Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Khi các nhà văn đá xéo nhau: Tận cùng của sự đanh đá (phần 1)

“Mỗi lần tôi đọc ‘Kiêu hãnh và định kiến’, tôi lại muốn đào cô ta lên từ dưới ba tấc đất, cầm xương ống chân của cô ta mà đánh vào quả sọ.”

Đăng từ

on

Văn đàn đôi khi hơi ba phải một chút. Tức là, nếu đa số dư luận đánh giá một quyển sách là “Tuyệt Tác”, đánh giá này được cộp mác chính thức. Bất kì cá nhân nào dám đi ngược dòng dư luận sẽ nhận được cái nhìn kinh hãi. Danh tiếng như vậy đôi khi được thành lập khi chưa ai đọc sách cả, chỉ cần vài câu truyền miệng “tôi nghe nói nó hay lắm” là đủ. Nhưng bất chấp cái đám đông đáng sợ ngoài kia, vẫn sẽ có một vài (đôi lúc là nhiều vài) “kẻ phản đồ”. Họ chỉ đang ẩn nấp kĩ càng để tránh bị “đì” mà thôi.

Hiện nay, thật đáng tiếc là nhiều tác giả cảm thấy rằng họ không thể công khai chê bai tác phẩm của những nhà văn khác. Điều này không có lợi cho độc giả – lực lượng người hâm mộ trung thành càng ngày càng dựa dẫm vào nhà văn yêu thích của mình để tìm được đầu sách hay; cũng không tốt cho ngành sách, bởi vì độc giả đã chán ngấy những lời khen hoa mỹ bóng nhẫy và không dễ dàng tin tưởng chúng nữa. Tôi rất hiểu cho các tác giả khốn khổ phải viết bài trái lương tâm ngoài kia, nhưng vẫn không thể ngăn bản thân mình ghét cay ghét đắng cái trào lưu bợ đỡ nhau này. Mà thôi, đây là nan đề cho một bài viết khác.

Vòng vo nhiều như vậy cũng chỉ để nói rằng, thấy một gã khổng lồ bị đẩy ngã cũng khá là vui (đặc biệt là khi trong thâm tâm bạn cũng chẳng ưa gì gã lắm), mà thấy hai gã khổng lồ đánh nhau còn vui hơn. Đó là cảm giác của tôi khi xem các nhà văn nổi tiếng đá xéo tác phẩm của những tác giả nổi tiếng khác. Võ sĩ A và B của trận đấu đều là những cái tên có tiếng có miếng, điều này khiến cho hành động ngồi ăn bắp rang xem đánh nhau của bạn bớt tội lỗi hơn hẳn.

Vậy nên, kính thưa quý độc giả, tôi xin giới thiệu những tác giả đã vô tình hữu ý mà ghét một vài tác phẩm kinh điển và lời phê bình tao nhã của họ đối với những tác phẩm này. Còn việc những lời phê bình này có chuẩn xác không thì vẫn còn cần được thảo luận thêm.

1. Virginia Woolf bàn về Ulysses

Từ nhật kí của Virginia Woolf: 

Thứ tư, ngày 16 tháng Tám năm 1922:

Đáng lẽ là giờ này tôi nên đọc Ulysses, và thêu diệt những luận điểm đồng tình hoặc chống đối nó. Đến giờ tôi đã đọc được 200 trang – còn chưa được một phần ba; tôi đã cảm thấy thích thú, bị kích thích, bị quyến rũ, đã rất hứng thú với hai hay ba chương đầu của cuốn sách đến cuối cảnh nghĩa trang; sau đó thì bối rối, khó chịu và bị vỡ mộng bởi một thằng sinh viên dơ dáy đang ngồi gãi mụn. Tom, Tom vĩ đại [T.S. Eliot], lại nghĩ rằng quyển sách này ngang tầm với Chiến tranh và hòa bình! Bản thân tôi lại thấy nó là một quyển sách vô học và thô tục; quyển sách của một người lao động tự học, và chúng ta đều biết họ phiền hà như thế nào, họ tự cao, cứng đầu, sống sượng, bất bình thường và thường tạo cho người ta cảm giác chung là tởm đến phát ói. Giống như một miếng thịt sống vậy, vì sao lại chọn thịt sống khi người ta có thể ăn chín uống sôi chứ? Nhưng tôi mạo muội đoán là nếu bạn bị bệnh thiếu máu, như Tom ấy, bạn sẽ thấy sự huy hoàng hấp dẫn của máu tươi. Bản thân tôi tự nhận là một người bình thường, nên tôi sẵn sàng quay lại với những quyển sách văn học cổ điển. Tôi có lẽ sẽ đọc lại quyển sách này sau. Còn bây giờ, tôi vẫn không thể chấp nhận việc hy sinh sự minh mẫn của mình. Cứ tạm thời đánh dấu trang 200 ở đó đã.

Thứ tư, ngày 6 tháng Chín năm 1922:

Tôi đã đọc xong Ulysses và nghĩ nó là một phát đạn xịt. Một tác phẩm văn học thiên tài, nhưng thiên tài kiểu nước lợ. Quyển sách lan man. Nửa nạc nửa mỡ. Nó tự phụ. Nó thô tục, không chỉ ở nghĩa trên câu từ mà còn xét trên góc độ văn học. Tôi muốn nói, một nhà văn hạng A nên là một người tôn trọng văn học để không giở những trò câu độc giả bằng mánh lới xảo quyệt, những chi tiết giật gân hay là những trò xiếc khỉ tầm thường. Trong suốt quá trình đọc quyển sách này, trong đầu tôi luôn thường trực hình ảnh của một cậu bé học sinh trường công thấp hèn, có trí tuệ và sức bật đó, nhưng quá tự phụ và tự đại đến mức đánh mất lí trí thông thường, một kẻ ngông cuồng, ngụy trí thức, ồn ào thích gây sự chú ý, khiến những người tốt bụng thấy tội cho hắn ta và những kẻ nghiêm khắc cảm thấy hắn ta thật phiền; người ta hy vọng hắn nhanh chóng trưởng thành để bớt cái thói đó đi; nhưng Joyce đã 40 rồi, điều này chắc khó có thể xảy ra… Ôi, đọc quyển sách này tôi cảm thấy như bị vô số viên đạn tí hon bắn vào người; còn chẳng được chết thống khoái bởi một viên đạn vào mặt, như cách mà Tolstoy đã bắn vào mặt tôi; nhưng so sánh này thật là nỗi sỉ nhục với Tolstoy.

2. Mark Twain bàn về Kiêu hãnh và định kiến

Trong lá thư gửi Joseph Twichell, ngày 13 tháng Chín năm 1898:

Tôi không có quyền chỉ trích sách, và tôi thường không làm như vậy trừ phi tôi ghét cay ghét đắng quyển sách kia. Tôi thường muốn chỉ trích sách của Jane Austen, nhưng sách của cô ta thường làm tôi tức đến mức tôi không thể che giấu cơn điên tiết này trước độc giả. Vậy nên mỗi lần cầm bút lên thì tôi lại phải thả xuống. Mỗi lần tôi đọc Kiêu hãnh và định kiến, tôi lại muốn đào cô ta lên từ dưới ba tấc đất, cầm xương ống chân của cô ta mà đánh vào quả sọ.

Từ một bài viết không đầy đủ của Twain, tiêu đề “Jane Austen”:

Mỗi khi tôi đọc Kiêu hãnh và định kiến hay Lí trí và tình cảm, tôi cảm thấy như một người bán hàng rong đang bước vào Cánh cổng Thiên đường. Ý tôi là, tôi đồng cảm với cảm giác khả dĩ của anh ta. Tôi khá chắc tôi biết anh ta cảm giác như thế nào – và ý nghĩ sâu xa trong lòng anh ta. Anh ta chắc chắn sẽ cong môi lên, trào phúng nhìn những vị trong Giáo hội Trưởng lão trong nhà thờ đang tự mãn đi ngang dọc ở Thiên đường. Bởi vì anh ta nghĩ mình tốt, khinh thường các vị Trưởng lão sao? Không hề. Chỉ đơn giản là anh ta không khoái loại người như họ. Vậy thôi.

