Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Đêm Chile, đêm văn chương giãy chết

Cuộc đời là cả một chuỗi những lầm lạc dẫn dắt người ta đến sự thật cuối cùng, sự thật trầm uất

Published

on

Tôi bắt đầu đến với văn chương Mỹ Latin bằng Márquez. Không riêng gì tôi, thiết nghĩ, phần lớn những người đọc đều bắt đầu hành trình văn chương của họ bằng Trăm năm cô đơn hay Tình yêu thời thổ tả. Từ Márquez, tôi bước một chân vào lãnh địa của Juan Rulfo qua Pedro Páramo, và một lần nữa lại kinh ngạc trước vẻ đẹp kỳ ảo huyền bí của văn chương lục địa này. Từ Juan Rulfo tôi dấn bước sâu hơn đến thế hệ kế thừa và bắt gặp Carlos Fuentes viết Nàng Aura như thước phim thiếu sáng chiếu suốt cái cô độc con người. Cứ mỗi lần tôi đọc một tác gia mới, người ta đều gọi họ như thể khởi đầu của một nền văn chương kỳ lạ, là cây bút xuất sắc nhất của thế hệ mình, của khu vực nói tiếng Tây Ban Nha và hằng hà sa số những mỹ từ khác. Và gần đây nhất, khi trải nghiệm Roberto Bolaño với câu chào mời “thiên tài văn chương Tây Ban Nha”, tôi lại không nghĩ nó sai. Vì chỉ với Đêm Chile rất mỏng và rất ngắn gọn, cũng như Pedro Páramo của Juan Rulfo hay Nàng Aura của Carlos Fuentes, nó đã đưa Roberto Bolaño vào trải nghiệm văn chương của riêng cá nhân tôi, một trải nghiệm thú vị, chuyển động không ngừng, xuyên thời gian và dĩ nhiên, là vô tiền khoáng hậu.

Với Đêm Chile, Roberto Bolaño đã dựng nên một trải nghiệm vô cùng cá nhân về giới văn chương mà ông đang sống. Ông dùng khái niệm dòng suy tưởng để xây dựng năm chương của cuốn sách này. Đó là lời đối thoại của ba hình thái cùng một người, như bức tranh một lần tự họa của Sylvia Plath – một yếu đuối hiện tại, một phán xét về sau và một thuần khiết bắt đầu. Song song cùng cái ngột ngạt của thời đại ấy, ông cũng đồng thời cho thấy tình yêu mãnh liệt của mình trước mảnh đất Chile chật hẹp. Ông than khóc trước chiến tranh, trước cảnh đảo chính hay bị giằng xé bởi những thế lực thù địch. Tình yêu văn chương, tình yêu đất nước của thời kỳ đầy biến động ấy có lẽ thúc bách ông viết về một đất nước đã chết mục ruỗng từ căn bệnh tiêu tâm. Từ đó một Roberto Bolaño lạ lẫm hiện ra, yếu thế, mong manh và đầy vẻ chán chường.

Chân dung ba mặt (1950 – 1951), chân dung tự họa Sylvia Plath

Tiểu thuyết mở đầu bằng cơn sốt cuối đời của nhân vật Sebastián Urrutia Lacroix – Cha xứ, nhà văn, nhà thơ mà ta dễ thấy sau này là hình bóng phản chiếu chính ông. Chính trong cơn thập tử nhất sinh ấy, Cha có dịp đối thoại cùng cái tôi phán xét của mình – một gã mà Cha gọi là già trước tuổi – luôn có mặt thập thò trong suốt câu chuyện. Như một đường thẳng nối dài, từng câu chuyện đã từng trải qua trong cuộc đời Cha dần dần hiện lại trong từng lát cắt ký ức. Từ chuyện cải đạo trở thành Cha xứ trong sự phản đối của cha mình và cái bất lực người mẹ; cho đến những cuộc gặp gỡ văn chương đầu tiên ở trang trại của Farewell. Từ ôm mộng vung tay trở thành ngôi sao sáng trong bầu trời văn chương Chile cho đến phản tỉnh nhìn ra cái mục ruỗng của đất nước này.  Tất cả trở đi trở về chỉ trong một đêm của cái sốt leo thang, từ đó câu chuyện chậm rãi và từ từ trôi. Cũng từ trong đó, Roberto Bolaño dần dần bóc tách lớp lang của tâm hồn mình ra trước người đọc, mở toang, phơi bày và đi vào tiểu phẫu chúng.

Khuôn mặt ba phía

“Đó là lời đối thoại của ba hình thái cùng một người – một yếu đuối hiện tại, một phán xét về sau và một thuần khiết bắt đầu.”

Lớp da đầu tiên xuyên suốt tiểu thuyết là Cha Sebastián. Ở đây dễ thấy Roberto Bolaño xây dựng hình tượng Cha như chính vẻ bề ngoài của ông nói riêng và của giới văn nhân nói chung. Ở Cha ta thấy một sự mong manh, mềm yếu, sự thiên về cảm tính hơn lý trí cá nhân. Chẳng hạn như những lần nhớ về quá khứ, từ lời mời gọi của Chúa, lối cư xử khách khí của người mẹ hay nhớ về cách sắp đặt những đồ vật ở nhà; đó dường như là cái yếu thế nhạy cảm mà những văn nhân vẫn luôn gặp phải. Hay ở một chi tiết khác, khi cô độc giữa chốn mông quạnh trên đường đến điền trang nhà Farewell, khi không thấy xe ngựa đến đón và thay vì đứng lên làm vài thứ mà người thường vẫn làm, Cha chỉ biết ngồi đó cầu kinh từ Đức mẹ Maria Đồng Trinh, Đức bà Lourdes Đồng trinh, Nữ thần Thống khổ Đồng trinh cho đến Nữ thần Sáng suốt Đồng trinh; cầu mong điều gì đó sẽ đến.

Đến khi đã ở trang trại nhà Farewell, bản tính văn nhân lại một lần nữa trồi lên và cái giả hình cá nhân lần đầu tiên xuất hiện. Ở đó Cha xứ vốn là một nhà phê bình, một nhà thơ; được gặp Pablo Neruda lần đầu tiên, và không gì khác chiếm lấy Cha bằng lòng ngưỡng mộ vị văn sĩ ấy. Cũng ở đó, khi gặp những người nông dân làm việc cho Farewell ở điền trang, vì một lý do nào đó, Cha lại cảm thấy xa cách. Có thể vì địa vị, tầng lớp, màu da; thay vì văn chương vốn không khoảng cách, Cha lại chạy trốn họ, không những chỉ với tư cách cá nhân, mà còn là một Cha xứ phụng sự Chúa trời. Từ đó ta thấy, lớp vỏ văn nhân mà cha hay Farewell khoác lên người không gì khác lớp áo tàng hình. Họ trang hoàng chúng bằng những cuộc gặp gỡ, bằng hội hè liên miên, bằng những ảo danh đầu lưỡi; nhưng thật chất bên trong, họ trống rỗng, tiêu tán phân ly từ muôn nghìn kiếp trước.

