Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Tanizaki Jun’ichiro: Sức hấp dẫn chết người

Mitsuko, đối tượng ngưỡng vọng trong tiểu thuyết “Chữ Vạn” năm 1928-1930 của Tanizaki cũng có sức mê hoặc tương tự đối với người yêu đồng tính của nàng và cả chồng của người yêu, đến nỗi họ khao khát được chết vì nàng.

Published

on

FATAL ATTRACTIONS
Ian Buruma

Tanizaki Jun’ichiro (1886-1965) là người tôn thờ phụ nữ. Ông tôn thờ mẹ mình; ông thờ phụng Quan Âm, vị Bồ tát từ bi của Phật giáo, và người vợ thứ ba Matsuko, và có lẽ nhiều phụ nữ khác nữa. Đàn ông trong tiểu thuyết của ông có khi còn cực đoan hơn kẻ tạo tác họ trong việc tôn thờ nữ giới. Một số còn mong được gót chân ngà ngọc của thần tượng giẫm lên. Một số khác, như Heiju, một nhân vật trong tiểu thuyết ngắn 1949-1950 Captain Shigemoto’s Mother (tạm dịch Mẹ của thuyền trưởng Shigemoto), chất thải của người yêu họ giống như mùi hương trầm tuyệt hảo nhất. Mitsuko, đối tượng ngưỡng vọng trong tiểu thuyết Chữ Vạn năm 1928-1930 của Tanizaki cũng có sức mê hoặc tương tự đối với người yêu đồng tính của nàng và cả chồng của người yêu, đến nỗi họ khao khát được chết vì nàng.

Những nữ thần của Tanizaki thường độc ác, và đôi khi hơi sỗ sàng để thêm phong vị. Trong tiểu thuyết ngắn Người cắt lau (1932), một chàng trai tường thuật câu chuyện về tình yêu cha mình dành cho góa phụ được sủng ái và bất khả với tới là Oyu, người bịt mũi miệng ông bằng đôi tay xinh đẹp, cấm ông thở cho đến khi được phép. Nàng cũng thích véo khắp người ông. Và nàng yêu cầu được gọi là Phu nhân Oyu. Tiểu thuyết ngắn này bắt đầu với suy tư của tác giả về những kỹ nữ nổi tiếng thời Heian (794-1185), những người lấy nghệ danh là tên các nữ Bồ tát Phật giáo. Tôn giáo và ám ảnh tình dục có liên hệ chặt chẽ trong toàn bộ tiểu thuyết của Tanizaki.

Howard Hibbett, dịch giả của Chữ Vạn, từng viết trên một tạp chí Nhật Bản rằng các chủ đề thường trực của Tanizaki là tình dục tự hủy và hình tượng hai mặt của phụ nữ, khi vừa là nữ thần vừa là ác quỷ. Trong bài này, Hibbett viết, ta tìm thấy “những bản chất tâm lý vượt qua sự khác biệt văn hóa”. Đây là sự tôn vinh những đóng góp của Tanizaki trên cương vị một nhà văn, và đối với Hibbett từ góc nhìn của một dịch giả thì những đặc trưng này vẫn được duy trì ở mức đủ khiến cho Chữ Vạn trở thành trải nghiệm đọc thú vị, dù thực tế là giọng điệu độc đáo đã bị mất hoàn toàn trong quá trình chuyển ngữ sang tiếng Anh.

Đây không phải là lỗi của ngài Hibbett. Bởi vì phương ngữ Osaka thuộc tầng lớp thượng lưu dùng để kể câu chuyện về Mitsuko và những người tôn thờ nàng gồm có Watanuki bất lực và vợ chồng nhà Kakiuchi, vốn không thể truyền tải hết trong tiếng Anh. Kỹ thuật kể chuyện dựa trên lối trần thuật trực tiếp, trong trường hợp này là từ lời của Sonoko, vốn là thứ Tanizaki ưa thích khi trưởng thành sau khi chuyển đến vùng Osaka, vì ông yêu thích nhịp điệu trầm bổng của phương ngữ Kansai, đặc biệt là qua giọng nói của phụ nữ. Sonoko kể chuyện đời mình cho tác giả, tự thay đổi giọng điệu theo các nhân vật trong câu chuyện thông qua cái cách gợi ta nhớ đến những người kể chuyện truyền thống của Nhật Bản. Điều này cho thấy sự quan tâm ngày càng gia tăng của Tanizaki đối với văn hóa truyền thống Nhật Bản, sau khi dành nhiều năm theo đuổi văn hóa phương Tây.

Bản thân câu chuyện là xuyên văn hóa, như ngài Hibbett đã nêu trên, dù mối quan tâm khôn cưỡng về việc chung thủy cho đến chết vốn là chủ đề xuất hiện thường xuyên trong văn học Nhật Bản tiền hiện đại. Cuộc trao đổi giữa Sonoko và Mitsuko với cam nguyện chết cùng nhau (“Ừ, được, chị sẽ chết cùng em! Có thực là em sẽ chết cùng chị không, Mitsu?”), có thể thấy xuất hiện trong một cuốn tiểu thuyết thế kỷ 18, hoặc từ một bài hát trữ tình Nhật Bản đương đại. Lời thề này có vẻ hơi trịnh trọng trong tiếng Anh, nhưng lại khá thông thường trong văn hóa Nhật. Sự ủy mị này là tự nhiên trong một xã hội mà các quy tắc vốn dành rất ít không gian cho tình yêu lãng mạn. Ngày xưa, ngoại tình (bên ngoài các khu nhà thổ) có thể bị trừng phạt bằng án tử, vì vậy việc tình nguyện chết trở thành phép thử cuối cùng của lòng chung thủy. Trong tiểu thuyết của Tanizaki, nó cũng là hình thức tối cao của khoái cảm nhục dục.

Đó chính là vũng cát lún mà tựa đề tiếng Anh của tiểu thuyết của Tanizaki (Quicksand) đề cập đến. Tất cả những người dự phần vào mối tình tay tư (tựa đề tiếng Nhật, ManjiVạn tự – đề cập đến chữ Vạn có bốn trục trong Phật giáo) được vẽ thành một vũng lầy của sự lừa dối và ghen tuông. Đối tượng được mọi người ngưỡng vọng là Mitsuko, nhưng bản thân nàng là thần tượng cũng phải phụ thuộc những người tôn thờ nàng như chính họ phụ thuộc nàng. Nàng sống để được ngưỡng mộ. Và mọi thứ hoàn toàn hợp lí khi người chồng đa tình và người vợ đa cảm cùng giao ước chết chung với Mitsuko, có một bức chân dung của nữ Bồ tát từ bi của Phật giáo được treo trên giường. Sau sự kiện này, Mitsuko và chồng của Sonoko là Kotaro qua đời, còn Sonoko vẫn sống sót và kể lại câu chuyện. Tước bỏ phần độc dược trong bột thuốc ngủ cho cô uống có lẽ là sự lừa dối cuối cùng của họ.

Một số tác phẩm của Tanizaki Jun’ichiro đã được dịch sang tiếng Việt

Ám ảnh nhục dục cũng là chủ đề của hai truyện dài Người cắt lauCaptain Shigemoto’s Mother, được Anthony H. Chambers dịch thành một tuyển tập. Trong cả hai câu chuyện, Tanizaki đã trở thành chuyên gia sành sỏi về truyền thống Nhật Bản. Khi ông viết Captain Shigemoto’s Mother vào cuối những năm 1940, xem như Tanizaki đã hoàn thành một phiên bản Nhật ngữ hiện đại cho tác phẩm kinh điển thế kỷ thứ 11 Truyện Genji. Captain Shigemoto’s Mother là một nỗ lực tài tình và dí dỏm nhằm tái hiện lại sự sống động của thế giới quý tộc thời trung cổ, với tất cả những nghi lễ và thứ bậc quan triều khôn dò. Nếu tác phẩm này dễ cảm thấu bằng tiếng Anh hơn Chữ Vạn, thì nguyên nhân không chỉ vì bản dịch của Chambers vốn hay. Thời Heian hầu như cũng xa xôi với người Nhật hiện thời không khác gì người Mỹ đương đại. Do vậy, hiểu theo nghĩa nào đó, chính bản thân câu chuyện của Tanizaki đã là một dạng dịch thuật.