3. Aldous Huxley bàn về On the Road (Trên các nẻo)

Trích Aldous Huxley: Một tiểu sử của Nicholas Murray:

Sau khi đọc một lúc thì tôi thấy hơi chán. Ý tôi là, nẻo ngõ gì dài thế.

4. Katherine Mansfield bàn về Howards End

Từ nhật kí của Katherine Mansfield:

Tháng Năm năm 1917:

Khi đang xem lại những quyển sách dở nhất mình sở hữu, tối hôm qua tôi tình cờ bắt gặp Howards End và đã đọc nó. Nhưng đúng thật là nó không đủ hay. E. M. Forster chưa bao giờ đi xa hơn việc sáng tác một quyển sách tạm ổn, chưa bao giờ đi xa hơn việc hâm ấm một cái ấm trà. Anh ta lại là một trong số hiếm những kẻ giỏi việc này nhỉ. Sờ cái ấm này thử xem. Ấm không? Sờ sướng tay không? Nhưng chỉ sướng tay thôi, chẳng có trà cho anh uống đâu.

Và tôi lại không chắc lắm liệu Helen có thai với Leonard Bast hay với cái ô bị lãng quên của hắn ta. Cân nhắc hết các tình tiết, tôi nghĩ nó nhiều khả năng đứa con là của cái ô rồi.

5. Martin Amis bàn về Don Quixote

Từ bài phê bình được đăng trong quyển The War Against Cliché: Essays and Reviews 1971-2000 (tạm dịch Chiến trang chống sáo rỗng: Các bài luận và bài bình 1971-2000)

Mặc dù là một tượng đài kiệt tác không thể chối bỏ, Don Quixote vẫn có một lỗi rất nghiêm trọng – nó khiến người ta không tài nào đọc nổi. Người viết bài bình này hẳn biết điều đó chứ, bởi vì hắn mới đọc nó mà. Quyển sách chứa đầy vẻ đẹp, nét cuốn hút, chi tiết hài hước uyên bác; nó (hầu hết quyển sách – phải lên đến 75% thời lượng quyển sách) cũng… đần độn không tầm thường. Đọc Don Quixote có thể được ví như chuyến đi thăm dài vô tận đến nhà một vị họ hàng lớn tuổi, người có một bụng trò khăm, thói bẩn, những hồi ức liên miên và những người bạn đồng liêu tệ bạc. Khi trải nghiệm đã qua, khi “cậu bé già” cuối cùng cũng vẫy tay chào tạm biệt (tại trang 846 – trong đoạn văn dày đặc chẳng có chỗ cho câu hội thoại nào), bạn sẽ rơi nước mắt, không phải nước mắt giải thoát mà là nước mắt tự hào. Bạn làm được rồi, cho dù Don Quixote hành hạ bạn thế nào đi nữa thì bạn cũng vượt qua được rồi.

6. David Foster Wallace bàn về American Psycho (Người Mỹ cuồng loạn)

Từ một bài phỏng vấn do Larry McCaffery thực hiện trong The Review of Contemporary Fiction (tạm dịch Bình luận về văn học đương đại), Hè năm 1993:

Larry McCaffery (LM): Trong trường hợp của anh, sự thù địch này được biểu hiện dưới dạng nào?

David Foster Wallace (DFW): Ồ. Không phải luôn luôn, nhưng đôi lúc dưới dạng những câu không sai ngữ pháp nhưng vẫn khó hiểu như chó. Hay việc tác giả thích cầm dữ liệu đấm vào mặt độc giả. Hay việc dành rất nhiều năng lượng để thổi phồng kỳ vọng trong lòng độc giả và sau đó khoái chí làm họ thất vọng. Bạn có thể thấy rõ điều này trong những cuốn sách kiểu American Psycho của Ellis: nó giả vờ phỉnh nịnh máu bạo dâm của độc giả được một lúc, nhưng cuối cùng, hóa ra đối tượng bị bạo hành lại là chính bản thân độc giả.

LM: Nhưng ít nhất trong trường hợp của American Psycho, tôi cảm thấy còn có gì đó sau cái khát vọng gây đau đớn cho người khác – hay nói rõ hơn là, anh không nghĩ là Ellis độc địa theo cách của những nghệ sĩ chân chính, như những gì anh đã từng nói?

DFW: Anh chỉ đang phô bày chủ nghĩa hoài nghi, chính là thứ khiến độc giả bị thao túng bởi các tác phẩm hành văn tệ hại. Tôi nghĩ sở dĩ Ellis và một số những tác giả nhất định tìm kiếm được độc giả bởi cái chủ nghĩa hoài nghi tăm tối tồn tại trong thế giới ngày nay. Nghe này, nếu xã hội hiện nay thực sự thối hoắc, vô cảm, chạy theo đồng tiền, bị thiểu năng về cảm xúc, thích bạo dâm và ngu độn, vậy thì tôi (hay bất cứ nhà văn nào) có thể cực dễ dàng mà vá chỗ này đắp chỗ kia ra đại những câu chuyện có những nhân vật ngu ngốc, nhạt nhẽo, EQ thấp mà vẫn bán ào ào, vì kiểu nhân vật này không cần phát triển tuyến nhân vật gì cả. Miêu tả anh ta (hay cô ta) chỉ cần Ctrl+V một đống hàng hiệu. Cốt truyện thì toàn người ngu ngốc nói toàn chuyện vô vị. Nếu những đặc điểm chỉ ra một tác phẩm văn chương tệ hại là: nhân vật thiếu chiều sâu, một thế giới sáo rỗng và vô nhân tính,… lại đồng thời là những đặc điểm dùng để miêu tả thế giới ngày nay, thì văn chương dở lại hóa ra là một bức phác họa tinh tế của một thế giới tệ hại. Nếu độc giả đơn giản là tin rằng thế giới này ngu ngốc, nông cạn và xấu tính, thì Ellis có thể viết một quyển tiểu thuyết xấu tính, nông cạn và ngu ngốc mà hóa ra lại là một lời trào phúng về một thế giới tệ hết chỗ nói. Nghe này, có lẽ gần như tất cả chúng ta đều đồng ý là đây là thời kỳ đen tối và ngu đần, nhưng chúng ta có cần thêm những quyển tiểu thuyết viễn vông không làm gì hơn ngoài việc làm quá lên cái mặt đen tối của xã hội? Trong thời kì đen tối thì đáng lẽ nghệ thuật phải là thứ định hình và thổi sức sống hồi sinh cho cái nhân tính ít ỏi còn lại và cho những phép màu vẫn còn ngoài đó đâu đây. Văn học hư cấu xuất sắc đáng lẽ là những quyển sách có thể vừa miêu tả đúng đắn bản chất của thế giới, cho dù tác giả có muốn tô vẽ thêm cho nó càng tối tăm hơn, vừa soi sáng được hy vọng sống sót và vẫn còn giữ được nhân tính của những con người trong thế giới này. Bạn có thể biện hộ rằng American Psycho là một bản tóm lược ngôn hành của các vấn đề xã hội của cuối những năm 80, nhưng nó cũng chỉ đến thế mà thôi, chẳng có gì sâu sắc hơn cả.

7. Vladimir Nabokov bàn về Anh em nhà Karamazov Tội ác và hình phạt

Trong bài phỏng vấn với James Mossman, xuất bản trong tờ The Listener, ngày 23 tháng Mười năm 1969, được in lại trong tờ Strong Opinions:

Nếu bạn đang ám chỉ đến những quyển tiểu thuyết tệ nhất của Dostoevsky, thì, tất nhiên, tôi rất không thích quyển Anh em nhà Karamazov và cái mớ bòng bong rùng rợn Tội ác và hình phạt. Không, tôi không phản đối hành trình tự đi tìm bản ngã, nhưng trong những quyển sách trên, linh hồn, tội lỗi và đa cảm, và văn phong viết không thể bù lại cho công cuộc tìm kiếm rối tung rối mù và chán chết kia được.

