Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Trích “Người thầy của tỉnh thức & thương yêu”: Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong mắt người Tây phương

Với đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước, từ lâu, Thiền sư Thích Nhất Hạnh được xem là một trong số ít những vị lãnh tụ tinh thần nổi tiếng nhất thế giới. Người Phương Tây thường gọi ông một cách giản dị và kính trọng là “Thầy”, với hàm nghĩa Thiền sư là người thầy tâm linh, trong khi người Việt Nam lại trìu mến, thân thương gọi ông là “Sư Ông Làng Mai”. Rất nhiều Phật tử coi ông như một vị Bụt sống.

Đăng từ

on

Trích từ: Người thầy của tỉnh thức & thương yêu

Tác giả: Nhiều tác giả

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 1.2020

Chi tiết tác phẩm

Đây là tập hợp một số bài báo trong hàng vạn bài viết về Thiền sư Thích Nhất Hạnh của các cây bút nổi tiếng trên thế giới. Có thể xem cuốn sách này như một tập chân dung về Thiền sư Thích Nhất Hạnh được “ký họa” ở nhiều góc độ khác nhau, dưới con mắt quan sát, qua “cái thấy” của người nước ngoài.

Một điều thú vị là qua những bài viết ở đây, chúng ta phát hiện ra, người phương Tây tìm đến Thiền sư Thích Nhất Hạnh không chỉ để giãi bày, chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau, tìm lại niềm vui sống giữa đời mà họ còn tìm cầu tuệ giác của ông trong việc làm thế nào để điều hành doanh nghiệp tốt hơn, giảm bớt stress, căng thẳng, phát huy nhiều hơn nữa sự sáng tạo, trên cơ sở đó để tăng lợi nhuận. Họ là những CEO của các tập đoàn kinh tế khổng lồ như Google, Yahoo, Ngân hàng Thế giới (World Bank). Họ còn là những thượng nghị sĩ Mỹ, những ngôi sao Hollywood nổi tiếng, những chính khách lừng danh… Qua những cuộc gặp gỡ, trao đổi ấy, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã chỉ bày cho họ hướng đi tâm linh trong đời sống, trong sự nghiệp cùng những phương pháp thực hành rất cụ thể. Tu tập theo ông, người ta sẽ thấy trí tuệ và lòng từ bi tăng trưởng, nhờ thế mà an lạc thân tâm.

Vị “anh hùng ẩn danh”  đằng sau công cuộc chống biến đổi khí hậu trên thế giới

Jo Confino

(Đăng trên The Huffington Post ngày 22.01.2016)

Một trong những động lực ở hậu trường dẫn dắt vòng đàm phán Paris và đem lại bản thỏa thuận lịch sử về biến đổi khí hậu là vị thiền sư 89 tuổi người Việt Nam.

Christina Figueres, kiến trúc sư trưởng của những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu tại Paris, đã thừa nhận vai trò then chốt của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong việc giúp bà phát triển sức mạnh nội tâm, trí tuệ và lòng từ bi cần thiết để có thể thúc đẩy các bên liên quan đi đến Thỏa thuận Paris – một bản thỏa thuận toàn cầu đầu tiên về biến đổi khí hậu được sự thông qua bởi 196 quốc gia.

Bà Figueres, Tổng thư ký điều hành Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) nói rằng những lời dạy của Thầy đến với bà một cách rất tình cờ khi bà đang trải qua một cuộc khủng hoảng cá nhân sâu sắc cách đây ba năm. (“Thầy” là cách gọi thân thương mà hàng trăm ngàn đệ tử trên thế giới dành cho Thiền sư Thích Nhất Hạnh.)

Những giáo lý đạo Bụt qua cách diễn bày của Thầy – người hiện đang trong quá trình phục hồi sau một cơn xuất huyết não nghiêm trọng – đã giúp bà đối diện được với những khó khăn của chính mình trong giai đoạn đó, đồng thời giữ được sự định tâm trong các cuộc đàm phán về khí hậu.

“Tôi cần có một cái gì đó ngay trong tầm tay để nương vào, nếu không thì tôi chẳng thể nào hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Một điều quá rõ ràng là lúc ấy tôi không có cơ hội để nghỉ ngơi, dù chỉ một ngày. Đó là một cuộc chạy đua kéo dài sáu năm không ngừng, tôi thực sự cần một cái gì đó để nương tựa. Nếu không được dẫn dắt bởi những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tôi đã không thể có được sức mạnh nội tâm, niềm lạc quan sâu sắc, sự tận tâm và niềm cảm hứng mạnh mẽ như vậy”Bà Figueres chia sẻ với phóng viên của The Huffington Post trong thời gian diễn ra Diễn đàn Kinh tế Thế giới thường niên tại Davos, Thụy Sĩ.

Vậy, Thầy đã dạy cho người phụ nữ này điều gì?

Bà Figueres làm sáng tỏ điều đó qua câu chuyện về chuyến thăm của bà tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) do Thầy thành lập, tại Waldbröl, Đức. Nơi đây từng là bệnh viện tâm thần với 700 bệnh nhân cho tới khi Đức Quốc xã (Nazis) xuất hiện, thủ tiêu hoàn toàn những bệnh nhân và biến nơi này thành cơ sở cho Đảng thanh niên Hitler (Hitler Youth).

Bà kể rằng Thầy đã chọn nơi này để thành lập tu viện vì “Thầy muốn chỉ ra rằng chuyển hóa niềm đau thành tình thương, nạn nhân thành người chiến thắng, hận thù thành thương yêu và tha thứ là điều có thể làm được. Thầy muốn điều đó được thực hiện ở ngay chính mảnh đất này, nơi đã từng xảy ra những hành động bạo tàn và phi nhân tính”.

“Việc làm đầu tiên của Thầy là viết thư cho cộng đồng Phật giáo. Trong thư Thầy nói rằng: Thầy muốn có những trái tim được khâu bằng tay, mỗi trái tim dành cho một bệnh nhân bị thủ tiêu, để chúng ta có thể bắt đầu chuyển hóa tòa nhà này, không gian này và năng lượng nơi đây”– bà Figueres chia sẻ tiếp.

“Đó là một câu chuyện vô cùng chấn động đối với tôi. Bởi vì dưới nhiều góc độ, đây chính là hành trình mà chúng tôi đã đi qua để tới được với nhau trong những cuộc đàm phán về khí hậu. Đó là hành trình từ lên án, trách móc lẫn nhau đi tới hợp tác thật sự với nhau. Đó là hành trình từ cảm giác hoàn toàn tê liệt, bất lực, dễ tổn thương đi tới cảm giác thực sự thấy mình có khả năng cùng nhau hành động… Hành trình đó đồng thời đem đến cho tôi rất nhiều trị liệu. Bởi vì ngay chính trong tôi cũng còn có những khó khăn, khổ đau cần được chuyển hóa”. Bà nói thêm: “Chưa thể nói rằng tôi đã đi qua giai đoạn khó khăn của cá nhân mình, nhưng tôi sẽ chuyển hóa nó. Tôi cần làm điều đó cho chính mình.”

Bà tiếp tục chia sẻ: “Tôi cảm nhận đây chính là năng lượng mà những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu cần phải có. Tôi thực sự rất hứng khởi khi được nghe những lời chỉ dạy tuyệt vời như vậy”.

Lần đầu tiên tới cơ sở cũ của Đức Quốc xã, nơi có 400 phòng ở này, Thầy đã viết một bức thư cho những người đã bị giết hại. Lá thư được các thầy, các sư cô sống tại đây đọc lên mỗi ngày:

“Xin hương linh quý vị và các cháu lắng nghe và chứng giám. Bảy mươi năm về trước, người ta đã đối xử rất tệ hại với liệt vị. Nỗi khổ niềm đau rất lớn ấy ít ai thấy được.

Ngày nay tăng thân đã tới, tăng thân đã nghe và đã hiểu tất cả những khổ đau tủi nhục và uất ức ấy. Tăng thân đã đi thiền hành, đã ngồi thiền, đã thở trong chánh niệm, đã trì chú, tụng kinh, thí thực, để cầu ơn trên chư Bụt, chư vị Bồ tát, chư vị Tổ sư để quý Ngài hồi hướng công đức vĩ đại của quý Ngài cho liệt vị và các cháu, để quý vị và các cháu có cơ hội chuyển hóa, tái sinh ra dưới những hình thức mới. Những người đã làm khổ quý vị, họ cũng đã gánh chịu nghiệp quả khổ đau, xin quý vị mở lòng từ bi mà tha thứ cho họ để họ cũng có cơ hội giải thoát và chuyển hóa.

Xin hộ trì cho tăng thân và cho các thế hệ hành giả kế tiếp, để họ có thể biến nơi này thành một cơ sở thực tập chuyển hóa và trị liệu, không những cho thành phố Waldbröl mà cho cả nước Đức và cả toàn thế giới.”

Thầy được coi là cha đẻ của pháp môn thực tập chánh niệm ở phương Tây, là nhà hoạt động môi trường tích cực từ hơn hai thập kỷ qua. Người đã thành lập nhiều trung tâm thiền tập ở khắp nơi và xây dựng nên một tăng thân xuất sĩ có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới. Các nhà lãnh đạo lớn của Mỹ rất kính trọng vị thiền sư này.

Năm ngoái, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim đã mời Thầy tới trụ sở của tổ chức này tại Washington để hướng dẫn một ngày chánh niệm cho các nhân viên của ông. Cuốn sách yêu thích nhất của ông Kim là cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức mà Thầy là tác giả. Ông Kim đã ca ngợi sự thực tập của Thầy – vị thiền sư “có sự cảm thông và lòng từ bi sâu sắc đối với những người đau khổ”.