Câu chuyện được kể trong một mớ hỗn độn kỳ lạ của trích dẫn văn học – Tanizaki trong vỏ bọc của một học giả văn học thông thái rởm – và những tưởng tượng không thể nhầm lẫn của riêng Tanizaki. Điều tương tự cũng đúng với Người cắt lau, trong đó người kể chuyện xuất hiện và sau biến mất một cách bí ẩn như con ma trong vở kịch Noh. Cả hai câu chuyện bắt đầu với những câu chuyện về tình yêu dục tính. Trong Người cắt lau, một người lạ mặt nói về tình yêu của người cha dành cho góa phụ, Phu nhân Oyu, người sẽ không “phản bội” người chồng quá cố của mình và tái hôn. Vì vậy, người cha kết hôn với em gái của Phu nhân, chỉ để gần gũi với Oyu, nhưng từ chối động phòng với vợ để bảo toàn lòng trung trinh với nữ thần của mình. Chỉ sau khi Oyu cuối cùng đồng ý kết hôn với một quý ông giàu có, người cha mới quay trở sang vợ của mình, người mang cho ông ta một đứa con trai. Người con trai trưởng thành này, cũng chính là người kể chuyện, hiện đang trên đường nghe Oyu chơi nhạc tại biệt thự của cô trong quãng thời gian trăng tròn. Khi tác giả bày tỏ sự ngạc nhiên, vì theo tính toán của mình, Oyu phải ít nhất 80 tuổi, người kể chuyện đã biến mất, “như thể anh ta đã hòa tan vào ánh trăng.”

Đằng sau nữ thần tình yêu, trong nhiều câu chuyện Tanizaki, là nữ thần kính yêu nhất trong tất cả: người mẹ. Mẹ của thuyền trưởng Shigemoto là một người đẹp tuyệt trần trong thế kỷ thứ chín, được gọi là quý bà Ariwara. Cha ông là Fujiwara Kunitsune. Kunitsune tôn thờ vợ mình như một báu vật, nhưng ông là một lão già không còn có thể thỏa mãn nhu cầu của bà. Và ông bị lừa giao bà cho cháu trai của mình, Fujiwara Tokihira, một kẻ trác táng vô đạo đức và là người đàn ông quyền lực nhất ở độ tuổi của hắn. Quý bà Ariwara có một người theo đuổi khác, người lợi dụng cậu con trai nhỏ của bà làm trung gian, bằng cách viết những bài thơ tình trên cánh tay của cậu bé. Bà không thể đáp lại tình yêu của anh, và khóc. Cậu bé cảm nhận được sự mát lạnh của những giọt nước mắt trên má khi bà ôm lấy cậu. Shigemoto không còn được phép đến thăm mẹ mình, nhưng ông không thể quên vẻ đẹp và mùi thơm ngọt ngào trên chiếc áo kimono của bà.

Ký ức về mẹ ông mạnh mẽ đến mức ông từ chối gặp mẹ, khi có thể, nhiều năm sau đó: “Dường như Shigemoto muốn tiếp tục ngưỡng mộ mẹ mình như cái cách ông đã thấy mẹ trong thời thơ ấu.” Nhưng rồi, vào một đêm mùa xuân, đi bộ dưới ánh trăng rọi xuyên qua những bông hoa, ông thấy một nữ tu già và ông nhận ra bà ngay lập tức: “Hương thơm trong tay áo choàng đen của bà gợi lại cho ông mùi hương còn vương vấn từ lâu, và giống như một đứa trẻ được bảo bọc trong tình yêu của mẹ, ông đã lau nước mắt hết lần này đến lần khác bằng tay áo của bà.”

MỘT SỰ CĂM THÙ MÃNH LIỆT

“Tôi chưa bao giờ biết ai lạnh lùng như vậy! Chẳng phải chúng ta đã hứa sẽ không giấu bất cứ điều gì với nhau sao? Nói dối!”

Tại thời điểm đó tôi chắc chắn rằng tôi đã có vẻ đã bị ám… Tôi đang lườm cô, nhợt nhạt và run rẩy như thể tôi thực sự phát điên lên. Và bản thân Mitsuko run rẩy khi cô lặng lẽ nhìn chằm chằm vào mắt tôi… Tôi cảm thấy có chút thương hại cho cô, nhưng khi tôi nhìn thoáng qua đôi vai trắng đầy đặn của cô qua tấm vải rách tôi muốn xé nó ra một cách dữ dội. Bây giờ tôi thực sự điên cuồng và bắt đầu tước tấm vải ra khỏi cơ thể cô. Đối diện với sự cương quyết của tôi, Mitsuko dường như đang run sợ. Cô không nói gì và để tôi làm theo ý mình. Chúng tôi nhìn chằm chằm vào mắt nhau với một sự căm thù mãnh liệt. Rồi một nụ cười cuối cùng cũng hiện diện trên mặt tôi – một nụ cười đắc thắng, lạnh lùng – đọng trên môi tôi khi tôi lột bỏ phần vải còn lại…

“A, thật điên rồ!” Tôi khóc, nước mắt chảy dài trên má. “Một cơ thể đẹp như vậy! Tôi có thể giết cô!” Khi tôi nói, tôi nắm chặt cổ tay run rẩy của cô ấy bằng một tay và tay kia kéo khuôn mặt cô ấy lại gần khi tôi đưa môi về phía nó.

Đột nhiên tôi nghe thấy Mitsuko khóc thét. “Tới đây và giết tôi! Tôi muốn ông làm vậy!”

Trích từ Chữ Vạn.

Hết.

Theo Tao Đàn

Bài viết gốc được thực hiện bởi Ian Buruma, đăng trên tờ The New York Times.

*

Tìm hiểu về tác giả Tanizaki Junichiro



Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Chuyện xứ Dran xưa: Sao có thể còn bồi hồi hơn thế?

Published

on

Xứ Dran, ôi cái tiếng gọi thân thương bỗng hiện lên thật rõ trong từng trang hồi ức được viết bởi một con người yêu Dran như yêu chính linh hồn mình. Dran là ấu thơ, Dran là tuổi trẻ, Dran là chứng nhân của vạn thứ đổi dời. Dẫu bể dâu đã nhuốm màu lên từng trang lịch sử, dẫu thị trấn đã chuyển mình theo dòng chảy cuộc đời, nhưng (mong rằng) Dran vẫn là Dran yêu dấu, của bao thế hệ con người ở đây, trên mảnh đất cao nguyên lặng lẽ này. Dran, đó đâu chỉ là một danh xưng. Và hơn thế nữa, Dran là tình yêu, là nguồn sống, là cả một quê hương xứ sở đầy tha thiết bồi hồi...

(Mà cái sự tha thiết bồi hồi nào cũng đẹp, đẹp đến nỗi xót xa, khi đôi lần nhắc nhớ nhau nghe về một Dran xưa chỉ còn nằm lại trong từng trang hồi ức...)

Đã từng có một thời như thế, Dran là một thị trấn nhỏ nằm lặng lẽ và khiêm nhường giữa đất trời cao nguyên. Dran hoang sơ và vắng lặng. Dran chẳng có gì ngoài những xóm cùng thôn - những ngôi nhà nhỏ đơn sơ và thưa thớt. Chính những xóm nhỏ “lèo tèo” co cụm thành “một nhúm” ấy, đôi khi lại khiến người ta nhầm lẫn về một mảnh đất nghèo nàn, lạc hậu, tẻ nhạt và vô vị giữa đời. Thế nhưng, phải là dân Dran, phải yêu xứ Dran, phải sống và trải qua những tháng ngày ở Dran, thì người ta mới biết, Dran không hề bé nhỏ bao giờ.

Dran rộng lắm. Rộng từ những con đường. Rộng từ những lối đi. Rộng từ cây đa đến giếng nước giữa làng. Cây đa chẳng biết bao nhiêu tuổi nhưng đã sống cùng với làng rất lâu. Cây đa là nơi “bọn trẻ con” xứ Dran tập trung đến. Cứ đến tầm chiều, “bọn trẻ chúng tôi” lại tề tựu về đây, lại bắt đầu những cuộc vui bất tận. Những cuộc vui không toan tính, không muộn phiền, hay chẳng thêm một chút lo âu nào. Những trò chơi tuổi thơ. Những nụ cười tuổi thơ. Những tháng ngày tươi đẹp của tuổi thơ. Tất cả những thứ ấy đã tô điểm và đắp bồi cho tâm hồn của người con xứ Dran một niềm nhớ bồi hồi tha thiết, khi thời cuộc qua đi, đến một chiều ngoảnh đầu nhìn lại, bỗng thấy sao tuổi thơ vụt mất rồi. Tuổi thơ vụt qua tán cây già trước ngõ. Cây đa ngày ấy liệu có còn. Và cái sự hồn nhiên năm tháng ấy đâu rồi. Bạn bè ơi! “Bọn trẻ con” mà tôi đã nhắc đến, ôi chẳng phải đấy là những người mà tôi gọi là ông, là chú, những người đã sống và đã ra đi, đã gửi lại cho mảnh đất này một niềm thương nhớ về linh hồn xứ sở hay sao...