8. Vladimir Nabokov bàn về Finnegans Wake

Từ bài phỏng vấn năm 1967 trong The Paris Review:

Tôi căm ghét Punningans Wake, một tác phẩm mà sự lây lan nhanh chóng tựa như tế bào ung thư của các từ ngữ bác học cũng không thể cứu vãn nổi thái độ vui vẻ tởm lợm của các phong tục trong đó, và các phép ẩn dụ đơn giản, quá đơn giản.

Từ một bài phỏng vấn khác năm 1967, được thực hiện bởi một trong các sinh viên của Nabokov tại Cornell:

Ulysses vượt trội hơn bất kì tác phẩm nào khác của Joyce, và khi so sánh với sự sáng tạo cao quý, dòng suy nghĩ và phong cách sáng suốt độc đáo của nó, Finnegans Wake không hơn gì một mớ truyện dân dã hỗn độn giả tạo không hình không dạng, một miếng thạch không đông dưới dạng một quyển sách, là tiếng ngáy không ngừng ở phòng bên cạnh, quấy rầy làm người ta mất ngủ. Hơn nữa, tôi luôn chán ghét những áng văn chương địa phương chứa đầy những từ vựng xưa cũ quái gở và những cách phát âm bắt chước vụng về. Vẻ bề ngoài của Finnegans Wake ngụy trang dưới dạng một căn nhà cho thuê thường thấy chứa đầy gái mại dâm, và chỉ có tiếng tụng kinh như từ thiên đường thỉnh thoảng xuất hiện mới cứu nó khỏi số phận vô vị, buồn chán. Tôi biết là tôi thể nào cũng bị đuổi khỏi thánh đường vì phát ngôn này.

Còn tiếp.

Emma Đẹp Thần Thánh lược dịch.

Bản gốc do Emily Temple thực hiện, đăng tại Literary Hub.

1 Bình luận

1 Bình luận

  1. Pingback: Khi các nhà văn đá xéo nhau: Tận cùng của sự đanh đá (phần 2) – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Những thành phố trôi dạt: Như mơ như thơ như ly kem bơ ôi thật bất ngờ

Đăng từ

on

Người đăng

“Chị cần gì ở đây – (Tôi muốn đẹp xuất sắc)
Thì ngồi vào đây – (Tôi muốn đẹp xuất sắc)
Thì điền vào đây – Không có gì thì mình sẽ mua nấy”

Văn chương đương đại Việt Nam những năm gần đây tôi không đọc gì ngoài vài cái tên quen thuộc. Quen Thuận trong lối viết táo bạo, biết Linda Lê trong ngòi bút lạnh tanh, thấy Nguyễn Bình Phương bằng ảo ảnh chòng chành, nghe Trần Tiễn Cao Đăng thổn thức trong số ít những tác phẩm của mình; ngoài ra là Võ Diệu Thanh, Dạ Ngân, Đỗ Hoàng Diệu… Nguyễn Vĩnh Nguyên là một trường hợp khác. Vốn biết ông qua những khảo cứu về Đà Lạt nhiều hơn tư cách một nhà văn, thích thú với lối dùng từ cổ điển nhưng hợp thời trong những cuốn sách về thời hương xa; từ đó lần mò tìm về những trải nghiệm dấn thân vào con đường đong tấm lòng. Và Những thành phố trôi dạt rõ ràng là cuốn sách ổn. Táo bạo (đôi khi), lạ lẫm (đôi chút), nhưng cũng không tránh khỏi những khiên cưỡng quá mức (thường trực).

Với Những thành phố trôi dạt, Nguyễn Vĩnh Nguyên thông minh khi tự chọn cho mình hai chữ “trôi dạt” ở đầu đề sách. Vì với hai chữ vô thưởng vô phạt ấy, bạn muốn viết gì tùy thích, hiểu gì thì hiểu – đã gọi trôi dạt thì làm gì có định nghĩa hay ý nghĩa cố định. Do đó, một cách phủ phê, ông kéo dài thời gian trong cuốn sách này đến vô cùng. Có khi về thành Sodom nhìn cột muối, có khi bắn một liều nhảy tới chân trời mới toanh nơi ô tô không người lái và robot phục vụ khách sạn. Điều này phục dựng rõ ràng cho dụng ý của cái trôi dạt ấy, vì thời gian có lẽ là thứ duy nhất quan trọng với những cốt cách câu chuyện đứt đoạn thế này.

Ở trong lòng ấy, ông vận dụng cách viết đứt đoạn, (lại) với một dụng ý không rõ ràng. Với Những thành phố trôi dạt, dường như nó đòi hỏi người đọc nhiều hơn sự tự vấn bản thân, về con mắt – góc nhìn qua thế giới xung quanh, về khoa học – địa lý – chính trị – lịch sử đã đi đến đâu… Nói thế để hiểu, Nguyễn Vĩnh Nguyên không dùng cách viết tự sự của văn chương châu Á trong này. Nếu viết theo cách thông thường ấy là đóng hẹp cánh cửa suy nghĩ của người thưởng sách, thì trong này, ông mở toang cách cửa ấy ra, mở rộng đến mức có khi người đọc còn tưởng ở đấy không có cánh cửa, và ùm, rơi xuống vũng lầy văn chương.

Thật khó để nói về dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Vĩnh Nguyên. Không thật rõ ràng để đối chiếu liệu cái “nghệ thuật” của ông có là cố định hay không!? Ở một khoảnh khắc tôi nhận ra rằng, ông dùng rất nhiều những lối bẻ gãy mạch truyện, những chiêu thức lừa đón người đọc, cho họ vào túi và rồi thụp chặt bọn họ vào trong. Nhưng rồi sau khi đọc lại lần hai, tôi lại tự vấn lương tâm, liệu thật sự ông bóp nghẹt nó, hay, Những thành phố trôi dạt chỉ như vỏ ngoài của loài sứa biển, trong suốt, vô ảnh vô thanh, người đọc tự phóng chiếu mình (nếu có đủ khả năng) hay thể hiện cái gì mình bị ảnh hưởng (nếu đọc đủ nhiều). Tôi phát hiện ra rằng, có những câu chuyện của người lữ khách thứ tự xyz, hơn 90 phần trăm cốt truyện là ý a) nhưng rồi bất chợt ông chuyển lái sang một hướng b) một câu gọn ơ, không dọn mâm sẵn, cứ như một tai nạn bất ngờ. Rồi tôi tự hỏi, rốt cuộc a) chính hay b) chính; hay a) nền b) kết; hay cả hai rốt cuộc chẳng có gì quan trọng? Và dĩ nhiên, sau rốt tôi cho rằng, Nguyễn Vĩnh Nguyên trong cuốn sách này không những có bàn tay để xây dựng những thành phố (thực hay tưởng tượng), mà ông còn là người tái tạo cho thứ văn chương trong suốt gây ảo giác (đôi khi bạn nghĩ nó đa nghĩa, nó rất Juan Rulfo; nhưng thật ra nó chẳng có nghĩa gì cả). Rõ ràng rằng, tôi cũng chả chắc với những người khác rằng lời chú giải của mình liệu có còn đúng; nhưng đối với tôi, ít ra ở một thành phố sương mù, Nguyễn Vĩnh Nguyên cũng đã thích nghi và gom bớt một chút mù sương đó vào đây.

Về mặt nội dung, nhìn chung không có gì quá đột phá hay mới mẻ đặc biệt. Lời lẽ hay lối hình dung của Nguyễn Vĩnh Nguyên trong này cũng không phức tạp hay khó hiểu. Tôi nhận ra rằng đó là sự đối nghịch của những thế trường tồn, của ham sướng cực độ utopia và u huyền rách mướp dystopia; của khó đoán – vô định (từ hình thức lan sang nội dung), của cái đẹp sau rốt là cái nhỏ nhen – ích kỷ – vô đạo đức – cực đoan – độc đoán – trưởng giả – hư danh – giả tạm – tư lợi – vật chất – … nói chung là bất cứ tính từ nào hai hay ba chữ có thể miêu tả bản chất con người trong phần lớn văn chương hiện thực châu Á nào. Ở đó cũng có (nếu phân tích theo một hướng cổ điển thời Victoria) cái đẹp của văn chương, của tự nhiên, của mối quan hệ. Hai trong những mặt đó, tốt hay xấu nếu bạn nhận ra được mặt nào thì âu cũng là điều tốt. Còn nếu không thấy gì cả thì cũng chả sao, bởi đây là văn chương “trôi dạt” – như tác giả tự định nghĩa. Nếu văn chương trong tác phẩm này bị cấm, thơ ca bị đốt trụi, sách dùng làm thang cao hay kẹp nách để tỏ rõ giá trị bản thân; thì sự cần kíp thấu hiểu đôi ba dòng nghĩa cũng thực không quá cần thiết.

