Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Cuộc du hành bắt đầu – Trích “Không giới hạn – Khám phá Ho’oponopono”

Ho’oponopono – phương pháp bí truyền của người Hawaii là một phương pháp giúp thanh tẩy vô thức, nơi tồn đọng những trở ngại. Nó giúp hóa giải những gì ẩn giấu khiến bạn không đạt được mục tiêu, bất kể là về sức khỏe, tài lộc, hạnh phúc hay những khía cạnh khác.

Published

on

Trích từ: Không giới hạn – Khám phá Ho’oponopono

Tác giả: Joe Vitale, Ihaleakala Hew Len

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 3.2020

Chi tiết tác phẩm

Ho’oponopono – phương pháp bí truyền của người Hawaii là một phương pháp giúp thanh tẩy vô thức, nơi tồn đọng những trở ngại. Nó giúp hóa giải những gì ẩn giấu khiến bạn không đạt được mục tiêu, bất kể là về sức khỏe, tài lộc, hạnh phúc hay những khía cạnh khác.

Phương pháp Ho’oponopono chỉ ra rằng tất cả mọi chuyện đều diễn ra bên trong ta. Chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề được cất giữ ngay bên trong chính bản thể của mỗi người. Bằng cách thấu hiểu và áp dụng phương pháp này, bạn không chỉ nắm bắt được bản chất của mọi vấn đề mà còn biết được “chỗ” để xử lý nó. Và với chiếc chìa khóa ấy, mọi việc đều thực sự nằm trong tầm tay của chúng ta và mỗi người đều có thể tự giải quyết, không lệ thuộc vào ai hay bất kỳ một giới hạn nào, đúng như tựa đề cuốn sách: KHÔNG GIỚI HẠN.


Cuộc du hành bắt đầu

Dạo ấy là tháng 8 năm 2004, tôi đón khách và thuyết trình tại một gian hàng trong hội nghị thường niên của Hiệp hội Quốc gia Các nhà thôi miên. Tôi hào hứng với khách khứa, bầu không khí hội nghị và các hoạt động giao lưu cùng mọi người. Nhưng tôi không ngờ trong ngày hôm ấy có một sự kiện đã xảy đến làm thay đổi cuộc đời tôi.

Mark Ryan là người bạn cùng coi sóc gian hàng với tôi. Mark cũng là một nhà thôi miên trị liệu. Anh có đầu óc rất cởi mở, hoạt bát, đầy tò mò và háo hức khám phá cuộc sống cũng như tất cả những bí mật của nó. Chúng tôi thường trò chuyện với nhau hàng giờ đồng hồ về những người hùng trong ngành trị liệu, từ Milton Erickson cho đến các thầy lang ít người biết. Trong một lần trò chuyện như thế, Mark đã hỏi một câu làm tôi ngạc nhiên:

“Anh có bao giờ nghe nói đến một nhà trị liệu đã chữa lành cho bệnh nhân mà không hề gặp mặt chưa?”

Câu hỏi làm tôi khựng lại. Tôi đã nghe nói về các nhà trị liệu tâm linh và trị liệu từ xa, nhưng hình như Mark đang muốn nói chuyện gì khác.

“Ông ta là bác sĩ tâm lý, đã chữa lành cho cả một khoa tâm thần của bệnh viện gồm toàn tội phạm tâm thần, nhưng ông chẳng hề tiếp một bệnh nhân nào cả.”

“Vậy ông ta làm gì?”

“Ông ta dùng một phương pháp trị liệu của người Hawaii tên là Ho’oponopono.”

“Ho-oh-cái gì?” tôi hỏi.

Tôi đòi Mark lặp lại từ này khoảng chục lần. Tôi chưa bao giờ nghe nhắc đến từ đó. Mark cũng chẳng biết gì hơn về câu chuyện hoặc phương pháp này để kể thêm cho tôi nghe. Quả thật tôi tò mò, nhưng phải thú nhận rằng tôi cũng có hoài nghi. Tôi hình dung chắc đây là một giai thoại thêu dệt gì đó. Chữa lành mà không gặp bệnh nhân à? Ừ, đúng vậy.

Mark kể tiếp cho tôi nghe câu chuyện sau:

“Tôi đã từng lui tới du lịch vùng núi Shasta ở California suốt 16 năm trời để tìm kiếm bản thân”, Mark thổ lộ. “Một người bạn ở đó đã cho tôi một tập sách nhỏ mà tôi không bao giờ quên. Sách in mực xanh trên giấy trắng. Nội dung là một bài báo về nhà trị liệu người Hawaii này và phương pháp của ông ta. Tôi đã đọc đi đọc lại bài báo nhiều năm qua. Bài viết không miêu tả nhà trị liệu đã làm gì, mà chỉ nói ông ta đã chữa lành cho mọi người bằng phương pháp của mình.”

“Bài báo đó đâu rồi?” tôi hỏi. Tôi muốn đọc bài báo.

“Tôi không tìm ra”, Mark nói. “Nhưng có điều gì đó thôi thúc tôi phải nói cho anh nghe. Tôi biết anh không tin tôi, nhưng tôi cũng bị cuốn hút như anh. Tôi cũng muốn biết thêm.”

Một năm sau chúng tôi lại nói chuyện tiếp. Trong thời gian gián đoạn đó, tôi đã sục sạo trên mạng nhưng không tìm được chút gì về bất kỳ một nhà trị liệu nào đã chữa lành mà không gặp bệnh nhân. Tôi tìm được thông tin liên quan đến trị liệu từ xa, tức trị liệu cho người khác mà không cần người kia hiện diện, nhưng tôi hiểu rằng nhà trị liệu người Hawaii đã không làm theo cách đó. Về sau tôi mới được biết chẳng có khoảng cách nào cả đối với hình thức trị liệu của ông ta. Quan trọng nhất là tôi chẳng biết đánh vần ra sao cái từ Ho’oponopono để tra cứu trên mạng, cho nên đành gác lại.

Thế rồi, vào năm 2005, trong hội nghị thường niên tiếp theo của ngành thôi miên, Mark lại nhắc đến nhà trị liệu.

“Anh đã tìm được thông tin gì về ông ta chưa?” anh ta hỏi.

“Tôi không biết tên ông ta, mà tôi cũng chẳng biết đánh vần cái từ ho-gì đó”, tôi giải thích. “Cho nên chẳng tìm được gì cả.”

Mark thuộc loại người đã định làm gì là phải làm cho bằng được. Vào giờ nghỉ giải lao, bọn tôi lôi máy tính ra, tìm cách kết nối mạng không dây và bắt đầu tìm kiếm. Không lâu sau chúng tôi tìm được trang web chính thức duy nhất về Ho’oponopono tại địa chỉ www.hooponopono.org. Tôi dò tìm và thấy một vài bài báo. Những bài này cho tôi một cái nhìn chung về những gì tôi sắp được biết.

Tôi tìm thấy một định nghĩa về Ho’oponopono: “Ho’oponopono là một phương pháp thanh tẩy năng lượng ô nhiễm bên trong ta để tạo điều kiện cho những tư tưởng, ngôn từ, hành vi và hành động xuất phát từ Siêu nhiên.”

Tôi chẳng hiểu câu đó nghĩa là gì, vậy nên tôi tìm đọc tiếp, và rồi tìm thấy câu này:

“Nói một cách đơn giản, Ho’oponopono nghĩa là “hiệu chỉnh” hoặc “chỉnh sửa lỗi”. Theo người Hawaii cổ xưa, lỗi phát sinh từ những tư tưởng bị suy nhiễm do ký ức đau khổ trong quá khứ. Ho’oponopono là phương cách để giải tỏa năng lượng của những tư tưởng hoặc lỗi lầm đau khổ này, yếu tố gây mất cân bằng và bệnh tật.”

Thật thú vị, vâng. Nhưng điều đó nghĩa là gì?

Trong khi sục sạo trang web này để tìm thông tin về nhà tâm lý trị liệu bí ẩn đã chữa bệnh mà không cần gặp bệnh nhân, tôi biết rằng có một hình thức Ho’oponopono cải biên mang tên Self I-Dentity through Ho’oponopono (SITH).

Tôi thật sự không hiểu nghĩa của khái niệm này. Mark cũng không. Chúng tôi là đôi bạn thích tìm hiểu. Máy tính xách tay là chú ngựa đưa chúng tôi rong ruổi vào miền đất mới hoang vu này. Chúng tôi đang tìm kiếm những câu trả lời và háo hức tiếp tục cuộc hành trình.

Chúng tôi tìm thấy một bài báo giúp giải thích vài điều:

Self I-Dentity Ho’oponopono
Nhận 100 phần trăm trách nhiệm cho các vấn đề của thân chủ

Bài viết của Tiến sĩ Ihaleakala Hew Len và nhà trị liệu bằng phương pháp mát-xa Charles Brown.

Trong các phương thức truyền thống để trị liệu và giải quyết vấn đề, nhà trị liệu khởi sự với niềm tin rằng vấn đề nằm bên trong thân chủ, chứ không phải bên trong anh ta. Anh ta tin rằng trách nhiệm của mình là giúp thân chủ khắc phục vấn đề. Liệu niềm tin này có dẫn đến xung đột mang tính hệ thống trong ngành trị liệu không?

Để trở thành một người giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, nhà trị liệu phải sẵn sàng chịu trách nhiệm 100 phần trăm về việc đã tạo ra tình trạng có vấn đề ấy; tức là, anh ta phải sẵn sàng nhìn thấy rằng nguồn gốc của vấn đề là những tư tưởng sai lạc bên trong anh ta, chứ không phải bên trong thân chủ. Các nhà trị liệu dường như không bao giờ nhận ra rằng mỗi khi có một vấn đề là lại có mặt họ!

Việc chịu trách nhiệm 100 phần trăm về việc đã gây ra vấn đề cho phép nhà trị liệu chịu trách nhiệm 100 phần trăm để giải quyết nó. Dùng phương thức Ho’oponopono cải biên, một phương pháp để ăn năn, tha thứ và chuyển hóa do Kahuna Lapa’au Morrnah Nalamaku Simeona đưa ra, nhà trị liệu có thể chuyển hóa các tư tưởng sai lạc bên trong chính mình và bên trong thân chủ thành ra các tư tưởng TÌNH THƯƠNG hoàn mỹ.

Đôi mắt ngấn lệ. Hai khóe miệng hằn sâu nếp nhăn. “Tôi lo lắng cho con trai tôi”, Cynthia khẽ thở dài, “Nó lại dùng ma túy.” Trong khi chị ta kể lại câu chuyện đau khổ, tôi bắt đầu thanh trừ các ý tưởng sai lạc bên trong tôi đã gây ra vấn đề cho chị ta.

Khi các ý tưởng sai lạc bắt đầu được thay thế bằng những ý nghĩ yêu thương bên trong nhà trị liệu và bên trong người thân, họ hàng và tổ tiên của anh ta, chúng cũng được thay thế bên trong thân chủ và người thân, họ hàng và tổ tiên của chị ta. Phương pháp Ho’oponopono cải biên cho phép nhà trị liệu làm việc trực tiếp với Cội nguồn, nơi có thể chuyển hóa các tư tưởng sai lạc thành TÌNH THƯƠNG.

Đôi mắt đã khô ráo. Các nếp nhăn
quanh miệng đã dịu lại. Chị ta mỉm cười,
nét mặt nhẹ nhõm. “Tôi không biết tại sao,
nhưng tôi cảm thấy dễ chịu hơn.”
Tôi cũng không biết tại sao. Thật vậy.
Cuộc sống là một điều bí ẩn
ngoại trừ TÌNH THƯƠNG, cái luôn tỏ tường
hết thảy. Tôi chỉ biết buông xả, và cám ơn
TÌNH THƯƠNG đã ban mọi phúc lạc.