Năm 2013, Google cũng mời Thầy tới thăm Thung lũng Silicon và hướng dẫn một ngày thực tập chánh niệm cho các tổng giám đốc của 15 tập đoàn mạnh nhất trên thế giới trong lĩnh vực công nghệ cao. Marc Benioff, Giám đốc Điều hành của tập đoàn Salesforce – người khổng lồ của lĩnh vực điện toán đám mây (cloud computing) – đã và đang hỗ trợ rất tích cực quá trình hồi phục sức khỏe sau tai biến của Thầy.

Thầy sống một cuộc đời thật phi thường. Năm 1967, Martin Luther King đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa bình vì những cống hiến của Thầy giúp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Trong lí do đề cử của mình, Mục sư Luther King đã tuyên bố: “Tôi không thấy ai xứng đáng nhận giải thưởng Nobel Hòa bình hơn vị thầy tu Việt Nam hiền lành này. Những tư tưởng vì hòa bình của ông, nếu được áp dụng, sẽ tạo nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”.

Nguồn: http://www.huffingtonpost.com/entry/ thich-nhat-hanh-paris-climate-agreement_ us_56a24b7ae4b076aadcc64321

*

Ta hạnh phúc liền giây phút này

Claudio Gallo

Ngày 10.9.2014, nhật báo La Stampa – một trong những tờ báo lớn nhất ở Ý – có đăng một bài phỏng vấn Thầy. Claudio Gallo – Biên tập viên phụ trách chuyên mục Văn hóa (Culture Editor) của tờ báo đã tham dự trọn vẹn khóa tu dành cho người Ý được tổ chức tại Làng Mai trong tuần lễ cuối của tháng 8, và anh đã tự mình trải nghiệm được cái gọi là “hiện pháp lạc trú”. Sau đây là bài tường thuật của anh với tựa đề “Happiness is Now” đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt.

Có một cái gì thật dịu ngọt mà cũng thật hùng tráng tỏa ra từ những ruộng nho, những cánh rừng, những đồng cỏ xanh mướt trải dài nối đuôi nhau lướt qua ô cửa sổ của chuyến tàu đi về miền quê nước Pháp, từ Bordeaux đến Bergerac. Đó cũng là sự nhẹ nhàng đầy hùng lực mà ta có thể tìm thấy trong những lời giảng của Thầy Nhất Hạnh. Là một tu sĩ Phật giáo người Việt, Thầy sống với tăng thân của mình tại Làng Mai, một trung tâm tu học tọa lạc trên những ngọn đồi bao quanh ngôi làng Thénac nhỏ bé. Mọi người đều gọi Thầy một cách giản dị là “Thầy” (nghĩa là “một vị thầy tâm linh”).

Thầy đã 88 tuổi, gương mặt trông có vẻ nghiêm khắc nhưng có thể bất ngờ nở một nụ cười trẻ thơ khiến cho ai nhìn thấy cũng phải mỉm cười theo. Năm 1973, Thầy bị chính quyền miền Nam Việt Nam buộc phải lưu vong và Thầy đã chọn Tây phương nơi mà Thầy được Mục sư Martin Luther King và Linh mục Thomas Merton vô cùng trân quý. Ở Mỹ, Thầy cũng được biết đến thông qua các chuyến đi vận động hòa bình cho Việt Nam.

Là tác giả của trên 100 cuốn sách, Thầy đã đem đến cho người Tây phương một phương pháp thực tập dựa trên giáo lý căn bản của đạo Bụt, đó là phương pháp thực tập chánh niệm – sự thực tập tỉnh thức và có mặt một trăm phần trăm cho những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta. Trong Phật giáo, cùng với đức Đạt Lai Lạt Ma, Thầy có lẽ là vị thầy nổi tiếng nhất trên thế giới với rất nhiều trung tâm tu học ở khắp các châu lục và có số người theo tu học lên đến hàng trăm nghìn người. Điều đáng chú ý là Thầy không đòi hỏi các đệ tử Tây phương phải từ bỏ đạo gốc của mình. Rất nhiều người trong số 700 người Ý tham dự khóa tu vào cuối tháng 8 vừa qua tại Làng Mai là những người theo truyền thống Cơ Đốc giáo.

Thưa Thầy, đạo Bụt có thể cống hiến được gì cho thế hệ kỹ thuật số hiện nay – thế hệ những người trẻ suốt ngày vùi đầu vào internet?

Hiện nay, những người trẻ đã bỏ quá nhiều thì giờ vào internet. Đây là căn bệnh của thời đại chúng ta. Khi ngồi hai tiếng đồng hồ trước máy vi tính, chúng ta hoàn toàn quên là mình có một hình hài. Internet là một phương tiện có khả năng mang lại rất nhiều lợi ích cho con người, nhưng đồng thời nó cũng tạo ra vô số vấn đề.

Sử dụng internet là một hình thức tiêu thụ. Ta tiêu thụ thông qua những tư tưởng, hình ảnh, âm thanh mà ta tiếp xúc được trên internet và sự tiêu thụ đó có thể lành mạnh hoặc có thể gây tàn hại cho thân tâm ta. Thực tế là chỉ riêng lượng thông tin nhận được qua internet thôi cũng đủ khiến cho nhiều người rơi vào tình trạng quá tải thông tin rồi.

Cũng có nhiều người trong chúng ta trở nên nghiện internet. Ta đánh mất mình trong biển thông tin đó và ta không có mặt cho chính mình, không có mặt cho những người thương của mình và không có mặt cho thiên nhiên. Ta có ảo tưởng là thông qua mạng internet chúng ta có thể nối kết được với nhau, nhưng kỳ thực ta lại càng cảm thấy cô đơn.

Chánh niệm giúp cho ta biết điều độ khi lên mạng, đồng thời cũng giúp cho ta thấy được cái mà ta đang tiếp xúc có thật sự ích lợi hay chỉ làm cho ta càng cô đơn và tuyệt vọng thêm. Ta tiêu thụ internet để khỏa lấp sự cô đơn, nhưng thật ra nó chỉ làm cho tình trạng tệ hại hơn mà thôi. Thường thì khi tiêu thụ những tin tức, quảng cáo, những phim ảnh khêu gợi và kích thích dục tình, ta đồng thời cũng đang đưa vào trong thân tâm ta những độc tố như giận hờn, bạo động, sợ hãi và thèm khát.

Theo đạo Bụt thì cái ta riêng biệt là một ảo tưởng, vậy trong cái thấy đó có còn sự phân biệt giữa thiện và ác hay không?

Trong thế kỷ XX, chủ nghĩa cá nhân được đưa lên vị trí hàng đầu và điều này đã tạo ra rất nhiều khổ đau. Chúng ta tạo ra sự phân biệt, chia cách giữa ta và người, giữa cha và con, giữa con người và thiên nhiên, giữa quốc gia này và quốc gia khác. Chúng ta không ý thức được mối tương quan mật thiết giữa mình với mọi người và mọi loài xung quanh. Đạo Bụt gọi mối liên hệ đó là “tương tức” (“inter-being”).

Cái hiểu, cái thấy sâu sắc về tương tức chính là nền tảng của con đường đạo đức mà đạo Bụt đóng góp cho nhân loại. Những gì xảy ra cho một cá nhân cũng ảnh hưởng tới toàn thể xã hội và cả thế giới. Với cái thấy này, sự thực tập chánh niệm giúp cho ta phân biệt được cái gì thiện, cái gì ác, cái gì đúng, cái gì sai. Có chánh niệm thì ta sẽ nhận ra được những tàn hại đối với các loài gia súc, gia cầm cũng như đối với hành tinh này do ngành công nghiệp sản xuất thịt gây ra. Ý thức được điều đó thì ăn chay là một hành động thương yêu đối với chính mình, đối với sinh môi và đối với trái đất.

Nhiều người trong chúng ta đang chạy theo danh vọng, quyền hành, tiền tài và sắc dục. Chúng ta nghĩ rằng những thứ đó đem lại cho ta hạnh phúc, nhưng thực ra nó có thể dẫn chúng ta đi tới chỗ tàn hoại thân tâm mình. Những người trẻ thường lẫn lộn giữa tình dục và tình yêu chân thật. Trên thực tế thì tình dục có thể hủy hoại tình yêu và đưa tới sự thèm khát, cô đơn và tuyệt vọng nhiều hơn. Sự thực tập chánh niệm giúp chúng ta mỗi ngày hiểu sâu hơn về người mà ta thương. Cái hiểu chính là nền tảng của tình thương đích thực. Chúng ta không thể nào có được một tình thương đích thực nếu ta không hiểu được người mình thương.

Có thể vượt thoát sự sợ hãi về cái chết hay không?

Gốc rễ của sự sợ hãi nằm ở cái thấy sai lạc của ta về bản chất cái chết. Ta sợ hãi cái chết tại vì ta nghĩ rằng khi chết rồi thì ta sẽ trở thành không. Khoa học hiện đại đã chứng minh cho ta thấy rằng: Không có gì sinh cũng không có gì diệt, tất cả đều chuyển biến không ngừng.

Quan sát một đám mây, ta có thể đặt câu hỏi: Đám mây có thể chết không? Đám mây có thể từ mà trở thành không? Nhìn cho sâu ta thấy đám mây có thể trở thành mưa, thành tuyết, thành mưa đá, rồi thành hơi nước trở lại. Bản chất của chúng ta cũng giống như bản chất của đám mây. Cũng như mưa, tuyết là sự tiếp nối của đám mây thì những hành động, lời nói và tư tưởng mà ta chế tác ra chính là sự tiếp nối của ta.

Chúng ta sống trong một thế giới đầy xung đột và bất công xã hội. Làm sao ta có thể cải thiện được tình trạng đó với tư cách một Phật tử?

Sự xung đột và bất công trong xã hội phát sinh ra từ tâm chúng ta. Đạo Bụt cống hiến cho chúng ta những phương pháp thực tập cụ thể để nuôi dưỡng tình thương và hạnh phúc đích thực. Khi tình thương và hạnh phúc có mặt thì ta có thể tạo ra sự bình an trong tự thân và góp phần vào hòa bình trên thế giới. Khi tâm ta bị cuốn đi bởi tham vọng và sợ hãi thì bất công xã hội và bạo động sẽ phát sinh. Sự thực tập chánh niệm giúp cho ta nuôi lớn hạnh phúc và bình an trong giây phút hiện tại. Và đây chính là sự đóng góp tuyệt vời cho nền hòa bình thế giới và cũng đồng thời là nền tảng để chúng ta có thể làm tốt những công tác phụng sự cho xã hội.

Thầy dạy cho mọi người về sự thực tập chánh niệm và chánh định, thế nhưng một tình trạng đáng lo ngại của thế giới hiện nay là tình trạng suy giảm khả năng tập trung của con người…

Nhiều người trong chúng ta không biết làm thế nào để thật sự có mặt cho người mình thương và cho những mầu nhiệm đang có sẵn trong giây phút hiện tại. Tâm của ta rất dễ bị phân tán. Trong khi đó, thị trường bên ngoài không ngừng cung cấp cho ta những phương tiện để giữ cho tâm ta luôn ở trong tình trạng này. Thân của ta ở đây mà tâm của ta thì đang chạy theo những dự án ở tương lai, những sầu đau của quá khứ hay những lo lắng, buồn phiền trong hiện tại.

Cách đây không lâu, chúng tôi được mời hướng dẫn thực tập chánh niệm cho hơn 700 nhân viên Google tại trụ sở chính của tập đoàn này ở California. Điều đầu tiên mà chúng tôi chia sẻ là sự thực tập dừng lại, vì trong xã hội hiện nay chúng ta luôn có thói quen rong ruổi, tìm cầu. Khi ta có khả năng dừng lại, ta có thể nhận diện được những gì đang xảy ra trong thân và trong tâm mình. Đây là cách thức để ta có thể bắt đầu chăm sóc cho chính mình. Chúng ta đã có quá đủ những điều kiện để hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Chỉ cần dừng lại và nhận diện những điều kiện hạnh phúc đang có mặt là ta có thể tiếp xúc được ngay với hạnh phúc đích thực.

Nguồn: http://plumvillage.org/news/an-italian- journalist-reports-from-plum-village/

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Cuộc du hành bắt đầu – Trích “Không giới hạn – Khám phá Ho’oponopono”

Ho’oponopono – phương pháp bí truyền của người Hawaii là một phương pháp giúp thanh tẩy vô thức, nơi tồn đọng những trở ngại. Nó giúp hóa giải những gì ẩn giấu khiến bạn không đạt được mục tiêu, bất kể là về sức khỏe, tài lộc, hạnh phúc hay những khía cạnh khác.

Đăng từ

on

Người đăng

Trích từ: Không giới hạn – Khám phá Ho’oponopono

Tác giả: Joe Vitale, Ihaleakala Hew Len

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 3.2020

Chi tiết tác phẩm

Ho’oponopono – phương pháp bí truyền của người Hawaii là một phương pháp giúp thanh tẩy vô thức, nơi tồn đọng những trở ngại. Nó giúp hóa giải những gì ẩn giấu khiến bạn không đạt được mục tiêu, bất kể là về sức khỏe, tài lộc, hạnh phúc hay những khía cạnh khác.

Phương pháp Ho’oponopono chỉ ra rằng tất cả mọi chuyện đều diễn ra bên trong ta. Chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề được cất giữ ngay bên trong chính bản thể của mỗi người. Bằng cách thấu hiểu và áp dụng phương pháp này, bạn không chỉ nắm bắt được bản chất của mọi vấn đề mà còn biết được “chỗ” để xử lý nó. Và với chiếc chìa khóa ấy, mọi việc đều thực sự nằm trong tầm tay của chúng ta và mỗi người đều có thể tự giải quyết, không lệ thuộc vào ai hay bất kỳ một giới hạn nào, đúng như tựa đề cuốn sách: KHÔNG GIỚI HẠN.


Cuộc du hành bắt đầu

Dạo ấy là tháng 8 năm 2004, tôi đón khách và thuyết trình tại một gian hàng trong hội nghị thường niên của Hiệp hội Quốc gia Các nhà thôi miên. Tôi hào hứng với khách khứa, bầu không khí hội nghị và các hoạt động giao lưu cùng mọi người. Nhưng tôi không ngờ trong ngày hôm ấy có một sự kiện đã xảy đến làm thay đổi cuộc đời tôi.

Mark Ryan là người bạn cùng coi sóc gian hàng với tôi. Mark cũng là một nhà thôi miên trị liệu. Anh có đầu óc rất cởi mở, hoạt bát, đầy tò mò và háo hức khám phá cuộc sống cũng như tất cả những bí mật của nó. Chúng tôi thường trò chuyện với nhau hàng giờ đồng hồ về những người hùng trong ngành trị liệu, từ Milton Erickson cho đến các thầy lang ít người biết. Trong một lần trò chuyện như thế, Mark đã hỏi một câu làm tôi ngạc nhiên:

“Anh có bao giờ nghe nói đến một nhà trị liệu đã chữa lành cho bệnh nhân mà không hề gặp mặt chưa?”

Câu hỏi làm tôi khựng lại. Tôi đã nghe nói về các nhà trị liệu tâm linh và trị liệu từ xa, nhưng hình như Mark đang muốn nói chuyện gì khác.

“Ông ta là bác sĩ tâm lý, đã chữa lành cho cả một khoa tâm thần của bệnh viện gồm toàn tội phạm tâm thần, nhưng ông chẳng hề tiếp một bệnh nhân nào cả.”

“Vậy ông ta làm gì?”

“Ông ta dùng một phương pháp trị liệu của người Hawaii tên là Ho’oponopono.”

“Ho-oh-cái gì?” tôi hỏi.

Tôi đòi Mark lặp lại từ này khoảng chục lần. Tôi chưa bao giờ nghe nhắc đến từ đó. Mark cũng chẳng biết gì hơn về câu chuyện hoặc phương pháp này để kể thêm cho tôi nghe. Quả thật tôi tò mò, nhưng phải thú nhận rằng tôi cũng có hoài nghi. Tôi hình dung chắc đây là một giai thoại thêu dệt gì đó. Chữa lành mà không gặp bệnh nhân à? Ừ, đúng vậy.

Mark kể tiếp cho tôi nghe câu chuyện sau:

“Tôi đã từng lui tới du lịch vùng núi Shasta ở California suốt 16 năm trời để tìm kiếm bản thân”, Mark thổ lộ. “Một người bạn ở đó đã cho tôi một tập sách nhỏ mà tôi không bao giờ quên. Sách in mực xanh trên giấy trắng. Nội dung là một bài báo về nhà trị liệu người Hawaii này và phương pháp của ông ta. Tôi đã đọc đi đọc lại bài báo nhiều năm qua. Bài viết không miêu tả nhà trị liệu đã làm gì, mà chỉ nói ông ta đã chữa lành cho mọi người bằng phương pháp của mình.”

“Bài báo đó đâu rồi?” tôi hỏi. Tôi muốn đọc bài báo.

“Tôi không tìm ra”, Mark nói. “Nhưng có điều gì đó thôi thúc tôi phải nói cho anh nghe. Tôi biết anh không tin tôi, nhưng tôi cũng bị cuốn hút như anh. Tôi cũng muốn biết thêm.”

Một năm sau chúng tôi lại nói chuyện tiếp. Trong thời gian gián đoạn đó, tôi đã sục sạo trên mạng nhưng không tìm được chút gì về bất kỳ một nhà trị liệu nào đã chữa lành mà không gặp bệnh nhân. Tôi tìm được thông tin liên quan đến trị liệu từ xa, tức trị liệu cho người khác mà không cần người kia hiện diện, nhưng tôi hiểu rằng nhà trị liệu người Hawaii đã không làm theo cách đó. Về sau tôi mới được biết chẳng có khoảng cách nào cả đối với hình thức trị liệu của ông ta. Quan trọng nhất là tôi chẳng biết đánh vần ra sao cái từ Ho’oponopono để tra cứu trên mạng, cho nên đành gác lại.

Thế rồi, vào năm 2005, trong hội nghị thường niên tiếp theo của ngành thôi miên, Mark lại nhắc đến nhà trị liệu.

“Anh đã tìm được thông tin gì về ông ta chưa?” anh ta hỏi.

“Tôi không biết tên ông ta, mà tôi cũng chẳng biết đánh vần cái từ ho-gì đó”, tôi giải thích. “Cho nên chẳng tìm được gì cả.”

Mark thuộc loại người đã định làm gì là phải làm cho bằng được. Vào giờ nghỉ giải lao, bọn tôi lôi máy tính ra, tìm cách kết nối mạng không dây và bắt đầu tìm kiếm. Không lâu sau chúng tôi tìm được trang web chính thức duy nhất về Ho’oponopono tại địa chỉ www.hooponopono.org. Tôi dò tìm và thấy một vài bài báo. Những bài này cho tôi một cái nhìn chung về những gì tôi sắp được biết.