Ảnh: Zing News

*

Nhưng đồng thời trôi dạt cũng là một bến bờ hiểm nguy. Trôi dạt rất gần vô thưởng vô phạt, và dĩ nhiên, không những một lần sau khi đọc đôi ba truyện ngắn tôi lại chẳng hiểu điều gì ẩn sau từng ấy câu chữ văn chương. Nguyễn Vĩnh Nguyên tỏ ra cao tay (có lẽ) với hệ thần kinh của bản thân tôi, nhưng cao tay quá thể nhiều khi lại trôi quá xa. Những thành phố trôi dạt chứa không ít những điều vô lý, chẳng hạn một khách sạn phải đặt chỗ trước bảy tháng mới có phòng, lại có nhân viên hỏi một khách lữ bị mù “mắt cô như thế cần gì phải ở trong phòng có view đẹp?”!? Nhà văn liệu có phải là nô lệ của chữ nghĩa, của những ý tưởng tuôn ra trong đầu mình? Tôi không chắc, vì tôi chẳng viết được gì hay ho. Nhưng để những vô lý tham gia định hình cuốn sách, cũng là một cách ăn hải sản rưới nhân sâm.

Nhắc đến đây tôi chợt nhớ rằng, một bình luận viên về sách từng cho rằng cái dở của văn chương Việt Nam là thiếu đi những người biên tập kỹ lưỡng. Chẳng đặng thì đừng, sau khi cuốn sách của đấng phu quân được chính tay nàng biên tập, liền đập ngay vào mắt lời nhận xét đắt giá “Gọn nhẹ, đọc loáng là xong. Có chút Kafka hài hài rồ rồ. Mạch văn nhanh, không bị rề rà” hay ”601 trang không xuống dòng. Cuốn tiểu thuyết văn học Việt Nam hay nhất mà mình đọc trong thập kỷ qua”. Thấy đấy, chỉ cần vô bàn tay của một biên tập là mọi thứ sáng tỏ, kỹ càng; có gì khó khăn?

Riêng tôi thì ý thứ nhất, rõ ràng rất đúng. Trong Những thành phố trôi dạt không thiếu những sạn. Đôi chỗ vài câu một tác giả người Việt (không lai) viết bằng tiếng Việt nguyên bản (không cải cách), người đọc cũng là người Việt (không lai nốt), tự tin viết tiếng Việt không sai nhiều chính tả (đã kiểm chứng); nhưng đọc vào vẫn không hiểu nổi nó đang nói gì, giả thử (lại trong chuyện về lữ khách mù) “Không, đó là món quà thú vị mà tôi là cư dân của thành cô lưu giữ một kỷ niệm về chuyến đi”. Và đây không hẳn là trường hợp duy nhất. Không hiểu liệu đây là lỗi biên tập hay ý tác giả? Nhưng với một cuốn sách không một lỗi chính tả, tôi nghiêng nhiều hơn về ý tác giả. Nhưng sau rốt vẫn không hiểu đôi ba chỗ ấy đục khuyết câu chữ để làm gì? Hay lại như phim dài tập Netflix, ngắn tập Hollywood, từ những khiếm khuyết ấy làm dài đời hơn, ai biết được!?

Còn ý thứ hai, thì, tôi chả biết được! Chỉ biết Thomas Bernhard cũng không xuống dòng, Thuận trong Chinatown cũng thế, và thiếu gì những nhà văn với cá tính như thế, như Zodie Smith với nhiều đoạn hội thoại mà lời nhân vật kéo dài từ trang này sang trang kia vẫn chưa hết. Ngoài ra, thập kỷ vừa rồi nếu không viết được một bài điểm sách về Nguyễn Bình Phương, về Thuận (xin lỗi nhắc chị hơi nhiều), về Linda Lê hay các nhà văn cá tính nào khác nào khác mà phải cậy nhờ toán người ưu chuyên, rồi lại phủ quyết cuốn sách hay nhất thập niên cũng như cách nói Taylor Swift xứng đáng góp mặt trong top 10 những nữ rapper hay nhất thập niên này vậy.

Quay về lại chuyện biên tập. Thêm một ý nữa, ở đây dường như Nguyễn Vĩnh Nguyên (và biên tập viên) lại vướng thêm phải những điều thừa thãi. Ngay từ ban đầu, với tên gọi Những thành phố trôi dạt, tôi tự hỏi sao phải 50 câu chuyện, 50 lữ khách? Rốt cuộc rồi thì sao lại phải 50? 50 có nghĩa lý gì? Sau này tôi rút ra được, có lẽ 50 cũng là đại diện của cái dạt trôi – giữa 51 quá bán và 49 thiếu một. Ở đó, vịn vào sự hữu hình của 50, 50 câu chuyện trong đây không thiếu những cặp song thai. Như thể loài khỉ thống trị – loài ếch lái xe; như thể thơ ca bị cấm – văn chương bị đốt; như thể cây thông cô đơn và con gà đồng trên nóc nhà thờ… Nhìn qua nhìn lại, như trường hợp cuối, cả hai chẳng qua phản ánh cách con người ta nhìn vào di sản của những ngày này – di chỉ cũ xưa trong cái hời hợt mong muội hư danh. Chuyện ở giữa đó, chẳng qua là cái độc đoán, cái nhỏ nhen của loài giống người và sự trường tồn nghệ thuật muôn niên. Còn câu chuyện đầu, như một tương lai không quá xa xôi ở cả hai phía. Thì có gì cần để phải kéo dài chúng ra, khi có thể kể một cách gọn ghẽ và thật chắt lọc? Để rồi nhìn vào, tôi thấy cây thông cô đơn đúng thật cô đơn vì con gà đồng trên nóc nhà thờ màu đồng đã hút hết sự chú ý ngoài kia.

Thứ ba thứ tư, vẫn lại câu chuyện biên tập. Như đã nói ở trên, tôi vốn thích Nguyễn Vĩnh Nguyên vì lối sử dụng câu cú, từ ngữ của anh; và với tập truyện ngắn trước khi đọc Những thành phố trôi dạt, Khu vườn lưu lạc (2007) tôi đã chưng hửng khi thấy ở đó anh trích nhạc Ưng Hoàng Phúc, dẫn nhạc bolero. Chẳng ai nói đây là quy phạm không được phép dẫn, nhưng vấn đề để nâng cấp bản thân, tạo nên nền móng cho một tác phẩm; dù với mục đích gắn chặt đời sống, vẫn phải đặt ra một ngưỡng nhất định. Nếu đủ tài năng tạo ngữ cảnh dẫn đề một cách thật sang, thật lòng hợp lý, tôi chứ không ai khác vô cùng ủng hộ. Vì nếu như thế, ít ra văn chương Việt Nam tồn tại tác phẩm mà những dịch giả phải đi trầy trật chuyển ngữ (như văn chương của Tàn Tuyết vậy) và nhắc lại muôn đời cái khó khăn ấy. Nhưng ở đây, rất tiếc, Nguyễn Vĩnh Nguyên phù hợp với khách sạn hạng sang hơn khu phố tồi tàn. Trích dẫn “mông lung như một trò đùa”, “mặt xanh như đít nhái”… thật sự lỗi thời và không lại thấy một đương đại nào, như kiểu urban dictionary của người trẻ tuổi. Chỉ thấy thô kệch, hợp thời và thật nông dã. Nhưng cũng may mắn, nó chiếm rất ít dung lượng trong cuốn sách này, chỉ như một kẻ khó ở.