Khi giải quyết vấn đề bằng phương pháp Ho’oponopono cải biên, nhà trị liệu trước tiên phải dùng bản thể của mình, Trí của mình để kết nối với Cội nguồn, khái niệm mà những người khác gọi là TÌNH THƯƠNG hoặc Tạo hóa. Khi đã kết nối, nhà trị liệu sẽ thỉnh nguyện TÌNH THƯƠNG chỉnh sửa những tư tưởng sai lạc bên trong mình vốn đang gây ra vấn đề cho chính mình trước tiên và kế đến cho thân chủ. Lời thỉnh nguyện là một phương thức để ăn năn và tha thứ về phía nhà trị liệu – “Tôi rất tiếc về những tư tưởng sai lạc bên trong tôi đã gây ra vấn đề cho tôi và cho thân chủ, hãy tha thứ cho tôi.”

Để đáp lại lời thỉnh nguyện ăn năn và tha thứ của nhà trị liệu, TÌNH THƯƠNG khởi động phương thức huyền bí nhằm chuyển hóa các tư tưởng sai lạc. Trong phương thức hiệu chỉnh tâm linh này, TÌNH THƯƠNG trước tiên hóa giải các cảm xúc sai lạc đã gây ra vấn đề, bất kể đó là sự phẫn uất, sợ hãi, tức giận, trách cứ hoặc hoang mang. Trong bước tiếp theo, TÌNH THƯƠNG sẽ phóng thích năng lượng đã hóa giải từ các tư tưởng để trả chúng lại trạng thái hư vô, trống rỗng, giải thoát đích thực.

Khi các tư tưởng đã trống rỗng và không trói buộc, TÌNH THƯƠNG sẽ tự lấp đầy vào đó. Kết quả là gì? Nhà trị liệu được thanh tẩy và khôi phục trong TÌNH THƯƠNG. Khi nhà trị liệu được thanh tẩy, thân chủ và tất cả mọi yếu tố liên quan đến vấn đề cũng được thanh tẩy. Khi cảm xúc tuyệt vọng đến với thân chủ, đã có TÌNH THƯƠNG. Khi bóng tối đến trong tâm hồn họ, giờ đây đã có Ánh sáng TÌNH THƯƠNG để chữa lành. Khóa học Self I-Dentity Ho’oponopono giúp cho người ta nhận biết chính mình và biết cách từng bước giải quyết các vấn đề, và đồng thời được hồi phục trong TÌNH THƯƠNG. Khóa học mở đầu với một bài giảng miễn phí suốt hai giờ. Học viên tham dự sẽ nắm được tổng quan về cơ chế mà tư tưởng bên trong họ hiện thực hóa các vấn đề tâm linh, tâm thần, cảm xúc, thể chất, quan hệ và tài chính trong cuộc sống của họ và trong cuộc sống của người thân, họ hàng, tổ tiên, bè bạn, láng giềng và đồng nghiệp của họ. Trong khóa học cuối tuần, học viên được dạy để biết vấn đề là gì, vấn đề nằm ở đâu, làm thế nào để giải quyết các loại vấn đề khác nhau bằng cách áp dụng hơn 25 quy trình giải quyết vấn đề, và cách tự chăm sóc bản thân. Điều cốt lõi được nhấn mạnh trong khóa học là học viên phải chịu trách nhiệm 100 phần trăm về chính mình và về những gì xảy đến trong đời mình để giải quyết vấn đề một cách không cần cố gắng.

Điểm kỳ thú của phương pháp Ho’oponopono cải biên là mỗi lần ta lại được gặp con người mới của chính mình, và càng áp dụng ta càng trân trọng hơn nữa phương pháp tái hiện phép mầu của TÌNH THƯƠNG này.

Tôi vận hành cuộc sống và các mối quan hệ của tôi theo những sự hiểu biết sau đây:

  1. Vũ trụ vật chất này là một sự hiện thực hóa các tư tưởng của tôi.
  2. Nếu các tư tưởng của tôi mục ruỗng, chúng sẽ tạo nên một thực tại vật chất mục ruỗng.
  3. Nếu các tư tưởng của tôi hoàn mỹ, chúng sẽ tạo nên một thực tại tràn đầy TÌNH THƯƠNG.
  4. Tôi chịu trách nhiệm 100 phần trăm về việc đã tạo ra vũ trụ vật chất của tôi như hiện tại.
  5. Tôi chịu trách nhiệm 100 phần trăm về việc hiệu chỉnh những tư tưởng sai lạc đã tạo ra một thực tại bất ổn.
  6. Không có gì ở bên ngoài cả. Mọi thứ đều tồn tại dưới dạng tư tưởng trong tâm trí tôi.

Mark và tôi đọc bài báo và thắc mắc không biết tác giả nào là nhà trị liệu mà chúng tôi đang tìm: Charles Brown hay Tiến sĩ Hew Len này. Chúng tôi không biết. Chúng tôi không nói được. Và còn nhân vật Morrnah mà bài báo đề cập thì sao? Self I-Dentity Ho-oh-gì đó là cái gì?

Chúng tôi đọc tiếp.

Chúng tôi tìm được thêm vài bài báo nữa giúp hé lộ ánh sáng về những gì chúng tôi đang tìm kiếm. Có những câu tiết lộ về phương pháp này như: “Self I-Dentity Ho’oponopono nhìn mỗi vấn đề không phải như một sự thách đố mà như một cơ hội. Các vấn đề chỉ là ký ức về quá khứ được thị hiện ra để cho chúng ta cơ hội nhìn thấy bằng cặp mắt của TÌNH THƯƠNG và hành động xuất phát từ sự hứng khởi.”

Tôi tò mò nhưng không hiểu. Vấn đề có phải là “ký ức về quá khứ được thị hiện”? Phải không? Mấy tác giả này đang định giải thích cái gì vậy? Làm thế nào phương pháp ho-gì gì đó có thể giúp nhà trị liệu chữa lành cho người ta? Mà nhà trị liệu này là ai mới được?

Tôi tìm ra thêm một bài báo nữa, của một phóng viên tên Darrell Sifford, viết về cuộc gặp gỡ với người đã lập ra phương pháp ho’opo gì gì đó. Tên của bà là Morrnah và bà là một kahuna – tàng nhân, tức là người cất giữ các bí quyết. Những gì mà Morrnah làm để giúp chữa lành mọi người là “thỉnh nguyện với đấng sáng tạo thiêng liêng mà ta tự chọn thông qua phần Siêu nhiên bên trong mỗi con người… mà cũng chính là một phần của đấng sáng tạo thiêng liêng.”

May ra thì bạn hiểu được câu đó. Riêng tôi lúc đó không hiểu. Mark cũng chẳng hiểu. Rõ ràng bà Morrnah này đã thốt ra đôi điều, dưới dạng một lời cầu nguyện, và giúp người ta được chữa lành. Tôi cũng định sẽ tìm lời nguyện đó, nhưng hiện tại tôi đang theo đuổi một mục tiêu khác: tìm cho ra nhà trị liệu để học phương pháp của ông. Càng lúc tôi càng háo hức muốn tìm hiểu thêm và gặp gỡ nhà trị liệu dân gian này. Mặc dù đã đến giờ phải quay trở lại gian hàng trong hội chợ, Mark và tôi vẫn mặc kệ để tiếp tục tìm kiếm.

Dựa trên các bài báo và trang web, chúng tôi đoán nhà trị liệu mà chúng tôi muốn tìm kiếm tên là Ihaleakala Hew Len. Một cái tên ngộ nghĩnh. Tôi không biết đọc lẫn đánh vần ra làm sao. Tôi cũng chẳng biết tìm ông ta thế nào. Trang web này không có thông tin gì để liên lạc với ông. Mark và tôi cố gắng tra Google nhưng cũng chẳng tìm được gì. Chúng tôi bắt đầu thắc mắc liệu nhà trị liệu kỳ quặc này có phải là một nhân vật hư cấu, hay đã về hưu hoặc thậm chí đã khuất núi.

Tôi đóng laptop để quay trở lại gian hàng.

Nhưng cuộc phiêu lưu đã bắt đầu.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Trích đăng “Những cảnh đời tỉnh lẻ – Tuổi thơ” (J. M. Coetzee)

Bộ ba tác phẩm hợp thành “Những cảnh đời tỉnh lẻ” như một bức chân dung buồn bã pha lẫn khôi hài về cuộc đời của một nghệ sĩ, người luôn phải xoay trở để tìm ra hướng đi của riêng mình giữa các mối quan hệ trong giới học thuật và chính trường Cape Town sục sôi dưới chế độ Apartheid.

Published

on

Trích từ: Những cảnh đời tỉnh lẻ – Tuổi thơ

Tác giả: J. M. Coetzee

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 6.2020

Giới thiệu tác phẩm: Những cảnh đời tỉnh lẻ – Tuổi thơ

Từ xưa đến nay không có nhiều nhà văn vừa được giới phê bình khen ngợi lại vừa chinh phục được đông đảo độc giả. J. M. Coetzee nằm trong số đó. Tuy nhiên, tác giả Nam Phi này hiếm khi nói về bản thân mình, cho đến khi Tuổi thơ được xuất bản vào năm 1997, hé mở những hồi ức chân thực về sự khởi đầu của nhà văn trẻ với lối tự thuật bậc thầy. Tiếp theo đó là những năm tháng dịu dàng và mãnh liệt của Tuổi trẻ và cách kể chuyện hài hước, khác thường ở Mùa hè.

Bộ ba tác phẩm hợp thành Những cảnh đời tỉnh lẻ như một bức chân dung buồn bã pha lẫn khôi hài về cuộc đời của một nghệ sĩ, người luôn phải xoay trở để tìm ra hướng đi của riêng mình giữa các mối quan hệ trong giới học thuật và chính trường Cape Town sục sôi dưới chế độ Apartheid.

Trong đó, Những cảnh đời tỉnh lẻ – Tuổi thơ là bản miêu tả sâu sắc và cực kỳ thuyết phục về một thời thơ ấu ở Nam Phi với lối kể chuyện mộc mạc và tiết chế như những bình nguyên bằng phẳng ở Karoo – nơi đã tạo nên bối cảnh cho câu chuyện.

*

Lời người dịch

Một cậu bé da trắng sinh ra ở Nam Phi, sống những ngày thơ bé giữa một bên là chế độ Apartheid chớm hình thành, một bên là những tương giao hồn nhiên với những con người đại diện cho chủng tộc bị coi rẻ. Một đứa con của hai nền văn hóa: dòng dõi Afrikan – hậu duệ của những người da trắng chiếm lĩnh và lập nên nhà nước Nam Phi từ bao đời trước – và nền giáo dục hướng về Anh quốc. Một thanh niên mộng thành nghệ sĩ, nhưng lại trở thành lập trình viên máy tính. Một người Nam Phi xem miền đất gắn liền với tổ tiên là một phần cốt lõi của chính mình, đồng thời lại tin rằng mình chẳng có tư cách kế thừa miền đất đó. John Coetzee, nhân vật chính của cuốn sách này, hội tụ nơi mình bao mối mâu thuẫn.

Qua các tên gọi và gốc gác, qua các chi tiết tương đồng với đời thực, ta dễ dàng có cảm tưởng đây là câu chuyện cuộc đời của chính nhà văn – J. M. Coetzee, chủ nhân của giải Nobel Văn chương 2003 và những tác phẩm soi chiếu xã hội Nam Phi đầy rẫy xung đột sắc tộc.