Tôi tìm thấy một định nghĩa về Ho’oponopono: “Ho’oponopono là một phương pháp thanh tẩy năng lượng ô nhiễm bên trong ta để tạo điều kiện cho những tư tưởng, ngôn từ, hành vi và hành động xuất phát từ Siêu nhiên.”

Tôi chẳng hiểu câu đó nghĩa là gì, vậy nên tôi tìm đọc tiếp, và rồi tìm thấy câu này:

“Nói một cách đơn giản, Ho’oponopono nghĩa là “hiệu chỉnh” hoặc “chỉnh sửa lỗi”. Theo người Hawaii cổ xưa, lỗi phát sinh từ những tư tưởng bị suy nhiễm do ký ức đau khổ trong quá khứ. Ho’oponopono là phương cách để giải tỏa năng lượng của những tư tưởng hoặc lỗi lầm đau khổ này, yếu tố gây mất cân bằng và bệnh tật.”

Thật thú vị, vâng. Nhưng điều đó nghĩa là gì?

Trong khi sục sạo trang web này để tìm thông tin về nhà tâm lý trị liệu bí ẩn đã chữa bệnh mà không cần gặp bệnh nhân, tôi biết rằng có một hình thức Ho’oponopono cải biên mang tên Self I-Dentity through Ho’oponopono (SITH).

Tôi thật sự không hiểu nghĩa của khái niệm này. Mark cũng không. Chúng tôi là đôi bạn thích tìm hiểu. Máy tính xách tay là chú ngựa đưa chúng tôi rong ruổi vào miền đất mới hoang vu này. Chúng tôi đang tìm kiếm những câu trả lời và háo hức tiếp tục cuộc hành trình.

Chúng tôi tìm thấy một bài báo giúp giải thích vài điều:

Self I-Dentity Ho’oponopono
Nhận 100 phần trăm trách nhiệm cho các vấn đề của thân chủ

Bài viết của Tiến sĩ Ihaleakala Hew Len và nhà trị liệu bằng phương pháp mát-xa Charles Brown.

Trong các phương thức truyền thống để trị liệu và giải quyết vấn đề, nhà trị liệu khởi sự với niềm tin rằng vấn đề nằm bên trong thân chủ, chứ không phải bên trong anh ta. Anh ta tin rằng trách nhiệm của mình là giúp thân chủ khắc phục vấn đề. Liệu niềm tin này có dẫn đến xung đột mang tính hệ thống trong ngành trị liệu không?

Để trở thành một người giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, nhà trị liệu phải sẵn sàng chịu trách nhiệm 100 phần trăm về việc đã tạo ra tình trạng có vấn đề ấy; tức là, anh ta phải sẵn sàng nhìn thấy rằng nguồn gốc của vấn đề là những tư tưởng sai lạc bên trong anh ta, chứ không phải bên trong thân chủ. Các nhà trị liệu dường như không bao giờ nhận ra rằng mỗi khi có một vấn đề là lại có mặt họ!

Việc chịu trách nhiệm 100 phần trăm về việc đã gây ra vấn đề cho phép nhà trị liệu chịu trách nhiệm 100 phần trăm để giải quyết nó. Dùng phương thức Ho’oponopono cải biên, một phương pháp để ăn năn, tha thứ và chuyển hóa do Kahuna Lapa’au Morrnah Nalamaku Simeona đưa ra, nhà trị liệu có thể chuyển hóa các tư tưởng sai lạc bên trong chính mình và bên trong thân chủ thành ra các tư tưởng TÌNH THƯƠNG hoàn mỹ.

Đôi mắt ngấn lệ. Hai khóe miệng hằn sâu nếp nhăn. “Tôi lo lắng cho con trai tôi”, Cynthia khẽ thở dài, “Nó lại dùng ma túy.” Trong khi chị ta kể lại câu chuyện đau khổ, tôi bắt đầu thanh trừ các ý tưởng sai lạc bên trong tôi đã gây ra vấn đề cho chị ta.

Khi các ý tưởng sai lạc bắt đầu được thay thế bằng những ý nghĩ yêu thương bên trong nhà trị liệu và bên trong người thân, họ hàng và tổ tiên của anh ta, chúng cũng được thay thế bên trong thân chủ và người thân, họ hàng và tổ tiên của chị ta. Phương pháp Ho’oponopono cải biên cho phép nhà trị liệu làm việc trực tiếp với Cội nguồn, nơi có thể chuyển hóa các tư tưởng sai lạc thành TÌNH THƯƠNG.

Đôi mắt đã khô ráo. Các nếp nhăn
quanh miệng đã dịu lại. Chị ta mỉm cười,
nét mặt nhẹ nhõm. “Tôi không biết tại sao,
nhưng tôi cảm thấy dễ chịu hơn.”
Tôi cũng không biết tại sao. Thật vậy.
Cuộc sống là một điều bí ẩn
ngoại trừ TÌNH THƯƠNG, cái luôn tỏ tường
hết thảy. Tôi chỉ biết buông xả, và cám ơn
TÌNH THƯƠNG đã ban mọi phúc lạc.

Khi giải quyết vấn đề bằng phương pháp Ho’oponopono cải biên, nhà trị liệu trước tiên phải dùng bản thể của mình, Trí của mình để kết nối với Cội nguồn, khái niệm mà những người khác gọi là TÌNH THƯƠNG hoặc Tạo hóa. Khi đã kết nối, nhà trị liệu sẽ thỉnh nguyện TÌNH THƯƠNG chỉnh sửa những tư tưởng sai lạc bên trong mình vốn đang gây ra vấn đề cho chính mình trước tiên và kế đến cho thân chủ. Lời thỉnh nguyện là một phương thức để ăn năn và tha thứ về phía nhà trị liệu – “Tôi rất tiếc về những tư tưởng sai lạc bên trong tôi đã gây ra vấn đề cho tôi và cho thân chủ, hãy tha thứ cho tôi.”

Để đáp lại lời thỉnh nguyện ăn năn và tha thứ của nhà trị liệu, TÌNH THƯƠNG khởi động phương thức huyền bí nhằm chuyển hóa các tư tưởng sai lạc. Trong phương thức hiệu chỉnh tâm linh này, TÌNH THƯƠNG trước tiên hóa giải các cảm xúc sai lạc đã gây ra vấn đề, bất kể đó là sự phẫn uất, sợ hãi, tức giận, trách cứ hoặc hoang mang. Trong bước tiếp theo, TÌNH THƯƠNG sẽ phóng thích năng lượng đã hóa giải từ các tư tưởng để trả chúng lại trạng thái hư vô, trống rỗng, giải thoát đích thực.

Khi các tư tưởng đã trống rỗng và không trói buộc, TÌNH THƯƠNG sẽ tự lấp đầy vào đó. Kết quả là gì? Nhà trị liệu được thanh tẩy và khôi phục trong TÌNH THƯƠNG. Khi nhà trị liệu được thanh tẩy, thân chủ và tất cả mọi yếu tố liên quan đến vấn đề cũng được thanh tẩy. Khi cảm xúc tuyệt vọng đến với thân chủ, đã có TÌNH THƯƠNG. Khi bóng tối đến trong tâm hồn họ, giờ đây đã có Ánh sáng TÌNH THƯƠNG để chữa lành. Khóa học Self I-Dentity Ho’oponopono giúp cho người ta nhận biết chính mình và biết cách từng bước giải quyết các vấn đề, và đồng thời được hồi phục trong TÌNH THƯƠNG. Khóa học mở đầu với một bài giảng miễn phí suốt hai giờ. Học viên tham dự sẽ nắm được tổng quan về cơ chế mà tư tưởng bên trong họ hiện thực hóa các vấn đề tâm linh, tâm thần, cảm xúc, thể chất, quan hệ và tài chính trong cuộc sống của họ và trong cuộc sống của người thân, họ hàng, tổ tiên, bè bạn, láng giềng và đồng nghiệp của họ. Trong khóa học cuối tuần, học viên được dạy để biết vấn đề là gì, vấn đề nằm ở đâu, làm thế nào để giải quyết các loại vấn đề khác nhau bằng cách áp dụng hơn 25 quy trình giải quyết vấn đề, và cách tự chăm sóc bản thân. Điều cốt lõi được nhấn mạnh trong khóa học là học viên phải chịu trách nhiệm 100 phần trăm về chính mình và về những gì xảy đến trong đời mình để giải quyết vấn đề một cách không cần cố gắng.

Điểm kỳ thú của phương pháp Ho’oponopono cải biên là mỗi lần ta lại được gặp con người mới của chính mình, và càng áp dụng ta càng trân trọng hơn nữa phương pháp tái hiện phép mầu của TÌNH THƯƠNG này.

Tôi vận hành cuộc sống và các mối quan hệ của tôi theo những sự hiểu biết sau đây:

  1. Vũ trụ vật chất này là một sự hiện thực hóa các tư tưởng của tôi.
  2. Nếu các tư tưởng của tôi mục ruỗng, chúng sẽ tạo nên một thực tại vật chất mục ruỗng.
  3. Nếu các tư tưởng của tôi hoàn mỹ, chúng sẽ tạo nên một thực tại tràn đầy TÌNH THƯƠNG.
  4. Tôi chịu trách nhiệm 100 phần trăm về việc đã tạo ra vũ trụ vật chất của tôi như hiện tại.
  5. Tôi chịu trách nhiệm 100 phần trăm về việc hiệu chỉnh những tư tưởng sai lạc đã tạo ra một thực tại bất ổn.
  6. Không có gì ở bên ngoài cả. Mọi thứ đều tồn tại dưới dạng tư tưởng trong tâm trí tôi.

