn công mình. Với The Crying of Lot 49 (1966), nhân vật Oedipa Mass bắt đầu nhìn thấy chỉ dấu của tổ chức bí mật Tristero khắp mọi nơi. Tương tự với V., Herbert Stencil cũng liên tưởng, xâu chuỗi bất kì bằng chứng nào dù ngẫu nhiên nhất về V. mà ông ta có thể tìm thấy để trả lời câu hỏi V. là ai… Đó là cách Thomas Pynchon xây dựng thế giới riêng trong các tiểu thuyết của ông và cũng là cách ông thâu nhận thế giới thực tế bên ngoài: một thế giới nhìn từ góc độ này thì ngập tràn ẩn ý và chỉ dấu đến những âm mưu mờ ám, nhưng từ góc độ khác cũng là một thế giới vô tri chẳng mang ý nghĩa to lớn nào; tại đó, con người ưa tìm kiếm một thứ logic hoang tưởng hơn là chấp nhận một trạng thái trống rỗng.

V. là ai? V. mang ý nghĩa gì? Đó là những câu hỏi sẽ không có hai độc giả nào trả lời giống nhau. Theo hành trình hoang tưởng của Herbert Stencil, đó có thể là người đẹp Victoria Wren sống ở Ai Cập thế kỷ 19; đó có thể là người phụ nữ đồng tính ấu dâm xuất hiện ở Paris năm 1919; đó có thể là Vera Meroving với con mắt hình đồng hồ xuất hiện ở Nam Phi năm 1922… Mỗi lần xuất hiện cô ta lại được gắn thêm một bộ phận giả, mỗi lần xuất hiện cô ta lại trở nên lạnh lùng hơn, nhiệt tình chính trị hơn, thiếu nữ tính hơn, trừu tượng hơn, vô danh hơn, nói tóm lại, trở thành V. Nhìn theo cơn hoang tưởng hủy diệt của thời đại khát khao bạo lực, V. có lẽ chính là biểu tượng cho sự suy đồi từ hữu tri xuống vô tri của con người: giống loài ngày càng hành động/bị đối xử như một thứ hình nhân vô hồn. Trong hóa thân cuối cùng, V. mang tên Linh Mục Xấu Xa là một người phụ nữ với tất cả các bộ phận trên cơ thể được thay thế bằng đồ vật. Hình ảnh một hình nhân giống hệt con người bị mắc kẹt tại khu vực bị trúng bom gợi ta nhớ đến những hình nộm mà Mỹ cho sản xuất để đánh giá mức độ công phá của bom nguyên tử vào thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Thông điệp này từng xuất hiện ở chương trước khi Thomas Pynchon cũng giới chiệu cho ta hai nhật vật người máy SHOCK và SHROUD trong phòng thí nghiệm mà Benny Profane làm việc, các hình nộm được chế tạo “giống hệt như con người” để sử dụng trong các bài kiểm tra chống chịu va đập và đo mức độ phóng xạ nguyên tử. Trong một cuộc trò chuyện hoang tưởng giữa Profane và SHROUD, tên người máy nói rằng: “Tôi và SHOCK chính là cậu và mọi người một ngày nào đó.” Con người có thể là gì trong đời này ngoài việc liên tiếp đóng vai những đối tượng thí nghiệm vô hồn cho bạo lực?

V. là một tác phẩm oai vệ, xuyên vượt những hang cùng ngõ hẻm bất khả thấu đối với người thường. Không có nhiều tác phẩm có khả năng ám ảnh tâm trí tỉnh thức hay mê mộng, nhưng đây là một tác phẩm như vậy (Báo Time).

Hết.

Tao Đàn

Đọc bài viết

Giới thiệu sách

Đời sống xoắn quẩy của nấm

Hay hành trình khám phá những khả năng phi thường của họ nhà nấm.