Thế nhưng, không thể gọi Scenes from Provincial Life – Những cảnh đời tỉnh lẻ –là hồi ký hay tự truyện của J. M. Coetzee.

Ta không thường thấy người viết tự truyện nói về mình ở ngôi thứ ba. Ta không thường thấy họ tập trung mô tả chính mình theo chiều hướng đáng phê phán, có khi đến mức thiếu phẩm cách như J. M. Coetzee đã làm. Quan trọng hơn hết, ta chắc chắn không có tự truyện nào tiếp diễn đến tận khi nhân vật chính đã chết, chỉ còn hiện diện trong lời kể của những người đã từng quen biết mình.

Không tuân theo lối kể chuyện truyền thống, cũng chẳng bị giới hạn vào một lối kể đơn nhất, Những cảnh đời tỉnh lẻ là một tác phẩm tự sự đa chiều. Ở chiều kích nổi trội nhất, bao trùm cả phần 1 Boyhood Tuổi thơ và phần 2 Youth Tuổi trẻ, tác phẩm được trình bày hoàn toàn từ điểm nhìn của John Coetzee, ngôi thứ ba, thì hiện tại, tựa hồ những quan sát được thảo ra trong thời gian thực – như thể người kể chuyện đang đồng hành cùng John từ đời sống đến nội tâm, như thể có một phần linh hồn trong John đang tách ra một góc và quan sát chính bản thân mình. Chiều kích thứ hai, bắt đầu với phần 3 Summertime Mùa hè, vẫn với ngôi thứ ba và thì hiện tại, là những trang nhật ký của John, đi kèm ngày tháng và những lời tự vấn, tự nhắc nhở mình. Và chiều kích cuối cùng, cũng trong Mùa hè, dưới hình hài những cuộc phỏng vấn, là các đối thoại song phương và hồi ức – đối thoại về John, hồi ức về John, khi con người ấy không còn ở thế gian.

Nếu cần phải dựa vào một từ ngữ để nắm bắt bản chất tác phẩm khi đọc, ta có thể nhìn nhận Những cảnh đời tỉnh lẻ một cách giản dị là tiểu thuyết tự thuật. Một tiểu thuyết đầy màu sắc tự thuật. J. M. Coetzee vẫn luôn đưa yếu tố tự thuật vào những tác phẩm của mình, nhưng có thể nói phải đến Những cảnh đời tỉnh lẻ, khía cạnh này mới nổi bật hẳn lên, và phô bày đậm đà dấu ấn riêng của tâm hồn tự thuật. Vẫn ngòi bút súc tích, nhưng cảm xúc không còn kìm nén, lời văn không còn dè dặt, như ta từng thấy qua những Disgrace – Ruồng bỏ, Life and Times of Michael K – Cuộc đời và thời đại của Michael K. Tâm hồn ấy phô bày trái tim mình ra khắp trang viết, từ những lý tưởng cao vời, những khát vọng cháy bỏng, đến những bí mật đê hèn, những suy tư nghiệt ngã.

Quý độc giả sẽ dễ dàng thắc mắc: Vì sao Những cảnh đời tỉnh lẻ, một tác phẩm đậm tính tự thuật, lại chuyển hướng ở phần Mùa hè, theo những chiều kích hoàn toàn khác lúc ban đầu? Hẳn là có nhiều hơn một nguyên do đằng sau nghệ thuật kể chuyện ấy, những nguyên do mà chỉ một đôi dòng ở đây không thể nào khai phá hết. Điều quan trọng là, với lối kể ấy, câu chuyện đã vượt hẳn ra ngoài khuôn khổ thế giới của John Coetzee, mở rộng thành một bức tranh hợp từ nhiều mảnh đời, và một lần nữa cho thấy sự đa chiều của nó, ở bình diện tâm lý. Rồi khi những cá tính và số phận đã dự phần vào cuộc đời John phô bày chính mình, ta thấy, bằng cách này hay cách khác, vì lẽ này hay lẽ khác, họ đều là những kẻ dị biệt – hoặc họ đứng ngoài xu thế chung của cộng đồng mình, hoặc họ lạc lõng giữa đất nước mà mình đang sống. Và nổi lên từ câu chuyện của những kẻ dị biệt ấy là đời sống chính trị và xã hội bất ổn của Nam Phi những năm 1940, 1960 và 1970, đất nước Nam Phi mà lúc bấy giờ cũng chính là một quốc gia dị biệt so với phần còn lại của thế giới.

Bằng cách ấy, từ không gian tự thuật hư cấu tưởng chừng riêng tư, J. M. Coetzee khơi mở dần những vấn đề chung của dân tộc, của đất nước, của từng thế giới vi mô mà nhân vật chính và các nhân vật phụ góp mặt vào: thế giới học đường với đòn roi và những kẻ bắt nạt; thế giới nhà nông đầy niềm vui thuần phác lẫn hiện thực tàn nhẫn; thế giới xám xịt của những lập trình viên máy tính; thế giới bấp bênh về đời sống lẫn tâm tư của tuổi trẻ chập chững tìm chỗ đứng cho chính mình; thế giới của những người nhập cư lao đao giữa một nền văn hóa mới… Nam Phi và Anh quốc có thể là những vùng đất xa xôi với chúng ta, độc giả Việt Nam, nhưng những vấn đề của con người mà nhà văn chạm tới, chúng ta có thể nhìn thấy trên chính đất nước mình, xã hội mình, và đôi khi trong đời sống của mình nữa.

Nhờ sự sáng tạo về điểm nhìn và lối kể chuyện, Những cảnh đời tỉnh lẻ không chỉ là một bức tranh tinh tế về đời sống con người, mà còn là một phương thức giúp nhà văn mở lòng hơn, bộc bạch nhiều hơn với thế giới – với những ai quan tâm đến văn chương ông, những ai chưa từng đọc ông, và cả những ai không thích ông vì phong thái khép kín xa cách mà ông thể hiện trong những tác phẩm trước. John, dù là hiện thân bao nhiêu phần trăm của nhà văn, cũng phản chiếu lòng thành thật của một người cầm bút về những niềm tin, mơ ước và góc tối trong chính mình. Không gian tâm lý đa chiều trong tác phẩm, dù có bao nhiêu phần trăm là lấy từ đời thực, cũng phản chiếu ý nguyện nhìn nhận những góc khuất trong tâm hồn và thân phận con người, nhìn nhận sự phức tạp về thế giới quan và hoàn cảnh của mỗi người chúng ta, nhìn nhận sự đa dạng mà hạn chế trong góc nhìn của chúng ta về nhau. Như một nhân vật trong Mùa hè đã nói, “anh nên thận trọng với việc bỏ người ta vào những cái hộp nhỏ hẹp, gọn ghẽ, và dán nhãn lên đó”, J. M. Coetzee có lẽ cũng mong chúng ta thận trọng và đón nhận mọi người quanh mình bằng cái nhìn rộng mở.

Mối duyên của tôi với Những cảnh đời tỉnh lẻ bắt đầu từ nhiều năm trước khi tôi may mắn được dịch nó. Ngay những ngày đầu ấy, khi đọc Mùa hè, tôi đã tìm thấy niềm vui được tận hưởng cái đẹp của lối kể chuyện lạ thường, thẳng thắn, hóm hỉnh, vượt ra ngoài mọi khuôn khổ mình từng biết. Và ngay những ngày đầu ấy, tôi đã thấy mình đồng cảm với John, với thế giới tự thuật hư cấu của tác phẩm – qua những suy nghĩ và cảm xúc, những trải nghiệm đẹp đẽ lẫn đau thương của các nhân vật ấy, tôi nhận ra chính con người mình.

Tôi hy vọng rằng, qua bản dịch này, thế giới tâm lý đa chiều, nghệ thuật kể chuyện tài hoa và những bộc bạch chân tình của J. M. Coetzee cũng sẽ khơi dậy niềm vui, niềm đồng cảm sâu đậm nơi con tim các bạn.

Hương Châu

*

PHẦN 1
TUỔI THƠ

Họ sống trong một khu nhà ở quy hoạch1 nằm ngoài thị trấn Worcester, giữa tuyến đường ray và Quốc lộ. Các con đường trong khu nhà mang tên các loài cây, nhưng chẳng có bóng cây nào. Địa chỉ nhà họ là số 12 Đại lộ Cây Dương. Các nhà trong khu đều mới và giống hệt nhau. Chúng được dựng trên những lô đất sét đỏ rộng rãi, nơi chẳng có gì mọc lên, và được ngăn cách với nhau bằng hàng rào dây thép. Ở sân sau mỗi nhà đều có một căn nhà nhỏ gồm một phòng ở và một buồng vệ sinh. Tuy không có người giúp việc, họ gọi các không gian đó là “phòng người giúp việc” và “phòng vệ sinh của người giúp việc”. Họ lấy phòng người giúp việc làm kho chứa đồ: giấy báo, chai lọ rỗng, một chiếc ghế gãy, một tấm nệm xơ dừa cũ.

Cuối sân, họ bố trí một bãi thả gia cầm với ba con gà mái để lấy trứng. Nhưng lũ gà này chẳng sinh sôi. Nước mưa không thấm được vào bề mặt của đất sét, đọng thành từng vũng trên sân. Bãi gia cầm trở thành một bãi lầy bốc mùi kinh khiếp. Chân cẳng lũ gà sưng phồng lên gớm ghiếc, trông như da voi. Đau ốm, bực dọc, chúng thôi đẻ trứng. Mẹ hắn hỏi ý kiến chị gái bà ở Stellenbosch, và chị gái bà bảo lũ gà sẽ chỉ đẻ trứng lại khi nào lớp màng sừng dưới lưỡi chúng được cắt đi. Thế là mẹ hắn kẹp lần lượt từng con gà một vào giữa hai đầu gối, ấn vào diều chúng cho đến khi chúng há mỏ ra, rồi chọc mũi dao tỉa vào lưỡi chúng. Chúng quang quác và vùng vẫy, mắt lồi cả ra. Hắn rùng mình quay mặt đi. Hắn nghĩ đến cảnh mẹ quẳng thịt hầm lên kệ bếp và cắt miếng thịt thành từng khối vuông; hắn nghĩ đến những ngón tay bết máu của bà.

Các cửa hiệu gần nhất nằm cách nhà một dặm2, trên một con đường hiu quạnh có những hàng cây bạch đàn. Mắc kẹt trong khối nhà hình hộp giữa khu dân cư này, mẹ hắn chẳng có gì để làm cả ngày ngoài việc quét tước, dọn dẹp. Mỗi bận gió thổi, một lớp bụi sét màu hoàng thổ cuộn xoáy qua các khe cửa, len qua những kẽ nứt trên khung cửa sổ, dưới máng xối và những mối nối của trần nhà. Sau một trận bão kéo dài cả ngày, bụi đã phủ cao hàng tấc2 trên mặt tường chính diện.

Họ mua máy hút bụi. Sáng sáng, mẹ hắn kéo rê chiếc máy từ phòng này sang phòng kia, hút mớ bụi vào cái bụng rống ì ầm in hình một con yêu tinh3 đỏ mỉm cười búng mình lên như đang nhảy rào. Sao lại là một con yêu tinh?

Hắn chơi với cái máy hút bụi, xé vụn giấy ra và quan sát những mẩu giấy bay tung lên trước miệng vòi như lá cây trong gió. Hắn chĩa vòi vào một bầy kiến, hút chúng vào trong đến chết.