Và cuối cùng, để nói đúng như từ điển urban dictionary, tôi xin dùng cụm “thiếu nghị lực” cho cách xây dựng câu chuyện của cuốn sách này (xin đừng đánh giá, tôi chẳng phải nhà văn). Rõ ràng tựa đề có chữ trôi dạt, chình ình ở ngay bìa chính, còn được nhấn mạnh vô tận trang 2 rồi đến trang 3; thế nhưng Nguyễn Vĩnh Nguyên (và một lần nữa, anh chị biên tập) vẫn không giữ nổi thực hiện cái cam kết ấy. Trôi dạt, tôi tưởng, là những thành phố vô danh, không thật; nhưng lại ở đây hình tượng Saigon (áo dài, chợ bốn mặt, hòn ngọc phương Đông), Đà Lạt (cây thông cô đơn, con gà trên nóc nhà thờ, uống vang từ thành phố cao nguyên) hay ngay cả nghề viết của anh (tác giả của du khảo địa lý) trừng trừng hiện ra trong vô thức người đọc. Có thể cho rằng tác giả không nhắc chính tên thì không có nghĩa nó là Saigon, Đà Lạt hay anh; nhưng rõ ràng nó còn gì khác? Nếu từng đọc qua tác phẩm trước nữa, sẽ thấy y rằng những dòng mô tả Đà Lạt, trong đây vẫn lại một người đàn ông bước về nhà ga, vẫn món hoẵng nướng, cừu nướng phía trên cao nguyên, và hàng hà sa số những điểm chung khác. Cái cá nhân, cái cố định, cái chung chung; tất cả dường như đi ngược với chữ vô hình, đôi khi nhìn gần nhìn xa, tôi lại không biết có đọc nhầm sách!

*

Nhìn chung dẫu biết biên tập là một nghề khó. Cứ thử so sánh một cuốn ngoại văn và quyển quốc văn, ta liền xét thấy ở cuốn đầu tiên, tác giả luôn dành những lời cảm ơn ở phía cuối cùng tới người biên tập, tới nhà xuất bản, gia đình, họ hàng, thân quyến; còn ở cuốn kia, chẳng một lời thốt, cái tên in chết ở nơi trang phụ. Chẳng bàn sâu xa bản tính – văn hóa của mỗi khu vực, của mỗi quốc gia; rằng phương Tây ưa tính tập thể, phương Đông rèn tính cá nhân; mà nói thật ra bất cứ một tác giả nào cũng luôn thật tâm mong muốn đứa con tinh thần là thuần nguyên nhất, không dòng pha tạp, không lẫn dị chất. Điều đó khiến cho những cuốn như cuốn sách này rõ ràng sỡ hữu một cốt truyện hay, phong cách mới lạ, thế nhưng chết yểu khi còn non thai bởi chính đặc tính nguyên thủy. Dẫu sao vẫn phải công nhận Nguyễn Vĩnh Nguyên về sự tự tin, đổi mới và tùy biến nơi mình, đã cho ra đời một cuốn sách lạ, đánh thức lại nhiều cảm giác khi đọc. Hy vọng một ngày nào đó, cái tên của người biên tập sẽ không lặng im, nó biết động đậy, biết đi và thể hiện mình.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tanizaki Jun’ichiro: Sức hấp dẫn chết người

Mitsuko, đối tượng ngưỡng vọng trong tiểu thuyết “Chữ Vạn” năm 1928-1930 của Tanizaki cũng có sức mê hoặc tương tự đối với người yêu đồng tính của nàng và cả chồng của người yêu, đến nỗi họ khao khát được chết vì nàng.

Đăng từ

on

Người đăng

FATAL ATTRACTIONS

Ian Buruma

Tanizaki Jun’ichiro (1886-1965) là người tôn thờ phụ nữ. Ông tôn thờ mẹ mình; ông thờ phụng Quan Âm, vị Bồ tát từ bi của Phật giáo, và người vợ thứ ba Matsuko, và có lẽ nhiều phụ nữ khác nữa. Đàn ông trong tiểu thuyết của ông có khi còn cực đoan hơn kẻ tạo tác họ trong việc tôn thờ nữ giới. Một số còn mong được gót chân ngà ngọc của thần tượng giẫm lên. Một số khác, như Heiju, một nhân vật trong tiểu thuyết ngắn 1949-1950 Captain Shigemoto’s Mother (tạm dịch Mẹ của thuyền trưởng Shigemoto), chất thải của người yêu họ giống như mùi hương trầm tuyệt hảo nhất. Mitsuko, đối tượng ngưỡng vọng trong tiểu thuyết Chữ Vạn năm 1928-1930 của Tanizaki cũng có sức mê hoặc tương tự đối với người yêu đồng tính của nàng và cả chồng của người yêu, đến nỗi họ khao khát được chết vì nàng.

Những nữ thần của Tanizaki thường độc ác, và đôi khi hơi sỗ sàng để thêm phong vị. Trong tiểu thuyết ngắn Người cắt lau (1932), một chàng trai tường thuật câu chuyện về tình yêu cha mình dành cho góa phụ được sủng ái và bất khả với tới là Oyu, người bịt mũi miệng ông bằng đôi tay xinh đẹp, cấm ông thở cho đến khi được phép. Nàng cũng thích véo khắp người ông. Và nàng yêu cầu được gọi là Phu nhân Oyu. Tiểu thuyết ngắn này bắt đầu với suy tư của tác giả về những kỹ nữ nổi tiếng thời Heian (794-1185), những người lấy nghệ danh là tên các nữ Bồ tát Phật giáo. Tôn giáo và ám ảnh tình dục có liên hệ chặt chẽ trong toàn bộ tiểu thuyết của Tanizaki.

Howard Hibbett, dịch giả của Chữ Vạn, từng viết trên một tạp chí Nhật Bản rằng các chủ đề thường trực của Tanizaki là tình dục tự hủy và hình tượng hai mặt của phụ nữ, khi vừa là nữ thần vừa là ác quỷ. Trong bài này, Hibbett viết, ta tìm thấy “những bản chất tâm lý vượt qua sự khác biệt văn hóa”. Đây là sự tôn vinh những đóng góp của Tanizaki trên cương vị một nhà văn, và đối với Hibbett từ góc nhìn của một dịch giả thì những đặc trưng này vẫn được duy trì ở mức đủ khiến cho Chữ Vạn trở thành trải nghiệm đọc thú vị, dù thực tế là giọng điệu độc đáo đã bị mất hoàn toàn trong quá trình chuyển ngữ sang tiếng Anh.

Đây không phải là lỗi của ngài Hibbett. Bởi vì phương ngữ Osaka thuộc tầng lớp thượng lưu dùng để kể câu chuyện về Mitsuko và những người tôn thờ nàng gồm có Watanuki bất lực và vợ chồng nhà Kakiuchi, vốn không thể truyền tải hết trong tiếng Anh. Kỹ thuật kể chuyện dựa trên lối trần thuật trực tiếp, trong trường hợp này là từ lời của Sonoko, vốn là thứ Tanizaki ưa thích khi trưởng thành sau khi chuyển đến vùng Osaka, vì ông yêu thích nhịp điệu trầm bổng của phương ngữ Kansai, đặc biệt là qua giọng nói của phụ nữ. Sonoko kể chuyện đời mình cho tác giả, tự thay đổi giọng điệu theo các nhân vật trong câu chuyện thông qua cái cách gợi ta nhớ đến những người kể chuyện truyền thống của Nhật Bản. Điều này cho thấy sự quan tâm ngày càng gia tăng của Tanizaki đối với văn hóa truyền thống Nhật Bản, sau khi dành nhiều năm theo đuổi văn hóa phương Tây.

Bản thân câu chuyện là xuyên văn hóa, như ngài Hibbett đã nêu, dù mối quan tâm khôn cưỡng về việc chung thủy cho đến chết vốn là chủ đề xuất hiện thường xuyên trong văn học Nhật Bản tiền hiện đại. Cuộc trao đổi giữa Sonoko và Mitsuko với cam nguyện chết cùng nhau (“Ừ, được, chị sẽ chết cùng em! Có thực là em sẽ chết cùng chị không, Mitsu?”), có thể thấy xuất hiện trong một cuốn tiểu thuyết thế kỷ 18, hoặc từ một bài hát trữ tình Nhật Bản đương đại. Lời thề này có vẻ hơi trịnh trọng trong tiếng Anh, nhưng lại khá thông thường trong văn hóa Nhật. Sự ủy mị này là tự nhiên trong một xã hội mà các quy tắc vốn dành rất ít không gian cho tình yêu lãng mạn. Ngày xưa, ngoại tình (bên ngoài các khu nhà thổ) có thể bị trừng phạt bằng án tử, vì vậy việc tình nguyện chết trở thành phép thử cuối cùng của lòng chung thủy. Trong tiểu thuyết của Tanizaki, nó cũng là hình thức tối cao của khoái cảm nhục dục.