Lớp da thứ hai, sâu hơn và thâm căn hơn, là một nhân vật không hề có thực, có lẽ chỉ xuất hiện trong đầu óc Cha Sebastián như cách phán xét những chuyện đã qua. Nhân vật ấy không có tên, chỉ thường trực xuất hiện vào những nực cười câu chuyện, và được gọi với cái tên – lão già trước tuổi. Ở đây, Roberto Bolaño cho ta một gợi ý về nhân vật này, khi ông viết lão già ấy chỉ mới năm, sáu tuổi vào thập niên 50, và cũng trùng hợp thay, chuếnh choáng vào đúng thời khắc ông sinh ra. Lão già trước tuổi ở đây đại diện cho con người thật của ông, cho cách ông nhìn vào lớp giả hình của văn chương ấy. Lão già trước tuổi mờ mờ ảo ảo như chính cái bóng của Sordello, nó ngự trị và hàm ẩn trong mọi câu thoại lời nói, như phe hiếu chiến trong cuộc tranh giành giữa Cha và cái tôi thức tỉnh của mình. Và lớp da cuối cùng, non hơn, tươi mới hơn và cũng đầy hy vọng hơn – là cậu bé sinh ra trong ngôi nhà đầy rẫy tiệc tùng những thây ma sống của cha mẹ cậu. Cậu bé không vì một dụng ý gì lại trùng cái tên Sebastián như Cha, và cũng đôi lần Cha nhìn thấy chính mối liên kết giữa mình và cậu. Cậu bé chỉ vừa mới tròn bảy, tám tháng ấy như cái thuần khiết chưa bị ô nhục che lấy. Cậu ngủ trong vòng vây những ảo danh xung quanh mình, cậu bị niêm phong chặt chẽ trong thân xác mình. Và cũng vì thế, cậu là đại diện chính nơi văn chương vẫn còn giữ vững những giá trị thuần khiết nhất định.

Khánh kiệt văn chương

Trong chính ba mặt của một nhân vật, từ đó nỗi thống khổ văn chương như được thành hình. Từ những truyện lồng trong truyện, ta thấy hiện lên Chile của nơi văn chương không thể bén rễ, rằng “Trên đất nước của những ông điền chủ này, văn học là một thứ hiếm và biết đọc là việc chẳng bõ công”. Ở đó, những nhà văn nhà thơ thay vì là những nhạy cảm động chạm trước thời cuộc, họ lại chìm ngập trong nỗi sầu uất một thời đã quá ủ ê, mà điển hình chính nhất là anh họa sĩ người Gutemala. Vì những cuộc chiến bùng phát bên ngoài, anh bị mắc kẹt ở Paris trong khi tâm tưởng hướng về nơi khác. Anh mắc chứng bệnh mà như Roberto Bolaño gọi, là chứng sầu uất. Chính căn bệnh ấy ăn héo mòn dần những người văn sĩ, họ chỉ có thể ngồi trơ ra đó ngắm nhìn Paris từ bệ cửa sổ; họ cũng vì thế đi dạy học thuyết Karl Marx cho Pinochet, họ phải vung tay cho lời thóa mạ không hề hợp lẽ. Nội tình đất nước biến họ đâm ra an nhàn, họ mất động lực sáng tác, động lực trở mình và hơn hết chính là niềm tin dựa vào văn chương. Thế nên mới có một câu của Farewell mang đầy gợi ý trong đám tang Neruda, bọn trẻ con này chúng nó là ai, và còn mấy ai đọc lại những cuốn sách kia, những trước tác cũ của các nhà văn lỗi lạc nay đã mục ruỗng? Cái thứ mật đen mà giờ đây chính nó đang bào mòn thân xác tôi, nó đang làm cho tôi trở nên ẽo ợt và nó đang làm tôi trào nước mắt. Văn chương của nước Chile, mà không, của cả thế giới, đang chết dần mòn trong cơn nóng rẫy.

Ngoài chính ba mặt của một con người, nhân vật Farewell liệu phải gã già trước tuổi mà Cha nhắc tới? Farewell là đường trục chính, đưa Cha vào giới tinh hoa; đồng thời là người lắng nghe và phán xét Cha. Một lần Farewell kể về câu chuyện xây đồi Hellenberg và những nỗ lực không được đền đáp; lần sau ông ngắm cái bóng di chuyển trên tường khi nghe câu chuyện về tướng Pinochet. Farewell vẫn luôn ở đó, lắng nghe, phân tích và xoáy sâu vào Cha. Farewell là nơi tụ hội, Farewell là điểm phân kỳ. Và chính câu hỏi tu từ không hề giải đáp Chùm bóng đen của Sordello, Sordello, mà Sordello nào? lại đến trong đêm quán ăn trước cơn đói khổ.

Quê hương bé nhỏ

“Ông than khóc trước chiến tranh, trước cảnh đảo chính hay bị giằng xé bởi những thế lực thù địch. Tình yêu văn chương, tình yêu đất nước của thời kỳ đầy biến động có lẽ thúc bách ông viết về một đất nước đã chết mục ruỗng từ căn bệnh tiêu tâm.”

Cũng từ trong đây, Roberto Bolaño hướng về Chile trong một tình cảm vô cùng khắc khoải. Ông nhắc đến Chile không những chỉ bằng câu hỏi tu từ Nền văn học đã được tạo ra như thế đó, mà còn bởi chính những vùng vẫy của đất nước này lên trên bề nổi chính trị. Từ trong chi tiết chuyến công du châu Âu nghiên cứu quá trình bảo trì nhà thờ, khi quan sát con những con chim ưng giết đi những chú bồ câu ị quá nhiều, Cha Sebastián có một liên tưởng đến đất nước mình. Tôi mơ thấy một bầy chim ưng, có đến hàng nghìn con, đang bay trên cao không của Đại Tây Dương, hướng về châu Mỹ. Đôi lần mặt trời bị thâm đen trong giấc mơ của tôi.

Ở đó Chile của ông đang bị phanh thây bởi đàn đàn những con chim sắt. Hay ở một mặt khác, trong quán cà phê khi ông kể lại cho Farewell nghe câu chuyện với Pinochet, liệu cú khóc sau cùng là khóc vì một văn nhân đã phải từ mình đi dạy lý luận Mác xít; hay liệu đó là cú sốc cho người phục vụ chính tên độc tài của đất nước mình? Không hề biết được. Chỉ biết trong chính những đoạn đối thoại với tên độc tài ấy, Cha đã không chỉ một lần nhún nhường vì bản thân mình. Vị trí luồn cúi, bản chất bấp bênh; có lẽ đó là tiếng khóc bật ra sau cùng, tiếc cho Chile tươi đẹp của nền văn chết, tiếc cho cả một đất nước tự do.

Kết

Với Đêm Chile, Roberto Bolaño đã dùng ngòi bút khắc họa nên hai vấn đề văn chương – quê hương trong tiểu thuyết này. Đêm Chile là cuốn tiểu thuyết ngắn, thế nhưng sức mạnh chứa đựng trong đó lại vô cùng lớn –  sức mạnh của nỗi tuyệt vọng, của những thở than, của những mất mát. Chile cuối cùng đã chết dần mòn vì nền văn chương thiếu sót, đất nước Chile sau cơn giãy đạch cuối cùng cũng dần chìm sâu. Và cũng chính như Cha Sebastián, mọi thứ đã dần dần chết.

Rằng với Chile:“Toàn cõi Chile đã biến thành cây muồng hoa đào, cây Judas, một cái cây trụi lá, bề ngoài có vẻ như đã chết nhưng vẫn còn bám rễ rất chắc trong nền đất đen, nền đất đen phì nhiêu của chúng ta mà con sâu cũng dài đến 40 centimet”.

Và với văn chương:“Cậu nhìn nhưng không thấy, hai môi cậu bị niêm phong, hai mắt cậu bị niêm phong, toàn thân hình bé nhỏ cua cậu cũng bị niêm phong. Dường như cậu không muốn xem, không muốn nghe, và cũng không muốn nói gì trước đám văn nhân vui vẻ vô tư giữa buổi tiệc hàng tuần do mẹ cậu triệu tập đến”.

Một tiểu thuyết hay. Vô tiền khoáng hậu.

Hết.

minh.


Tìm hiểu thêm về văn chương Mỹ Latin


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Nàng Tóc Đỏ: Thế giằng co giữa muôn vạn hướng

Published

on

Xứ này chúng ta ai cũng có nhiều cha. Tổ quốc, Allah, quân đội, Mafia… Ở đây đừng ai không có cha.

Phải thú thật rằng, đây là lần đầu tiên tôi đọc văn chương của Orhan Pamuk. Với những độc giả mê văn chương nói chung và những người mộ điệu ông nói riêng, Orhan Pamuk dường như là một trong những nhà văn đoạt giải Nobel – vốn vẫn mặc định là giải thưởng khó đọc – được in nhiều nhất ở Việt Nam, một thị trường đọc non trẻ và rất khó đoán. Nếu Tuyết, Pháo đài trắng, Istanbul hay Những màu khác đến nay đã trở thành những bảo vật hiếm, những cuốn sách được nâng giá gấp nhiều lần và may thay cho những ai sở hữu nó; thì Tôi tên là Đỏ hay Bảo tàng ngây thơ với việc liên tục được tái bản từ năm này sang năm khác đã như dấu chỉ cho thành công của riêng tác giả, tác phẩm, dù cho bản dịch không từ nguyên tác. Và với phông nền những điều như thế, tôi đọc Nàng Tóc Đỏ với tâm thế mong chờ một chuyến hành trình dẫn mình vào chốn u huyền nào đó, chốn tôi nương thân cùng với người đọc, với cộng-đồng-người đã yêu mến ông, khiến sách của ông trở nên quý hiếm và khiến ông trở thành một hiện tượng mà mỗi khi nghe đến tên sách sắp được xuất bản người ta lại háo hức chờ đón.

Nhưng điều gì đã đến với tôi trong cuốn tiểu thuyết thứ 10 này của ông? Mặc cho cả hai đều có yếu tố màu sắc giống nhau – cùng một màu đỏ, nhưng Tên tôi là Đỏ dày cộm như những cuốn của Umberto trong khi Nàng Tóc Đỏ có một thời lượng vô cùng khiêm tốn. Cùng với đó, điều tôi nhận ra sau khi gấp lại cuốn sách ở lần đọc thứ hai không hơn gì một dòng sông êm ả, phẳng lặng về sự giao tranh, về thói giằng co giữa cũ và mới, giữa trẻ và già, giữa Đông và Tây, giữa những hiện đại và truyền thống trong một giọng kể nhẹ nhàng, chậm rãi nhưng điêu luyện. Có người nói, mục đích chính của Orhan Pamuk khi viết Nàng Tóc Đỏ là để nói về trò chơi định mệnh; nhưng với riêng tôi, câu chuyện định mệnh ấy chỉ như vỏ ngoài của loài cua ẩn sĩ – ốc mượn hồn, để Orhan Pamuk viết về cái tâm bản thể là những ngột ngạt, đè nén; những ảo ảnh xếp chồng, những đổ vỡ của Thổ Nhĩ Kỳ, của Istanbul, của người con đế quốc Ottoman lừng lẫy một thời nay bị giằng co giữa những giá trị giữa cũ và mới. Và còn đó là những giao thoa khuếch đại, những sụp đổ cộng hưởng trong nền móng bật gốc từ lâu vốn được lưu truyền từ những điển tích. Và tôi nhìn nhận Nàng Tóc Đỏ như một phiên bản hồi ký dưới dạng văn chương tiếp nối của Istanbul, một bản hùng ca của những giằng co, đè nén thời đại.

*

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Nàng Tóc Đỏ.

Sơ qua một chút về cuốn sách này. Nàng Tóc Đỏ kể về câu chuyện của Cem – cậu con trai với gia cảnh đổ nát: có người cha bỏ nhà theo cánh tả Cách mạng và người mẹ bạc nhược nương theo số phận. Cậu nuôi mộng trở thành nhà văn trong sự ngấm ngầm phản đối của mẹ, và vì sự bỏ đi của cha, cậu theo mẹ về lại vùng quê khi cuộc sống trở nên khó khăn. Vì cần tiền để học luyện thi, cậu lên giúp việc tại hiệu sách Deniz và sau này theo thầy Mahmut để học đào giếng. Trong thời gian nở rộ của những vụ đào đất xây giếng trước thời cơ giới hóa, thầy Mahmut và cậu đến Öngören để đào cho một xí nghiệp dệt, và cũng từ đây câu chuyện mở ra theo một hướng khác.

Với việc bỏ đi của cha và sự tận tình dẫn dắt của thầy Mahmut, Cem từ đây cảm thấy một sự phân tách giữa vai trò của thầy và cha trong cậu ở thời gian này. Cùng lúc đó, vào những tối xuống thị trấn, cậu bắt gặp Nàng Tóc Đỏ trong lều diễn của Nàng, với nét đẹp của đôi mắt u huyền, bí ẩn và đôi môi vành vạnh làm cậu mê mẫn. Cậu sống những ngày mơ tưởng về Nàng và cho đến một hôm được ngủ với Nàng trong sự bức rức bởi tự nhận thức về sự lừa dối của mình. Trong khi ấy, thời gian đào giếng đã vượt quá những ngày dự tính, chủ đất đã ngừng trả tiền cho công việc; nhưng thầy Mahmut với quyết tâm sắt đã vẫn tiếp tục đào và đòi hỏi niềm tin nơi người con, người học trò như cậu. Một ngày khi đã quá mệt, cậu sơ ý làm đổ xô đất ra khỏi guồng quay, rớt xuống giếng và không còn gì hơn ngoài sự im lặng vang lên dưới đó.

Những tưởng đã hại chết thầy, cậu nhanh chóng đóng gói vali và trở về nhà, nuôi trong mình nỗi hoài nghi vì có hay không cái chết của thầy. Thời gian trôi đi, cậu lớn lên và bởi những bởi ám ảnh tội lỗi bị nhốt kín trong thân xác, thay vì trở thành nhà văn như đã dự tính, cậu bẻ ngoặc và trở thành kĩ sư địa chất, lấy vợ và lãnh đạo tập đoàn riêng lớn mạnh. Khi Thổ Nhĩ Kỳ bắt gặp làn sóng đầu tư và đô thị hóa ngày càng khuếch trương tới tận cốt lõi; công ty của Cem bắt gặp mảnh đất ở Öngören và cũng chính bởi dấu mốc này, cậu trở về nơi hơn 30 năm trước đã từng đào giếng. Cùng với câu chuyện tái ngộ nơi mảnh đất ấy với những con người đã từng một thời chứng kiến giai đoạn lớn lên của cậu; một bi kịch khác đã dần thành hình, biến dạng và cuối cùng kết thúc như đúng giai thoại từ Đông sang Tây từ từ trở nên bất diệt.