Ở Worcester có kiến, ruồi, dịch bọ chét. Worcester chỉ cách Cape Town4 chín mươi dặm, nhưng mọi thứ ở đây đều tồi hơn. Chân hắn có một quầng những vết cắn của bọ chét ngay trên rìa tất, và những đốm vảy do hắn gãi mà thành. Có những đêm hắn không ngủ được vì ngứa ngáy. Hắn không hiểu vì sao gia đình hắn phải rời Cape Town.

Mẹ hắn cũng bứt rứt. Bà nói, ước gì tôi có một con ngựa. Ít nhất thì tôi cũng được cưỡi nó dạo chơi trên thảo nguyên. Một con ngựa! Cha hắn thốt lên. Mình muốn làm phu nhân Godiva5 chắc?

Mẹ hắn không mua ngựa. Thay vào đó, chẳng hề báo trước, bà mua một chiếc xe đạp nữ, hàng cũ, sơn đen. Chiếc xe to và nặng đến nỗi khi hắn thử chạy nó trong sân nhà, hắn không vần nổi bàn đạp.

Mẹ hắn không biết chạy xe đạp; có lẽ bà cũng chẳng biết cưỡi ngựa nốt. Bà mua chiếc xe vì cho rằng điều khiển nó cũng đơn giản thôi. Giờ thì bà chẳng tìm được ai có thể dạy mình chạy xe.

Cha hắn không giấu được vẻ hả hê. Ông bảo, phụ nữ không chạy xe đạp. Mẹ hắn vẫn ngang ngạnh. Bà đáp, tôi sẽ không làm tù nhân trong cái nhà này. Tôi sẽ tự do.

Thoạt đầu hắn thấy thật là tuyệt khi mẹ có một chiếc xe đạp của riêng mình. Hắn thậm chí còn hình dung ra cảnh cả ba người, tức mẹ và hai anh em hắn, cùng đạp xe xuống Đại lộ Cây Dương. Nhưng giờ đây, khi nghe những lời bông đùa của cha, những lời mà mẹ chỉ biết đáp lại bằng sự im lặng bướng bỉnh, hắn bắt đầu dao động. Phụ nữ không chạy xe đạp: nếu cha hắn nói đúng thì sao? Nếu mẹ hắn không tìm được ai sẵn lòng dạy bà chạy xe, nếu chẳng bà nội trợ nào khác ở Reunion Park có xe đạp, thì có khi phụ nữ đúng ra không nên chạy xe đạp thật.

Một mình trong sân sau, mẹ hắn nỗ lực tự học cách chạy xe. Bà vươn thẳng chân ra hai bên và đẩy xe lăn bánh xuống con dốc hướng về bãi thả gà. Chiếc xe chao nghiêng và chững lại. Vì xe không có sườn ngang, bà không bị ngã mà chỉ lắc lư lảo đảo một cách ngớ ngẩn trong khi vẫn siết chặt tay lái.

Hắn ngoảnh lòng đi với mẹ. Tối đó, hắn tham gia vào màn nhạo báng của cha. Hắn ý thức rõ về sự phản bội này. Giờ thì mẹ hắn chỉ còn một mình.

Tuy nhiên, bà vẫn tự học được cách chạy xe, dù là chạy loạng choạng không vững, phải gắng gồng để xoay trở bộ giò dĩa nặng nề.

Sáng sáng bà lại khởi hành đi thám hiểm Worcester, khi hắn đã đến trường. Duy chỉ một lần hắn thoáng thấy bà đạp xe qua. Bà mặc áo kiểu trắng và váy sẫm màu. Bà đang đạp về cuối Đại lộ Cây Dương, hướng về nhà. Tóc bà tung bay trong gió. Trông bà trẻ như một thiếu nữ, thanh tân và huyền bí.

Hễ trông thấy chiếc xe đạp đen nặng nề dựa vào vách tường là cha hắn lại giở giọng bông đùa. Trong những câu đùa ấy thường có hình ảnh các công dân Worcester bỏ ngang công việc, đứng hết dậy mà há hốc mồm trước người thiếu phụ vất vả đạp xe qua. Họ gọi ơi ới, chế nhạo bà: Trap! Trap! Đạp đi!6 Những câu đùa chẳng buồn cười tí nào, tuy hắn và cha luôn cùng phá ra cười sau đó. Về phần mẹ, bà không bao giờ đối đáp lại. Bà không giỏi khoản đó. “Cứ cười nếu thích,” bà nói.

Rồi một ngày kia, không lời giải thích, bà thôi chạy xe đạp. Chẳng bao lâu sau chiếc xe biến mất. Chẳng ai nói lời nào, nhưng hắn biết rằng bà đã bị đánh bại, đã bị đặt trở lại vị trí của bà, và rằng hắn phải gánh một phần trách nhiệm. Hắn tự hứa với chính mình: một ngày nào đó mình sẽ đền bù cho mẹ.

Ký ức về mẹ trên chiếc xe đạp không rời khỏi hắn. Bà đạp hướng về đầu Đại lộ Cây Dương, vùng thoát khỏi hắn, vùng thoát về phía khát vọng của riêng bà. Hắn không muốn bà đi. Hắn không muốn bà mang khát vọng cho riêng mình. Hắn muốn bà luôn luôn ở trong ngôi nhà này, đợi chờ hắn khi hắn trở về. Hắn không thường cùng cha lập bè phái để chống lại mẹ: xu hướng chung của hắn là lập bè phái cùng mẹ chống lại cha. Nhưng trong trường hợp này, hắn thuộc về cánh đàn ông.

*

Hắn không sẻ chia gì với mẹ. Hắn giấu kín bưng cuộc sống trường lớp của mình, hắn giấu bà thật kín. Bà sẽ không biết chút gì, hắn quyết vậy, trừ những gì hiện ra trên bản báo cáo học tập hằng quý không tì vết của hắn. Hắn sẽ luôn đứng đầu lớp. Hạnh kiểm của hắn sẽ luôn đạt loại Giỏi, tiến độ của hắn sẽ luôn đạt loại Xuất Sắc. Chừng nào bản báo cáo còn hoàn hảo, bà sẽ không có quyền truy vấn gì. Đó là bản giao kèo hắn tự lập ra trong đầu mình.

Một chuyện xảy ra ở trường là bọn nam sinh bị đánh đòn. Nó xảy ra hằng ngày. Bọn chúng bị bắt khom mình xuống, tay chạm ngón chân, và bị quất roi.

Hắn có đứa bạn học cùng lớp Ba tên Rob Hart, một đứa mà thầy cô đặc biệt thích đánh đòn. Giáo viên lớp Ba là cô Oosthuizen, một phụ nữ dễ kích động với mái tóc nhuộm bằng bột lá móng. Không rõ từ đâu mà cha mẹ hắn biết đến cô dưới cái tên Marie Oosthuizen: cô có tham gia trình diễn trên sân khấu, và chưa từng lấy chồng. Hiển nhiên là cô có cuộc sống bên ngoài trường học, nhưng hắn không hình dung ra nổi. Hắn không hình dung nổi bất kỳ một giáo viên nào có cuộc sống bên ngoài trường học.

Cô Oosthuizen nổi cơn thịnh nộ, gọi Rob Hart ra khỏi chỗ ngồi, bắt cậu ta khom mình, và quất vào mông cậu ta. Những đòn tiếp nối nhau thật nhanh, cái roi gần như không có đủ thời gian để nảy lên nữa. Khi cô Oosthuizen đã đánh xong, mặt Rob Hart đỏ bừng. Nhưng cậu ta không khóc; thật ra thì có khi cậu đỏ mặt chỉ vì phải khom mình. Cô Oosthuizen, trái lại, ngực phập phồng và trông như sắp trào nước mắt – nước mắt cùng những thứ tuôn trào khác nữa.

Sau những đợt phát cuồng vô kiểm soát mê muội này, cả lớp học nín lặng, và cứ thế nín lặng đến lúc chuông reo.

Cô Oosthuizen chẳng bao giờ thành công trong việc làm Rob Hart khóc; có lẽ đó là lý do vì sao cô nổi cơn thịnh nộ với cậu như vậy và đánh cậu mạnh nhường ấy, mạnh hơn bất kỳ ai khác. Rob Hart là đứa con trai lớn tuổi nhất lớp, hơn hắn gần hai tuổi (hắn là đứa nhỏ nhất); hắn có cảm giác giữa Rob Hart và cô Oosthuizen đang diễn ra điều gì đó mà hắn không được phép biết.

Rob Hart cao ráo và điển trai theo kiểu ta-đây-bấtchấp7. Mặc dù Rob Hart không thông minh và có thể còn có nguy cơ ở lại lớp, hắn bị cậu ta cuốn hút. Rob Hart thuộc về một thế giới mà hắn chưa tìm ra cách nào bước chân vào được: thế giới của tình dục và đòn roi.

Về phía hắn, hắn không hề muốn bị cô Oosthuizen hay bất kỳ ai khác đánh đập. Chỉ riêng ý tưởng bị đánh thôi đã khiến hắn quằn quại vì hổ thẹn rồi. Chẳng có gì mà hắn sẽ không làm để bảo vệ mình khỏi cảnh đó. Ở khía cạnh này hắn không bình thường, và hắn biết vậy. Hắn sinh ra trong một gia đình đáng hổ thẹn và không bình thường, trong đó chẳng những trẻ con không bị đánh, mà người lớn còn gọi nhau bằng tên riêng, chẳng ai đi nhà thờ và ngày nào mọi người cũng mang giày.

Mỗi giáo viên ở trường, dù là nam hay nữ, đều có một cái roi và được tự do sử dụng nó. Mỗi cái roi mang một nhân cách, một cá tính, mà đám con trai biết và không ngừng bàn đến. Với tinh thần am hiểu, bọn nó cân đo cá tính của những cái roi và hạng mức đau đớn mà chúng mang lại, so sánh kỹ thuật tay và cổ tay của những vị giáo viên sử dụng chúng. Chẳng ai nói đến nỗi hổ thẹn khi bị gọi lên, bị bắt cúi mình và bị đánh vào mông.

Vì chẳng có kinh nghiệm gì của riêng mình, hắn không tham gia vào những cuộc chuyện trò này được. Tuy nhiên, hắn biết sự đau đớn không phải là điều cần xét đến nhất. Nếu những đứa con trai khác chịu được đau đớn, thì hắn, người có sức mạnh ý chí lớn hơn rất nhiều, cũng chịu được. Thứ mà hắn sẽ không chịu đựng được là sự hổ thẹn. Hắn sợ rằng nỗi hổ thẹn sẽ tồi tệ và làm thoái chí đến mức hắn sẽ bám chặt vào bàn mà từ chối đi lên khi bị gọi. Và chính hành động đó sẽ là một nỗi hổ thẹn lớn hơn nữa: nó sẽ làm hắn bị tách biệt, đặt những đứa con trai khác vào thế chống lại hắn. Nếu có bao giờ hắn bị gọi lên đánh đòn, đó sẽ là một cảnh tượng tủi nhục đến mức hắn sẽ không đời nào quay lại trường học được nữa; và cuối cùng sẽ chẳng có cách nào thoát khỏi nó ngoài việc tự sát.

Đó chính là mối đe dọa. Đó chính là nguyên do hắn không bao giờ phát ra một tiếng động trong lớp. Đó chính là nguyên do hắn luôn ngăn nắp, luôn hoàn thành bài tập về nhà, luôn biết câu trả lời. Hắn không dám sơ suất. Nếu hắn sơ suất, hắn sẽ có nguy cơ bị đánh đòn; và dù có bị đánh hay có chống cự lại việc bị đánh, thì cũng thế thôi, hắn sẽ chết.