Đó chính là vũng cát lún mà tựa đề tiếng Anh của tiểu thuyết của Tanizaki (Quicksand) đề cập đến. Tất cả những người dự phần vào mối tình tay tư (tựa đề tiếng Nhật, Manji (Vạn tự), đề cập đến chữ Vạn có bốn trục trong Phật giáo) được vẽ thành một vũng lầy của sự lừa dối và ghen tuông. Đối tượng được mọi người ngưỡng vọng là Mitsuko, nhưng bản thân nàng là thần tượng cũng phải phụ thuộc những người tôn thờ nàng như chính họ phụ thuộc nàng. Nàng sống để được ngưỡng mộ. Và mọi thứ hoàn toàn hợp lí khi người chồng đa tình và người vợ đa cảm cùng giao ước chết chung với Mitsuko, thì có một bức chân dung của nữ Bồ tát từ bi của Phật giáo được treo trên giường. Sau sự kiện này, Mitsuko và chồng của Sonoko là Kotaro qua đời, còn Sonoko vẫn sống sót và kể lại câu chuyện. Tước bỏ phần độc dược trong bột thuốc ngủ cho cô uống có lẽ là sự lừa dối cuối cùng của họ.

Ám ảnh nhục dục cũng là chủ đề của hai truyện dài Người cắt lauCaptain Shigemoto’s Mother, được Anthony H. Chambers dịch thành một tuyển tập. Trong cả hai câu chuyện, Tanizaki đã trở thành chuyên gia sành sỏi về truyền thống Nhật Bản. Khi ông viết Captain Shigemoto’s Mother vào cuối những năm 1940, xem như Tanizaki đã hoàn thành một phiên bản Nhật ngữ hiện đại cho tác phẩm kinh điển thế kỷ thứ 11 Truyện Genji. Captain Shigemoto’s Mother là một nỗ lực tài tình và dí dỏm nhằm tái hiện lại sự sống động của thế giới quý tộc thời trung cổ, với tất cả những nghi lễ và thứ bậc quan triều khôn dò. Nếu tác phẩm này dễ cảm thấu bằng tiếng Anh hơn Chữ Vạn, thì nguyên nhân không chỉ vì bản dịch của Chambers vốn hay. Thời Heian hầu như cũng xa xôi với người Nhật hiện thời không khác gì người Mỹ đương đại. Do vậy, hiểu theo nghĩa nào đó, chính bản thân câu chuyện của Tanizaki đã là một dạng dịch thuật.

Câu chuyện được kể trong một mớ hỗn độn kỳ lạ của trích dẫn văn học – Tanizaki trong vỏ bọc của một học giả văn học thông thái rởm – và những tưởng tượng không thể nhầm lẫn của riêng Tanizaki. Điều tương tự cũng đúng với Người cắt lau, trong đó người kể chuyện xuất hiện và sau biến mất một cách bí ẩn như con ma trong vở kịch Noh. Cả hai câu chuyện bắt đầu với những câu chuyện về tình yêu dục tính. Trong Người cắt lau, một người lạ mặt nói về tình yêu của người cha dành cho góa phụ, Phu nhân Oyu, người sẽ không “phản bội” người chồng quá cố của mình và tái hôn. Vì vậy, người cha kết hôn với em gái của Phu nhân, chỉ để gần gũi với Oyu, nhưng từ chối động phòng với vợ để bảo toàn lòng trung trinh với nữ thần của mình. Chỉ sau khi Oyu cuối cùng đồng ý kết hôn với một quý ông giàu có, người cha mới quay trở sang vợ của mình, người mang cho ông ta một đứa con trai. Người con trai trưởng thành này, cũng chính là người kể chuyện, hiện đang trên đường nghe Oyu chơi nhạc tại biệt thự của cô trong quãng thời gian trăng tròn. Khi tác giả bày tỏ sự ngạc nhiên, vì theo tính toán của mình, Oyu phải ít nhất 80 tuổi, người kể chuyện đã biến mất, “như thể anh ta đã hòa tan vào ánh trăng.”

Đằng sau nữ thần tình yêu, trong nhiều câu chuyện Tanizaki, là nữ thần kính yêu nhất trong tất cả: người mẹ. Mẹ của thuyền trưởng Shigemoto là một người đẹp tuyệt trần trong thế kỷ thứ chín, được gọi là quý bà Ariwara. Cha ông là Fujiwara Kunitsune. Kunitsune tôn thờ vợ mình như một báu vật, nhưng ông là một lão già không còn có thể thỏa mãn nhu cầu của bà. Và ông bị lừa giao bà cho cháu trai của mình, Fujiwara Tokihira, một kẻ trác táng vô đạo đức và là người đàn ông quyền lực nhất ở độ tuổi của hắn. Quý bà Ariwara có một người theo đuổi khác, người lợi dụng cậu con trai nhỏ của bà làm trung gian, bằng cách viết những bài thơ tình trên cánh tay của cậu bé. Bà không thể đáp lại tình yêu của anh, và khóc. Cậu bé cảm nhận được sự mát lạnh của những giọt nước mắt trên má khi bà ôm lấy cậu. Shigemoto không còn được phép đến thăm mẹ mình, nhưng ông không thể quên vẻ đẹp và mùi thơm ngọt ngào trên chiếc áo kimono của bà.

Ký ức về mẹ ông mạnh mẽ đến mức ông từ chối gặp mẹ, khi có thể, nhiều năm sau đó: “Dường như Shigemoto muốn tiếp tục ngưỡng mộ mẹ mình như cái cách ông đã thấy mẹ trong thời thơ ấu.” Nhưng rồi, vào một đêm mùa xuân, đi bộ dưới ánh trăng rọi xuyên qua những bông hoa, ông thấy một nữ tu già và ông nhận ra bà ngay lập tức: “Hương thơm trong tay áo choàng đen của bà gợi lại cho ông mùi hương còn vương vấn từ lâu, và giống như một đứa trẻ được bảo bọc trong tình yêu của mẹ, ông đã lau nước mắt hết lần này đến lần khác bằng tay áo của bà.”

MỘT SỰ CĂM THÙ MÃNH LIỆT

“Tôi chưa bao giờ biết ai lạnh lùng như vậy! Chẳng phải chúng ta đã hứa sẽ không giấu bất cứ điều gì với nhau sao? Nói dối!”

Tại thời điểm đó tôi chắc chắn rằng tôi đã có vẻ đã bị ám… Tôi đang lườm cô, nhợt nhạt và run rẩy như thể tôi thực sự phát điên lên. Và bản thân Mitsuko run rẩy khi cô lặng lẽ nhìn chằm chằm vào mắt tôi… Tôi cảm thấy có chút thương hại cho cô, nhưng khi tôi nhìn thoáng qua đôi vai trắng đầy đặn của cô qua tấm vải rách tôi muốn xé nó ra một cách dữ dội. Bây giờ tôi thực sự điên cuồng và bắt đầu tước tấm vải ra khỏi cơ thể cô. Đối diện với sự cương quyết của tôi, Mitsuko dường như đang run sợ. Cô không nói gì và để tôi làm theo ý mình. Chúng tôi nhìn chằm chằm vào mắt nhau với một sự căm thù mãnh liệt. Rồi một nụ cười cuối cùng cũng hiện diện trên mặt tôi – một nụ cười đắc thắng, lạnh lùng – đọng trên môi tôi khi tôi lột bỏ phần vải còn lại…

“A, thật điên rồ!” Tôi khóc, nước mắt chảy dài trên má. “Một cơ thể đẹp như vậy! Tôi có thể giết cô!” Khi tôi nói, tôi nắm chặt cổ tay run rẩy của cô ấy bằng một tay và tay kia kéo khuôn mặt cô ấy lại gần khi tôi đưa môi về phía nó.