Giếng nước, như lời kể của chính nhà văn, đó giống như hiện thân của đời sống thị dân Dran ngày ấy. Giếng nước nằm ngay giữa ngã ba, miệng giếng vuông còn nước thì trong vắt. Giếng như nơi tụ họp của dân làng. Giếng bắt đầu những câu chuyện thường nhật. Ai muốn biết gì cứ đến giếng mà nghe. Người dân kể nhau chuyện ai yêu thương ai, ai ra sao và ai thế nào. Sao cũng được cả, chỉ cần thỏ thẻ, chỉ cần tâm tình và nhắc nhớ về một điều gì đó trong đời. Ôi cái xứ sở lạ kì làm sao, khi những người dân ấy lại trở nên thân tình và thắm thiết, chỉ nhờ vào cái giếng nước giữa làng. Nhưng giếng ơi, cũng giống như cây đa ngày ấy, giếng có còn đó không, hay chỉ là một hình hài ngủ quên trong kí ức. “Thời gian trôi đi. Làng tôi như mơ. Làng tôi ngu ngơ trở nên phố thị nửa quê nửa tỉnh. Làng tôi ngày xưa, giờ đây đâu còn bình yên...” Bỗng có chút gì đó nhoi nhói, ở trong lòng...

Rồi lại lần trong từng hồi ức của nhà văn, tôi bỗng thấy trước mắt mình là cả một xứ sở thu nhỏ. Ở đó, tôi biết về lịch sử xứ Dran, về con người xứ Dran, về ẩm thực xứ Dran, hay về cả những câu chuyện vụn nhặt. Xứ Dran xưa ngây ngô hiền hậu thế. Xứ Dran không có điện. Xứ Dran đi lại bất tiện vô cùng. Xứ Dran buồn thiu trong lớp sương mù phủ. Dân xứ Dran nào biết thư giãn, giải trí là gì. Nhưng xứ Dran không phủ phục nghèo khó. Xứ Dran vẫn chuyển mình từng ngày, để mà thay đổi, để mà tiến bộ, để mà cải thiện đời sống thị dân. Tất cả, đều nhờ vào những người dân nơi đây, hay những người dân đến từ vùng khác nhưng lại trót phải lòng chốn này.

Chuyện người xứ Dran là những câu chuyện dài, nếu có kể chắc rằng sẽ nhiều lắm. Nhưng chung quy lại, những câu chuyện ấy, đều là để làm bật nổi lên tính cách và đức hạnh của người dân nơi đây. Những con người vượt nghèo lam lũ. Những con người vất vả mưu sinh. Những con người biết yêu thương và biết cho đi không toan tính. Ai cũng có hàng tá vấn đề cần giải quyết trong đời. Nhưng họ đã sống với nhau bằng tình yêu thương. Họ sẵn sàng tha thứ cho nhau dẫu đã có lần từng thù hằn ghét bỏ. Họ mở lớp mang con chữ về làng. Họ cưu mang nhau những lần loạn lạc. Họ nỗ lực và phấn đấu học hành để không thua bất cứ đứa trẻ thành phố nào. Họ mở hiệu sách để buôn bán nhưng lại phóng khoáng cho độc giả mượn sách về đọc. Họ dựng đoàn kịch để phục vụ đời sống tinh thần của người dân. Họ lạc quan, họ tích cực (dẫu cho đời vẫn đầy muộn phiền thôi)... Ôi bao nhiêu nếp sống và nếp nghĩ, họ đã sống giữa đất trời cao nguyên ấy như một loài hoa mạnh mẽ và đẹp đẽ vô cùng.

Đi cùng với con người xứ Dran chính là thứ ẩm thực đặc sắc và tinh tế được bộc lộ rất rõ qua lời kể rất chi tiết của tác giả. Những thức quà quê đơn sơ và giản dị, những thức quà quê bé nhỏ và bình thường, ấy vậy mà, chỉ trong phút chốc, khi cái trăn trở về một niềm thương nhớ quê xa lại thao thức ở trong lòng, cái thứ ẩm thực bình thường ấy lại trở nên đặc biệt đến lạ. Dân xứ Dran yêu làm sao món bánh căn ấm nóng, ăn giữa chiều se lạnh cuối mùa hay giữa đêm bãng lãng mờ sương. Dân xứ Dran nhớ làm sao món nem nướng thơm lừng, đôi khi lại xao xuyến với món chè ngọt lịm hay món đậu hủ quen thuộc. Rồi bánh bèo, bánh hỏi, rồi bắp nếp mỡ hành... Những thức quà quê dẫu bình thường với biết bao nhiêu người, nhưng lại chính là tình yêu thương xứ sở của người dân xứ Dran. Bởi ăn ở Dran chắc chắn sẽ khác với những nơi khác. Ở Dran, họ tìm thấy được tình yêu quê hương - được đắp bồi bởi những con người xứ sở này.

“Vừa ăn vừa hít thở cái không khí trong lành của quê nhà. Ăn như thể cái ngon tăng lên gấp bội khiến người ta cứ mãi canh cánh bên lòng, để rồi khi thiếu đi là nhớ, nhớ da diết, nhớ phát cuồng. Bấy giờ quà mọn trộn lẫn với nỗi nhớ đã thành tình quê.

Nhớ quà đồng nghĩa với nhớ quê. Ai xa quê mà chẳng nhớ? Cái nỗi nhớ ấy nó đeo đẳng theo ta suốt cuộc đời không thể nào quên.

Tôi đợi bạn, hãy đến nhé.

Bienvenue à Dran.”

Nỗi nhớ quê đẹp đẽ đến vô cùng. Tôi bỗng nghĩ về đôi ba lời hát. Khi bé, mẹ dạy tôi hát rằng:

“Ngày mai con khôn lớn
Bay đi khắp mọi miền
Con đừng quên con nhé
Ba mẹ là quê hương.”

Ba mẹ là quê hương. Là quê hương. Mà quê hương thì bao giờ cũng đẹp. Đẹp hơn nữa, khi quê hương có mẹ.

Nhưng mẹ thì đã xa rồi...

Tôi xúc động lắm, khi đọc đến chương này. Bên dòng Mai Nương. Cả chương chỉ viết về người mẹ. Là mẹ của tác giả. Nhưng đó cũng là những người mẹ ở Dran. Người mẹ ngược xuôi gánh con chạy giặc. Bom rơi và lửa đạn. Người mẹ đau lòng nhìn đứa con bé bỏng của mình nhắm mắt ở sau lưng. Người mẹ lam lũ và vất vả. Người mẹ nghèo khó chẳng có gì. Nhưng người mẹ yêu con, yêu con hơn bao giờ hết. “Mẹ đã bỏ tôi mà đi”. “Tôi đi tìm mẹ”. Và tôi đã tìm được rồi đấy. Hình ảnh mẹ hiền hòa sống lại trong lòng tôi. Mẹ ơi, mẹ ơi. “Món cá nướng của mẹ tôi.” Tôi nhớ mẹ, nhớ cả câu hát thuở hôm nào...

“Một bông hồng cho anh
Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn mẹ...”

Đang còn mẹ để lòng vui sướng hơn. Vui sướng trong những tháng ngày hạnh phúc, được cùng mẹ sống giữa quê hương, giữa yên bình đất trời.

Nhưng thời gian vô thường luôn là một quy luật của cuộc sống. Mẹ đã bỏ tôi mà đi. Dran xưa cũng bỏ tôi mà đi. Tôi ở đây phải chăng là nỗi lòng của những người xứ Dran thuở ấy. Rồi năm tháng lặng lẽ vùn vụt ngang qua kẽ mắt. Thị trấn vươn mình thành những phố hào hoa. Thị trấn có còn bình yên và khiêm nhường như xưa nữa. Đâu đó một ngày nhà gỗ bị thế chỗ bởi gạch ống cao tường, những cánh diều không thể bay lên trời vì sức nặng iPad, những thức quà quê bị quên lãng bởi thực phẩm công nghiệp, hay sắc vàng của hoa dã quỳ cũng trở nên lạnh lẽo tẻ nhạt bởi những chiếc xe ủi vô hồn...

Rồi một ngày, một ngày nào đó, chẳng ai biết được chi. Bởi thế nên, hãy cứ trân trọng những ngày mình đang sống. Những ngày khi mình vẫn còn tỉnh táo để nhận ra mình vẫn là mình, phố vẫn là phố, và những ban sơ chân thành lúc ban đầu vẫn luôn là một kí ức đẹp đẽ sống mãi trong lồng ngực.