Điều lạ lùng là, chỉ cần một trận đòn thôi thì cái bùa chú kinh hoàng đã và đang kìm kẹp hắn sẽ bị phá vỡ. Hắn ý thức rõ điều này: nếu, bằng cách nào đó, hắn mau mau qua được trận đòn trước khi kịp cứng người lại mà kháng cự, nếu sự xâm phạm thể xác có thể hoàn tất nhanh chóng, bằng vũ lực, hắn sẽ thoát qua phía bên kia như một đứa con trai bình thường, góp mặt dễ dàng vào những cuộc tranh luận về giáo viên và các cây roi của họ cùng các cấp bậc và mùi vị đau đớn đầy phong phú mà chúng khơi ra. Nhưng hắn không thể nào tự mình nhảy qua cái rào cản ấy.

Hắn đổ lỗi cho mẹ vì đã không đánh hắn. Vừa lấy làm mừng rằng mình được mang giày, được mượn sách từ thư viện công cộng và nghỉ học khi bị cảm cúm – tất cả những điều tách biệt hắn khỏi bạn bè – hắn vừa giận mẹ vì đã không sinh ra những đứa con bình thường và đã không bắt chúng sống một cuộc đời bình thường. Cha hắn, nếu cha hắn nắm quyền kiểm soát, sẽ biến gia đình hắn thành bình thường. Cha hắn bình thường trong mọi mặt. Hắn biết ơn mẹ vì đã bảo vệ hắn khỏi sự bình thường của cha, cụ thể là, khỏi những cơn thịnh nộ xanh mắt thi thoảng và những lời đe dọa đánh đập hắn của ông. Đồng thời hắn giận mẹ vì đã biến hắn thành một thứ khác thường, một thứ cần được bảo vệ nếu phải tiếp tục sống.

Trong số những cái roi, cái của cô Oosthuizen không phải là cái cho hắn ấn tượng sâu sắc nhất. Cái dễ sợ nhất là của thầy Lategan dạy nghề mộc. Cái roi của thầy Lategan không dài và mềm dẻo như kiểu hầu hết giáo viên ưa thích. Nó ngắn, dày và mập, giống một cái gậy hay dùi cui hơn là roi. Theo lời đồn thì thầy Lategan chỉ dùng nó đánh bọn nam sinh lớn, rằng nó quá mức chịu đựng đối với đám con trai nhỏ. Theo lời đồn thì với cái roi của mình thầy Lategan đã làm cả những nam sinh trung học năm cuối phải thổn thức, nài nỉ xin tha, tè ra quần và tự bôi nhọ mình.

Thầy Lategan là một người đàn ông thấp bé có mái tóc tỉa sát dựng đứng và bộ ria mép. Thầy bị mất một ngón tay cái: một vết sẹo tím tái lấp gọn vào chỗ cụt ngón. Thầy Lategan ít khi mở miệng nói. Thầy luôn ở trong tâm trạng xa cách, bực bội, như thể việc dạy nghề mộc cho đám con trai nhỏ tuổi là một công việc dưới tầm của thầy mà thầy miễn cưỡng phải làm. Suốt phần lớn buổi học thầy đứng bên cửa sổ nhìn ra vuông sân trong lúc lũ con trai ngập ngừng đo đạc, cưa bào. Thỉnh thoảng thầy cầm cái roi mập bên mình, uể oải gõ lên ống quần trong lúc tư lự. Khi rảo quanh kiểm tra, thầy khinh khỉnh chỉ ra chỗ sai, rồi nhún vai một cái mà đi tiếp.

Bọn nam sinh được phép bông đùa với giáo viên về những cái roi của họ. Trong phạm trù này, những lời trêu ghẹo nhất định dành cho thầy cô được chấp nhận. “Bảo nó hát đi thầy!” Khi bọn trẻ nói thế, thầy Gouws liền vung cổ tay cho cái roi dài (cái roi dài nhất trường, tuy thầy Gouws chỉ là giáo viên lớp Năm) xé gió huýt lên.

Chẳng ai đùa với thầy Lategan. Thầy Lategan được kính sợ vì những gì thầy có thể làm bằng cái roi của mình, với những đứa con trai đã sắp thành đàn ông.

Khi cha hắn cùng anh em tụ tập ở nông trang vào mùa Giáng Sinh, những cuộc chuyện trò luôn xoay về thời học sinh của họ. Họ hồi tưởng về các giáo viên và những cái roi; họ nhớ lại những sáng mùa đông lạnh lẽo, khi cái roi làm nổi lên trên mông họ những lằn xanh tái và cảm giác nhức nhối còn vương vấn mấy ngày liền trong ký ức của da thịt. Lời lẽ của họ toát lên nỗi hoài cảm và nỗi sợ đầy khoan khoái. Hắn nghe say sưa nhưng giữ mình kín đáo hết mức có thể. Hắn không muốn họ quay sang hắn, trong một lúc ngưng nghỉ nào đó giữa cuộc chuyện trò, và hỏi về vị trí của cái roi trong đời hắn. Hắn chưa từng bị đánh, và lấy làm hổ thẹn sâu sắc về điều đó. Hắn không thể nói về những cái roi theo cách dễ dãi, am tường của những người đàn ông này.

Hắn có cảm giác mình bị hư hại. Hắn có cảm giác thứ gì đó, như một bức tường, một lớp màng ngăn, đang chầm chậm rách toạc ra bên trong hắn mọi lúc. Hắn cố giữ mình chắc chắn hết mức để hạn chế vết rách. Để hạn chế vết rách, không phải để ngăn nó lại: chẳng có gì ngăn nó được cả.


Chú thích:

  1. Nguyên văn: housing estate, một khu dân cư quy hoạch chung, gồm các nhà ở xây theo lối đồng bộ. (Tất cả các chú thích từ đây về sau là của người dịch biên soạn lại từ các nguồn tư liệu trên Internet.)
  2. Nguyên văn: mile, đơn vị đo chiều dài của Anh, cũng được sử dụng tại các nước thuộc địa cũ của Anh. Chín mươi dặm bằng xấp xỉ 145km. 2 Nguyên văn: inches, một trong các đơn vị đo lường được thiết lập và sử dụng dưới thời Đế chế Anh, bắt đầu từ năm 1825. Nước Anh từ 1995 đã chuyển sang lấy hệ mét làm hệ đo lường chính, nhưng inch vẫn được sử dụng ở nhiều nơi trên Vương quốc Anh, cũng như ở nhiều nước từng là thuộc địa Anh – cụ thể trong trường hợp này là Nam Phi. Một inch bằng 2,54cm.
  3. Nguyên văn: goblin, loài sinh vật kỳ dị thường xuất hiện trong văn học dân gian châu Âu, thường được mô tả là nhỏ thó, tinh ranh, mê châu báu, có phép thuật.
  4. Thủ đô Nam Phi.
  5. Nữ bá tước sống ở Anh vào thế kỷ 11. Theo một huyền thoại có từ thế kỷ 13, để thuyết phục chồng mình là bá tước Leofric giảm thuế cho người dân Coventry, phu nhân Godiva đã làm theo lời thách thức của chồng: khỏa thân cưỡi ngựa đi qua khắp các con đường của thị trấn.
  6. Trong cuốn sách này, Coetzee có sử dụng một số câu, từ bằng tiếng Afrikaans, một trong các ngôn ngữ chính thức của Nam Phi. Các câu, từ này được in nghiêng, với câu, từ tiếng Anh tương đương đi kèm ngay sau đó. Người dịch giữ nguyên phần tiếng Afrikaans và dịch phần tiếng Anh ra tiếng Việt. Trong trường hợp này, Trap là từ tiếng Afrikaans chỉ hành động ấn bàn đạp xe đạp, đi kèm với từ tiếng Anh “push” (ấn, đẩy) mà ở đây được dịch thoát ý là “Đạp đi!”
  7. Nguyên văn: devil-may-care, chỉ thái độ vô tư và bạt mạng.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chương 1 “Chuyện xứ Dran xưa” (Lâm Trung Châu)

“Chuyện xứ Dran xưa” miên man theo dòng hồi ức của một “ông già” hóm hỉnh đi vào miền sương khói hoang vu của một thời quá vãng. Trong dòng chảy hoài niệm ấy, Dran hiện ra mơ màng, sống động. Dran – vùng đất ai cũng từng nghe tên một lần nhưng để hình dung thưòng khó ai miêu tả được. Lâm Trung Châu với hết đời người gắn bó với vùng đất này để dắt tay người đọc qua thăng trầm của lịch sử, qua những gương mặt người, qua biến động thời cuộc.

Published

on

Trích từ: Chuyện xứ Dran xưa

Tác giả: Lâm Trung Châu

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 7.2020

Chi tiết tác phẩm

*

Tôi tha thiết muốn kể chuyện Dran xưa

Một lần dạo chơi trên Danhim.net, tôi tình cờ được biết có một số bạn trẻ muốn nghe chuyện Dran xưa. Chợt nghĩ, ừ nhỉ, sao mình không kể cho các bạn ấy nghe. Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng dễ chừng hơn nửa năm sau tôi mới quyết định viết ra.

Thực lòng mà nói, cái trí nhớ của một người U751 rất chi là tồi tệ, chợt nhớ chợt quên như trời chợt mưa chợt nắng. Đó cũng là lý do vì sao tôi cứ mãi phân vân, do dự trước khi viết loạt bài Dran Xưa. Rất vui khi bài viết được các bạn nhiệt tình đón đọc. Riêng tôi, mỗi khi đọc lại vẫn chưa thấy hài lòng. Nó thiêu thiếu thế nào ấy. Thì ra, cái trí nhớ khốn khổ của mình đã bị thời gian bào mòn một cách khủng khiếp. Tỉ như, lứa học sinh đầu tiên của Thiên Mẫu, lẽ ra phải nhắc đến Lâm Tuyết, Hồ Thị Kim thì mình lại quên béng đi. Tỉ như, chuyện đánh nhau với bọn “giặc Tàu” đâu phải chỉ đơn giản cầm ná thun rồi bạ thứ gì cũng lượm lên làm đạn. Không, không phải thế đâu! Muốn bắn tốt phải có đạn tốt; muốn có đạn tốt phải vất vả lắm chứ. Trước tiên phải tìm một miếng đất sét loại tốt, thêm tí nước vào rồi nhồi cho thật nhuyễn, lăn cho miếng đất sét thành hình một sợi dây dài rồi ngắt ra từng miếng, vo tròn lại như viên bi sau khi đã cho vào giữa một viên muối hột, sau đó đem phơi một nắng. Chẳng biết ai bày ai biểu là cho một viên muối hột vào giữa thì “thương tích” sẽ trầm trọng hơn. Không hiểu tác dụng thực hư ra sao nhưng đứa nào cũng làm. Chi tiết quan trọng như thế mà cũng quên. Đã trót thì phải trét. Đã kể thì phải kể cho đàng hoàng, tử tế. Cố nhớ thêm một tí nữa xem sao. Và tôi xin tiếp tục kể chuyện Dran xưa, nhớ đâu kể đó…

Đã gọi là nhớ đâu kể đó thì nó không thể theo trình tự thời gian. Câu chuyện đôi khi sẽ thiếu mạch lạc, đọc nghe tưng tức. Những mẩu chuyện riêng rẽ, cái này chẳng dính dáng đến cái kia, lại có phần khô khan nhưng mong các bạn hãy chấp nhận như thế, vì dẫu sao nó vẫn là một phần trong cuộc sống của Dran thuở ấy.