Mark và tôi đọc bài báo và thắc mắc không biết tác giả nào là nhà trị liệu mà chúng tôi đang tìm: Charles Brown hay Tiến sĩ Hew Len này. Chúng tôi không biết. Chúng tôi không nói được. Và còn nhân vật Morrnah mà bài báo đề cập thì sao? Self I-Dentity Ho-oh-gì đó là cái gì?

Chúng tôi đọc tiếp.

Chúng tôi tìm được thêm vài bài báo nữa giúp hé lộ ánh sáng về những gì chúng tôi đang tìm kiếm. Có những câu tiết lộ về phương pháp này như: “Self I-Dentity Ho’oponopono nhìn mỗi vấn đề không phải như một sự thách đố mà như một cơ hội. Các vấn đề chỉ là ký ức về quá khứ được thị hiện ra để cho chúng ta cơ hội nhìn thấy bằng cặp mắt của TÌNH THƯƠNG và hành động xuất phát từ sự hứng khởi.”

Tôi tò mò nhưng không hiểu. Vấn đề có phải là “ký ức về quá khứ được thị hiện”? Phải không? Mấy tác giả này đang định giải thích cái gì vậy? Làm thế nào phương pháp ho-gì gì đó có thể giúp nhà trị liệu chữa lành cho người ta? Mà nhà trị liệu này là ai mới được?

Tôi tìm ra thêm một bài báo nữa, của một phóng viên tên Darrell Sifford, viết về cuộc gặp gỡ với người đã lập ra phương pháp ho’opo gì gì đó. Tên của bà là Morrnah và bà là một kahuna – tàng nhân, tức là người cất giữ các bí quyết. Những gì mà Morrnah làm để giúp chữa lành mọi người là “thỉnh nguyện với đấng sáng tạo thiêng liêng mà ta tự chọn thông qua phần Siêu nhiên bên trong mỗi con người… mà cũng chính là một phần của đấng sáng tạo thiêng liêng.”

May ra thì bạn hiểu được câu đó. Riêng tôi lúc đó không hiểu. Mark cũng chẳng hiểu. Rõ ràng bà Morrnah này đã thốt ra đôi điều, dưới dạng một lời cầu nguyện, và giúp người ta được chữa lành. Tôi cũng định sẽ tìm lời nguyện đó, nhưng hiện tại tôi đang theo đuổi một mục tiêu khác: tìm cho ra nhà trị liệu để học phương pháp của ông. Càng lúc tôi càng háo hức muốn tìm hiểu thêm và gặp gỡ nhà trị liệu dân gian này. Mặc dù đã đến giờ phải quay trở lại gian hàng trong hội chợ, Mark và tôi vẫn mặc kệ để tiếp tục tìm kiếm.

Dựa trên các bài báo và trang web, chúng tôi đoán nhà trị liệu mà chúng tôi muốn tìm kiếm tên là Ihaleakala Hew Len. Một cái tên ngộ nghĩnh. Tôi không biết đọc lẫn đánh vần ra làm sao. Tôi cũng chẳng biết tìm ông ta thế nào. Trang web này không có thông tin gì để liên lạc với ông. Mark và tôi cố gắng tra Google nhưng cũng chẳng tìm được gì. Chúng tôi bắt đầu thắc mắc liệu nhà trị liệu kỳ quặc này có phải là một nhân vật hư cấu, hay đã về hưu hoặc thậm chí đã khuất núi.

Tôi đóng laptop để quay trở lại gian hàng.

Nhưng cuộc phiêu lưu đã bắt đầu.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Tình bạn – Trích “Đời sống bí ẩn của cây”

“Nhưng tại sao cây lại là sinh vật có tính xã hội? Tại sao chúng lại chia sẻ thức ăn với cây cùng loài và thỉnh thoảng còn nuôi dưỡng cả đối thủ của chúng?”

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Đời sống bí ẩn của cây

Tác giả: Peter Wohlleben

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 8.2019

Tình bạn

Nhiều năm trước, tôi tình cờ thấy một bãi đá hình thù kỳ lạ phủ đầy rêu tại một trong số những khu bảo tồn dẻ gai cổ thụ mọc ở cánh rừng tôi quản lý. Ngẫm nghĩ lại, tôi nhận ra mình đã từng đi qua bãi đá này rất nhiều lần mà chẳng hề lưu tâm đến nó. Nhưng ngày hôm đó, tôi đã dừng lại và cúi xuống để nhìn thật kỹ. Các tảng đá có hình dạng khác thường: Chúng hơi cong và có nhiều vùng rỗng bên trong. Thật cẩn thận, tôi gạt rêu trên một trong những tảng đá ra. Thứ tôi thấy bên dưới lớp rêu là vỏ cây. Vậy hóa ra chúng chẳng phải là đá, mà là những khối gỗ già. Tôi đã ngạc nhiên trước độ cứng của những “viên đá” này, vì thường chỉ cần ít năm thôi là gỗ dẻ gai nằm trên nền đất ẩm đã phân hủy. Nhưng điều tôi ngạc nhiên nhất chính là việc tôi không thể nâng nổi khối gỗ lên. Rõ ràng là nó đã bám chặt vào đất bằng cách nào đó.

Tôi lấy con dao bỏ túi ra và cẩn thận cạo đi một ít vỏ cây cho đến khi chạm đến lớp có màu hơi lục. Lục ư? Màu này chỉ tìm được trong chất diệp lục – thứ tạo nên màu xanh của lá non; chất diệp lục cũng được trữ trong phần thân của những cây còn sống. Điều này có nghĩa là: Khúc gỗ này vẫn còn sống! Tôi đột nhiên chú ý thấy những “viên đá” còn lại tạo thành hình rõ rệt: Chúng xếp thành một vòng tròn với đường kính khoảng 5 feet (152,4 cm). Thứ mà tôi tình cờ tìm thấy lại là phần “xương xẩu” sót lại của một gốc cổ thụ khổng lồ. Tất cả những gì còn lại là vết tích của phần rìa ngoài cùng. Phần bên trong đã hoàn toàn mục rữa thành đất mùn từ rất lâu – dấu hiệu rõ ràng cho thấy cây có lẽ đã ngã xuống ít nhất bốn hay năm trăm năm trước đó. Nhưng làm thế nào mà phần còn sót lại này có thể tiếp tục sống lâu đến thế?

Tế bào sống cần có thức ăn dưới dạng đường, chúng phải thở, và phải phát triển thêm, ít nhất cũng phải lớn hơn được một chút. Nhưng không có lá – và vì vậy không có sự quang hợp – thì việc đó là không thể. Không sinh vật nào trên hành tinh của chúng ta có thể nhịn đói hàng thế kỷ, thậm chí tàn tích của một cái cây cũng chẳng thể, và chắc chắn một gốc cây càng không tồn tại được đến giờ nếu chỉ dựa vào mình nó. Rõ ràng là có điều gì khác đang xảy ra với gốc cây này. Chắc hẳn nó đã nhận được sự giúp đỡ từ những cây sống xung quanh, cụ thể là từ rễ của chúng. Các nhà khoa học nghiên cứu những tình huống tương tự đã phát hiện sự giúp đỡ có thể đến từ rất xa thông qua hệ thống nấm nằm quanh các đầu rễ – thứ tạo điều kiện cho việc trao đổi dưỡng chất giữa các cây – hoặc có thể đến từ chính sự liên kết giữa các sợi rễ của chúng. Trong trường hợp của gốc cây mà tôi tình cờ bắt gặp, tôi không thể khám phá được điều gì đang diễn ra, vì tôi không muốn làm gốc cây già bị thương khi đào xới xung quanh nó, nhưng có một điều rõ ràng rằng: Những cây dẻ gai xung quanh đã bơm đường cho gốc cây này để giữ nó sống sót.

Nếu nhìn vào những bờ đắp bên đường, bạn có lẽ sẽ thấy được cách mà cây cối kết nối với nhau thông qua hệ thống rễ của chúng. Ở những độ dốc này, mưa thường rửa trôi đất, khiến mạng lưới rễ ngầm dưới đất lộ ra. Các nhà khoa học tại dãy núi Harz ở Đức đã khám phá ra rằng điều này thực sự là minh chứng cho cách sống phụ thuộc lẫn nhau, và hầu hết các cá thể cây cùng loài mọc ở cùng vị trí sẽ kết nối với nhau thông qua hệ thống rễ của chúng. Dường như việc trao đổi dưỡng chất và trợ giúp hàng xóm khi cần chính là luật lệ, điều này dẫn đến kết luận rằng rừng là xã hội hữu cơ có kết nối nội bộ rất giống với tổ kiến.

Tất nhiên, rất hợp lý nếu hỏi rằng liệu có thể rễ cây chỉ đơn giản lang thang lòng vòng không mục đích dưới mặt đất rồi kết nối lại khi chúng tình cờ gặp được rễ cây khác cùng loài hay không? Một khi đã kết nối, chúng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc trao đổi dưỡng chất. Chúng tạo nên thứ giống như mạng xã hội, nhưng điều chúng trải qua chỉ đơn thuần là tình cờ cho và nhận. Trong trường hợp này, sự gặp gỡ tình cờ thay thế cho hình ảnh đầy cảm động về việc chủ động hỗ trợ, mà dù chỉ gặp gỡ tình cờ thì vẫn đem lại nhiều lợi ích cho hệ sinh thái khu rừng. Nhưng thiên nhiên phức tạp hơn thế nhiều. Theo Massimo Maffei của Đại học Turin, thực vật – bao gồm cây – có khả năng tuyệt vời trong việc phân biệt rễ của bản thân chúng với rễ của những loài khác, và thậm chí với rễ của những cá thể cùng họ.

Nhưng tại sao cây lại là sinh vật có tính xã hội? Tại sao chúng lại chia sẻ thức ăn với cây cùng loài và thỉnh thoảng còn nuôi dưỡng cả đối thủ của chúng? Nguyên nhân cũng tương tự như cộng đồng loài người: Làm việc cùng nhau có lợi hơn. Một cây làm chẳng nên rừng. Chỉ một mình, cây không thể thiết lập khí hậu khu vực phù hợp. Nó sẽ phải phó thân cho gió và thời tiết. Nhưng cùng nhau, nhiều cây sẽ tạo thành một hệ sinh thái giúp làm dịu cái nóng cực độ hay cái lạnh buốt xương, giúp lưu giữ thật nhiều nước, và sản sinh thật nhiều hơi ẩm. Trong môi trường được bảo vệ này, cây có thể sống mãi đến khi thành cổ thụ. Để sống được đến đó, cộng đồng cây phải còn nguyên vẹn dù bất cứ giá nào. Nếu mỗi cây đều chỉ biết tự lo thân mình, thì khá nhiều trong số chúng sẽ chẳng bao giờ có thể thành cổ thụ. Nhiều cây chết thường xuyên sẽ tạo ra những khoảng trống lớn trên tán rừng khiến bão có thể dễ dàng lọt vào trong và làm bật rễ nhiều cây hơn. Cái nóng của mùa hè cũng sẽ tràn xuống nền rừng và khiến nó bị khô hạn. Tất cả cây trong rừng đều sẽ chịu tổn thất.

Mỗi cây, vì vậy, đều có giá trị đối với cộng đồng và đáng được giữ lại càng lâu càng tốt. Đây là lý do vì sao ngay cả những cây bị bệnh cũng được hỗ trợ và nuôi dưỡng cho đến khi chúng bình phục. Lần sau, có lẽ sẽ ngược lại: Cây từng hỗ trợ cây khác có thể trở thành cây cần được giúp đỡ. Khi những cây dẻ gai rậm rạp màu xám bạc này cư xử như vậy, chúng làm tôi nhớ đến đàn voi. Cũng như đàn voi, chúng biết tự chăm sóc bản thân và giúp đỡ những thành viên bị bệnh hoặc yếu sức hồi phục. Chúng thậm chí rất miễn cưỡng khi phải bỏ lại thành viên đã chết.

Tuy mỗi cây là một thành viên của cộng đồng, nhưng lại có nhiều hạng thành viên khác nhau. Ví dụ, hầu hết các gốc cây đều sẽ mục rữa thành đất mùn và biến mất trong vòng vài trăm năm (đây chẳng phải là thời gian quá dài đối với cây). Chỉ có một số ít duy trì được sự sống qua hàng thế kỷ, giống như những “viên đá” phủ đầy rêu mà tôi vừa mô tả. Vậy sự khác nhau là gì? Không lẽ xã hội của cây cũng có công dân hạng hai như xã hội loài người? Có vẻ là vậy, mặc dù khái niệm “thứ hạng” chưa thực sự phù hợp lắm. Đúng hơn là mức độ kết nối – hay thậm chí có lẽ là tình cảm – mới là thứ quyết định một cây xanh nhận được bao nhiêu giúp đỡ từ các “cộng sự” của mình.

Bạn có thể tự kiểm tra điều này đơn giản bằng cách nhìn lên tán rừng. Một cây bình thường sẽ cứ mọc cành ra cho đến khi chạm phải đầu cành của cây hàng xóm có cùng chiều cao. Nó không xòe rộng ra nữa vì không khí và ánh sáng tốt hơn trong không gian này đã bị lấy đi. Tuy nhiên, nó lại “gia cố” thật kỹ những cành đã vươn dài, do đó bạn sẽ cảm thấy trên tán rừng như có một trận “so tài” chen lấn. Nhưng một đôi bạn thật sự sẽ cẩn thận ngay từ đầu không đâm những cành quá rậm rạp về phía nhau. Cây không muốn lấy đi bất cứ thứ gì từ bạn mình, nên chúng chỉ phát triển các cành cứng chắc ở rìa ngoài tán lá, nghĩa là, hướng về phía những cây “không phải bạn bè”. Những đôi bạn thế này thường có rễ liên kết rất chặt và thỉnh thoảng chúng thậm chí chết cùng nhau.

Thông thường, tình bạn sâu nặng đến mức phần gốc trơ lại vẫn được chăm sóc có thể chỉ hình thành trong những khu rừng chưa bị khai phá. Cũng có thể tất cả loài cây đều làm điều này chứ không chỉ riêng gì loài dẻ gai. Tôi từng tự mình quan sát phần gốc cây sồi, lãnh sam, vân sam và linh sam Douglas còn sống sót rất lâu sau khi bị chặt. Cây trong các khu rừng được trồng – hầu hết là các rừng cây lá kim ở Trung Âu, cư xử giống như “những đứa trẻ đường phố” mà tôi mô tả trong chương 27. Do rễ bị tổn thương không thể phục hồi lúc được trồng, nên chúng dường như không có khả năng tạo ra mạng lưới kết nối với nhau. Thông thường, cây trong những khu rừng được trồng như thế cư xử giống những kẻ cô độc và chịu tổn thương vì sự cô lập này. Và kiểu gì thì hầu hết chúng cũng chẳng bao giờ có cơ hội trở thành cổ thụ. Dựa theo chủng loài, những cây này sẽ được đánh giá là sẵn sàng để thu hoạch khi chúng chỉ khoảng một trăm tuổi.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chiến tranh trong tình yêu – Chương 1 “Tình yêu hạnh phúc có tồn tại?”

Nàng và chàng đang trong cuộc khủng hoảng, cũng như nhiều lứa đôi đương đại. Tuy nhiên, cuộc chiến chàng – nàng đã nổ ra từ rất lâu, bắt nguồn từ sự mất ổn định của chế độ phụ hệ – chế độ xã hội mà quyền lực của người cha và các giá trị nam tính nắm ưu thế.

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Tình yêu hạnh phúc có tồn tại

Tác giả: Guy Corneau

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: Tháng 7.2019

Giới thiệu:

Làm thế nào sự hờ hững của người cha tạo nên những “người đàn bà yêu quá nhiều” và sự ân cần quá đáng của người mẹ tạo nên những “người đàn ông sợ tình yêu”?

Làm thế nào cuộc sống của chúng ta lại tràn đầy xung đột, đặc biệt với người mình yêu thương nhất, trong khi mỗi người chúng ta đều thiết tha đi tìm hạnh phúc? Cuộc chiến đó nhằm mục đích gì? Ai là người gây chiến? Phần thưởng cho người chiến thắng là gì? Và câu hỏi nhức nhối nhất: làm thế nào để chấm dứt nó?

Chàng và nàng trên ghế sofa

Nàng

Chàng vừa đi làm về, và vừa ngồi xuống ghế sofa trong phòng khách, vẻ mệt mỏi nhưng hài lòng. Chàng ngáp và vươn vai sau khi cởi giầy. Chàng có thật nhiều điều muốn kể với nàng, chàng nói liên tục ngay cả khi nàng vào bếp lấy mấy cái ly và chai rượu. Chàng đang mặc cái áo sơ mi mà nàng rất thích (cái áo đó chính nàng đã chọn) vì nó làm chàng trông lém lỉnh và nhẹ nhàng, xua bớt vẻ trịnh trọng của chàng. Nàng thích giây phút này, khi chàng hơi mệt mỏi nên có vẻ buông thả, và chịu nói chuyện dông dài với nàng. Câu chuyện chàng nói không có gì đặc biệt hấp dẫn, nhưng chí ít chàng cũng chịu nói chuyện. Chàng nói trong khi nàng từ từ tiến tới ghế sofa, và nàng bỗng muốn hôn chàng, chẳng vì lý do gì, chỉ để hoan nghênh giây phút này. Lần này nàng sẽ chủ động. Đây là một điều nàng ít làm (và chàng cũng thường trách cứ nàng điều này). Thế là nàng tiến gần lại, vẻ lả lơi khiêu gợi.

Chàng nhìn thấy nàng tiến tới, mỉm cười, đặt cái ly lên bàn, hôn trả lại cái hôn đầu tiên của nàng với sự thích thú rõ ràng. Nhưng nàng càng tiếp tục, mọi chuyện càng tồi tệ đi. Nàng cảm thấy sự không thoải mái hiển nhiên của chàng. Nàng cảm thấy thân hình chàng trở nên cứng đờ, nụ cười vẫn còn đó nhưng gương mặt chàng có vẻ đông cứng lại. Chàng ngừng nói chuyện và lại cầm lấy cái ly.

Rõ ràng chàng khó chịu, và nàng không hiểu gì cả. Ừ, thật ra thì nàng hiểu, nhưng không muốn hiểu. Mỗi khi nàng chủ động, mọi chuyện sẽ không đi xa được, lúc nào cũng là chọn nhầm lúc, chẳng hạn như chàng sẽ viện cớ đang nhức đầu. Cứ như thể… như thể chàng là đứa con nít sợ mẹ. Ồ không, nàng không phải mẹ chàng. Nàng chẳng dính dáng gì tới mẹ chàng cả, và bây giờ nàng những muốn đóng gói chàng gửi ngược lại cho mẹ chàng trong cái thùng với dòng chữ: hàng bị lỗi.