Để Dran xưa hay là Dran nay vẫn đẹp một cách lặng lẽ, và an yên...

Đẹp như những trang thơ trong sách...

Trời cao mây trắng bay
Bướm vàng nghiêng đôi cánh
Im im chiều cô quạnh
Nghe chừng như ngất ngây

Hết.

Lâm Lâm

*

Đọc tất cả bài viết của Lâm Lâm

*

Trong khuôn khổ chương trình Tháng Phương Nam Khuyến Đọc 2020 (từ ngày 25.09 đến 25.10), tác phẩm Chuyện xứ Dran xưa hiện đang được giảm giá 20% khi đặt mua tại hệ thống Nhà Sách Phương Nam trên toàn quốc và website nhasachphuongnam.com.

Bên cạnh đó, rất nhiều tác phẩm văn học, tản văn Việt Nam như Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Những lối về ấu thơ, Hãy tìm tôi giữa cánh đồng, Sài Gòn - Chuyện đời của phố,… cũng nằm trong chương trình ưu đãi.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

William Faulkner đã dạy cho tôi cách viết văn như thế nào

Hay lời giới thiệu mới cho “Âm thanh và Cuồng nộ”

Published

on

Nhân kỷ niệm 123 năm ngày sinh của người thầy dạy tôi viết, cùng với nhạc The Carpenters.

Văn chương Mỹ thế kỷ XX có hai người khổng lồ xuất hiện như bằng chứng cho sự phát triển rực rỡ về tất cả điểm nhìn mà một nhà văn có thể khai thác được thông qua phương pháp nhìn cổ điển cùng sự chán chường cùng cực của hậu thế hệ nhạc Jazz, và vô tình hoặc hữu tình thay, họ đều là những nhà văn được trao giải Nobel với lý do tương đồng - công lao không thể thay thế trong việc định hình phong cách và sự phức tạp trong tiểu thuyết hiện đại hậu kỳ: Ernest Hemingway (tất nhiên), và William Faulkner (rất ngạc nhiên). Nói như thế để làm tỏ tường rằng, so với Mr. Papa thì Faulkner vẫn chưa nhận được sự nhìn nhận đúng đắn và dẫu cho có thì sự đúng đắn ấy chưa đủ tính xung đột để xiển dương nhà văn và tác phẩm, ít nhất là ở Việt Nam. Tới nay, chỉ có 7 tiểu thuyết trong số 13 cuốn tất cả được dịch sang tiếng Việt một cách chính chuyên và không phải dưới dạng sách ngầm, sách chui, hoặc tôi không biết, đó là: Cọ hoang, Âm thanh và Cuồng nộ, Khi tôi nằm chết, Thánh địa tội ác (mới được tái bản sau nhiều lần thét một mức giá vô cùng học sinh, sinh viên, cho những tầng lớp bình dân muốn học vụ, từ phía các account facebook khơi dậy tinh thần ham đọc sách của giới trẻ bằng cách chuyển hóa việc đọc thành một việc thiêng liêng và hợp thời: sưu tầm bản sách quý, bên cạnh sưu tầm các phiên bản S100, S500 mà một nghìn năm nữa tôi cũng không dám bước chân vào), Bọn đạo chích, Nắng tháng Tám và hình như chỉ có một chiếc truyện ngắn duy nhất trong số hơn 900 trang truyện ngắn được Random House ấn hành năm 1934 (lúc này William vẫn còn tiếp tục viết) đó là Bông hồng cho Emily. Đáng chú ý thay, ba cuốn sách quan trọng và sáng giá bậc nhất của ông là A Fable (được giải Pulitzer, trước Bọn đạo chích, rất kinh tế cho các nhà in), Absolom, Absolom! (được đánh giá ngang hàng với Âm thanh và Cuồng nộNắng tháng Tám) và Go Down, Moses vẫn chưa có ai thèm dịch, hoặc có đủ khả năng và kiên tâm để dịch. Trong khi đó, hầu như tất cả tiểu thuyết của Ernest Hemingway đều đã được xuất hiện ở Việt Nam ngay cả trước 75 và nghe đâu là trước luôn 65, chưa kể các tuyển tập truyện ngắn hùng hậu rải khắp nhà sách đất nước. Đặc biệt, Ông già và Biển cả được đưa vào chương trình lớp 12 cũng là dịp để các mầm non Tổ quốc có cơ hội tiếp cận với cây đại thụ trong nền văn chương của một đất nước mà các em thầm ngưỡng mộ chiều dài của quý, hay một ban nhạc, một người nổi tiếng, xinh đẹp nào đó, hoặc nhân vật Francis Scott Fitzgerald của nhà văn Gatsby, hoặc muôn vàn các phong trào và thuật ngữ mà các em hằng ao ước lĩnh hội hết.

Chỉ có một lý do cốt yếu mà tôi dùng để giải đáp thắc mắc cho sự vô danh của thầy tôi (dĩ nhiên là tôi đang nói về Faulkner, tôi chưa bao giờ coi Hemingway là thầy) là sự sinh sau đẻ muộn và bực dọc của ông ta. Nếu như người dịch mọi miền thế giới có thể xử lý Ernest Hemingway với vốn tiếng Anh trung tầm và khả năng ngữ pháp tầm sư phạm và được lay động con tim với trận Thế chiến II lịch lãm và con người lao động đánh đúng gót chân Achilles của dân ta, thì nếu như không nhân một đợt thiếu thốn tiền của mà viết nên Thánh địa tội ác, William sẽ vô danh. Cuốn tiểu thuyết sáng giá nhất của ông ta, thứ đem lại cho ông ta sự tung hê nhiệt tình của lớp lớp thế hệ văn chương Mỹ và lấn sang cả La-tinh - Âm thanh và Cuồng nộ, ông ta lại ngạo nghễ trả lời nó là sự thất bại rực rỡ nhất của ông, dù miệng bảo là yêu thích nhất nhưng chưa bao giờ hài lòng về nó

Âm thanh và Cuồng nộ hấp dẫn người ta ngay từ cái global-brand danh giá, một trong những văn bản khó đọc nhất thế kỷ XX, rõ ràng là như thế. Dấu hiệu đầu tiên ta có thể thấy, tựa đề được William thuổng từ một đoạn thơ trong Macbeth mô tả một người điên. Đúng vậy, ban đầu ý định của William chỉ là muốn viết một truyện ngắn dưới góc nhìn của một kẻ khờ dại, nhìn lên cái quần nhỏ bị dính bùn của một đứa bé gái lúc trèo lên cây và nghĩ đó là hình ảnh tuyệt diệu nhất xuyên suốt văn bản. Đó là lý do trong bản hòa tấu Âm thanh và Cuồng nộ, nhịp moderato lại để vào tay một thằng khờ, nỗi ô nhục của gia đình Jason Compson trình bày. Đó là Benjamin, hay trước đó là Maury. Đặt bối cảnh vào ngày 7/4/1928 nhưng không phải là như thế, vì bản chất dở khùng dở điên nên ý niệm về không gian và thời gian trong Benjamin-thằng khờ bị tháo dỡ đến vô cực, đó là sự giao thoa của tất cả sự kiện vụt qua như một cơn gió và trở lại ở những phần sau đó. William Faulkner chặn đứng tất cả các sự ý thức của nhân vật trong một dòng ý thức miên man nhưng đứt đoạn, đứt đoạn nhưng vẫn miên man. Với Benjy, tính từ bị triệt tiêu đến số cực tiểu, thay vào đó là động từ nguồn và danh từ phổ quát. Nhưng nhà văn tự nhận truyện ngắn chủ ý mình viết không đạt (trong bài phỏng vấn với Frederick L. Gwynn và Joseph L. Bronte) nên Quentin ở chương thứ hai là một sự nỗ lực phát triển câu chuyện mang tính chữa cháy.

Chương của Quentin lùi người đọc về mốc thời gian 2/6/1910, từ Jefferson đổi sang Harvard. Tuy Quentin là người tỉnh táo và có học vấn nhất nhưng chương của anh vẫn giàu nỗ lực phá bỏ không gian và thời gian. Ở chương này, cảm hứng chính cho ông chính là khúc bi ca của những số phận lạc lối mà Quentin chính là đại diện: anh ta chết chìm trong suy tư trước hiện thực của mình, anh ta không đủ khả năng để đối diện với nó. Thế nên ở chương này, Quentin cũng chẳng khá khẩm hơn Benjy là mấy, anh vẫn dở khùng dở điên, tự tiện phá dỡ mọi hình thức ngữ pháp và lối điệu cổ điển, để bước vào một thế giới ảm đạm nơi anh đối thoại với mình từng phút một ý nghĩ sự loạn luân và bi quan chủ nghĩa do cha anh gán cho từ thủa tấm bé. Ở thế giới đó, biểu mẫu lại xuất hiện dưới dạng sự vật phổ quát song lại mang nhiều suy tư và ẩn ý hơn Benjy: cổ mẫu nước, đồng hồ, chuông, em bé người Ý, bóng,... Nhưng William vẫn thấy mình thất bại trong việc tái tạo lại cảm giác ban sơ mà hình ảnh đứa bé gái trèo lên cây để lộ quần nhỏ dính đầy bùn đánh thức ông, thế là ông để Jason xuất hiện. Jason đưa người đọc quay lại trước chương của Benjy một ngày và chương kể ngôi một duy nhất không có chữ in nghiêng, được trình bày tuần tự và dễ dàng như chính nhân cách khô khan và khốn đốn của nhân vật. Và cuối cùng, Faulkner bước vào câu chuyện ở ngôi ba chương cuối, nhưng đúng như ông vẫn bi quan chấp nhận, ba nỗ lực sau này biến truyện ngắn thành tiểu thuyết vẫn chưa đủ để Caddy hiện ra từ sương mờ mông lung của lớp lớp câu chữ được viết bằng một thứ từ vựng dễ hiểu nhưng chính ngữ pháp khiến chúng thăng hoa và bế tắc.

Có thể nói Âm thanh và Cuồng nộ là một cuốn sách đi từ thất bại này đến thất bại khác, đúng như nhà văn của nó luôn tự nhủ với chính mình qua các cuộc phỏng vấn công khai. Chủ ý của ông là tái hiện một nhân vật "bị ẩn" là Caddy qua bốn điểm nhìn, song, hết lần này đến lần khác lại không đạt mong muốn và thỏa mãn sự yêu quý của ông với nhân vật, người Faulkner gọi là người tình trăm năm. Ở chương đầu, William Faulkner trang bị cho người kể chuyện là Benjamin một ý định thực sự khôn ngoan: một kẻ khờ mang dáng dấp của Chúa Khổ Đau. Mọi cảm giác và tri nhận của nhân vật kể đều trong trắng và trinh bạch đến mức khùng dở. Thế nên sự mờ hóa (declearisation) phân hóa mạnh mẽ hơn bao giờ hết, ở đó người kể cũng không thể tự ý thức và nắm bắt nhân vật của mình, nâng sự tri nhận và khả năng đồng sáng tạo của độc giả lên mức tối đa và ghép hình lại tất cả mảnh vỡ mà nhà văn xáo lên, để tìm ra trong đó vẻ đẹp vô thường của vạn vật: lửa, cây hoa cà, mười lăm xu, quả bóng golf và những bí mật tăm tối mà nhân vật đã tri nhận nhưng không thể xử lí. Nhân vật là một kẻ khờ, rõ ràng, thế nên người đọc gặp khó khăn trong việc khái quát hóa câu chuyện, trao đổi với thế giới bên ngoài của Benjy chỉ qua những lời âu yếm của Caddy hay lời xua im và dọa mắng của các thành viên trong gia đình. Cách nhìn của Benjy với mọi thứ cũng tinh khiết như cách Chúa nhìn người khác, và đến đây, bắt dây sang nhân vật chi phối bốn chương, Caddy, thì có lẽ rằng Benjamin đối với Caddy như cái nhìn của Chúa với vẻ đẹp đã mất của loài người. Có nhiều bằng chứng cho thấy William Faulkner bị chi phối bởi tín ngưỡng miền Nam vào Chúa để tạo ra nhân vật này: Benjamin mãi mãi dừng lại ở tuổi 33, con số cho số tuổi thọ tương truyền của Chúa, con số linh thiêng và đặc biệt. Thế nên thế giới câm và thiểu năng cùng với những tri giác đột biến như nhìn lửa, ngửi mưa (một vết tích đỉnh cao của sự mờ hoa định dạng trong văn chương hậu hiện đại),… của Maury luôn chất chứa sự muôn màu và phản chiếu một cách chân thành nhất nhưng cũng không kém phần đẹp đẽ, một Caddy biểu trưng trong cuộc sống đan xen vào nhau, đẹp và khó hiểu. Nếu Caddy trong Benjamin khởi sinh từ sự trong trắng và thành thật thì Caddy trong cách tự sự của Quentin được vớt ra từ bùn. Rõ ràng Quentin là kẻ thất bại bị hiện thực đẩy xuống hố, trong anh mang nỗi thống khổ của một con người khủng hoảng rất hiện sinh cùng phức cảm bi quan cực đoan. Những ý niệm của cha anh truyền lại biến thành hồn ma ám ảnh anh, mà thời gian, thói thường, bóng, nước cũng là vật anh tự biến thành nỗi ám ảnh riêng, dẫn đến cái chết bằng cách nhảy cầu. Caddy với Maury mang từ Mẫu nhưng sang Quentin mang chữ Dục, vì nàng góp phần ám ảnh trong Quentin suy nghĩ loạn luân và giết anh ta với thói sống quá phóng túng và tự hủy của mình. Càng về sau sự giải phóng cấu trúc và hỗn loạn càng ngày càng năng động: cắm thằng những câu không đầu không cuối được in nghiêng vào trong đoạn chữ viết bình thường, xuống dòng liên tục với chỉ một câu văn lạ lùng, cấu trúc bị tan biến, vô thức,… kết hợp cùng với hàng loạt các sự kiện chỉ được kể sơ sài và bôi mờ làm câu chuyện dường như không thể giải mã. Anh vào tiệm sửa đồng hồ và bị chế ngự bởi thời gian còn lại của mình do chính mình từ đặt ra, khao khát tìm một chiếc đồng hồ chạy đúng; anh thấy chiếc bóng mình ngả đổ sau khi bỏ tiết lang thang ngoại ô cùng với cuộc sống vẫn đang vui vẻ với lễ hội đua xuồng, và áo flannel, lần lữa với cái chết của mình; tiếng chuông báo hiệu các giờ học ngân nga trên Harvard là sợi dây ràng buộc một con người đã quá túng quẫn vào lại nếp gấp cõi cằn, sự hiểu lầm trước tiệm bánh mỳ với em bé người Ý ở Jefferson là sự ẩn dụ cho tình yêu đau đớn và trinh bạch nhưng quá tục tằn với người em gái Caddy, đây là những điều William Faulkner vẫn can tâm chối bỏ, tất cả những vật mẫu và “tầng băng nổi” ẩn lên không được ông gán ghép bất cứ ý nghĩa sâu xa nào, điều đó càng mời gọi sự giải mã từ bất cứ tay đọc nào, ở bất cứ thời kỳ nào và cách đọc ra sao.

Cần soi rọi hai điểm nhìn thú vị, nghệ thuật và khó tiếp nhận bậc nhất trong văn bản này bằng lý thuyết hệ hình hay mô thức (paradigm) của Thibaudet. Rõ ràng tuyến đường liên kết duy nhất của chương một và chương hai chính là sự phát triển về nỗi thống khổ và điểm nhìn chú trọng không gian và trải nghiệm riêng của hai nhân vật Benjy phát triển thành Quentin. Sự vận động đó diễn ra không ngờ trên một tuyến trình thời gian chạy từ những mảnh vỡ ngày 7/9/1924 (đây cũng chỉ là một cột mốc mù) trở ngược về 2/6/1910 cùng với nỗi buồn được biến thiên. Ở chương Benjy ngập ngụa nước mắt (ai cũng bảo anh ta nín, mọi lúc) là thanh âm của vĩnh viễn và đau đớn được chuyển dịch theo một đường thẳng qua phép đối xứng tâm và tâm là sự phức tạp trong cách biểu đạt của một thiên truyện tiếp cận theo tư duy hậu hiện đại, thì ở chương của Quentin, không có nước mắt nhưng cách kể cùng sự phá vỡ cấu trúc (cấu trúc tạo nên cảm giác nhịp nhàng, lặng yên) thành đa cấu trúc hoặc phi cấu trúc làm nên sự bất bình và hỗn độn, tức là hành động tượng trưng cho nỗi buồn của Benjy đến lượt Quentin đã thành nỗi khổ đau mông lung, không hành động cụ thể nhưng mờ ảo và tê tái.

Flannery O'Connor, một nhà văn theo đuổi trường phái Gothic miền Nam khác nói ông đã tạo ra sự dời về những điều nhà văn không được phép làm. Đó là sự thể nghiệm xô đổ phong cách cổ điển và cách tân từ Ulysses của James Joyce. Nếu như trong sách James luôn ẩn khuất một vở kịch ngầm đâu đó dưới bóng dáng tiểu thuyết thì William Faulkner lại quan tâm tới sự bẻ gãy quy luật cấu trúc và nhịp phách của âm vị học từ nguyên tạo ra. Khó mà đọc được William nếu ta không để mình bị ông thách thức và làm cho chán chường: cách đặt tên nhân vật giống nhau cùng các ngôi xưng thứ ba không rõ hướng vào ai, cách ghép nối các tính từ xuyên suốt và thi thoảng ném vào đó các trợ từ, trạng từ không liên quan, thách thức sự dịch và sự đọc nghiêm túc. Vậy nên William vẫn còn là một thứ quá cao siêu ở Việt Nam, nơi cấu trúc và hình thức vẫn còn in sâu từ thuở còn viết những bài văn nghị luận dối lòng. Văn chương của William đánh tan đi cách suy tư thông thường mà chúng ta có thể gán cho một nhà văn và tác phẩm của anh ta. Gia đình Jason Compson xuất hiện sơ sài lần đầu tiên trong chương đầu của truyện Lễ cầu siêu cho một nữ tu, và đưa đến cục diện ở Âm thanh và Cuồng nộ rồi sau đó thường xuyên xuất hiện khắp các truyện ngắn và tiểu thuyết. Thế nhưng trong các thiên truyện viết sau này, dòng họ của nhà này lại xuất hiện thêm nhân vật mới, đó là Nancy, một người giặt đồ thuê trong Mặt trời trong đêm ấy (mà trong Âm thanh và Cuồng nộ là tên của con ngựa rã xương trên mương), là Thomas Sutpen trong Absolom, Absolom! dưới cách kể của Quentin trong căn phòng kín cùng với một bà cô gia tên là Miss Coldfield (ông rất thích đặt tên các nhân vật lớn tuổi bằng cách ghép các từ đơn), v.v,... Chúng ta cũng cần quan tâm đến sự bẻ gãy tính logic nếu xem các tác phẩm của William Faulkner là hệ liệt và tuyến tính với nhau theo một cách sắp đặt nào đó nhất định. Bằng chứng là các sự kiện của các nhân vật được nhắc lại như Boon Hogganback trong Go down, MosesBọn đạo chích cùng địa vị với nhau, song hành động nếu trải ra trên một biểu đồ tuyến tính và logic thì không hoàn toàn tương hỗ; nhưng Quentin Compson trong Âm thanh và Cuồng nộ và Quentin Compson trong Absolom, Absolom! là tương đồng. Absolom, Absolom! đã mở rộng gia phả của nhà Compson thêm hai thế hệ, điều mà trong Âm thanh và Cuồng nộ chưa đề cập đến, thông qua những lời kể của Quentin với anh bạn cùng phòng Shreve của mình. Điều này là hoàn toàn hợp lý khi xét đến Âm thanh và Cuồng nộ, quan hệ của hai người này rất tốt và thường hay kể chuyện quá khứ cho nhau nghe. Nhưng nếu trải Âm thanh và Cuồng nộ bên cạnh Mặt trời trong đêm ấy viết cách đó khoảng nửa thập kỷ thì phi logic hẳn, Quentin đã tự tử ở tuổi 19 ở Harvard trong Âm thanh và Cuồng nộ bỗng nhiên sống dậy ở tuổi ba mươi hơn và kể chuyện quá khứ trong Mặt trời trong đêm ấy (!). Ta thử dời sự logic thông thường tạo ra bằng tam giác thao tác thời gian và không gian sang sự siêu logic cao hơn qua phương pháp nhìn nhận rơi vào hậu hiện đại: phương pháp giải cấu trúc (deconstruction) của Jacques Derrida. Đối chiếu tư tưởng với cách thể hiện, William Faulkner thể hiện sự xung đột trong cách chống lại nạn phân biệt chủng tộc sâu sắc ở miền Nam nước Mỹ những năm 30, 40 và cách thể hiện: cách gọi các nhân vật da màu của mình là Negro (một từ với hàm ý hơi miệt thị) và đẩy những con người này vào sự biến thái tư tưởng và thực dụng không thể chứa trong Red Leaves, Mule in the Yard mà về sau bị James Baldwin nhiệt tình công kích, đi vào sâu thế giới nội tâm nhân vật, rõ ràng tác giả luôn biện minh cho tình yêu tục tằn của anh Quentin bằng xử lí văn bản của anh này điên chẳng khác gì Benjamin, thậm chí còn hơn, nhưng kết cuộc nhà văn cũng ném anh ta vào cảnh tự tử với nỗi bi quan siêu thực,…

Đó là bằng chứng cho thấy cảm hứng trong các tác phẩm văn chương đầy thể nghiệm của William Faulkner vẫn rút ra từ trải nghiệm cá nhân của một nhóm nhân vật có thực trong cuộc sống muôn vẻ, một tuyên bố đi tuân theo lối đi của hiện thực chủ nghĩa, không tách rời với một áng văn hiện đại. Trong cuộc phỏng vấn với Joseph L. Fant và Robert Ashley, khi được hỏi về tác giả yêu thích, ông đã bảo rằng mình chỉ thích các nhân vật chứ không thích người tạo ra bọn họ lắm, và đó là Don Quixote trong tiểu thuyết cùng tên của Cervantes, bà y tá Sarah Gamp trong Martin Chuzzlewit của Charles Dickens, vài người của Balzac, Conrad,... Đó là những nhân vật mang tầm vóc thể hiện thời đại mạnh mẽ. Thật vậy, tất cả nhân vật của ông đều đại diện cho những lớp người ở miền Nam nước Mỹ trong thời kỳ đổ sập của các thái ấp giàu có và nạn phân biệt chủng tộc không thể nguôi ngoai. Dẫu khoác lên mình di sản của văn học lãng mạn và bánh răng đưa dòng ý thức xoay chuyển thì bọn họ vẫn là con người tượng trưng cho thời đại và cách thăng hoa của nhà văn gán cho họ. Quentin gục ngã, Jason loay hoay và tìm cách đứng dậy bằng cách cóp nhặt xu tiền, một mammy da đen là Dilsey vun đắp gia đình vì bà chỉ nghĩ đó là điều nên làm,...

Không có sự xuất hiện nào của William Faulkner trong cuốn sách Lịch sử văn học Mỹ của Lê Đình Cúc do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2007 là thỏa mãn. Cuốn sách viết dưới dạng tiểu dẫn bối cảnh văn chương Mỹ qua các giai đoạn: văn học dân gian, văn học thời thuộc địa (thế kỷ XVI -XVII), văn học thời cách mạng (1775-1820), văn học thế kỷ XIX với hai dòng là lãng mạn và hiện thực và cuối cùng là văn chương Mỹ thế kỷ XX, sau đó đi vào giới thiệu cụ thể từng đại diện mỗi thời kỳ. Và như tôi không ngờ đến, lão già một đời đưa miền Nam nước Mỹ hay Mississippi thành một lãnh thổ văn chương lại vô danh ở đây, trong khi những hậu duệ tốt và hậu duệ xấu của ông lại ít nhất được vài dòng nhắc tới: Flannery O'Connor, Thomas Pynchon, Carlos Onetti,... William Faulkner chỉ được nhắc sơ sài ở phần tiểu dẫn thời kỳ văn chương đầu thế kỷ XX nhân lúc nói về Ernest Hemingway và Francis Scott Fitzgerald với một hàm ý sai lầm sau: William Faulkner hoạt động dưới ngọn cờ của Ernest Hemingway. Ta thừa nhận rằng "Thế hệ bỏ đi" của Ernest Hemingway kế thừa từ người thầy viết-chẳng-ai-hiểu Gertrude Stein của mình (chữ này cũng không phải của bà nữa là) kéo đến Thế hệ Jazz là cảm hứng với yếu tố chủ đạo thể hiện sự chênh vênh và tự hứng của các tác phẩm sau này của Sinclair Lewis, kịch của Eugene O'Neill,... và cả tiểu thuyết và thơ đầu tay của William Faulkner, đặc biệt là sự xuất hiện của nhà văn Sherwood Anderson, người mê mẩn trường phái cực tiểu hay tối giản của Gertrude Stein và Hemingway, là người trực tiếp hình thành ý niệm về tiểu thuyết đầu tiên trong William Faulkner qua lời giới thiệu từ người bạn Stone lúc lông bông. Thế nhưng, nói bóng cờ của Ernest Hemingway cùng thuyết tảng băng trôi là thứ cốt yếu cần theo đuổi bên dưới lớp văn chương trùng điệp của William Faulkner là sai lầm. William Faulkner luôn nỗ lực chối bỏ tất cả các hình tượng biểu tượng trong truyện mình và gọi đó là các yếu tố phải xảy ra và không biết chúng tượng trưng cho điều gì. Đối với ông, biểu tự và vật mẫu xuất hiện vì chúng cần phải xuất hiện, như một thói đời lạ lùng mà nhà văn nghĩ ra để chải chuốt cho sở thích của mình. Như nhà văn đã nói, nếu anh ta là tất cả nỗi đau của anh ta, thì viết là nỗ lực giải tỏa bằng việc điều khiển nhân vật tượng trưng cho nhân vật có thật để tái hiện lại hình ảnh mà tác giả đã ấn tượng, như hình ảnh cô bé gan dạ trèo lên cây nhòm vào nhà trong đêm bà mất với chiếc quần lót lấm lem bùn đất; đó là Caddy, người tình trọn đời nhà văn ưu ái trong tất cả mọi văn bản mà nàng có mặt.

Chúng ta đang bị kẹt lại với William Faulkner trong thời đại này. Nếu như có ai đó hỏi tôi, dưới tư cách một người viết tham vọng ngạo nghễ rằng chúng ta nên làm gì với ông, chắc chắn tôi sẽ xua người ta dìm tượng đài của ông xuống sông để nước trôi đi tất cả. Bàn tay của ông đặt ở khắp mọi nơi trong địa hạt văn chương và đầy đủ những thần tượng mà ta ngưỡng mộ: sẽ không có một tác phẩm về Thế chiến kinh điển như Bẫy-22 của Joseph Heller nếu A Fable không ra đời, Khi tôi nằm chết là phiên bản đầu tiên để Carlos Fuentes học cách tường thuật trên giường bệnh và xáo tung mốc thời điểm và thời gian trong The Death of Artemio Cruz. Phương pháp tạo ra một địa điểm hư cấu để các nhân vật đại diện được trọn vẹn hoạt động của William Faulkner đã làm với hạt Yoknapatawpha được Marquez kế thừa tạo nên làng Macondo bất hủ hay Santa Maria của Juan Carlos Onetti. Đó là những bằng chứng cho thấy cách thức tiếp cận vấn đề có thể ảnh hưởng và lung linh như thế nào đến câu chuyện. Ngoài ra, trong các câu chuyện của William Faulkner, trải nghiệm đặt cạnh nhau những mảnh vỡ của không gian và thời gian cũng là điều đáng nói, như cách Henry James sắp đặt các điểm sáng cạnh nhau, những tình tiết được rút tỉa cẩn thận tạo cho người đọc cảm giác dễ chịu, thư giãn ở Tuổi hoa mộng, cách sắp xếp các tình tiết trong Âm thanh và cuồng nộ vỡ nát nhưng không phải là vô ý tứ, các thái độ dồn dập, nhiều hoạt động được đặt cạnh những trang giữa và về sau tạo nên nhịp điệu căng thẳng, cho độc giả cảm giác kết thúc giả khi lời kể Benjy chấm dứt mãi mãi.

Có một điều ta không thể chối cãi được rằng William Faulkner xứng đáng đặt bên cạnh Ernest Hemingway, thậm chí bên trên vì những thành tựu to lớn của ông trong cách định hình một lối viết thực sự thời thượng và trải nghiệm, điều mà chúng ta đang thấy Krasznahorkai László kế tục xuất sắc với cách tân giao thoa với triết học để thể hiện rõ ràng cái tôi và siêu tôi trong những trang văn nghẹt thở, không lối thoát đẩy ta vào một chuyến tàu đến vô cùng của ngôn ngữ, đặc biệt hấp dẫn trong Melancholy of Resistance hay một Toni Morrison với cách khai thác tư duy hình ảnh và đánh động bằng sự mô tả siêu thực trong chuyến phiêu lưu đi tìm lại sự đẹp đẽ của người da màu trong Bé Jar hay Yêu Dấu. Đó là lý do William Faulkner không còn khó hiểu với chúng ta nữa, khi chúng ta nhìn nhận văn chương của ông trên những phiến gạch mà những thần tượng mà chúng ta say đắm và đi cùng cách kế thừa thỏa đáng với phong cách viết văn tuyệt vời và những trải nghiệm hiện thực cổ điển bậc thầy của nhà văn lỗi lạc này.

Hết

Gia Bin

*

Đọc tất cả bài viết của Gia Bin

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Thoát đến phương Tây: Số phận kẹt giữa những thế giới

Published

on

Có một loại giày vò khi ta sống trong những thành phố bất ổn về mặt chính trị. Một nơi không thực sự là nơi để sống. Một chốn quyết định cuộc đời ta thay cho chính ta. Một thành phố khiến ta phải kiềm hãm hay giấu đi những mong muốn, dập tắt đi ý tưởng, và nuốt chửng lấy niềm tin. Nó buộc ta sống dưới cái bóng của ai đó mà ta không thể chối từ. Để sinh tồn, cách người ta làm là ép bản thân làm quen với cuộc sống đó. Ở những thành phố như Cairo hay Lahore, nhiều người lựa chọn rời đi thay vì ở lại. Tưởng tượng về một cuộc sống “bình thường” ở nơi khác cũng đủ để thôi thúc người ta rời bỏ quê hương, ngay cả khi văn chương dạy ta biết rằng, cái giá cho những cuộc “trốn chạy” ấy vốn rất đắt. 

Những mâu thuẫn này bao trùm cuốn tiểu thuyết của Mohsin Hamid, Thoát đến phương Tây (Exit West). Cuốn sách lấy bối cảnh tại một thành phố không tên, đang đứng trước bờ vực bùng nổ nội chiến sau nhiều năm người dân bị áp bức. Hai nhân vật chính, Nadia và Saeed, gặp nhau trong bối cảnh chính trị bất ổn đó, thời điểm mà dạo phố, đi làm hay hẹn hò cũng có thể là một canh bạc của cuộc đời. Bởi súng có thể được bóp cò, bom có thể phát nổ bất cứ lúc nào.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Thoát đến phương Tây.

*

Saeed là một nhân viên tương đối bảo thủ làm việc tại một công ty quảng cáo sự kiện. Chàng trai ngoài 20 được miêu tả là “nghiêm túc ngay cả trong việc chăm sóc bộ râu”, “như phần lớn đàn ông trong thành phố: độc lập, trưởng thành, học hành tử tế, chưa kết hôn và có việc làm ổn định”. Saeed vẫn đang sống với bố mẹ, một người là giáo viên về hưu, một người là giáo sư đại học.

Trong khi đó, Nadia hiện đại, phá cách, sống một mình tại một căn studio trên tầng cao. Cô nàng là nhân viên công ty bảo hiểm, thường di chuyển quanh thành phố bằng chiếc xe đạp địa hình trong bộ áo choàng đen phủ từ đầu đến chân “để bọn đàn ông không giở trò mất dạy”. Độc lập, dữ dội và có phần bất thường là điều người ta hay nghĩ về Nadia. Trái ngược với Saeed, cô bị gia đình cắt đứt liên lạc vì quyết chuyển ra ngoài sống riêng. Trong khi Saeed dành buổi tối ở nhà với cha mẹ, nhìn ra bầu trời mặc dù nó “trở nên quá ô nhiễm cho việc ngắm sao”, Nadia thường xuyên tham dự các buổi biểu diễn ca nhạc, ăn chơi buổi đêm.

Bất ổn chính trị, như chiến tranh, cách mạng hay thậm chí là một cuộc xung đột dân sự, đều có thể thay đổi gần như hoàn toàn bộ mặt cuộc sống của chúng ta hằng ngày. Tiếng pháo hoa vang xa có thể là tiếng súng nổ, hay “Cái chết có thể bất ngờ ập đến khi bạn bước chân từ nhà ra đường. Ranh giới giữa sinh và tử đôi lúc chỉ là chiếc cửa sổ nhà bạn”.

Trong bối cảnh thành phố biến động đó, Hamid xây dựng một thế giới của người trẻ đầy khát vọng. Với ngòi bút chi tiết và sâu sắc, tác giả miêu tả hai nhân vật chính độc lập, mang cá tính riêng. Từ bối cảnh chung của thành phố, Thoát đến phương Tây khéo léo đưa người đọc vào từng cảnh đời riêng lẻ của mỗi nhân vật, buộc người ta phải chú ý vào những chi tiết, khoảnh khắc. Từ những số phận bất hạnh nhỏ nhoi, tác giả phóng ra cái nhìn toàn cầu về vấn đề của thời đại như nạn vượt biên, dân tị nạn,… Bằng cách này, Hamid tạo ra một câu chuyện được xây dựng tỉ mỉ, bao hàm nhiều tầng ý nghĩa, làm nổi bật lên nhiều thực tế chính trị - xã hội, cuộc đời – con người dù thực tế ông chỉ tập trung vào miêu tả hai nhân vật chính. Thế giới trong sách, dường như đang được tác giả gợi ý, là thế giới tương lai của con người chúng ta. Nếu vậy, câu hỏi được tác giả đặt ra: làm sao để ngăn cho nó không xảy đến, hoặc ít nhất giảm thiểu những thiệt hại mà nó gây ra?

Mối quan hệ giữa Saeed và Nadia chớm nở và phát triển khi chiến tranh bùng nổ và hiểm nguy rình rập mọi ngõ ngách của thành phố. Đối với Nadia, đó là anh họ của cô, người đã bị nổ tung cùng với 85 người khác bởi một chiếc xe tải chở đầy bom. Đối với Saeed, một viên đạn lạc giết chết mẹ anh khi bà đang kiểm tra chiếc xe của gia đình. Cha của Saeed ngay lập tức bắt đầu gọi Nadia là “con gái”. Trong thời loạn, mọi thứ vô lí nhất trở thành có lí.

Một đôi tình nhân đang ngồi cạnh biển Caspi, bắc Iran, 2008. Ảnh: Newsha Tavakolian

Những người trẻ tuổi, trừ khi trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, thường là những người đầu tiên rời đi. Nadia, đã đoạn tuyệt với gia đình, là người quyết tâm rời quê hương nhất để tìm lối thoát cho chính họ. Nhưng đến lúc lên đường, cha của Saeed từ chối. Giống như nhiều thế hệ trong gia đình, sống qua nhiều thập kỉ trong sự bất ổn chính trị nhưng vẫn không có cuộc chiến tranh nào chính thức diễn ra. Với cha của Saeed, tương lai mà ông hướng đến là sống một cuộc sống bình thường, quen thuộc, ngay cả khi tình hình xã hội có diễn biến xấu đến đâu.

Lưu vong, trong hoàn cảnh này, trở thành sự lựa chọn. Mỗi người cân đo đong đếm giữa rủi ro và lợi ích, giá trị của cuộc sống mà tự đưa ra quyết định cho riêng mình. “Nhà”, phức tạp và loạn lạc, vẫn không dễ để rời đi - dòng cảm xúc được tác giả đan xen một cách tinh tế xuyên suốt câu chuyện. Với người lớn tuổi, họ sống vì quá khứ nhiều hơn là vì tương lai. Trong khi đó, người trẻ tuổi mãnh liệt hơn, khao khát hơn để sống cuộc đời mình mong muốn.

Thoát đến phương Tây tràn ngập những mất mát mà chúng ta đã biết trước từ lâu rằng nó sẽ đến. Một số nhân vật được đề cập lướt qua ở ngôi thứ ba, sau được tác miêu tả một cách chi tiết hơn về số phận của họ, chứng minh rằng mỗi nhân vật đều có giá trị. Bằng cách này, độc giả như được trải nghiệm đến hai hành trình cảm xúc, với hành trình sau sâu sắc hơn hành trình đầu.

*

Mohsin Hamid được biết đến nhiều như một cây viết có sự kết hợp hoàn hảo giữa những xúc cảm phức tạp của đời thường và hiện thực chính trị. Các tác phẩm trước đây của Hamid bao gồm The Reluctant Fundamentalist (2007), là cuốn tiểu thuyết về sự kiện 11/9 được viết dưới góc nhìn của một người Pakistan trẻ tuổi – cảm thông cho những kẻ khủng bố dù bản thân là một người nhập cư được nước Mỹ đón nhận.

Mặc dù Thoát đến phương Tây được viết trong tình trạng bùng nổ cuộc khủng hoảng tị nạn ở khu vực Trung Đông và Brexit, nhiều giả thuyết cho rằng cuốn sách đã được tác giả ấp ủ ý tưởng từ lâu trước đó. Nguyên nhân có thể vì kinh nghiệm là một người tị nạn, một người dân của thế giới thứ ba của chính Mohsin Hamid, trong đó có hành trình di dân từ Pakistan đến Mỹ, Anh, rồi lại về phía Đông.

Sau khi rời bỏ quê hương, cuộc sống của người tị nạn cũng không dễ dàng hơn. Saeed và Nadia đến được một trại tị nạn trên đảo Mykonos ở Hy Lạp, song đó không là cuộc sống mà họ mong muốn. Tất cả đều phải đối mặt với bài toán sinh tồn: ai là người đàm phán giỏi hơn, người thuyết phục hơn, người có trực giác nhạy bén hơn về nguy hiểm sẽ là người sống sót.

Ở nửa sau tác phẩm, Hamid đưa các nhân vật của mình từ Mykonos đến London, nơi họ được cấp cho một chốn ở tử tế hơn và chia sẻ với nhiều người tị nạn khác. Tại đây, tác giả nêu bật lên những sự đối lập: đối lập trong chính hình ảnh người tị nạn – giữa xuất thân khá giả ở quê nhà và hoàn cảnh khốn khó ở hiện tại khi tha hương và cả sự đối lập giữa người dân địa phương và người tị nạn. Qua đó, ông đề cập đến những vấn nạn còn nhức nhối của thế giới hiện tại như phân biệt chủng tộc hay chủ nghĩa bản địa bài ngoại ngày càng trở nên cực đoan. Đó là khi khu Hyde Park và Kensington Gardens (London) tràn ngập lều trại thô sơ của người tị nạn. Đến mức, người Anh nói rằng dân cư hợp pháp tại đây chỉ chiếm thiểu số bởi hầu hết là người tị nạn và số người bản địa rất ít. Truyền thông địa phương cũng không ít lần đề cập khu vực này là “lỗ đen” của quốc gia, nơi thường diễn ra tệ nạn.

Hamid có hiểu biết sắc sảo không chỉ về cuộc khủng hoảng ở thời điểm hiện tại mà còn về thói đạo đức giả trong chính trị - điều đã dẫn đến sự hình thành của cả một nhóm dân tị nạn - thông qua những cuộc xâm lược, can thiệp và các chính sách. Những cánh cửa thần kì dẫn đến những nơi khác bị kiểm soát một cách cẩn thận. Trong khi có những người được phép đi nghỉ mát ở những khu vực bình dị của Mykonos trong những tháng hè, một số khác bị giam cầm trong rào chắn của các khu ổ chuột. Thế giới của Hamid là một nơi mà sự tách biệt, phân biệt chủng tộc, chia rẽ ngày một tăng lên.

Tóm lại, Thoát đến phương Tây là cái nhìn ngoạn mục, phức tạp, bao quát của tác giả Mohsin Hamid về tình trạng thế giới hiện nay. Bên cạnh cuộc khủng hoảng người tị nạn, thế giới còn đang đối mặt bài toán hóc búa về biên giới và sự phân chia giàu – nghèo. Thế giới qua ngòi bút của Hamid là một thế giới mà chủ nghĩa tư bản và bản đồ thuộc địa bắt đầu đi xuống. Câu chuyện về thành phố không được tác giả đặt tên của hai nhân vật chính trong sách cũng giống như câu chuyện của Syria, Iran, Ethiopia, Ai Cập hay những người lao động Ấn Độ ở vùng Vịnh, người Mexico ở Mỹ. Đó là câu chuyện của những số phận đang cố gắng xây dựng cuộc sống mới ở một quốc gia khác, một số vì chạy trốn chiến tranh, một số vì muốn rời khỏi quê hương độc tài và áp bức.

Hamid viết rằng "Khi chúng ta di dân, chúng ta muốn giết chết 'mình' trong cuộc sống cũ." Có lẽ những gì người di dân, người tị nạn thực sự cố gắng làm là quên đi quá khứ đau thương, nhưng nó vẫn luôn theo sau và ám ảnh họ trên bất kì nơi đâu họ đặt chân đến.

Hết.

Uyên lược dịch.

Bản gốc do Yasmine El Rashidi thực hiện, đăng tại The New York Review of Books.

*

Trong khuôn khổ chương trình Tháng Phương Nam Khuyến Đọc 2020 (từ ngày 25.09 đến 25.10), sách Thoát đến phương Tây hiện đang được giảm giá 30% khi đặt mua tại hệ thống Nhà Sách Phương Nam trên toàn quốc và website nhasachphuongnam.com.

Bên cạnh đó, rất nhiều tác phẩm văn học kinh điển và hiện đại khác như Những cảnh đời tỉnh lẻ, Nắng tháng tám, Thất lạc cõi người,Mùa xuân vắng lặng, Đừng nói chúng ta không lợi quyền, Lưỡng giới,… cũng nằm trong chương trình ưu đãi.

Đọc bài viết

Cafe sáng