Đột nhiên tôi nghe thấy Mitsuko khóc thét. “Tới đây và giết tôi! Tôi muốn ông làm vậy!”

Trích từ Chữ Vạn.

Hết.

Theo Tao Đàn

Bài viết gốc được thực hiện bởi Ian Buruma, đăng trên tờ The New York Times.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi các nhà văn đá xéo nhau: Tận cùng của sự đanh đá (phần 2)

“Và nếu thơ của anh hay như thế, sao không làm một hai bài rồi, lạy Chúa, im đi cho tôi nhờ?”

Đăng từ

on

Người đăng

Kính thưa quý độc giả, tôi xin giới thiệu những tác giả đã vô tình hữu ý mà ghét một vài tác phẩm kinh điển và lời phê bình tao nhã của họ đối với những tác phẩm này. Còn việc những lời phê bình này có chuẩn xác không thì vẫn còn cần được thảo luận thêm.

Xem phần 1 tại đây

1. Charlotte Brontë bàn về Kiêu hãnh và định kiến

Trong lá thư gửi G.H. Lewes (người tình của George Eliot) vào ngày 12 tháng Một năm 1848:

Vì sao bạn lại thích Cô Austen đến như vậy? Tôi mãi vẫn không hiểu. Cái gì có thể khiến bạn nói bạn thà viết Kiêu hãnh và định kiến hay Tom Jones chứ không phải bất kì quyển nào trong bộ tiểu thuyết Waverley? Trước khi tôi đọc dòng này của bạn, tôi chưa hề đọc Kiêu hãnh và định kiến, nên tôi đã mua quyển sách và nghiên cứu nó. Thế tôi đã thấy được gì? Một bức tranh chính xác là thô sơ với một khuôn mặt tầm thường, một khu vườn được chăm sóc tỉ mẩn với hàng rào và những bông hoa mong manh – nhưng không hề có bóng dáng của một khuôn mặt bừng sáng – không làng quê phóng khoáng – không không khí trong lành – không ngọn đồi xanh – không dòng suối trong vắt. Tôi không hứng thú với ý tưởng sống chung với các quý cô, quý ông trong ngôi nhà thanh lịch nhưng gò bó ấy. Những nhận xét này của tôi có lẽ sẽ làm bạn khó chịu, nhưng tôi chấp nhận rủi ro này.

Bây giờ thì tôi đã có thể hiểu được vì sao người ta hâm mộ George Sand – mặc dù thật sự chẳng có tác phẩm nào của cô ấy mà tôi thật sự từ đầu đến cuối, mặc dù tôi có sự kính trọng sâu sắc với cô ấy, cô ấy có một cái đầu mà tôi không hoàn toàn thấu hiểu; cô ấy sắc sảo và uyên thâm; Cô Austen thì chỉ tinh ý và có óc quan sát thôi. Tôi sai sao – hay bạn mới là người vội vã trong nhận xét của mình?

2. Charlotte Brontë bàn về Emma

Trong lá thư gửi W. S. Williams, ngày 12 tháng Tư năm 1850:

Giống như vậy, tôi cũng đã đọc một trong các tác phẩm của Cô Austen – Emma – đọc nó với sự hứng thú và lòng ngưỡng mộ đúng mực mà chính Cô Austen cũng sẽ đánh giá là hợp lẽ. Bất kì từ nào khác như ấm áp, sốt sắng – bất cứ thứ gì tràn đầy năng lượng, buốt nhói, tận tâm thì hoàn toàn không hợp khi khen ngợi những quyển sách này: nữ tác gia khi nghe người ta dùng những từ này để miêu tả tác phẩm của cô ta cũng sẽ cho người này một nụ cười khinh bỉ, của một người có giáo dưỡng, tất nhiên, nhưng cũng thế, khiến cho người ta cảm thấy người khen đang tỏ ra quá đáng và ngông cuồng. Cô đã làm tốt đến mức khiến người khác phải tò mò, phác họa bề mặt cuộc sống của những người Anh nhã nhặn, lịch sự. Có sự chính xác kiểu Trung Hoa, một chút xíu sự tinh tế trong bức tranh cô phác họa ra. Cô không làm mích lòng người đọc bằng các tình tiết không có gì kịch liệt, không làm rối trí độc giả bằng cách viết không hề uyên thâm. Đam mê cuồng nhiệt là khái niệm hoàn toàn xa lạ với cô. Thậm chí, cảm xúc của nhân vật cũng chỉ thỉnh thoảng được miêu tả, thanh tao đó, nhưng hời hợt – trao đổi về cảm xúc quá nhiều sẽ phá hỏng mạch truyện thanh nhã của cô. Công sức của cô đầu tư cho trái tim còn không bằng một nửa công sức bỏ ra cho con mắt, miệng, tay, chân. Cô thích hợp nghiên cứu những người ta tinh mắt thấy, những ngôn từ đúng đắn, những bước đi uyển chuyển; nhưng còn thứ đang đập thình thịch mà ẩn giấu bên trong, thứ mà máu chảy qua, ngôi nhà vô hình của sự sống và bia ngắm của cái chết – cô Austen lại hoàn toàn lờ đi… Jane Austen là một quý cô có tri thức, hiểu lễ nghĩa không chê vào đâu được, nhưng lại là một người đàn bà vô tình (không phải vô tri nhé) và còn nhiều thiếu sót. Nếu chỉ có mình tôi nghĩ thế này thì, ôi chà, chịu vậy.

3. H.L. Mencken bàn về Gatsby Vĩ đại

Trong bài phê bình trong tờ The Chicago Sunday Tribune, ngày 3 tháng Năm năm 1925:

Tiểu thuyết mới của Scott Fitzgerald, Gatsby Vĩ đại, không hơn gì một giai thoại được vinh quang hóa, và cũng không mấy thực tế. Bối cảnh là đảo Long Island treo chênh vênh ở rìa bãi rác Thành phố New York, đảo Long Island với những tòa biệt thự xa xỉ và những bữa tiệc tại nhà dâm dục. Chủ đề là tình yêu cũ kĩ, phi lý nhưng được cái lãng mạn – motif cổ đại kinh điển chung tình cho đến chết bị cắt giảm xuống đến nỗi chỉ còn là một câu chuyện cười. Nhân vật chính là một kẻ khoác lác có đầy đủ các đặc điểm trên – một kẻ có vẻ như biết tất cả mọi người, nhưng đồng thời hình như lại chẳng ai biết hắn – một người trẻ tuổi với một gia sản kếch xù không biết nguồn gốc, có phẩm vị của một tài tử điện ảnh nhưng lại cất giấu dưới tất cả là sự nhạy cảm của một người phụ nữ béo đến mức có chút bị xơ vữa động mạch.

Câu chuyện này rõ ràng không quan trọng, mặc dù, như tôi nên chỉ ra rằng, nó có vị thế của mình trong số các danh tác của Fitzgerald, nhưng chắc chắn không thể được xếp chung kệ với những quyển sách khác, như Phía bên kia vườn địa đàng chẳng hạn. Điều phá hủy tác phẩm này chính là sự thật rằng, về cơ bản, nó chỉ là một câu chuyện không hơn không kém – Fitzgerald có vẻ hứng thú với việc khiến độc giả nhấp nhổm trông đợi diễn biến tiếp theo hơn là đào sâu hơn vào những nhân vật. Họ không phải là đồ giả: họ chỉ bị mặc định là tầm thường thôi. Chỉ có bản thân Gatsby đang thật sự sống và hít thở như một con người. Những kẻ khác cứ như những con rối, giống con người một cách đáng ngạc nhiên, nhưng nói cho cùng thì vẫn còn vô hồn lắm.

4. Vladimir Nabokov bàn về Bác sĩ Zhivago

Từ một mẩu phỏng vấn tháng Mười năm 1972, đăng trong tờ Strong Opinions:

Bất kì Người Nga thông mình nào sẽ thấy ngay là quyển sách này ủng hộ Bônsêvíc và sai sự thật lịch sử, giá mà chỉ vì nó phớt lờ Cuộc Cách mạng Tự do mùa xuân năm 1917, trong khi khiến vị bác sĩ thánh thiện vui mừng chấp nhận cuộc đảo chính của Bônsêvíc bảy tháng sau đó – tất nhiên tất cả điều này đều đi đúng theo đường lối chính trị Bônsêvíc. Không bàn đến chính trị, quyển sách vẫn là một tác phẩm đáng xấu hổ, vụng về, tầm thường, khoa trương, với những vị luật sư dâm dục, các cô gái không thể tin nổi và những tình huống trùng hợp tầm thường.

Tôi rất tuyên dương [Pasternak] vì đã đạt được giải Nobel với sức mạnh câu chữ của anh ta. Tuy nhiên, với Bác sĩ Zhivago, tác giả này đã không chứng tỏ được tài năng của mình. Đâu đó, có lẽ, trong một phép miêu tả hay lối so sánh, người ta có thể nhận ra tiếng vọng yếu ớt của giọng văn truyền cảm của anh ta, nhưng những dịp hoa nở rộ hiếm hoi như thế là chưa đủ để cứu tiểu thuyết của anh ta khỏi sự tầm thường của dân tỉnh lẻ, quá thường gặp trong văn chương Xô-viết trong 50 năm qua.

5. Elizabeth Bishop bàn về Seymour—An Introduction (tạm dịch Seymour—Một bản giới thiệu)

(đoạn viết này đôi khi được cho là bàn về Bắt trẻ đồng xanh, nhưng xét tới thời gian tiểu thuyết ngắn này xuất bản trong tờ The New Yorker năm 1959 – thì nhiều khả năng là nói đến Seymour—Một bản giới thiệu hơn)

Trong lá thư gửi Pearl Kazin, ngày 9 tháng Chín năm 1959:

Tôi GHÉT câu chuyện của Salinger. Tôi đã phải mất nhiều ngày mới đọc xong nổi, cẩn thận, từng trang một, và xấu hổ thay anh ta sau mỗi một câu văn đáng ngớ ngẩn. Sao người ta lại để anh ta làm vậy? Cái sự tự ý thức kinh khủng, mỗi một câu là lời tự bình cho chính câu văn đó, mỗi lời phê bình lại là lời tự phê bình lời phê bình, và tôi nghĩ mục đích của việc này là để cho hài hước? Và nếu thơ của anh hay như thế, sao không làm một hai bài rồi, lạy Chúa, im đi cho tôi nhờ? Anh chàng Seymour này không làm tôi có ấn tượng gì đặc biệt cả, hay đó chính là điểm đặc biệt của anh ta? Anh ta là Chúa trời đội lốt một con người hơi cao quý, nhạy cảm, hơi thông minh hơn bình thường hay gì? HAY LÀ GÌ? Và TẠI SAO? Và tờ The New Yorker không được thay đổi các câu từ của anh ta thật đấy à? Bởi vì nó có vẻ hoàn toàn ngược lại với kiểu tiêu chuẩn viết văn thơ tốt đẹp cổ xưa mà Andy White ngưỡng mộ, và nó cũng chẳng phải thứ gì mang tính “thử nghiệm” hay mới mẻ – nó chỉ tẻ nhạt. Và nếu ý kiến của tôi là đi ngược lại tất cả các ý kiến hiện nay, làm ơn cho tôi biết vì sao, bởi vì tôi rất muốn biết làm sao mà người ta có thể bảo vệ cái thứ này.

6. Mary McCarthy bàn về Franny và Zooey

Trong bài bình trên tờ Harper’s, tháng Mười năm 1962:

Có ai khác đủ lực để thừa kế vị thế của Bố Già Hemingway? Có ai nếu không phải là J. D. Salinger? …Và những đứa trẻ này còn là ai ngoài bản thân Salinger, chia tách và nhân bản y chang như trùng a-míp?

Trong các tác phẩm của Hemingway chưa bao giờ chứa ai ngoài chính bản thân Hemingway, chỉ đội các lốt cải trang khác nhau. Nhưng ít nhất thì mỗi quyển sách chỉ chứa một Bố Già thôi. Nếu so sánh với bảy bộ mặt của Salinger, tất cả đều khôn ngoan và đáng yêu và chất phác, thì chẳng khác nào việc nhìn chăm chăm vào cái hồ đáng sợ của chàng Narcissus1. Thế giới của Salinger không có ai ngoài bản thân Salinger, các giáo viên của anh và các khán giả tận tụy trung thành với sức chịu đựng cực tốt – nhân loại; đứng bên ngoài thế giới là những kẻ giả tạo, bộ tịch ra dấu để được đi vào, giống như bà mẹ Bessie người Ai-len của đám trẻ nêu trên, kẻ cứ tự nhiên mở cửa phòng tắm khi đứa con Zooey đẹp trai của bà ta đang tắm trong bồn hay đang cạo râu.

Có vẻ như anh ta rất để tâm đến những nghi thức đốt thuốc và nghi lễ uống rượu, giống như thể những hành động qua đường miệng này rất thiêng liêng, hay là một lễ nghi tôn giáo vậy. Cũng như vậy, những ghi chép trong gia đình được đối xử như Thánh thư thiêng liêng hay phân của chim thánh, được nghiên cứu cẩn thận bởi các nhà chiêm tinh học: những lá thư từ Seymour, trích dẫn từ nhật kí của anh ta, lá thư từ Ruddy, lá thư từ Franny, lá thư từ Boo Boo, thông điệp viết bằng xà phòng trên tấm gương trong phòng tắm của Boo Boo (Hai cái cuối là từ một câu chuyện khác Raise High the Roof Beam, Carpenters (tạm dịch Nâng cao gác mái đi nào, các thợ mộc.)

Dấu vết của bộ sưu tập các cá tính phản chiếu qua mặt hồ này này được bảo tồn tốt như thể chúng là chiếc mạng che mặt của Bà Veronica trong cái hộp thánh, cải trang dưới dạng một áng văn hay. Và điều lạ lùng là, nhân tiện nhắc đến mạng che mặt của Veronica, thứ đồ vật nổi tiếng vì bức tranh chân dung Chúa trên đấy có đôi mắt được cho là có thể nhìn chăm chú vào kẻ đang nhìn nó với ánh mắt không thể nghi ngờ là khiển trách; trong những tác phẩm gần đây nhất của hắn ta, độc giả của Salinger có cảm giác như vị tác giả này đang ngồi buồn bã, nhìn hoặc nghe bản thân đọc. Như thể, mối quan hệ ban đầu bị đảo ngược, thay vì độc giả đọc Salinger, lại là Salinger, Người đàn ông của Những nỗi buồn, đang đọc độc giả.

Cái chết do tự sát của Seymore khiến người ta nghĩ rằng có lẽ đôi lúc Salinger đoán hay sợ hãi rằng có thể có gì đó không ổn. Vì sao anh ta lại tự tử? Bởi vì anh ta đã cưới một kẻ đạo đức giả, kẻ mà anh ta đã từng tôn thờ vì tính “chân chất, tính cách thẳng thắn đến gây mích lòng của cô ta”? Hay bởi vì anh ta quá hạnh phúc khi biết rằng thế giới của những kẻ giả tạo cũng rất tuyệt vời?

Hay bởi vì anh ta đã luôn nói dối, tác giả sáng tạo ra anh ta đã luôn dối trá, và mọi thứ đều không phải màu hồng như vậy, và bản thân anh ta chỉ là sự giả tạo mà thôi?

Hết.

Emma Đẹp Thần Thánh lược dịch.

Bản gốc do Emily Temple thực hiện, đăng tại Literary Hub.

Chú thích:

  1. Trong thần thoại Hy Lạp, Narcissus là một thợ săn từ Thespiae trong Boeotia, nổi tiếng với vẻ ngoài đẹp trai. Một lần Narcissus nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình ở dưới nước và đem lòng yêu chính bản thân mình. Vì vậy, chàng đau khổ tự lao mình xuống sông tự tử do tình yêu chính mình không bao giờ được đáp lại. Khi ở thế giới bên kia, Narcissus vẫn không thôi ngắm mình dưới làn nước của sông mê Styx. 

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!