Tôi viết hoàn toàn theo trí nhớ lại càng không mang chất sử liệu, tất nhiên có đôi chỗ thiếu chính xác. Vì vậy, nếu biết rõ hơn, bạn hoàn toàn có quyền tự sửa chữa hoặc góp ý. Hy vọng đã cung cấp được cho các bạn đôi điều về Dran xưa và nếu các bạn là người trong cuộc, tin rằng các bạn sẽ có được những kỷ niệm xưa ùa về. Bằng không, thì nói như Nguyễn Du: “Mua vui cũng được một vài trống canh”. Cám ơn bạn!

Bây giờ, mời các bạn cùng tôi dạo quanh một vòng Dran Xưa.

*

NGÀY XƯA Ở XỨ DRAN

Cây đa giếng nước

“Làng tôi có cây đa cao ngất tầng xanh. Có sông sâu lơ lửng vờn quanh êm xuôi về Nam… Làng tôi, bao mái tranh san sát kề nhau…” Có lẽ chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà lời bài hát Làng Tôi của Chung Quân lại đúng là hình ảnh của làng tôi với cây đa giếng nước của thuở xa xưa.

Làng tôi có cái tên xấu xí, dị hợm: Càn Rang, đúng hơn là Cần Răng. Người phương xa nghe vậy thường trêu, cần gì không cần lại cần răng, răng ai mà chẳng có, khéo vẽ. Thực ra, nó còn có một cái tên khá quý phái, tên Tây đàng hoàng: Dran. Với cái tên này, nó nghiễm nhiên có mặt trên tất cả các tấm bản đồ chính thống.

Làng tôi, ý tôi muốn nói là làng tôi của cái thuở trên dưới sáu mươi năm về trước2, cái thuở mà làng vẫn còn là làng. Cái thuở mà làng chưa nhuốm bụi trần ai.

Từ Saigon ra, từ Dalat xuống hoặc từ Phanrang lên đến ngã ba đầu làng người ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh đầu tiên đó là cây đa, giếng nước.

Ngoài một số cơ ngơi kinh doanh của người Pháp được xây dựng kiên cố, vài ba chục ngôi nhà gỗ lợp tôle (tôn), còn lại chỉ là nhà tranh vách đất đơn sơ. Cả làng dùng chung một cái giếng. Giếng nằm ngay ở đầu ngã ba (giờ hay gọi là ngã ba Trung Dung). Không phải giếng tròn như ta thường thấy mà là giếng vuông, thành giếng cao ngang bụng, trên có mái ngói chữ A. Nước giếng trong leo lẻo.

Chiều chiều, nhà nào cũng có người đến đây gánh nước. Giếng còn là trung tâm thu phát tin tức trong làng. Ai thích hóng chuyện, cứ đến ngồi đây khắc biết tất tần tật, từ chuyện con Gái xóm trên bỏ nhà theo gánh Sơn Đông mãi võ, tới chuyện thằng Ghẻ mê cô đào hát cải lương, ôm quần áo theo đoàn xin được một chân kéo màn.

Nhắc đến thằng Ghẻ thì có nhiều chuyện để kể. Tỉ như chuyện ghẻ của nó nói hoài cũng không hết. Chẳng hạn, buổi sáng ngồi sưởi nắng, nó thường gỡ mày ghẻ bỏ vào miệng nhai có vẻ ngon lành lắm. Hoặc như nó thường xuống sông ngâm hai cái chân ghẻ dưới nước rồi để mặc cho lũ cá lòng tong xúm nhau rỉa rói, vài hôm sau khắc lành… Chuyện cô Ba cứng tuổi rồi, buồn chuyện tình duyên hay tiền bạc gì đó treo cổ tự tử hai ngày sau người ta mới biết… Gần như là tất cả chuyện buồn vui của mọi gia đình đều được phơi bày bên giếng nước này.

Chếch vào bên trong một tí là cây đa. Chẳng biết cây bao tuổi mà lớn quá chừng chừng, tán cây xòe ra che mát cả một khoảng rộng. Đây là điểm hẹn của bọn trẻ chúng tôi. Chiều nào cũng vậy, cơm nước xong, đứa trước đứa sau lần lượt tề tựu về đây. Những đêm trời tối om om, bọn chúng tôi chia phe chơi trò u mọi nhờ vào ánh sáng từ những ngọn đèn măng-sông (manchon) từ trong nhà hàng hắt ra. Cuộc chơi kéo dài đến khuya lơ khuya lắc.

Dòng sông Danhim lượn lờ uốn quanh làng. Ban ngày, ngoài giờ học chúng tôi đóng đô ở bãi sông, suốt ngày bì bõm. Nước sông trong vắt. Đôi lúc lại thách nhau, làm dấu một viên đá rồi ném ra giữa sông, đứa nào lấy được về trước thì được cõng một vòng. Vậy mà tụi nó tìm ra như chơi. Nói như thế để bạn biết rằng, nước sông trong đến ngần nào. Chẳng thế mà các hộ ven sông đều lấy đó làm nguồn nước sinh hoạt.

Từ ngã ba, một con đường nhỏ chạy xuyên làng. Đến cuối đường, qua khỏi trường học là một dòng suối. Suối trong leo lẻo, thấy rõ từng đàn cá lòng tong tung tăng bơi lội. Hai bên bờ suối đoạn này thoai thoải, không có cầu. Xe trâu, xe bò chở rau quả cứ lội thẳng xuống suối rồi lên. Bên kia bờ suối là nhà bà Sáu Tiết, đây là điểm tham quan định kỳ hằng năm của chúng tôi.

Nhà bà Sáu cũng chỉ là một liếp nhà tranh đơn sơ có gì mà tham quan? Tôi đâu có ý nói tham quan nhà. Chả là nhà bà Sáu có một cây nhãn, phải nói là ngon hết ý.

Mùa quả chín, hương nhãn thơm lừng lựng điếc cả mũi. Cơm nhãn dày, mọng nước, ngọt lịm, cái vị ngọt vô cùng quyến rũ đến con kiến còn phải tương tư chứ chẳng đùa. Không ăn bỏ qua rất uổng. Cứ tầm trưa trưa, áng chừng bà Sáu đang an giấc là cả bầy gần chục đứa tấn công vào, thoáng một cái đã vắt vẻo trên cành như một bầy khỉ. Bà Sáu sống một mình. Mỗi khi nghe tiếng động, bà chỉ la í ới lên vài tiếng là bầy khỉ khắc biến mất…

Thời gian trôi đi. Làng tôi như mơ. Làng tôi ngu ngơ trở nên phố thị lao xao nửa quê nửa tỉnh. Làng tôi ngày xưa, giờ đây còn đâu bình yên.

Cây đa giếng nước còn chăng chỉ là trong ký ức.

Thời gian vẫn trôi đi…

Đâu phải Dran xưa bé tí teo

Nếu bạn nghĩ Dran chỉ là một nhúm ba khu phố lèo tèo thêm chín thôn lân cận thì đó là một nhầm lẫn lớn. Dran xưa thuộc vùng đất Hoàng Triều Cương Thổ (Domaine de la Couronne). Người ở nơi khác đến phải có người địa phương bảo lãnh. Còn người ở Dran muốn đi xa phải xin giấy “Laissez-Passer” (giấy thông hành). Dran xưa rộng lắm.

Để xem nên bắt đầu từ đâu. Thôi thế này nhé, mình cứ lấy cái vòng xoay ở ngã ba trước café Lễ Ký làm điểm xuất phát. Nào, cùng đi về hướng tây…

Không biết tại sao, rõ ràng là một con đèo – đèo Dran, thế mà xưa kia nó không được gọi là đèo. Người ta chỉ gọi nó là dốc – dốc Hòn Bồ.

Dốc Hòn Bồ chạy theo hướng nhà thờ, lượn quanh ôm gần trọn một vòng Đồi Cam. Lại phải dừng ở đây một tí để tìm hiểu vì sao gọi là Đồi Cam. Rất đơn giản, vì nguyên quả đồi chỉ trồng toàn là cam. Giống cam rất ngon, phần nhiều dùng để chế biến thành công-phi-tuya (confiture)3 ngay tại trung tâm thị trấn. Đặc biệt ở chân đồi, khoảng từ sau chùa Giác Hoàng đến cua Lan Can có trồng xen kẽ mận. Giống mận vàng, trái có vị chua ngọt, tuy không ngon bằng mận Trại Hầm nhưng cũng đủ sức làm bọn học trò chúng tôi mê mẩn.

Rời Đồi Cam ta đến Cua Đôi (còn gọi là cua Cánh Chỏ), qua Cầu Xéo rồi vượt Cầu Treo là đến Ac-broa-dê (Arbre Broyé) tức Trạm Hành, cái tên nghe kỳ cục.

Nhắc đến Trạm Hành tôi lại nhớ đến nhà thơ Phạm Cao Hoàng (thầy giáo Phạm Công – Phòng Giáo dục Đức Trọng) lúc dạy học tại đây đã có bài thơ Mẹ ơi, con đang ở Trạm Hành trong đó có những câu:

Con đi qua rừng cao quá đỗi…
Con đi về rừng quá đỗi cao…
Núi cao đụng trời con đụng nỗi đìu hiu…

Nhắc đi nhắc lại từ “cao” để biết rằng Trạm Hành nằm ở độ cao xấp xỉ 1.600m, cao hơn cả Dalat. Chính độ cao này cùng với cái rét cắt da quanh năm đã cho các cô gái nơi đây sở hữu một làn da mịn màng hồng thắm như thứ rượu hồng đào chưa uống đã say…

Rời Trạm Hành ta đến Ân-Tray (Entre-Rays) là tên gọi xưa của Cầu Đất. Nói đến Cầu Đất là phải nói đến Sở Trà.

Dân Cầu Đất một số ít buôn bán lẻ, còn hầu hết sống nhờ vào cái Sở Trà này. Trà Cầu Đất không ngon, chẳng mấy ai dùng. Nhưng ít ai biết rằng cái loại trà mà ai cũng chê ỏng chê eo đó đã được đóng bao xuất khẩu để rồi sau khi được “cà, giũa, bôi keo”, nó thay hình đổi dạng rồi ẩn mình trong chiếc hộp thiếc sang trọng mang nhãn hiệu Tê-noa (Thé noir) tức trà đen. Lúc ra đi giá rẻ như bèo, khi trở lại bằng trăm lần giá xuất. Một ly Thé noir mà cho vào hai viên đường Hiệp Hòa, loại đường cát trắng tinh được nén thành viên hình hộp cỡ lóng tay cái, đã trở thành thức uống cao cấp của giới trưởng giả.

Ra khỏi Cầu Đất, qua cầu Xui Giục chạy thêm một quãng nữa là đến Bốt-kê (Bosquet) còn gọi là Trạm Bò. Phía tây tạm dừng tại đây vì đi thêm chút nữa là đến Trại Mát thuộc thành phố Dalat rồi.

Ngược xuống đông thì sao?

Từ ngã ba đi dọc theo đường Lê Lợi, các bạn nhìn thấy những dãy phố cũ nát hai bên, từ Lễ Ký đến Tân Mỹ, từ Tư Lén đến café Tín, nói chung những ngôi nhà xây ấy đều có chung một sở hữu chủ người Pháp là ông A-vi-a (Aviat), kể cả khu xưởng cưa, kho lương thực, nhà thương cũ. Aviat chiếm lĩnh gần hết vùng trung tâm. Riêng chỗ Trung Dung xưa là Ret-tô-rân – Ba Đăng-xinh (Restaurant – Bar dancing) phục vụ cho người Pháp. Chủ nhân của nó là một viên sĩ quan tên Lores. Cả vùng đất đó từ đầu đường Hai Bà Trưng cho đến sau rạp hát là trại gia cầm của ông ta.