*

Về những giằng co, có thể thấy ở đây Orhan Pamuk mở rộng biên độ của tình trạng này, từ nội hàm tâm tính của riêng mỗi người đến những biến động vĩ mô, địa lý của vùng Istanbul quê ông. Đầu tiên dễ kể là tình trạng phân tâm trong trí óc Cem về vai trò của cha và thầy Mahmut. Một bên là người cưới mẹ ông, một kẻ cánh tả bỏ đi chạy theo chính trị; một bên là người kể chuyện cổ tích hằng đêm, một người quan tâm lúc tắm, một người hỏi han động viên… Tất cả nhập nhoạng ào vào trong cậu như những lớp sóng, để những khi thầy mắng, cậu lại nhớ đến cha; và ngược lại, khi cảm thấy sự quan tâm từ thầy, cậu lại thấy giận cha, và có cảm giác nó khô lại trở thành vết sẹo ở mãi. “Thầy Mahmut để tâm đến cuộc sống của tôi hơn ba nhiều: ông kể tôi nghe những câu chuyện và dạy tôi nhiều bài học, ông không bao giờ quên hỏi tôi có ổn không, tôi có đói không, có mệt không. Có phải vì vậy tôi rất giận khi bị ông mắng? Vì nếu ba mà làm vậy, tôi lại hiểu ý ông, thấy hối lỗi, rồi quên hết. Nhưng không hiểu sao, việc thầy Mahmut trách mắng dường như để lại một vết sẹo, và tôi sẽ ôm lòng giận ông dù vẫn nghe theo lời ông chỉ dẫn.

Ngoài ra chính tình trạng thiếu vắng tình cảm ấy đã khiến nội tâm Cem xáo trộn và từ trong đó, một thân thể lộn xộn của cậu hiện lên, và đó là lời lý giải rõ ràng cho việc vì sao cậu lại mê đắm Nàng Tóc Đỏ. Giữa một bên là người mẹ bạc nhược, người luôn muốn giữ cậu cho riêng mình và phục tùng những ý nghĩa truyền thống; và một bên là Nàng Tóc Đỏ, người phụ nữ hớp hồn cậu, người phóng khoáng đi theo những gánh hát dân gian rày đây mai đó, không được lựa chọn muốn phục vụ ai, hàng đêm sáng đèn dưới lời thóa mạ của bọn lính canh đòi Nàng thoát y. Nàng Tóc Đỏ là hiện thân của tự do, của cơn cuồng dại tuổi trẻ, của mặc sức giải thể bản thân; Nàng ở độ tuổi không già không trẻ, vừa là người mẹ, người chị, người tình – Nàng là tổng hợp giữa cách tân hiện đại và kịch truyền thống. Nàng làm cậu say mê, làm cậu ghen tị khi thầy Mahmut băng núi để xem vở kịch, và làm cậu đau đớn vì cha cậu đã ngủ với Nàng. Cũng rất có thể, Nàng là thế lực kì bí nào đó khiến cậu đánh rơi chiếc xô, như cuốn sách này một lần kể lại.

Orhan Pamuk một cách sâu sắc đã họa nên những đối lập trong tâm hồn Cem của những ngày này. Vào hôm sau khi đã ngủ với Nàng, tình trạng cật vấn bản thân đã dần xuất hiện, cậu vừa buông thả vừa kìm chặt, rằng “Trong cơn say, tôi lục óc tìm đủ cách để miễn tội và chứng tỏ với mình rằng tôi không phải kẻ phản bội xấu xa, hai mặt. Dù gì Turgay nào phải bạn lâu năm – mình gặp anh ta chỉ ba bốn lần, tôi lý luận. Hơn nữa, người thuộc những gánh hát rong không quê quán nhảy nhót rất khêu gợi và kể chuyện tục tĩu để mua vui cho lính tráng không hẳn cổ xúy những giá trị gia đình lành mạnh. Biết đâu được, có khi chính Turgay cũng không chung thủy với vợ mà theo những người đàn bà khác.” Xuất phát từ buổi tối hôm ấy, những ngã hai ngã ba của đường lựa chọn luôn ám ảnh cậu: giữa việc thành nhà văn hay kĩ sư địa chất, giữa việc liệu thầy Mahmut còn sống hay đã chết, giữa việc chọn đến thăm Cha hay không, giữa việc vì sao mãi không có con… Cem đến cuối rồi thì, thứ tạo nên cậu không phải là xương là máu, mà là ngổn ngang vỡ nát, là phân chia đường hướng mãi không dừng lại.

Và những giao lộ định mệnh ấy như được hợp nhất từ truyện dân gian, về những kết cục báo trước; giữa điển tích phương Tây – Hi Lạp – về Oedipus vô tình giết cha và ngủ với mẹ; và phương Đông – Ba Tư – khi Rustam ra tay giết chết Sohrab – con trai mình mà không hề biết. Lại một lần nữa ở hai phía ngược nhau như bị phân tách bởi hai châu lục, Istanbul hợp nhất trong câu chuyện đầy bi kịch gia đình, về người cha giết con hay con trai giết cha, chẳng ai biết được. Dấu chỉ đầu tiên vào đêm cậu ngủ với Nàng – 20 năm trước chính là nhân tình của Cha – ngang vai mẹ cậu; dấu chỉ thứ hai là khi chiếc xô rơi xuống nghiền nát Thầy Mahmut – người trong những nhập nhoạng cậu xem là Cha. Nhưng không, cả hai dấu chỉ ấy chỉ như những linh tính ngầm, bởi Nàng không phải mẹ thật và thầy không phải cha thật. Cái kết hợp nhất chỉ đến 30 năm sau, khi cậu bị giết bởi chính con trai mình – mầm mống vào đêm cậu ngủ với Nàng. Đấy, rõ ràng, một Istanbul ảo ảo thật thật, một bi kịch mờ mờ pha lẫn bởi những bi kịch khác. Orhan Pamuk một cách khéo léo dựng lên một bi kịch mới, bi kịch nơi đất nước nằm ngáng giữa những ngã đường, giữa những lựa chọn. Người đọc bị lôi từ Oedipus như lời ứng nghiệm giết thầy để rồi nhận ra, bi kịch Rustam mới là sau cuối.

Và cũng từ trong những lớp bi kịch ấy, một Istanbul bị xâu xé thành những phân mảnh hiện lên như cơn sóng ngầm vận động trong toàn tiểu thuyết. Nếu 30 năm trước khi Cem đến đào giếng, Öngören đã oằn mình ngăn Đức chiếm ngã Balkan còn Nga qua ngã Bulgaria thì 30 năm sau, nó đã là loài sâu thay vỏ, để thời mà người dân còn tin vào những trò mê tín và cư xử cung kính với người đào giếng nhường cho thời luyện kim máy móc hiện đại. Istanbul đứng đó giữa những ranh giới va chạm địa tầng, giữa bi kịch Đông – Tây, giữa hiện đại – cổ điển, giữa muôn ngã giằng co.

Và cái kết sau cuối, cái chết khi Cem bị giết chứ không giết con trai của mình, mặc dù khẩu súng được ông phòng bị, như có người nói, đại diện cho việc phương Tây vẫn luôn bao hàm chiếm hữu Istanbul. Nhưng ở mặc khác, nó còn đại diện cho những thế hệ tiếp nối, đại diện cho những mơ ước dang dở một thời – trở thành nhà văn, nhà thơ, làm chủ công ty… tất cả rồi đây lại được Enver – con trai của anh và Nàng – tiếp nối. Không nằm ngoài những mạch vận động ngoài luồng, Istanbul dù bị xâu xé những vẫn vận động, tiến lên, dịch chuyển; chỉ là khác đi những giá trị cũ.

*

Khép lại cuốn sách, trải nghiệm đầu tiên với văn chương của Orhan Pamuk mang đến cho tôi một sự hài lòng. Đầu tiên là cách viết nhẹ nhàng, bình thản; nó êm đềm chảy suốt như một lòng sông. Không lên gân, kiểu cách; bằng cách thấu hiểu tâm lý nhân vật và việc sử dụng giai thoại một cách khéo léo; ông đã dựng nên trò chơi số phận kịch tích lồng trong một Istanbul vẫn mãi nằm giữa những luồng xung động. Không hùng tráng cũng không tầm thường; vừa phải, nhã nhặn và truyền đi đúng thông điệp mà tác giả muốn, Nàng Tóc Đỏ là một ghi chép thật sự về sự mất kết nối, về Istanbul hay Thổ Nhĩ Kỳ giao thoa giữa muôn vàn lãnh địa.

Hết.


Đọc tất cả bài viết của bí.


Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Những bí mật về Lehman Brothers: Từ Bavaria tới Alabama, từ đỉnh cao tới vực thẳm

Published

on

Đã có thời những người đam mê nghệ thuật trình diễn tại Mỹ luôn cập nhật thông tin về những vở diễn mới, ngay cả khi họ không sống ở New York hay không đủ khả năng chi trả cho những tấm vé đắt đỏ. Thay vào đó, họ “xem” chúng thông qua những kịch bản được xuất bản thành sách1. Kịch bản vở “Cái chết của người bán hàng” của tác giả Arthur Miller2, xuất bản bởi Viking Press, được lựa chọn vào câu lạc bộ những cuốn sách của tháng; hay kịch bản “Ai sợ Virginia Woolf?” của Edward Albee3 cũng kiếm bộn tiền về cho Atheneum với cả hai bản bìa cứng và bìa mềm.

Khi các nhà hát lớn đóng cửa vào tháng Ba, những buổi công chiếu của những vở kịch tiềm năng bị hoãn vô thời hạn. Một số sẽ không bao giờ xuất hiện trở lại, hoặc sẽ không bao giờ trở lại với diện mạo quen thuộc với khán giả. Một trong số đó là vở diễn “Bộ ba Lehman” của nhà viết kịch người Ý Stefano Massini, một thiên sử thi hoành tráng về hành trình đầy thăng trầm của tập đoàn Lehman Brothers.

Massini bắt đầu viết kịch bản cho “Bộ ba tác phẩm về Lehman” (The Lehman Trilogy) vào năm 2008, ngay sau khi công ty phá sản một cách nhanh chóng như tro tàn của điếu xì gà, giữa sự sụp đổ của thị trường tín dụng thế chấp với đầy những khoản nợ xấu. Lần đầu tôi được chứng kiến những tấm ảnh chụp vở diễn tại New York, một người đàn ông trong bộ vest tối màu đang chỉ trỏ trong khối văn phòng lấp lánh, tôi cho rằng vở kịch nói về sự sụp đổ kiểu “căn phòng lò hơi”4.

Đó không phải là tất cả. Vở kịch của Massini đã đi qua quá trình 160 năm lịch sử của tập đoàn, từ khi Hayum (hay chính là Henry) Lehman chuyển từ Baravia tới Alabama và gia nhập ngành kinh doanh sợi cotton. Vở kịch phiên bản Ý kéo dài tới 5 tiếng đồng hồ. Sam Mendes, đạo diễn cho vở kịch công chiếu tại London và New York, đã thu gọn lại còn 3 tiếng rưỡi.

Simon Russell Beale, Ben Miles và Adam Godley trong vở kịch “Bộ ba tác phẩm về Lehman”, về những thăng trầm của Lehman Brothers diễn tại sân khấu Park Avenue Armory ngày 27.03.2019. Ảnh được thực hiện bởi Stephanie Berger.

Bản nguyên gốc của Massini, một tiểu thuyết thơ, đã được xuất bản sang tiếng Anh lần đầu và được dịch bởi Richard Dixon5. Đó là một tác phẩm phi thường, một thứ ngôn ngữ trải dài 700 trang giấy hoàn toàn không có văn nói. Nhưng đây là sự thực, Massini hiện hữu – cái điều mà có thể cảm nhận thấy ngay từ những dòng đầu tiên của tác phẩm. Vở kịch của ông ấy diễn ra thật mạch lạc, uyển chuyển và dồn dập.

Đồng thời, như một tín hiệu, vở kịch của ông ấy xoay quanh những câu hỏi lớn: Bản chất của ba anh em nhà Lehman và hậu duệ của họ là những người hùng hay những kẻ phản diện? Có phải họ đã dẫn dụ linh hồn và thể xác người Mỹ bằng những thực nghiệm, hay họ chỉ đơn giản là những con tu hú đang đẻ trứng vào tổ của loài chim khác? Đây là một câu hỏi rất khó trả lời.

Những lời phê bình có vẻ ít phức tạp hơn. Một trong những lời phê bình chính xác nhất, được đưa ra bởi Sarah Churchwell trong bài viết trên chuyên trang New York Review of Books, bày tỏ quan điểm rằng tác phẩm của Massini vẫn che đậy việc nhà Lehman có dính dáng tới đường dây buôn bán nô lệ tại bang Alabama. Những vở diễn trong tương lai sẽ tập trung và phơi bày rõ ràng hơn vấn đề này.

Henry di cư tới New York. Khi tới nơi, ông ta

ngửi thấy sự thối rữa của thành phố New York,
bao quanh mình:
một hỗn hợp buồn nôn của thức ăn gia súc, khói bụi và mọi loài nấm mốc,
thật sự, thậm chí lỗ mũi của ông ta chẳng còn cảm nhận gì nữa,
thành phố New York mà ông hằng ao ước
trông có vẻ tồi tệ hơn cái chuồng gia súc của cha,
ở miền xa nước Đức, ở Rimpar, Bavaria.

Henry Lehman di chuyển về phía Nam, tới bang Alabama, vì một ngày mai tươi sáng hơn. Bertolt Brecht, một người Bavaria khác, chưa từng tới Alabama khi viết “Bài hát Alabama” (hay còn gọi là “Mặt trăng của Alabama”) vào những năm 19206. Người ta tự hỏi Henry mong đợi điều gì ở đó. Ông ấy tới, giống như hai người em ngay sau đó. Họ luôn tất bật, để đảm bảo nguyên vật liệu của họ là tuyệt vời nhất với mức giá hấp dẫn nhất.

Họ hoàn hảo, nếu không muốn nói, họ là hình mẫu trung gian lý tưởng trong quan niệm của người Mỹ. Họ trở thành nhà môi giới, mua sợi cotton và bán lại chúng ở đâu đó. Công việc kinh doanh của họ mở rộng sang lĩnh vực cà phê, dầu mỏ và than đá, với cả điện lực, đường sắt, sản xuất máy bay, truyện tranh, điện ảnh Hollywood và lắp ráp máy tính. Họ tham gia vào lĩnh vực ngân hàng, và thế là câu hỏi rốt cuộc họ đang làm gì ngày càng trở nên trừu tượng.

Người ta sẽ nhanh chóng đọc tới đoạn này:

Đầu tiên: khi chúng ta đang kinh doanh
mọi người đưa chúng ta tiền
và chúng ta đưa họ một cái gì đó đổi lại
Bây giờ chúng ta đã trở thành một ngân hàng
mọi người vẫn đưa chúng ta tiền
nhưng chúng ta không đưa trả lại gì nữa
Ít nhất là trong lúc này. Rồi chúng ta sẽ xem xét sau.

Tới cuối cuốn sách, việc tráo đổi nợ nần và những tính toán phức tạp khiến cho mọi người phải tự hỏi, “Ít nhất, bạn đã từng tự hỏi rằng một cái trại chăn nuôi7 như thế liệu có hợp pháp?”

“Bộ ba Lehman” trở nên sống động trên từng trang giấy nhờ có những khoảnh khắc đầy tính người: sự tán tỉnh giữa những cặp vợ chồng; vụ bê bối và lừa đảo; những nỗ lực bất chấp để leo lên tầng lớp cao hơn.

Đoạn hay nhất của vở kịch là khi nhà Lehman muốn có một xếp hạng cao hơn trong ngôi đền Manhattan8, cạnh tranh với những tập đoàn gia đình như Goldmans và Sachses – những kẻ có rất nhiều điểm chung với họ. Massini viết:

Điểm khác biệt duy nhất
vì sự thật nên được phơi bày
chính là sự thật rằng nhà Goldmans
họ kinh doanh một thứ kim loại
gọi là vàng
và họ tự hào về điều đó
nên họ dùng nó làm họ.
Vì thế, và cũng chỉ vì lý do này
họ được xếp vào dãy thứ hai
trong Ngôi đền.”
9

Gia tộc có quá nhiều sự mộng tưởng đẹp đẽ, được nhào nặn bởi những ngón tay ma thuật, nhồi nhét vào đầu những thanh niên đời sau. Họ học được cách đánh bóng tên tuổi thông qua hoạt động từ thiện. Một hình thức tẩy não trong thời gian dài dành cho những thành viên trẻ trong gia tộc.

Anh em nhà Lehman ngày càng thèm muốn những con mồi mới. Massini có một quãng nghỉ để chỉnh sửa lại một số thuật ngữ tài chính. Trước đó, những từ như “vượt trội” hay “đối thủ cạnh tranh” vốn được sử dụng, bây giờ sẽ phải nhường chỗ cho “áp đặt” và “kẻ thù”. Nhà Lehman nắm chặt lấy quyền lực của họ thông qua kiểm soát, kỷ luật và trừng phạt. Khi mà kẻ thù đã bị chinh phục, họ sẽ áp đặt trạng thái Carthage10. Thương trường đã trở thành chiến trường.

Có một sự lệch lạc kỳ dị nhưng sâu sắc trong những bộ phim được sản xuất vào thời kỳ hoàng kim, mà đa phần được nhà Lehman tài trợ. Massini cho rằng những bộ phim đó, hay những diễn viên như John Wayne, đã mãi mãi bóp méo hình tượng nam tính của người Mỹ.

“Người đàn ông nên trao những nụ hôn? Chẳng bằng nhổ toẹt,” Massini viết. “Người đàn ông thấu hiểu? Tốt hơn là anh ta nên cắn càn”. Ông bổ sung thêm: “Năm này qua năm khác, những cư xử tốt đẹp / đã bị cuốn đi bởi hàng tá bộ phim.”

Massini sử dụng một thứ ngôn ngữ tự hào hứng với chính nó, và luôn luôn có khả năng thôi miên người đọc. Tuy nhiên, trong một vài khoảnh khắc, tôi ao ước phải chi mình đang đọc một đoạn thuật ngắn về lịch sử tập đoàn này, nhưng mà, chà, những khoảnh khắc đó cũng hiếm lắm.

Anh em nhà Lehman rất giỏi những việc họ đã làm. Họ còn được ban cho nhiều may mắn. Họ có phần nào đó giống với Rosencrantz và Guildenstern trong vở kịch của Tom Stoppard, những người đã tung được mặt ngửa đồng vàng trong 157 lần liên tiếp.

Công ty nên tiếp tục tung đồng xu cho tới khi, Massini viết:

họ đã đạt được thành công
và rồi họ hối hận.

Hết.

Bún Cứng dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Dwight Garner, đăng tại The New York Times.

Chú thích:

  1. Nguyên văn không có, dịch giả bổ sung để làm rõ nghĩa cho đoạn văn.
  2. Nguyên văn: vở kịch “Death of a Saleman” của nhà viết kịch Arthur Miller người Mỹ, được công chiếu trên sân khấu Broadway vào tháng 2 năm 1949. Vở kịch đã mang lại giải Pulitzer và giải thưởng Tony cho vở chính kịch hay nhất năm 1949.
  3. Nguyên văn: vở kịch “Who’s Afraid of Virginia Woolf?” của nhà viết kịch Edward Albee, được công chiếu trên sân khấu Broadway năm 1963. Vở kịch cũng mang lại giải thưởng Tony cho vở kịch hay nhất năm 1963 và được dựng thành phim năm 1966 bởi đạo diễn Ernest Lehman.
  4. Nguyên văn: Boiler-room, từ chuyên ngành trong kinh doanh, nói về một phòng làm việc của dân bán hàng tài chính, trong đó, những tay bán hàng gọi điện cho các nhà đầu tư tiềm năng và dùng mọi cách để thuyết phục họ bất chấp thủ đoạn.
  5. Richard Dixon (1956): Dịch giả, tiểu thuyết gia rất nổi tiếng người Anh với chuyên môn sâu về văn học Ý.
  6. Ý kiến dịch giả: trong câu này, ý người viết muốn ám chỉ suy nghĩ của Henry lúc đó, chưa từng tới Alabama nhưng tưởng tượng ra những điều tốt đẹp tại đó.
  7. Nguyên văn: rodeo – theo nghĩa Mỹ, nó chỉ cuộc tập trung gia súc tại các trại chăn nuôi để đóng giấu. Ý nói nơi tập trung hỗn tạp và làm những công việc bẩn thỉu.
  8. Nguyên văn: Mahattan temple. Tại Mahattan, New York có một kiến trúc tên gọi Mahattan temple. Tuy nhiên, trong đoạn văn này, cũng có thể hiểu người viết đang nhắc đến Temple of Capitalism – ngôi đền tư bản nhắc tới nhóm những Ngân hàng và Tổ chức tài chính lớn hoạt động theo kiểu tư bản tại phố Wall, Mahattan, New York.
  9. Tác giả muốn mỉa mai về các hoạt động của những ngân hàng lớn, kinh doanh quá nhiều ngành và nhiều thủ đoạn.
  10. Thuật ngữ “Hòa bình Carthaginian” xuất hiện khi đế chế La Mã tấn công thành phố Phoenicia của Carthage, một kiểu hòa bình giả vô cùng tàn bạo khi hoàn toàn nghiền nát kẻ thù, tiêu diệt hết người cầm quyền cũ, tiêu diệt quân đội và phá hủy hoàn toàn thành phố.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đỗ Quyên đỏ trên Bình nguyên

Published

on

Làm sao chúng ta có thể trốn thoát? Lưới ở trên và bẫy ở dưới. Chạy là chúng ta chết.

Nhưng loài lau sậy là không hủy diệt được. Chúng không sợ mặn và sinh tồn bừa bãi. Khi tôi nghĩ chúng biến đi rồi, chúng liền quay trở lại. Chúng mọc bất kì chỗ nào. Dù đó là muối.

Văn chương châu Á từ trước đến nay phần lớn vẫn luôn gắn liền với bối cảnh lịch sử. Đó có lẽ là lý do khi đọc văn học Hàn Quốc ta sẽ bắt gặp phong trào sinh viên, đọc Iran là Cách mạng Hồi Giáo hay Ấn Độ là thời kì đầy biến động dưới thời Indira Gandhi. Cùng chung một đặc điểm đó, nhắc đến Trung Quốc, điều ấn tượng nhất có lẽ là một trong những thời kì đen tối nhất của lịch sử đất nước này – Đại Cách mạng Văn hóa, xuất hiện trong văn chương của Mạc Ngôn, của Giả Bình Ao, của Lưu Chấn Vân, của Vương Mông… Trong số những tác gia kể trên, Anchee Min với Đỗ Quyên đỏ và Tất Phi Vũ với Bình nguyên dường như là hai tác phẩm có sự tương đồng về mặt nội dung, bối cảnh và tiếng nói về một thời đoạn rất nhiều biến động. Ở đó ta thấy được rất nhiều thứ: từ cuộc sống đè nén của tầng lớp trí thức đến những âm mưu tranh giành quyền lực, để từ trong đó bản chất con người hiện ra, giá trị xuống thấp và trên hết, nhiều dạng người ngợm lần đầu được phép tung bay.

Anchee Min viết Đỗ Quyên đỏ như trải nghiệm thực của bản thân mình. Phần lớn những chi tiết trong tiểu thuyết này là cuộc đời thực của bà, từ ý nghĩa tên mình đến các anh, chị em; từ ký ức doanh trại đến khi bước chân vào hãng phim, sau đó đến Mỹ và định cư hẳn. Có thể nói, với Anchee Min, Đỗ Quyên đỏ dường như trở thành máu thịt, thành một cái ung nhọt không thể không viết. Những ký ức về thời kỳ ấy như dây thường xuân quấn quanh cổ bà, càng buông lơi chúng càng thít chặt, và có cảm giác, chỉ có viết chúng mới nới ra đem lại hơi thở. Trong khi đó, với Tất Phi Vũ, giai đoạn Đại Cách mạng Văn hóa gắn liền với tuổi thơ ông, của những đấu tranh rầm rộ và những sự thật muốn quên. Nói thế để hiểu rằng, với cùng một chủ đề, Anchee Min gắn bó máu thịt của mình vào đó, là tiếng thở dài, là lời giải tỏa cho một số phận đã bị nhấn chìm. Trong khi với Tất Phi Vũ, ông đứng đó và tái hiện hoạt cảnh của bầu không khí ông từng hít thở, không là máu thịt, nhưng ít nhiều vẫn còn lưu lại trong huyết quản ông, một sự thân quen tưởng như xa lạ.

Với hai sự gắn bó khác nhau, hai cảm quan khác nhau hướng cùng về một thời kỳ, hai tiểu thuyết cũng có những khởi đầu khác nhau. Nếu Tất Phi Vũ hướng về nông thôn, là cái nôi rất thường thấy khi được tái hiện trong văn chương của Mạc Ngôn, của Lưu Chấn Vân; thì Anchee Min lựa chọn một nơi đầy học thức và sôi nổi hơn – Thượng Hải, nơi bà sống cùng gia đình từ những ngày đầu. Ở đây, nếu Tất Phi Vũ mở ra không gian của những ruộng mạch trải ngàn, của vụ lúa – vụ mạch, của người nông dân chất phác, hiền lành nhưng cam chịu; thì Anchee Min lại tái hiện những trí thức nơi chốn phồn hoa với cơn bão chỉ vừa chớm đến. Ở điểm này, cả hai tiểu thuyết cộng hưởng vào nhau, cho thấy bộ mặt của Trung Quốc ở cả hai phía thành thị – nông thôn của một thập kỷ vô cùng biến loạn.

*

Nếu Mạc Ngôn có vùng Cao Mật, Lỗ Tấn có Vị Trang, Trương Ái Linh hay Kim Vũ Trừng có Thượng Hải, thì may thay; ở đây Tất Phi Vũ có làng họ Vương. Bao nhiêu hỉ nộ ái ố đều xoay chuyển diễn biến trong ngôi làng này. Theo chân Đoan Phương – một thanh niên mới lớn với gia cảnh phức tạp, ở cùng một nhà với bố dượng, con mẹ, con bố; anh sớm chán nản và đâm ra không có phương hướng. Đến tuổi cập kê, anh rơi vào lưới tình với Tam A, nhưng không may bị cả hai bên gia đình ngăn cấm. Tam A vì muốn chứng minh tình yêu của mình, uống thuốc sâu đóng kịch tự vẫn như Shakespears thời hiện đại. Nhưng trêu ngươi thay, trên đường đến bệnh viện lại bị truyền nhầm sôđa thay vì truyền dịch, dẫn đến cái chết tức tưởi của người con gái hết lòng vì tình.

Đoan Phương từ đây căm ghét mọi thứ, chuyển đến chuồng lợn của lão Gù, học nuôi lợn và lờ mờ nhận thức chỉ có con đường đi bộ đội, đứng vào hàng ngũ của Đảng mới là lựa chọn sáng suốt. Nhưng chướng ngại lớn nhất lại là Ngô Mạn Linh – bí thư chi bộ, người thầm thương trộm nhớ anh nhưng vì sĩ diện một hôm uống rượu đã đập đầu vái lạy cô, làm cả hai người như đứng trên hai bờ vực thẳm. Kết thúc câu chuyện cũng là lúc Ngô Mạn Linh phát bệnh dại, cắn vào Đoan Phương và nói câu cuối: “Đoan Phương, cuối cùng em cũng bắt được anh rồi!”

Còn Đỗ Quyên đỏ là câu chuyện của nhân vật “tôi” – một Hồng vệ binh từ trong trứng nước, con gái của một gia đình tri thức, đến tuổi và bị dời đến nông trường Lửa Đỏ – nơi sát biển Đông, đất không thể cấy, nước không thể uống. Từ đây, cô bắt gặp Nghiêm – đại đội trưởng của nông trường và cảm nhận được sự đồng cảm. Hai người cùng nhau đấu tranh với Lu – người ham mê quyền lực và luôn mong muốn thay thế chỗ Nghiêm. Càng ngày cả hai nhận ra tuổi trẻ, sắc đẹp và mọi thứ của họ rồi sẽ chôn vùi nơi nông trường ấy. Nhưng may mắn thay, vở kinh kịch Đỗ Quyên đỏ của Giang Thanh hay Mao phu nhân – đang tuyển diễn viên để phổ biến tinh thần Cách mạng vô sản đến đại đa số quần chúng. “Tôi” may mắn lọt vào mắt xanh của Giám sát ủy viên, trở thành tình nhân của ông, đóng vai Đỗ Quyên đỏ. Nhưng lịch sử không dừng ở đó. Đến cuối tác phẩm là lúc Mao qua đời, đế chế Giang Thanh bật gốc, cuối cùng Đỗ Quyên đỏ không được công chiếu và mãi mãi chìm sâu vào tầng tầng lớp lớp thời gian, chỉ còn lưu lại ở trong ký ức.

Dù ít hay nhiều, với cả Bình nguyênĐỗ Quyên đỏ, cả hai đã cho thấy một Trung Quốc vô cùng biến loạn dưới thời Cách mạng Văn hóa. Ở đó cuộc sống của con người bị đè nén, ngạt thở bởi những cứng nhắc gắn khung của Hồng vệ binh, của loa tuyên truyền. Những người phục vụ Cách mạng không có gì hơn là cuộc đua tranh quyền lực. Từ tận cùng tầng lớp nông dân như Đoan Phương – Hỗn Thế Ma Vương; đến cao hơn – những chỉ huy Cách mạng như Ngô Mạn Linh, như Nghiêm, như Lu. Và cao hơn hết, là Giang Thanh, là Hoa Quốc Phong, là Đặng Tiểu Bình… Một thời đoạn sản sinh đầy đủ hạng người, đa thể xúc tu của loài bạch tuộc vươn vòi vào trong nhân dân; từ đó phóng mực, tháo tua hay ngụy trang vào trong lịch sử, làm nên thời đại đen tối vô cùng muốn quên.

*

Cái ngột ngạt ấy đè nén người ta không chỉ về cái ăn, cái mặc, nơi ở, chốn về, về sự công bằng – bình đẳng; mà còn về tình cảm lứa đôi, tình yêu nhục dục. Dễ nhận thấy ở cả hai tiểu thuyết trên, Anchee Min và Tất Phi Vũ đều xây dựng sự đè nén ấy bằng ngọn lửa dục tình. Nếu ở Bình nguyên là sự dằn vặt của Ngô Mạn Linh – người “là đàn ông, chẳng phải đàn bà. Hai tay hai súng, chẳng có ngày đêm”. Cô bị gắn chết bởi cái danh bí thư chi bộ, từ đó bản năng đàn bà trong cô dường như cũng chết theo. Cô tự dối mình về vị trí, về những vai trò cô đang mang tên; nhưng trước những đêm lạnh giá, sự tò mò về thân thể hay sức nặng của Vô Lượng – chú chó cô nuôi – vẫn luôn mang đến sức nặng của người đàn ông cô hằng mong ngóng. Dẫu nhìn ở góc độ nào, tình cảm bị đèn nén của Đoan Phương – Tam A – Ngô Mạn Linh làm nên cái ngột ngạt của thời khắc ấy. Họ là con người của thời đang yêu nhưng gục ngã và tự kiềm chế nhau ngay trong bản ngã, làm nên một sự kiềm giữ vô cùng nguy hiểm, để rồi chính từ trong đó, những bi kịch câu chuyện mới dần lộ ra.

Hơn một cấp nữa, Anchee Min bằng cảm quan nhạy bén và sự tinh tế của người phụ nữ đã viết nên cái đè nén dục tính vô cùng khiêu gợi. Ở đây là mối quan hệ giữa Nghiêm và “tôi”. Hỏi họ có phải một đôi yêu nhau kiểu Carol của Patricia Highsmith không cũng thật khó trả lời. Ban đầu, “tôi” đóng vai một người đàn ông thay thế chỗ Báo để đến với Nghiêm. Nhưng sự tiếp xúc xác thịt ấy xuất phát từ rất nhiều chỗ: từ sự đè nén, từ ham muốn cá nhân, từ sự tự huyễn hoặc bản thân. Đến khi sau này, khi chứng kiến cuộc làm tình giữa Báo và Nghiêm ngay trong ngôi nhà chính mình, “tôi” mới chợt nhận ra “chị đang giết chết tình yêu của chúng tôi bằng chính bàn tay chị”. Dù đấy là cuộc tình rất khó xác định, ngay cả khi sau này “tôi” lại đến trong vòng tay của giám sát ủy viên – một người đàn ông mang nét đẹp phụ nữ; nhưng sự thật về bản chất những đụng chạm ấy vẫn còn bỏ ngõ. Chỉ biết rằng là, với cuộc tình rất khó gọi tên ấy, Anchee Min đã vẽ nên không khí ngột ngạt của giai đoạn này vô cùng tinh tế bằng những màu phim như Vương Gia Vệ, tinh tế, đẹp đẽ nhưng đầy chật chội khung hình.

Cái không khí ấy còn được biểu hiện bằng cái thiếu ăn, thiếu mặc trong Bình nguyên của Tất Phi Vũ. Họ quanh năm làm lụng một vụ mạch – một vụ lúa nhưng vẫn chưa bao giờ đủ ăn. Thóc lúa làm hết bao nhiêu đều được chở đến Uỷ ban. Nhưng Uỷ ban chính ở nơi đâu họ cũng không rõ. Còn với người thành thị, cái không khí ấy biểu hiện rõ nhất là khi họ mất đi sự bình đẳng, là khi hai chữ “trí thức” đang hại đời họ. Ở đó không còn công bằng, không có công lý: “Họ xông lên mang theo những chiếc bô đổ đầy phân lên chăn chiếu nhà tôi. Không có cảnh sát […] Hồng vệ binh bắt đầu cướp phá các ngôi nhà. Chẳng một ai đáp lại lời kêu gọi giúp đỡ của chúng tôi. Hàng xóm chỉ đứng nhìn”.

Ngoài bức tranh hiện thực cuộc sống ở nông thôn – thành thị, ngoài những đèn nén ngột ngạt cá nhân; đâu đó vẫn còn lẩn khuất là những đam mê tham vọng quyền lực, từ đó bản chất con người, giá trị con người hay nói đúng hơn từng dạng người ngợm được lúc hiển hình. Họ sống trong một thời đoạn bị giam hãm về ý thức, mọi thứ trích dẫn được lôi từ cuốn Mao tuyển mà không suy nghĩ, tính toán một cách thiệt hơn. “Họ nhảy từ các cao ốc xuống để tỏ lòng trung thành với ông Mao. Có nghĩa cái chết thể xác chẳng là gì, nhẹ như lông hồng. Chỉ khi chết vì nhân dân, cái chết đó mới nặng hơn núi”.

Từ những tham vọng hẹp hòi, bản chất tị hiềm dần dần lột sạch trút bỏ xiêm y miệng đời vẫn thường hay thấy. Vì tham vọng cá nhân mà Hỗn Thế Ma Vương có thể cưỡng hiếp Ngô Mạn Linh để rồi để lại vết thương mãi mãi trong cô, để từ đó cô nuôi Vô Lượng, cũng là nguồn cơn cho cơn bệnh dại ở phía sau cùng. Cũng vì quyền lực mà Nghiêm và Lu luôn luôn thù địch, nghĩ bao mưu kế kiếm chuốc hại nhau. Họ ở đó, nhưng đồng thời không ở đó. Họ là xác không hồn, hay hồn không xác, không ai biết rõ. Đến cuối rồi thì, Đỗ Quyên đỏ chẳng phải là vở kinh kịch của riêng Giang Thanh – là vở ca kịch tái hiện cuộc đời của bà, từ người ưu tú trở thành vô dụng trong chính quyền Mao, từ con gà đất đến cái chết thiêu rụi trở thành phượng hoàng? Nhưng loài giống đó chỉ có trong truyện cổ tích, đến cuối rồi thì, gà vẫn là gà, Giang Thanh bị bắt và Đỗ Quyên đỏ vẫn mãi chìm trong bóng tối. Nhưng cuộc đua ấy liệu có dừng lại?

*

Anchee Min và Tất Phi Vũ bằng hai hướng tiếp cận khác nhau đã cho thấy một thời biến loạn vô cùng đen tối của lịch sử Trung Quốc. Bằng cuộc sống đè nén ngột ngạt và những trò chơi vương quyền chưa đến hồi kết, cả hai tác gia cung cấp cho ta góc nhìn vào trong bản chất con người ở thời đoạn ấy. Nói như một câu của nhân vật Nghiêm, Đây là một trại điên, cái nông trường Lửa Đỏ này. Mở rộng ra hơn, Trung Quốc ở thời gian ấy là một nồi sôi với sự đè nén lên đến cùng cực. Bình nguyên từng đứng ở vị trí thứ hai trong 10 tiểu thuyết hay nhất Trung Quốc năm 2005 không hẳn là sự bất ngờ, nó còn được dịch sang cả tiếng Pháp như cách chứng minh cho giá trị mình. Anchee Min sau này còn được biết đến với bộ tiểu thuyết viết về Từ Hy, nhưng Đỗ Quyên đỏ vẫn luôn là một dấu son chói lọi rất khó thay thế trong văn nghiệp bà. Hai tác giả, hai tác phẩm và một thời đoạn đã quá đảo điên.

Hết.

Ngô Thuận Phát

*

Những cuốn sách viết về thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa



Đọc tất cả bài viết của Ngô Thuật Phát.


Đọc bài viết

Cafe sáng