Chàng

Nàng đã về nhà trước chàng, mùi hương nàng đã tỏa đầy khắp căn hộ, cùng ánh nắng tràn trề rọi qua cửa sổ. Nàng hỏi chàng có muốn uống một cốc rượu vang không, và chàng nói tại sao lại không nhỉ. Chàng rất thích nàng phục vụ chàng một thứ thức ăn hay thức uống gì đó, khi nàng đang vui và ân cần. Những lúc như vậy, chàng cảm thấy được cưng chiều và cuộc đời thật đẹp. Chàng kể lể một vài điều linh tinh để làm nàng cười, vì chàng biết nàng thích nghe chàng nói chuyện. Chàng cứ nói, cứ nói và đột nhiên, chàng cảm thấy muốn làm tình với nàng. A, giá như nàng chủ động nhỉ, hầu như nàng chẳng làm thế bao giờ. Ồ nếu nàng làm thế, chàng sẽ nhai sống nàng ngay.

Nhưng đúng lúc ấy, nàng chủ động thật, nàng đang tiến về phía chàng với vẻ khiêu gợi. Mong đợi thành hiện thực. Nhưng có cái gì đó không ổn ở đây. Là vẻ say đắm trong ánh mắt nàng, sự khát khao trong cử chỉ của nàng, cứ như thể cuộc sống của nàng phụ thuộc vào đó. Cứ như thể nhu cầu tình cảm của nàng lớn đến nỗi không người đàn ông nào có thể đáp ứng nổi.

Nàng đặt cái ly xuống bàn, ôm hôn chàng, xiết chặt người nàng và người chàng. Lúc này đây, nàng đang muốn nghe chàng nói “anh yêu em”. Không chứ, mọi chuyện lại bắt đầu rồi. Nàng muốn nghe chàng nói “anh yêu em” từ sáng đến tối, mọi lúc mọi nơi. Cái câu “anh yêu em” đó, chắc chàng phải thâu băng lại cho nàng có thể nghe mỗi khi nàng thích. Chàng bắt đầu thấy bực mình rồi. Ở đâu ra cái nhu cầu tình cảm lớn đến vậy, cứ như cái hang sâu hút mà chàng tránh đến gần, sợ nhỡ sảy chân rơi xuống thì hỏng. Chắc chắn nàng sẽ lặp lại câu “em thiếu tình thương của cha mà”. Thiếu tình thương của cha! Cứ làm như chàng được cha thương yêu lắm không bằng.

Sau cái hôn thứ tư, chàng chộp lấy ly rượu. Chàng hy vọng nàng không nhận ra sự khó chịu trong lòng mình. Nhưng nhạy cảm như nàng, dĩ nhiên là nàng đã thấy. Chỉ còn cách là chàng làm đổ một ít rượu xuống thảm và vì thế có thể chạy vào nhà vệ sinh, để tâm trạng bình thường trở lại.

Nàng

Vậy đó, lại thêm một lần nữa chàng chạy biến mất. Nhưng lần này, nàng thề sẽ không chạy theo đuôi chàng đâu nhé. Nàng ngán tới tận cổ thứ đàn ông lãnh cảm này rồi. Nàng đã chán ngấy việc đóng vai cô gái dễ thương rồi. Nàng đã chán phải chuẩn bị các món ăn ngon cho chàng, phải chiều những trò chơi chàng ham thích trên giường, với hy vọng đổi lại sự trìu mến dịu dàng không bao giờ đến. Nàng giận thật rồi, nhưng nàng sẽ nổi giận trong yên lặng, vì những gì nàng muốn nói bây giờ có vẻ thô lỗ, độc địa quá. Mới năm phút trước đây thôi nàng còn muốn hôn chàng, nhưng giờ nàng chỉ muốn tìm cách trả đũa. Chàng mà thò đầu ra khỏi nhà vệ sinh xem…

Chàng

Chàng tự trách phản ứng của mình. Nói cho cùng, nàng làm điều đó chỉ cốt khiến cho chàng vui lòng. Nếu chàng chiều theo sự chủ động của nàng lần này, nếu chàng
cho nàng sự âu yếm lãng mạn mà nàng mong đợi, có thể trận chiến bắt đầu từ vài ngày nay sẽ kết thúc. Thế là chàng trở lại phòng khách, lòng đầy dự định tốt lành.

Chàng nhìn thấy nàng lúc đó trông xa lạ, lạnh lẽo, đanh đá, ngồi lùi sát một góc sofa. Những dự định tốt lành bay biến hết. Nàng muốn chiến tranh chứ gì, nàng sẽ có chiến tranh! Chàng không để bị áp đảo được. Nhất là từ khi nàng bắt đầu đi tư vấn tâm lý và bắt đầu học khẳng định mình, nàng không bỏ sót một dịp gây hấn nào, mọi chuyện ngày càng tồi tệ hơn. Rồi thì nàng bắt đầu bản trường thoại của nàng về cuộc sống hai người và những hiệp ước, máu chàng bắt đầu sôi lên. Chàng nuốt một ngụm rượu, nhưng rượu lúc này có vị chua như giấm. Cái gì nàng động đến cũng chua như giấm. Buổi tối nay thế là hỏng bét. Chàng chỉ còn muốn mỗi một điều là bỏ đi khỏi nhà. Đang định mở miệng nói, nàng đã chặn trước: “Tôi cá rằng anh lại muốn bỏ đi. Anh thấy tôi quá phiền chứ gì? Anh tưởng rằng đàn bà khác sẽ chịu được anh và xử sự khác tôi sao? Có thật anh nghĩ một ngày anh sẽ tìm được người đàn bà lý tưởng? Nhìn lại mình đi, cưng à!!”

Sức nặng của giấc mơ

Vậy là bắt đầu điệu vũ của những lời chê bai và kết tội. Cả hai sẽ ngày càng lớn tiếng, sẽ dẫn đến vài cú sấm sét theo kiểu đóng sập cửa, bỏ đi và trở lại… Sẽ có vài tiếng la hét, nước mắt, cay đắng ở cả hai phía, hối hận, hôn nhau, và nếu là một tối may mắn, sẽ kết thúc bằng một pha làm tình. Và vài ngày sau mọi chuyện lại tiếp diễn.

Tôi biết, bạn nghĩ rằng chuyện này chỉ xảy ra trong nhà bạn. Xin lỗi phải làm bạn thất vọng, chuyện này xảy ra ở khắp nơi. Dĩ nhiên bạn có thể thêm thắt vào vài điểm nhấn cá nhân, có khi câu chuyện xảy ra giữa hai người đàn ông, hoặc hai người đàn bà, có khi nàng là người lãnh cảm không muốn chàng lại gần, có khi cuộc cãi vã dẫn đến ẩu đả… Nhưng nói chung kịch bản không thay đổi nhiều lắm, đến nỗi chúng ta có cảm giác là chuyện tình cảm của con người diễn ra theo một chương trình đã định sẵn.

Nàng tự thấy mình đã sẵn sàng và đi tìm một người đàn ông có ý muốn ổn định và quyết định ràng buộc. Nàng muốn được ấm áp và an toàn, từ xưa đến giờ nàng chưa có được cảm giác đó, cha đã không cho nàng. Nhưng sức nặng của sự chờ đợi như thế làm chàng phát sợ. Hơn nữa, chàng không hiểu chút gì về cái gọi là quan hệ hòa hợp thấu hiểu giữa hai giới, chàng còn không hiểu chính mình nữa là. Chàng biết cái gì là quyền lực, là chiến thắng, là cơ khí, là vận dụng đầu óc. Nhưng những gì liên quan tới tình cảm lại là chuyện khác. Hình như chàng thiếu hiểu biết về thứ gia vị gì đó để nấu món ăn tình yêu, mà nàng tự cho rằng mình biết. Bỗng nhiên chàng thấy mình thật không ra gì trên lĩnh vực tình cảm. Chàng thấy có lỗi vì không thể thỏa mãn giấc mơ mà nàng tha thiết đến thế, có lẽ chàng không thích hợp để giúp nàng điều này. Nàng cảm thấy đau khổ vì không đủ khả năng làm cho chàng hạnh phúc. Vậy mà nàng đã cố gắng bao nhiêu để giúp chàng trở thành mẫu hoàng tử mà nàng mong muốn. Chàng thì cảm thấy bị kiểm soát, dắt mũi, ép uổng thành mẫu người không phải bản chất chàng. Cảm giác khó chịu này giống như khi chàng đứng trước mặt mẹ. Bà cũng thế, bà lúc nào cũng chỉ muốn ép chàng thành hoàng tử bé. Cùng một dạng áp lực, nàng đè nặng lên chàng mà không hay biết.

Nàng không nhận ra sức nặng của giấc mơ. Chàng không nhận thấy sức nặng của sự khó tính, hờ hững nơi mình. Chàng không nhận thấy mình muốn nàng phải trả giá, phải nhận bài học vì cái giấc mơ hoang đường ấy của nàng. Và cứ thế, sự tình dần trở nên khó chấp nhận. Nàng, chờ đợi và theo chàng. Chàng, im lặng và lẩn trốn. Bằng những cử chỉ của mình, mỗi người tiết lộ điều mình mong đợi ở người kia, và lần lượt khiến cho nhau thất vọng. Hai người duy trì tình trạng này ngày này sang ngày khác như thể để xem sức chịu đựng của mình và người kia tới đâu, để xem người kia thất vọng và để tang giấc mơ ấy như thế nào. Họ tiếp tục quen nhau vì nhu nhược. Cho đến một ngày, nhận ra mình đã bị dắt mũi quá lâu, đã dậm chân tại chỗ quá lâu, họ chia tay trong chán chường. Nàng thấy mình đã bị lừa. Còn chàng thấy mình bị sập bẫy. Và cả hai đều đau khổ khi chấm dứt cuộc tình.

Điệu vũ của những tiếng thở dài từ hai phía không phải mới, chúng ta quan sát thấy nhiều từ hơn một phần tư thế kỷ nay. Chúng ta cần một cuộc khủng hoảng tận gốc để mong thay đổi nó.

Khi cuộc sống lứa đôi là chiến trường

Chế độ phụ hệ mất thăng bằng

Nàng và chàng đang trong cuộc khủng hoảng, cũng như nhiều lứa đôi đương đại. Tuy nhiên, cuộc chiến chàng – nàng đã nổ ra từ rất lâu, bắt nguồn từ sự mất ổn định của chế độ phụ hệ – chế độ xã hội mà quyền lực của người cha và các giá trị nam tính nắm ưu thế. Trong hoàn cảnh đó, câu nói: “Yêu nhau, hai người trở thành một” là không rõ. Phải trả lời thêm câu hỏi: Nhưng một đó là ai, đàn ông hay đàn bà? Và với một cặp đôi cổ điển, sự hòa hợp trong gia đình chủ yếu dựa trên sự khuất phục, hy sinh của người phụ nữ. Hai người hòa hợp để xây dựng mái ấm của người đàn ông, mái ấm sẽ tuân theo các chỉ dụ của chế độ phụ hệ. Người đàn bà thường phải chối bỏ cá tính của mình, nghĩa là chối bỏ những sở thích, tham vọng, tính sáng tạo của mình để tập trung vào việc nuôi dạy con cái.

Ngày người phụ nữ bắt đầu không chấp nhận tình trạng trên, lứa đôi dĩ nhiên sẽ lâm vào khủng hoảng, vì chúng ta không biết, không có hình mẫu nào trong lịch sử dạy ta biết phải làm gì để chung sống hòa hợp mà vẫn là hai con người toàn diện và tự chủ.

Chế độ phụ hệ là hệ thống tư tưởng chi phối tâm lý của mọi người đàn ông và đàn bà. Ý thức hệ này đặt vị trí của người đàn bà là phục tùng đàn ông, dựa trên các thành kiến là những gì người đàn ông thực hiện, sản xuất thì hiển nhiên quan trọng hơn những gì người đàn bà thực hiện, cảm thấy… Thành kiến này cũng khiến những gì liên quan đến nữ tính, tình cảm, nội trợ… bị đánh giá thấp. Chính vì thế, ý thức phụ hệ bị khủng hoảng khi ngày càng nhiều phụ nữ khẳng định mình là con người toàn diện. Cuộc chiến nổ ra dưới mỗi mái nhà, trong mỗi gia đình. Một câu hỏi giản dị được đặt ra: ai phục vụ, và ai được phục vụ. Chúng ta có thể xem phụ nữ như các mật thám của sự hiện đại hóa xã hội. Tuy từ xưa, thời nào cũng có tấm gương phụ nữ đứng lên đòi sự công bằng và tôn trọng cho phái nữ, nhưng hiện tượng này chỉ phổ biến gần đây, cùng với thuốc ngừa thai, đến làn sóng phụ nữ bươn chải làm việc để kiếm sống sau Thế chiến II. Phụ nữ thoát khỏi việc làm mẹ không chủ động và lệ thuộc về kinh tế. Phong trào nữ quyền tích cực bắt đầu từ năm 1968 đến nay đã chứng kiến sự tham gia tích cực của phái nữ trên mọi lĩnh vực hoạt động.

Biến chuyển này dĩ nhiên ảnh hưởng sâu đậm đến quan hệ lứa đôi. Và như thế, cuộc sống lứa đôi hiện đại đã trở thành bãi chiến trường, nơi chế độ phụ hệ bị đe dọa, nơi hai nền tư tưởng nam tính và nữ tính đụng độ nảy lửa trong cuộc sống ngày thường, trong nhà bếp, trong phòng ngủ…

Chế độ phụ hệ nằm trong tâm tưởng mỗi chúng ta

Trong cuộc tranh chấp này, muốn phân biệt kẻ tốt người xấu, kẻ đúng người sai chỉ là ảo tưởng. Bởi chế độ phụ hệ không chỉ đàn áp và làm khổ phụ nữ, nó cũng cắt mất người đàn ông khỏi phần quan trọng của anh ta bằng cách đưa ra kiểu mẫu người đàn ông anh hùng, cứng nhắc, không biểu hiện cảm xúc, đến nỗi nhiều người đàn bà cứ tưởng đàn ông không có tình cảm gì, không biết tổ chức gia đình hay dạy dỗ con cái. Đó là phần ngược lại của thành kiến đặt trên phái kia, cho rằng đàn bà thì không biết suy nghĩ.

Tiếp tục duy trì những tư tưởng kiểu trên là một cách để duy trì mãi chế độ phụ hệ. Tốt hơn chúng ta nên nhìn đàn ông và đàn bà là hai phe hiện đang đoàn kết, từng cùng chịu bi kịch lịch sử, và cả hai đều có cả đao phủ lẫn nạn nhân. Hai phái nên bước ra khỏi vị trí xác định sẵn cho họ trong tiềm thức. Chúng ta từng thấy nhiều phụ nữ trong dòng chảy chung cố gắng học lấy sự cứng rắn để tìm chỗ đứng trong lĩnh vực của đàn ông. Những luật lệ khắc nghiệt của chế độ phụ hệ đã thấm sâu trong mỗi người: “dù là đàn ông hay đàn bà, muốn sống sót chúng ta phải cứng rắn, không có chỗ đứng cho sự yếu mềm tình cảm”.

Một đôi lứa thấu hiểu hòa hợp là không thể có được trong bối cảnh hiện nay, khi ý thức hệ như thế còn ngự trị trong xã hội. Nam tính được quan niệm như cắt rời khỏi cơ thể và trái tim, đồng nghĩa với trấn áp sự nhạy cảm và cảm xúc, và dựa trên sự phong tỏa các biểu hiện của cảm xúc. Mọi đau khổ đều được đề nghị chữa trị bằng lý trí thống trị, bằng các nguyên tắc trừu tượng. Chúng ta đưa công việc lên trước vui chơi, nghĩa vụ lên trước quyền lợi, lý trí lên trước tình cảm. Sự tham gia của mỗi người, đàn ông lẫn đàn bà, vào niềm tin hoang đường tập thể này đã khiến hai giới ngày càng cách biệt. Vì chế độ phụ hệ không chỉ là một hệ thống tổ chức xã hội và chính trị, nó hiện hữu trong mỗi người. Cũng chính vì lý do đó, công cuộc xây dựng mối quan hệ thấu hiểu sâu sắc giữa nam và nữ, trong công bằng và hỗ trợ, là liều thuốc duy nhất có thể cứu ta khỏi những đau khổ này.

Đi tìm sự thấu hiểu thực sự

Sự thấu hiểu giữa đàn ông và đàn bà dường như chưa từng hiện hữu. Cũng gần đây thôi, chúng ta bắt đầu lấy nhau vì tình yêu, và mới hơn nữa, chúng ta cố gắng không chia tay vì tình yêu. Trong khi trước đó, hôn nhân chủ yếu để tồn tại về kinh tế, để thăng tiến trong xã hội, để giữ gìn hoặc tăng thêm của cải… Những cặp vợ chồng thế hệ trước thường cố gắng ở bên nhau để họ hàng, nhà thờ, người quen khỏi đàm tiếu. Đối với họ, sự thấu hiểu giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái không nằm trong danh sách các nhiệm vụ phải thực hiện. Với họ, vai trò của người cha, người mẹ, cũng tức là người chồng, người vợ đã được xác định từ trước. Và quan niệm tĩnh lặng này dần dần làm khô héo cuộc sống.

Đó là lý do tại sao, ngày nay tất cả đều bùng nổ. Vai trò của cha mẹ, chồng vợ không còn rõ ràng như trước. Chúng ta đặt câu hỏi ngay cả thế nào là một người đàn ông, thế nào là một người đàn bà… Những câu hỏi tầm cỡ này, trên diện rộng như thế này chưa nền văn minh nào có cơ hội để đặt ra. Cuộc khủng hoảng này chưa từng có, và nó cho chúng ta cơ hội tiến hóa không gì so sánh được. Và cũng vì thế, thời đại này vừa quyến rũ, kích thích, vừa khiến chúng ta bối rối.

Trước sự bi quan, nhiều người sẽ cảm thấy trước cuộc tàn sát này, nhà báo và nhà tâm lý học Ariane Émond trả lời: chưa bao giờ quan hệ giữa đàn ông và đàn bà lại tốt hơn bây giờ, vì lần đầu tiên trong lịch sử, hai giới bắt đầu vượt khỏi những vai trò quy định sẵn để đối thoại thực sự với nhau.

Với những hình mẫu đàn ông và đàn bà của chế độ phụ hệ, một “đôi” hạnh phúc có thể nói là không thể tồn tại. Cuộc phiêu lưu mới này đầy thách thức và kích thích. Cái được thua trong cuộc chiến này không còn là ai sẽ phải hy sinh cho ai, mà là: làm thế nào để sống hòa hợp làm một trong khi mỗi người vẫn là chính mình.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!