Đi đến cuối đường Lê Lợi, bên trái là chợ Lạc Nghiệp. Chợ Lạc Nghiệp không phải là chợ Dran. Chợ Dran xưa rất nhỏ, nằm đối diện với rạp chiếu bóng tức khu đất trước nhà ông Bảy Nóc mà giờ người ta thường gọi là chợ cũ.

Sở dĩ tôi kể về chợ Lạc Nghiệp vì nó có câu chuyện hay hay. Là người Dran chắc bạn từng nghe câu vè: Chùa (của) ông Dậu

Chợ (của) ông Danh
Xã (của) ông Thành
Gỗ xăng (của) ông Phú

Người ta nói vậy có lẽ thuận miệng cho vui thôi vì thấy nhân vật này quá gắn bó với sự việc kia chứ chùa làm sao là của riêng ông Dậu? Xã đâu thể nào là của ông Thành? Gỗ xăng thì chắc chắn của ông Phú rồi vì ông là doanh nhân mà. Riêng chợ ông Danh thì cần xem lại. Tất nhiên chợ không thể nào là của ông Danh nhưng nhờ có ông nên mới có chợ. Ông được coi như là người hiến kế để ông TouProng-Hiou hiến đất xây chợ. Hiến đất xây chợ vừa được danh vừa có lợi tại sao không hiến? Ông Tou-Prong-Hiou hiến diện tích đất vừa đủ xây ngôi chợ nhưng được phân lô bán nền phần đất chung quanh.

Có lẽ nên phác họa đôi nét về nhân vật này. Ông TouProng-Hiou là một địa chủ thực sự. Gần hết cánh đồng khóm III là của ông. Ông cũng là mạnh thường quân có nhiều đóng góp cho Dran. Gia đình Tou Prong cùng với gia đình Hán Đăng ở Diom là hai gia đình người Thượng nhưng sống theo phong cách Âu tây. Nhắc đến nhà Tou Prong chắc chắn là phải nhắc đến các cô gái xinh đẹp Tou Prong Nay

Thương, Tou Prong Nay Sương, Tou Prong Nay Annette… Thôi, mình qua cầu Dran nhé!

Chiếc cầu này được xây xong năm 1922. Cầu hẹp, đó là cầu cũ. Còn cầu hiện nay được công binh xây lại sau trận lụt 1970. Từ đầu cầu xuống đến ngã ba Đường Mới gọi là xóm Đường Dầu chứ chưa có tên là Đường Mới. Phía bên phải là một sân vận động cực lớn. Đây là nơi tổ chức các lễ hội hằng năm như đá bóng, đua ngựa, đua xe đạp, thi điền kinh, v.v… (Trong một cuộc thi chạy cự ly 3.000m có một vận động viên mang áo số 7. Anh ta chạy mới hai phần ba đường thì đuối sức nên xẹt vào trong bụi rậm bên lề nằm thở dốc. Thế là đất Lạc Thiện có một nhân vật mang chết tên Bảy Xẹt).

Chúng ta đi tiếp nhé. Hết quãng Đường Dầu đến ngã ba Đường Mới mình nên rẽ phải để vào thăm thác Hòa Bình. Thác Hòa Bình tuy không hùng vĩ nhưng rất đẹp, đặc biệt khi ta lội ngược dòng để chiêm ngưỡng vẻ đẹp thác chồng lên thác.

Mình nghỉ chân một lúc ở chùa Bà Xám.

Tại sao lại có tên chùa Bà Xám? Bà Xám là một phụ nữ Việt có chồng người Pháp – ông Houiller. Tứ thời bát tiết, mỗi khi ra đường ông luôn mặc bộ complet màu xám. Dân địa phương cứ gọi là ông Xám cho tiện, lâu ngày thành tên. Bà Xám là người mộ đạo, bỏ tiền ra xây dựng ngôi chùa này nên mới gọi là chùa Bà Xám. Chùa còn có tên là Giác Nguyên nhưng chẳng mấy ai dùng tên này. Ngày nay, chùa Giác Nguyên được sửa sang, xây dựng thêm đồ sộ hơn, rực rỡ hơn nhưng đã mất đi cái không gian yên tĩnh, trầm mặc trước kia mà mỗi khi ai có tâm sự gì buồn, cứ lên chùa ngồi trước cổng tam quan lắng nghe tiếng chuông chùa nhẹ rơi, mắt nhìn về dòng Danhim lượn lờ trôi thì bao phiền muộn đều tan biến.

Bạn sinh ở Lâm Tuyền? Thế bạn có biết Bàu Nước ở đâu không? Xin thưa, Bàu Nước chính là Lâm Tuyền đó. Cuối Lâm Tuyền mình xuống dốc La-Se (Lachaise). Tên dốc Lachaise chỉ có từ khi ông Lachaise về cư ngụ ở đây. Trước kia nó được gọi là Dốc Am Bà. Ở đây cây cối um tùm, rậm rạp, đường sá vắng tanh hiếm thấy bóng người, cảnh vật cứ rờn rợn. Bọn chúng tôi mỗi lần đi ngang đây, đứa nào cũng lấy ngón tay cái bấm đầu ngón áp út làm ấn Kiết Tường để… đuổi ma!

Thế là mình đã đến Suối Cát tức Phú Thuận. Xin nhắc rằng, trước năm 1955 không hề có những địa danh như Lâm Tuyền, Phú Thuận… Suối Cát còn gọi là Eo Gió, nếu muốn cho Tây hơn cũng có thể gọi là Ben-lờ-vuy (Bellevue). Bellevue cũng là tên nhà ga xe lửa và cả của con đèo từ Dran xuống Krôngpha. Đèo Bellevue quanh co trên 25km được đổi thành đèo Ngoạn Mục cũng sát nghĩa vô cùng. Thả xuống dốc quãng chừng 9km ta đến Ac-brơ-xec (Arbre Sec) – Cây Khô. Bót gác Cây Khô là chốt chặn cuối cùng, mình phải quay lại vì nếu thò chân sang bên kia là giẫm phải Ninh Thuận rồi.

Về phương nam có gì?

Lên hướng Nhà Thờ đường hẹp và hơi thiếu vệ sinh. Xuống hướng cầu thì nhà cửa san sát nên từ café Lễ Ký đến cầu Lạc Thiện có thể coi là đoạn đường đẹp nhất. Hai bên đường toàn dã quỳ. Đêm đến, quãng đường này là nơi hẹn hò của các đôi bạn, họ sóng vai nhau tỉ tê trò chuyện, đi đến cầu Lạc Thiện thì quay lại. Chỉ thế thôi mà có lúc nó được gọi bằng cái tên thơ mộng “Con đường tình ta đi”.

Bạn có để ý không, phía bên trái khi đến gần cua Lạc Thiện có xóm nhà ga, đó là ga Càn Rang. Không, phải gọi cho đúng là ga Cần Răng. Có lẽ hai chữ Cần Răng đọc nghe thô thô, cưng cứng thế nào ấy nên người ta đọc trại thành Càn Rang.

Lạc Thiện là lãnh địa của Ô-gia-ri (Osari) người Pháp. Hội trường Lạc Thiện bây giờ, xưa vốn là chuồng bò của Osari. Tới cây số 2 tức Cua Đá. Đoạn đường này nhiều cây cối to cao rậm rạp, tán cây che phủ hai bên. Đây là nơi đêm đêm lũ cọp thường ra rình rập. Rủ nhau đi bắn chim mà vào đến đây được xem là “ghê gớm” lắm. Qua Lạc Xuân mình đến La-bui (Labuye). Đây là vùng của người dân tộc nhưng có một hộ người Kinh là ông Xu Nghĩa. Nhắc đến ông Xu Nghĩa không phải vì ông là dưỡng phụ của bà Dương Thị Kiêm (cô giáo Kiêm) mà vì ông đã trồng dâu và chế biến thành loại rượu dâu được nhiều người ưa thích. Rượu ông làm ra không bán ngay mà phải lưu giữ một thời gian lâu mới bán. Vì thế rượu rất ngon. Một ly rượu dâu cho thêm đá vào chắc chắn là một thức uống tuyệt vời.

Vùng Lạc Viên, Lạc Lâm, Lạc Sơn chỉ xuất hiện sau cuộc di cư 1954. Trước đó, vùng này chỉ lau lách, rừng rậm. Thạnh Mỹ ngày nay công sở tòa ngang dãy dọc, đường xá thênh thang, đèn đêm rực sáng, nhưng các bạn có biết M’Lon mới là tên cúng cơm của Thạnh Mỹ? Người ta thường gọi là Lọn cho nó gọn. M’Lon là vùng của người dân tộc thiểu số, lưa thưa vài mươi hộ người Kinh. Dân ở đây muốn mua sắm thứ gì thì phải ra Dran, còn trẻ em nếu có điều kiện đi học phải kiếm nhà quen để ăn ở trọ.

Qua Fimnom rồi đến Liên Khương, còn gọi là Liên Khàng, nếu rẽ phải chạy một mạch thì đến Cội Gia hay La Ba. Xứ La Ba cho ta một giống chuối rất ngon mà mãi cho đến bây giờ nó vẫn giữ được thương hiệu: chuối La Ba. Trong các siêu thị ở Sài Gòn hiện nay chuối La Ba bán cao giá hơn các giống chuối khác.

Còn nếu chạy thẳng ta sẽ đến Gougah (Phú Hội) vì vùng Tùng Nghĩa chỉ xuất hiện sau năm 1954, nơi phần đông người tộc Thái sinh sống. Thác Gougah là một danh thắng nằm trong tour du lịch của Đà Lạt. Rời Phú Hội chạy thêm non chục cây số là Đại Ninh, nơi vừa xây xong một đập thủy điện khá đẹp, nghe đâu trong tương lai đây sẽ là một điểm dừng chân mới cho du khách bốn phương.

Đến đầu cầu Đại Ninh, phương nam dừng tại đây.

Các bạn thấy Dran xưa rộng lớn đấy chứ!

-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Khi tập sách này được in ra thì tác giả đã bước sang tuổi 83. Những bài viết trong tập này được viết rải rác trong khoảng mười năm, chủ yếu đăng tại diễn đàn Danhim.net.
  2. Tức là khoảng trước năm 1950.
  3. Mứt trái cây.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Tháng Giêng tuyết tan – Trích “Niên lịch miền gió cát”

Chia sẻ niềm hân hoan cũng như nỗi trăn trở của một kẻ không thể sống thiếu thiên nhiên.

Published

on

Trích từ: Niên lịch miền gió cát

Tác giả: Aldo Leopold

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 6.2020

Lời tựa

Trong cuộc sống, những gì thuộc về tự nhiên có thể không cần thiết với người này, nhưng lại hoàn toàn thiết yếu cho sự tồn tại của người khác. Những tiểu luận này chia sẻ niềm hân hoan cũng như nỗi trăn trở của một kẻ không thể sống thiếu thiên nhiên.

Như gió và hoàng hôn, chúng ta luôn coi những gì hoang dã là nghiễm nhiên có được trong tay, cho đến ngày công cuộc phát triển dẹp bỏ chúng đi. Giờ đây, chúng ta phải đối diện với câu hỏi rằng liệu một mức sống “ngày càng cao” có đáng để đánh đổi những điều tự do và hoang dã hay không. Với nhóm thiểu số chúng tôi, cơ hội ngắm nhìn một đàn ngỗng còn quan trọng hơn xem ti-vi, và việc tìm thấy một bông hoa đồng nội là một quyền lợi không thể chối cãi như quyền tự do ngôn luận vậy.