Đăng từ

on

Người đăng

WHETHER YOU’RE MAKING A MEAL OR CLEANING AN OIL SPILL, THERE’S A FUNGUS FOR THAT
Jennifer Szalai

Hoàn thành bản thảo cho một cuốn sách mới thường là thành quả của nhiều năm làm việc, và khi tác giả đã thành công trong công cuộc hiện thực hóa ý tưởng đột phá, họ sẽ cố gắng kỷ niệm cái mốc này thật hân hoan. Trong cuốn sách mới của mình, Entangled Life: How Fungi Make Our Worlds, Change Our Minds, and Shape Our Futures, tạm dịch Đời sống xoắn quẩy của nấm: Cách họ nhà nấm tạo ra thế giới, thay đổi suy nghĩ và định hình tương lai của chúng ta, nhà sinh học trẻ chuyên trị mảng nấm, Merlin Sheldrake, đã thực hiện một nghi thức mà tôi chưa từng nghe đến và cũng hoàn toàn mờ tịt: Anh ấy thấm ẩm cuốn sách rồi gieo bào tử nấm vào đó, cuối cùng ăn số nấm bào ngư mọc ra từ những trang giấy. Với một bản sao khác, anh ấy xé các trang giấy ra, nghiền nát chúng để tạo đường và lên men cả hỗn hợp thành bia. Quên đi những cách thức tận hưởng văn chương tầm thường – một bữa yến tiệc sành sỏi hay chúc tụng cùng sâm-panh: Ngay đây, độc giả đang chứng kiến một tác giả đánh dấu việc hoàn thành cuốn sách của mình bằng việc ngấu nghiến nuốt chửng nó.

Nhà sinh vật học Merlin Sheldrake, tác giả của cuốn sách mới Đời sống xoắn quẩy của nấm: Cách họ nhà nấm tạo ra thế giới, thay đổi suy nghĩ và định hình tương lai của chúng ta.
Ảnh: merlinsheldrake.com

Đó là cái kết dị biệt nhưng lại phù hợp với Đời sống xoắn quẩy của nấm – hành trình khám phá hăng hái và đầy tham vọng của Sheldrake về sự vật bao quanh chúng ta nhưng lại quá ít người nghĩ đến. Cây cối luôn nhận được nhiều sự chú ý từ con người, nhưng Sheldrake lại muốn hướng ánh nhìn của ta tới họ nhà nấm, mà nếu không có chúng, rất nhiều loại thực vật được chúng ta sử dụng sẽ không thể tồn tại. Hầu hết khi nghĩ về họ nhà nấm, bạn chỉ hình dung tới những “cây nấm” mọc ra từ gốc cây hay đã được nấu chín trên đĩa. (Tên của Sheldrake – Merlin – khiến tôi nghĩ tới một vị phù thủy và cây nấm dù ma thuật của ông ấy.) Tuy nhiên, “cây nấm” thường chỉ là cái chóp bé tẹo so với thế giới rộng lớn của họ nhà nấm. Mạng lưới nấm lớn nhất thế giới được ghi nhận sống tại Oregon, một mạng lưới – hay một hệ nấm sợi – bao phủ bốn dặm vuông (tương đương 6,4 mét vuông) và đã có hàng ngàn năm tuổi.

Còn nữa, họ nhà nấm không chỉ hiện diện ở khắp mọi nơi, chúng còn làm việc. Mặc dù chúng thường bị gộp chung với những loại cây sử dụng nấm như hệ thống rễ trong hàng chục triệu năm trước khi cái cây đó tiến hóa đến độ có thể tự tồn tại, Sheldrake khẳng định rằng họ nhà nấm có mối liên quan chặt chẽ hơn với động vật. Khi nghĩ tới cây cối và hệ thống nấm giúp duy trì sự sống của cây, chúng ta hay bị lấn át bởi chủ nghĩa “lấy cây cối làm trung tâm” và làm cho chúng ta không nhận ra sự hiện diện của nấm – ta đã bị “mù nấm”.

Chứng “mù nấm” có thể khiến ta bỏ lỡ nhiều hiện tượng phi thường. Họ nhà nấm có thể phân phối chất dinh dưỡng và cả thông tin tới các thực vật khác. Ví dụ, khi một cái cây bị tấn công bởi rệp, nó phát ra một “tiếng thét hóa học” sẽ “tới tai” những cây khác trong mạng lưới nấm – điều này cho phép cây cối trong mạng lưới tự phòng ngự bằng cách tiết ra một hợp chất hóa học thu hút ong bắp cày, kẻ địch của loài rệp. Thậm chí, dù cái cây phát đi tín hiệu cảnh báo chẳng thu được hoặc thu được rất ít lợi lộc từ các cây xung quanh sau khi bản thân nó đã bị rệp tấn công, ích lợi từ mạng lưới nấm sẽ giúp giữ cho cây khỏe mạnh.

Mạng lưới nấm sợi – thứ mà một vài nhà nấm học gọi là “wood wide webs” (mạng lưới toàn gỗ, chơi chữ từ “world wide webs – www”) – cũng có thể khuếch đại tương tác giữa họ nhà nấm, thực vật và vi khuẩn với những giả thuyết còn mơ hồ. Một mạng lưới có thể truyền dẫn độc tố và vi rút, cho phép một số thực vật nhanh chóng tiêu diệt một số khác trong khu vực gần đó.

Cuốn sách của Sheldrake hội tụ đầy đủ những câu chuyện ấn tượng như vậy, từng bước mở rộng nhận thức hạn hẹp của chúng ta. Anh đưa ra những trích dẫn nhiều màu sắc, tất cả đều rất bí ẩn nhưng lại cần thiết, từ những danh nhân đa dạng như Tom Waits và nhà nữ quyền Hélène Cixous. Một trong những chương đầu tiên viết về việc truy tìm nấm truffle (nấm cục) khởi đầu với một lời nhắn từ Hoàng tử trước khi đi sâu vào thế giới nấm bí ẩn mà quyến rũ. Kiểm tra rễ một loại cây dưới kính hiển vi giúp anh có cái nhìn thoáng qua về cái cây và những cây nấm đang cuốn lấy nhau trong một cái ôm thân mật. “Đây không phải là tình dục,” anh viết; không có thông tin gen nào được tổng hợp. “Nhưng điều này vẫn thật quyến rũ.”

Sự thật là, thứ hạng của thuyết nhân hóa (anthropomorphism) dẫn đến những hiểm nguy nhất định; nếu chúng ta từ bỏ chủ nghĩa lấy cây cối làm trung tâm mà phóng chiếu tính người lên họ nhà nấm, Sheldrake thừa nhận, chúng ta có nguy cơ không hiểu hết một sự vật theo cách riêng của nó. Nhưng vẫn có một số đặc điểm đang được ghi nhận về họ nhà nấm, rằng chúng không thể dự đoán trước, phản ứng nhanh và dễ bị kích thích. Anh ấy đề cập đến từ “đồi” trong tiếng Potawatomi (một thứ tiếng Mỹ bản địa – kiểu tiếng thổ dân) là một động từ: “Đồi ở đây là quá trình leo, chúng vận động để trở thành những ngọn đồi.” Sau đó, trong một cuộc thảo luận đột xuất say mê về rêu địa y – một tổ chức cộng sinh bao gồm tảo và họ nhà nấm – anh ấy giải thích cách rêu địa y lọc những khoáng chất từ đất đá và truyền chúng vào chu trình trao đổi chất của sự sống. Địa y, một cách nói khác, “không bao giờ ngừng địa y, chúng vừa là động từ mà cũng vừa là danh từ.”

Các nhà nghiên cứu tiên phong (táo bạo) đang cố gắng tìm ra tất cả những công dụng của họ nhà nấm. Từ những công dụng cơ bản nhất là cung cấp dinh dưỡng cho thực vật, giúp chúng phát triển và thay đổi, ví dụ như vị ngọt của dâu tây. Vậy họ nhà nấm có thể giúp chúng ta dọn dẹp mớ hỗn độn khủng khiếp mà chúng ta đã gây ra cho hành tinh này không? Họ nhà nấm có thể được “huấn luyện” để hấp thu tàn thuốc lá, tã đã qua sử dụng, dầu loang hay cả phóng xạ. Một lĩnh vực mới trong ngành chế tạo vi mô đã phát triển da giả và vật liệu xây dựng từ họ nhà nấm. Sheldrake tham quan một nhà máy đã biến mạng lưới nấm thành đồ nội thất – chân ghế từ nấm dù.

Nhưng nếu chúng ta chỉ chăm chăm khai thác tiềm năng ứng dụng của chúng, theo một cách nào đó, thì ta đang bỏ qua một số điểm trọng yếu. Sheldrake cho rằng việc chú ý tới họ nhà nấm có thể thay đổi những hiểu biết cơ bản về thế giới. Mạng lưới nấm sợi là một hệ thống phi tập trung, “sự phối hợp của chúng xuất hiện ở khắp nơi cùng một lúc và không có nơi nào riêng biệt.” Chúng tiêu hóa bằng cách đưa cơ thể mình vào trong thức ăn. Một loại nấm đầu nhỏ gọi là hyphae có thể gây áp lực đủ lớn để xuyên qua giáp Kevlar. Một loại nấm mọc lên sau cơn mưa có thể từ mặt đất lách qua đường nhựa. Sheldrake viết, “nếu tôi nghĩ về sự phát triển của nấm sợi trong vòng hơn một phút, tâm trí tôi bắt đầu bị kéo dãn.”

Anh mô tả việc nhận được sự hỗ trợ từ các chất gây ảo giác từ nấm như LSD (Lysergic Acid Diethylemide – một loại axit chiết xuất từ nấm gây ảo giác về hình ảnh, âm thanh) và psilocybin (hợp chất tự nhiên gây ảo giác từ hơn 200 loại nấm), đồng thời đưa ra phép so sánh với cái gọi là nấm xác sống điều khiển cơ thể vật chủ côn trùng. Một loại khác tự lây lan bằng cách lây nhiễm ve sầu, giữ cho chúng sống sót trong khi khiến cho phần đuôi ve sầu phân hủy và thải ra các bào tử, biến chúng thành “những kẻ rắc muối biết bay của thần chết.”

Sheldrake nói rằng những ảo giác từ họ nhà nấm thường lành tính với vật chủ là con người, nhưng đôi lúc cũng rất mạnh mẽ. Chúng khuyến khích con người nuôi dưỡng chúng, phát tán bào tử của chúng ra thế giới. Chúng xóa nhòa ranh giới của bản thân, mang lại cho con người cảm giác về sự hòa nhập vào một cái gì đó lớn hơn, mở rộng kỳ vọng về khả năng của họ. Thay vì mắc kẹt lại trong những cái tôi, chúng ta nên bắt đầu nghĩ rằng chúng ta nằm trong một mạng lưới năng động và được gắn liền với một chuỗi những mối quan hệ.

Trong vòng 24 giờ sau khi đọc xong Đời sống xoắn quẩy của nấm, tôi đã đặt mua một bộ dụng cụ trồng nấm bào ngư. Tôi bắt đầu rà soát những ụ địa y ôm lấy sàn bê tông ẩm ướt trong sân. Cuốn sách này có thể không phải một tác phẩm tâm lý – và không giống như Sheldrake, tôi không dám sử dụng sách để trồng nấm và lên men bia (chưa tới lúc) – nhưng việc đọc nó không chỉ lay động tôi mà còn khiến tôi thay đổi, nóng lòng muốn phổ biến thông điệp của cuốn sách về những khả năng của họ nhà nấm.

Hết.

Bún cứng dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Jennifer Szalai, đăng tại The New York Times.

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!