Những thứ hoang dã này, tôi công nhận, chứa đựng rất ít giá trị con người cho tới khi máy móc cơ giới đảm bảo cho chúng ta bữa ăn sáng thịnh soạn, và cho tới khi khoa học bóc tách mổ xẻ câu chuyện về nguồn gốc cũng như cách sống của chúng.

Mâu thuẫn giữa hai phe đa số và thiểu số vì thế tóm gọn lại trong câu hỏi về mức độ. Nhóm thiểu số chúng tôi nhận thấy một quy luật: giá trị nhận lại đang ngày càng giảm, còn nhóm đối kháng với chúng tôi thì không.

Chúng ta luôn phải học cách liệu cơm gắp mắm. Những bài viết được gộp thành ba phần này là nỗ lực thực hiện điều đó của tôi.

Phần I kể về những gì gia đình tôi thấy và làm trong những buổi cuối tuần đi trốn khỏi thế giới hiện đại ngột ngạt bủa vây, khi chúng tôi lánh tới “túp lều”. Tại trang trại trên miền gió cát này ở Wisconsin, mới đầu là một nơi xập xệ bị xã hội quên lãng, chúng tôi đã cố gắng gầy dựng lại, với xẻng và cưa, những gì chúng tôi đã đánh mất ở các nơi khác. Chính tại nơi đây chúng tôi tìm kiếm, đến giờ vẫn tìm, nguồn lương thực từ Chúa trời.

Những bài viết này được sắp xếp theo tháng thành một “Niên lịch Miền gió cát”.

Phần II, “Những phác họa đó đây”, hồi tưởng lại những trải nghiệm trong đời đã khiến tôi dần dần nhận ra một cách chua xót rằng xã hội của chúng ta đang ngày càng đi lệch quỹ đạo. Những hành trình trải rộng khắp châu lục qua bốn mươi năm này đại diện cho các vấn đề nằm cùng dưới một cái nhãn mang tên bảo tồn.

Phần III, “Buổi yến tiệc”, bày biện theo trình tự lô-gích một vài ý tưởng mà nhóm thiểu số chúng tôi dùng để minh chứng cho ý kiến bất đồng của mình. Chỉ có những người đọc với sự đồng cảm sâu sắc mới muốn thử thách mình bằng những câu hỏi triết lý ở phần III. Tôi nghĩ rằng những bài viết trong phần này sẽ gợi dẫn cho chúng ta cách để đưa xã hội quay trở về quỹ đạo.

Việc bảo tồn đang không đi đến đâu vì nó không ăn nhập gì với khái niệm của chúng ta về đất đai từ thời ông tổ Abraham. Chúng ta lạm dụng đất đai vì chúng ta coi nó như một thứ của cải thuộc về mình. Chỉ khi nào chúng ta nhìn nhận đất đai như một phần cộng đồng chúng ta thuộc về, khi đó chúng ta mới có thể bắt đầu sử dụng nó một cách yêu thương trân trọng. Sẽ không có cách nào khác để đất đai tiếp tục chịu đựng ảnh hưởng của xã hội cơ giới hóa, hay để chúng ta tiếp tục gặt hái những mùa màng bội thu và giá trị văn hóa từ đất đai.

Việc coi đất đai như một tổ hợp cộng đồng là một khái niệm cơ bản trong sinh thái học, nhưng việc coi đất đai như một thứ để yêu thương trân trọng lại là phần mở rộng của đạo đức. Sự thật rằng đất đai hàm ẩn các giá trị văn hóa là một sự thật lâu đời, nhưng gần đây hầu như đã rơi vào quên lãng.

Các tiểu luận sau đây sẽ cố gắng khơi lại ba suy niệm trên.

Cách hiểu như vậy về đất và người hẳn nhiên phụ thuộc rất nhiều vào lớp lang trải nghiệm và định kiến cá nhân. Nhưng dẫu cho sự thật nằm ở đâu thì ta cũng nhận thấy một điều hiển nhiên, rằng xã hội ngày càng “phồn vinh” của chúng ta giờ đây chẳng khác gì một kẻ mắc bệnh tưởng, ám ảnh về sức khỏe kinh tế của mình đến độ hoàn toàn mất đi khả năng đề kháng. Cả thế giới phát cuồng lên sản xuất bồn tắm hàng loạt đến độ chúng ta mất đi thế cân bằng để sản xuất, hay thậm chí là để tắt vòi nước. Giờ đây, không có điều gì đáng tuyên dương hơn là một chút khinh thường gờn gợn với những núi vật chất ngồn ngộn này.

Có lẽ sự thay đổi trong hệ giá trị đó có thể đạt được nếu chúng ta nhìn nhận lại những gì phi tự nhiên, đã thuần hóa và trói buộc qua lăng kính của những gì tự nhiên, hoang dã và tự do.

*

PHẦN I – NIÊN LỊCH MIỀN GIÓ CÁT

Tháng Giêng tuyết tan

Hàng năm, sau những cơn bão tuyết giữa kỳ đông chí, sẽ có một buổi tối mà khắp đất trời tí tách vang lên tiếng những giọt tuyết tan chảy khi vạn vật chuyển mình rã đông. Thời khắc này không chỉ làm xao động tâm hồn các giống loài đang say ngủ, mà còn đánh động cả những loài đã ngủ vùi trong suốt mùa đông. Con chồn hôi ngủ đông, lúc này đang cuộn tròn sâu bên trong ổ, duỗi mình và bước ra thăm thú sục sạo thế giới ẩm ướt bên ngoài, kéo lê cái bụng trên lớp tuyết. Dấu vết mà nó để lại sẽ đánh dấu một trong những mốc sự kiện sớm nhất trong cái chu kỳ của khởi nguồn và kết thúc mà chúng ta vẫn gọi là một năm.

Vết chân con chồn ít khi thể hiện một mối bận tâm đến những diễn biến đời thường hiếm gặp trong các mùa khác; nó cứ băng băng chạy thẳng qua miền đồng quê, như thể chủ nhân của con đường tự tạo này đã buông dây cương cỗ xe của mình và để cho nó cứ thế bám đuôi một vì tinh tú. Tôi lần theo dấu chân con chồn, lòng không khỏi tò mò muốn luận ra suy tư cũng như tập tính ăn uống của con vật, hay cả đích đến nếu có trong đầu nó.

*

Các tháng trong năm, từ tháng Giêng đến tháng Sáu, là một chuỗi tịnh tiến theo cấp số nhân của vô vàn những điều cám dỗ lòng người. Vào tháng Giêng, ta có thể lần theo vết chân loài chồn hôi, hay tìm kiếm bầy chim bạc má, hay quan sát xem lũ hươu đang nhấm nháp những nhánh thông non nào, hay lùng xem những cái tổ chuột xạ hương mới đắp. Trong những cuộc thăm thú tháng Giêng lãng đãng và dung dị như sương tuyết, dàn trải như cái lạnh cuối đông, chỉ thỉnh thoảng thì tâm trí ta mới xao nhãng và sa đà vào việc khác. Thời gian dư dả cho phép ta không chỉ mục sở thị loài nào đã làm những gì, mà còn ngẫm ngợi về lý do đằng sau của chúng.

*

Một con chuột đồng, giật mình khi nghe tiếng chân tôi bước lại gần, phóng ngang qua vệt đường ướt nước mà con chồn hôi để lại. Tại sao nó lại hiện hữu ngay giữa ban ngày như thế? Có lẽ nó đang lấy làm phiền lòng vì mùa tuyết tan. Hôm nay, mê lộ mà nó đã dày công gặm nhấm tạo lối trong đám cỏ bết chôn vùi dưới tuyết không còn là những đường hầm bí mật nữa, mà chỉ còn là những tuyến đường lộ thiên phơi bày ra cho thiên hạ soi mói chế nhạo. Quả thực, ánh nắng sưởi ấm của mặt trời đã giễu cợt nơi trú thân căn bản trong hệ thống sinh hoạt loài chuột!

Con chuột đồng như một công dân thức thời hiểu rằng cỏ mọc sẽ giúp nó tích trữ những bó rơm làm đường, và tuyết rơi sẽ tạo điều kiện cho nó dùng từng bó rơm đó để xây nên những đường hầm: một trật tự cung – cầu và vận chuyển hết sức chặt chẽ.

Với con chuột, tuyết rơi đồng nghĩa với việc được giải thoát khỏi nhu cầu sinh tồn và nỗi sợ thường trực.

*

Một con diều hâu chân xù đang từ trên trời sà xuống phía cánh đồng trước mặt. Lúc thì nó dừng lại, có lúc lại chao liệng như một con bói cá, rồi bổ nhào xuống đồng cỏ ngập nước như một trái bom phủ lông. Nó không bay lên sau đó nữa, nên tôi dám chắc rằng nó đã bắt được mồi, và giờ thì đang xé thịt một kỹ sư chuột đồng nào đó không đủ kiên nhẫn để đợi trời tối trước khi mò ra xem xét những chỗ sập lở trong cái thế giới ngăn nắp mà mình tạo ra.

Con diều hâu không màng gì đến chuyện tại sao cỏ lại mọc, nhưng nó nhận thức rõ rệt rằng tuyết tan sẽ giúp cho diều hâu có thể tiếp tục bắt chuột. Và nó đã bay xuống đây từ Bắc cực lạnh giá với hy vọng sẽ gặp đúng mùa tuyết tan, vì tuyết tan đối với loài diều hâu đồng nghĩa với việc được giải thoát khỏi nhu cầu sinh tồn và nỗi sợ thường trực.

*

Vết chân con chồn dẫn vào trong khu rừng, cắt ngang một trảng rừng thưa nơi những con thỏ đã kịp để lại vết chân của mình cùng những vệt nước tiểu lấm tấm hồng trên nền tuyết trắng. Những mầm cây sồi mới nhú chào đón mùa tuyết tan bằng những chồi non vừa tẽ vỏ. Các búi lông thỏ rơi vãi đánh dấu những cuộc tranh giành mở màn giữa mấy con đực rạo rực men tình. Đi sâu hơn nữa, tôi tìm thấy một vũng máu nhỏ, viền xung quanh là vòng cung sải cánh của loài cú. Với con đực xấu số này, mùa tuyết tan mang lại sự tự do ham muốn, nhưng đồng thời cũng khiến con vật liều mạng quên đi nỗi sợ bản năng. Và con cú đã nhắc nhở nó rằng mùa xuân về không đồng nghĩa với việc ta được phép lơ là bất cẩn.

*

Con chồn vẫn tiếp tục để lại những vết chân, dường như tâm trí nó lúc này không dành cho việc kiếm tìm thức ăn, mà cũng chẳng màng đến những chuyện hỉ nộ ái ố của các bên hàng xóm. Tôi băn khoăn trong đầu nó đang suy nghĩ điều gì; cái gì đã đưa chân nó ra khỏi ổ? Liệu có phải anh chàng cũng đang kéo lê cái bụng bự trên nền tuyết bùn nhão nhoét để tìm nơi thỏa chí yêu đương? Sau cùng thì vết chân đi vào trong một đám cành củi trôi dạt và không thấy trở ra. Tôi lắng tai nghe tiếng những giọt nước chảy tong tỏng qua những thân củi, và tôi đồ rằng con chồn hẳn cũng nghe thấy. Tôi quay bước về nhà, lòng vẫn miên man tự hỏi.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng