Nối kết với chúng tôi

Chuyện người cầm bút

Diêm Liên Khoa: Điều gì sẽ xảy ra sau đại dịch Corona?

Ký ức cộng đồng và khi ta lặp lại sai lầm của chính mình.

Published

on

YAN LIANKE: WHAT HAPPENS AFTER CORONAVIRUS
Diêm Liên Khoa

Ngày 21.02, Diêm Liên Khoa, giáo sư bộ môn Văn hóa Trung Hoa tại Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông (HKUST), đã giảng bài điện tử cho lớp sinh viên cao học về đại dịch Covid-19, ký ức cộng đồng và phương thức mà những người kể chuyện, một ngày nào đó, sẽ bàn về đại dịch. Dưới đây là bản dịch bài giảng, được đăng lần đầu tiên tại ThinkChina và được dịch bởi Grace Chong.

*

Các bạn sinh viên thân mến của tôi!

Hôm nay là bài giảng điện tử đầu tiên. Trước khi ta bắt đầu, cho phép tôi đi lạc đề một chút.

Khi tôi còn nhỏ, bất cứ khi nào tôi mắc phải cùng một lỗi sai hai đến ba lần liên tiếp, bố mẹ tôi sẽ kéo tôi đến trước mặt họ, chỉ vào trán tôi và mắng:

“Tại sao con lại đãng trí như thế cơ chứ?!”

Trong những tiết học tiếng Trung, khi tôi không thể nào ghi nhớ một đoạn văn ngay cả khi tôi đã đọc nó không dưới mười lần, giáo viên sẽ yêu cầu tôi đứng lên và hỏi tôi trước cả lớp:

“Tại sao em lại đãng trí thế cơ chứ?!”

Khả năng ghi nhớ là mảnh đất màu mỡ nơi kí ức sinh sôi, và kí ức cũng là trái ngọt của mảnh đất ấy. Việc sở hữu kí ức và khả năng ghi nhớ là những khác biệt cơ bản giữa con người và động vật hoặc thực vật. Đó là yêu cầu đầu tiên để ta lớn lên và trưởng thành. Rất nhiều lần, tôi cảm thấy rằng nó thậm chí còn quan trọng hơn cả việc ăn, mặc và thở. Một khi ta đánh mất kí ức, ta sẽ quên cách ăn hoặc sẽ mất đi khả năng làm việc. Chúng ta sẽ quên mất mình để quần áo ở đâu vào mỗi buổi sáng thức dậy. Chúng ta sẽ đinh ninh rằng vị hoàng đế ở trần trông đẹp mắt hơn là khi mặc quần áo. Tại sao hôm nay tôi lại nói về điều này? Bởi vì Covid-19, một thảm họa quốc gia và toàn cầu, chưa hề nằm trong tầm khống chế đúng mực; những gia đình vẫn còn bị chia xa đôi ngả, cùng với đó là những tiếng khóc thương tan nát cõi lòng vọng từ Hồ Bắc, Vũ Hán và nhiều nơi khác. Thế mà, bài ca khải hoàn đã vang lên khắp mọi nơi. Tất cả chỉ vì những con số thống kê đang đi lên theo chiều hướng khả quan.

Những thi thể vẫn chưa kịp nguội lạnh và mọi người vẫn đang tiếc thương. Thế mà, ta đã sẵn sàng cất lên khúc ca thắng trận, và mọi người đã sẵn sàng để tuyên bố: “Ôi, thật khôn ngoan và thật tuyệt vời!”

Từ ngày dịch Covid-19 thâm nhập vào cuộc sống của chúng ta cho đến tận bây giờ, chúng ta không biết chính xác có bao nhiêu người đã thiệt mạng, bao nhiêu người đã tử vong trong bệnh viện, bao nhiêu người ở bên ngoài đã vĩnh viễn ra đi. Chúng ta thậm chí chưa có cơ hội để điều tra và đặt nghi vấn về điều này. Tệ hơn nữa, những cuộc điều tra và những câu hỏi như vậy có thể sẽ đi vào quên lãng khi thời gian trôi đi và mãi mãi sẽ là một bí ẩn.

Khi dịch bệnh cuối cùng cũng thuyên giảm, chúng ta không thể giống như dì Tường Lâm (祥林嫂, nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết của nhà văn Lỗ Tấn, được miêu tả là một người phụ nữ nhà quê thấp hèn, ngốc nghếch bị mắc kẹt trong chế độ phong kiến), vĩnh viễn chỉ biết nói: “Tôi chỉ biết rằng thú hoang sẽ rình mò ngôi làng trong suốt mùa đông khi không có gì để ăn trên núi; tôi không hề biết rằng chúng cũng làm vậy vào mùa xuân.” Nhưng chúng ta cũng phải khác AQ (阿Q, một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết của Lỗ Tấn, được miêu tả là luôn tự lừa dối bản thân, luôn tin rằng mình thành công hoặc vượt trội hơn người khác), luôn khẳng định rằng chúng ta là kẻ chiến thắng ngay cả sau khi bị đánh đập, bị lăng mạ và đang trên bờ vực của cái chết.

Trong quá khứ và hiện tại, tại sao bi kịch và thảm họa luôn xảy đến với cá nhân, gia đình, xã hội, thời đại hay đất nước, hết lần này đến lần khác? Và tại sao những thảm họa của lịch sử luôn phải trả giá bằng mạng sống của hàng chục ngàn người dân vô tội? Giữa vô số những yếu tố mà ta không biết, không hỏi hoặc không được phép hỏi (những thứ mà chúng ta phải ngoan ngoãn lắng nghe), có một yếu tố này – con người; tất cả chúng ta đều là loài người, giống như loài kiến – chúng ta là những sinh vật hay quên.

Kí ức của chúng ta đã luôn được chỉnh lý, thay thế và xóa đi. Chúng ta nhớ những gì mà người khác bảo ta nên nhớ, và quên những gì ta được dạy nên quên. Chúng ta giữ im lặng khi được yêu cầu và hát theo lệnh. Kí ức đã trở thành tay sai của thời đại, được sử dụng để rèn giũa thành kí ức tập thể và quốc gia, được tạo thành từ những gì chúng ta được yêu cầu quên hoặc nhớ.

“tất cả chúng ta đều là loài người, giống như loài kiến – chúng ta là những sinh vật hay quên.”

Hãy tưởng tượng: ta sẽ không bàn về những điều xưa cũ nằm trong những cuốn sách bám bụi – những điều đã đi vào dĩ vãng; hãy hồi tưởng lại những sự kiện gần đây nhất trong vòng hai mươi năm qua. Những sự kiện mà những người giống như các bạn, những đứa trẻ sinh ra vào thập niên 80, 90, đều đã trải nghiệm và ghi nhớ – những thảm họa quốc gia như AIDS, SARS, và Covid-19 – liệu chúng là thảm họa do chính con người tạo ra, hay chúng là thảm họa tự nhiên như động đất Đường Sơn và Văn Xương khiến con người bó tay chịu chết? Tiếp theo, tại sao yếu tố con người trong các thảm họa quốc gia trước đây hầu như giống nhau? Đặc biệt là dịch SARS mười bảy năm trước và tình hình leo thang của đại dịch Covid-19, dường như chúng là tác phẩm kịch nghệ của cùng một bàn tay đạo diễn. Bi kịch tương tự đang tái hiện ngay trước mắt chúng ta. Là người trần mắt thịt, ta không có năng lực đi tìm chân tướng vị đạo diễn này, cũng không có chuyên môn để khám phá ra và hiểu được suy nghĩ, ý tưởng và sự sáng tạo của vị biên kịch. Nhưng khi đứng trước sự tái hiện của “trò chơi tử thần” này, chẳng phải ta ít nhất nên tự vấn rằng, kí ức của ta về những đại họa gần đây nhất là gì?

Ai là người đã xóa kí ức của ta và phủi sạch tất cả?!

Những người đãng trí, về bản chất, là bụi bẩn trên các cánh đồng và trên đường. Rãnh trên đế giày có thể giẫm lên chúng theo bất cứ cách nào họ muốn.

Những người đãng trí, về bản chất, là những khối gỗ và tấm ván đã cắt đứt quan hệ với cái cây đã cho chúng sự sống. Cưa và rìu có toàn quyền kiểm soát và tạo hình chúng trong tương lai.

Đối với chúng ta, những người đã thêm vào cuộc sống một chút ý nghĩa bởi tình yêu dành cho văn học, những người dành cả cuộc đời cho Hán tự; với các sinh viên thạc sĩ của HKUST hiện đang theo dõi trực tuyến, và đương nhiên là gồm cả những học giả đã tốt nghiệp hoặc vẫn đang theo học lớp sáng tác của trường Đại học Nhân dân Trung Quốc – nếu chúng ta cũng từ bỏ kí ức về máu và sự sống, việc sáng tác còn có ý nghĩa gì? Giá trị của văn chương là gì? Tại sao xã hội cần các tác gia? Những tác phẩm sáng tác với sự cần mẫn và tâm huyết liệu có khác gì những con rối do người khác nắm quyền kiểm soát? Nếu phóng viên không báo cáo trung thực những gì họ chứng kiến, và các tác giả không viết về ký ức và cảm xúc của họ; nếu con người trong xã hội, những người biết nói và biết cách nói, mà chỉ luôn luôn kể lại, đọc và tuyên bố những điều đúng đắn rập khuôn chính trị thì còn ai có thể cho chúng ta biết sống trên đời này còn có ý nghĩa gì?

Hãy tưởng tượng: tác giả Phương Phương không tồn tại ở Vũ Hán ngày nay. Cô không lưu giữ và không ghi lại kí ức và cảm xúc cá nhân của mình. Cũng không có hàng ngàn người, những người giống như Phương Phương, phát ra những tiếng kêu cầu viện thông qua điện thoại di động. Chúng ta còn nghe thấy điều gì? Chúng ta sẽ còn nhìn thấy gì?

Kí ức của người bình thường, giữa dòng chảy lớn của thời đại, thường bị đối xử như bọt biển, như ngọn sóng và như thanh âm thừa thãi bị thời đại xóa sạch hoặc bất cẩn ném sang một bên, làm chúng im lặng bằng giọng nói và bằng lời nói, như thể chúng không bao giờ tồn tại. Than ôi, mỗi thời đại trôi qua, mọi thứ lại chìm vào quên lãng. Máu và thịt, xác và hồn lại biến mất. Tất cả đều ổn và điểm tựa nhỏ bé của sự thật có thể nâng đỡ cả thế giới đã bị diệt vong. Như vậy, lịch sử nay biến thành tập hợp các truyền thuyết, của những câu chuyện đã mất và được tưởng tượng ra, tất cả là vô căn cứ. Từ quan điểm này, điều quan trọng là chúng ta có thể nhớ và sở hữu những ký ức của riêng ta, chưa hề bị sửa đổi hay xóa bỏ. Đó là sự chắc chắn và bằng chứng tối thiểu mà ta có thể cung cấp khi chúng ta nói lên sự thật. Điều đó đặc biệt quan trọng với sinh viên lớp sáng tác này. Phần lớn chúng ta ở đây được định sẵn là sẽ cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp sáng tác, tìm kiếm chân lý và sống như một con người thông qua kí ức. Nếu có một ngày mà ngay cả những người như chúng ta mất đi tính xác thực và lượng ký ức đáng thương đó, liệu có còn sự xác thực về lịch sử cá nhân và lịch sử trên thế giới?

Trên thực tế, ngay cả khi khả năng ghi nhớ và ký ức của chúng ta không thể thay đổi thế giới hay thực tại, ít nhất nó cũng có thể giúp chúng ta nhận ra rằng có gì đó không ổn khi chúng ta đối mặt với “sự thật” tập quyền và được chỉnh lý. Từ nội tâm ta sẽ phát ra tiếng nói nhỏ bé: “Điều đó không đúng!” Ít nhất, trước khi bước ngoặt của dịch bệnh thật sự bùng phát, chúng ta vẫn có thể nghe và nhớ đến tiếng khóc than thương tâm của cá nhân, gia đình và những kẻ bên lề, giữa hàng hà những bài ca khải hoàn hân hoan chói tai.

Kí ức không thể thay đổi thế giới, nhưng nó mang cho ta một trái tim chân thật.

Dẫu kí ức không thể trao cho ta sức mạnh để thay đổi thực tại, ít nhất nó có thể đặt ra những lời tự vấn khi một lời nói dối xuất hiện. Nếu có một kế hoạch Đại nhảy vọt khác xuất hiện vào một ngày nào đó và mọi người quay trở lại sử dụng lò nung ở sân sau, thì ít nhất có thể thuyết phục chúng ta rằng cát sẽ không biến thành sắt, và một mu (một đơn vị đo lường, xấp xỉ 667 mét vuông) hoa màu sẽ không nặng bằng 100.000 cân (một đơn vị đo lường của Trung Quốc, xấp xỉ 600 gam). Ít nhất chúng ta sẽ biết rằng đây là thường thức cơ bản nhất, và không phải phép màu ý thức nào đó tạo ra vật chất, hay không khí tạo ra thức ăn. Nếu có một cuộc Cách mạng văn hóa nào đó khác, ít nhất chúng ta sẽ có thể đảm bảo rằng chúng ta sẽ không đưa cha mẹ vào tù hoặc lên máy chém.

Các sinh viên thân mến của tôi, tất cả chúng ta là các sinh viên nghệ thuật, những người có lẽ sẽ dành cả đời để đối mặt với thực tế và ký ức thông qua ngôn ngữ. Chúng ta đừng nói về những ký ức tập thể, ký ức quốc gia, hay những ký ức về dân tộc của chúng ta, mà là của bản thân ta; vì trong lịch sử, những ký ức dân tộc và tập thể luôn che đậy và thay đổi ký ức của chính chúng ta. Ngày nay, tại thời điểm hiện tại, khi Covid-19 vẫn còn rất lâu mới trở thành ký ức, chúng ta đã có thể nghe thấy những bài hát chiến thắng và tiếng ca chiến thắng vang dội từ khắp nơi xung quanh chúng ta. Vì điều này, tôi hy vọng rằng mỗi người trong các bạn, và tất cả chúng ta, những người đã trải qua dịch Covid-19 thảm khốc sẽ trở thành những người ghi nhớ, những người lấy được ký ức từ ký ức.

Trong tương lai gần có thể dự đoán được, khi quốc gia ăn mừng chiến thắng trước trận chiến quốc gia chống lại Covid-19 với nhạc điệu và lời ca, tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ không trở thành những nhà văn ruột rỗng chỉ phát ra những tiếng vang mù quáng, mà là những người đơn giản sống đúng với ký ức của chính mình. Khi buổi biểu diễn hoành tráng ấy diễn ra, tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ không phải là một trong những diễn viên hay người kể chuyện trên sân khấu hay là một trong những người vỗ tay vì là một phần của buổi diễn. Tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ là những người dè dặt và tuyệt vọng đứng ở góc xa nhất của sân khấu, lặng lẽ nhìn sau màn nước mắt. Nếu tài năng, lòng can đảm và sức mạnh tinh thần của chúng ta không thể biến chúng ta thành một nhà văn như Phương Phương, thì có lẽ chúng ta vẫn sẽ không nằm trong số những người lên tiếng nghi ngờ và chế giễu Phương Phương. Khi mọi việc cuối cùng cũng trở lại trạng thái êm đềm và thịnh vượng, phủ rợp trong lời ca, nếu chúng ta không thể lớn tiếng đặt câu hỏi về nguồn gốc và sự lan truyền của Covid-19, thì chúng ta có thể nhẹ nhàng lẩm bẩm và ngân nga, vì đó cũng là để biểu lộ lương tâm của chúng ta và lòng can đảm. Viết những bài thơ sau thời kỳ trại tập trung Auschwitz thực sự là man rợ, nhưng còn man rợ hơn nếu chúng ta chỉ đơn giản chọn cách quên nó trong lời nói, trong các cuộc trò chuyện và trong ký ức – điều đó thực sự man rợ và kinh khủng hơn nhiều.

“…tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ không trở thành những nhà văn ruột rỗng chỉ phát ra những tiếng vang mù quáng, mà là những người đơn giản sống đúng với ký ức của chính mình.”

Nếu chúng ta không thể là một người cảnh báo về dịch bệnh như Lý Văn Lượng, thì ít nhất chúng ta hãy là người biết lắng nghe sự cảnh báo đó.

Nếu chúng ta không thể nói lớn tiếng, thì chúng ta hãy thì thầm. Nếu chúng ta không thể thì thầm, thì chúng ta hãy là những người im lặng có ký ức. Trải qua sự khởi đầu, tấn công và lan rộng của Covid-19, chúng ta hãy là những người âm thầm bước sang một bên khi đám đông đoàn kết hát bài ca chiến thắng sau trận chiến thành công – những người có mộ trong lòng, với những ký ức khắc sâu trong họ; những người nhớ và một ngày nào đó có thể truyền lại những ký ức này cho thế hệ tương lai của chúng ta.

Hết.

Vũ Phương Thùy dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Diêm Liên Khoa (Yan Lianke), đăng tại Literary Hub.


Bài viết có thể bạn sẽ thích



Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Hilary Mantel: Làm thế nào để các nhà văn học cách tin tưởng vào bản thân mình

Published

on

Các cuộc phỏng vấn hiếm khi mang lại cơ hội tốt để khai quật được điều gì đó đáng giá, dù cho người dẫn có chuẩn bị kỹ càng đến đâu đi nữa. Bạn được mời để xào nấu lại những tác phẩm của mình, và bạn phải thuật lại chúng qua những câu hỏi thảm họa như: “Ý anh/chị là gì khi viết rằng….?” hoặc "Tại sao anh/chị lại viết cuốn sách này?" Chẳng nhẽ câu trả lời “tôi viết bởi đó là công việc của tôi và tôi nghĩ độc giả sẽ thích nó” chưa đủ sao?

Tôi từng nghe Salman Rushdie diễn thuyết trên sân khấu ở St Louis, và anh nói rằng, chỉ có một câu cần hỏi một tác giả: đó là chỉ vào bất kỳ câu văn nào và hỏi “Làm thế nào mà nó xuất hiện tại đây?” Sau đó, câu chuyện tự động mở ra, trong nội hạt cuốn sách, và bạn có thể nhìn thấy những cái bóng chuyển động đằng sau hàng tấn chữ ấy.

Các cuộc thảo luận với một nhóm khán giả thường khai sáng hơn là các cuộc phỏng vấn. Bạn có nhân chứng và sự đối đáp bình đẳng, và bạn còn có thể khám phá ra điều gì đó mới mẻ đương trong lúc nói. Trong các cuộc phỏng vấn với báo chí, tác giả thường cảm thấy đề phòng và cảnh giác. Và về phần mình, tôi không cảm nhận mình đang tạo ra một giá trị nào. Tôi chỉ muốn làm cho xong chuyện mà không bị trích dẫn tách rời ngữ cảnh. Và khi đọc lại một cuộc phỏng vấn, bạn hiếm khi nhận ra đó là bản tường trình chân thực về những gì thật sự diễn ra. Nội dung có thể được chuyển tải một cách chính xác, nhưng vẫn còn thiếu một chút gì đó khi ta đảo mắt1. Trừ phi nó được ghi hình - tất nhiên, nhưng lúc đó sẽ tồn tại một giới hạn thời gian nghiêm ngặt và ràng buộc và ý thức ngượng ngùng về bản thân.

Những gì tôi luôn muốn nghe từ các nhà văn khác, là khởi đầu của họ — bao gồm cả phần đời trước khi họ tuyên bố một cách có ý thức, “Tôi sẽ viết một cuốn sách”. Tôi cũng đặc biệt tò mò về những người, giống như tôi, có xuất thân không-văn-chương — nơi mà sau rốt một cuốn sách là thứ cuối cùng mọi người mong đợi ở ta.

*

Thời điểm: sáng sớm. Tôi thường với lấy một cuốn sổ và viết tay trước khi thật sự tỉnh táo. Tôi không viết xuống những giấc mơ mỗi ngày — đôi khi chúng quá hỗn độn và khó nắm bắt. Nhưng chúng sẽ ảnh hưởng lên tâm trạng nếu tôi không giải quyết - như thể cơn đau ở các cơ mà ta có thể xoa dịu bằng cách vận động. Sau đó, tôi thức dậy từ từ và không muốn nói chuyện. Những dòng chữ trong ngày bắt đầu cuộn trào trong tôi. Mỏng manh và thường trong hình thái nhịp điệu hơn là từ ngữ. Nếu tôi không có thời gian để ghi lại thứ gì đó, tôi sẽ phải làm việc trở lại ngay sau đó, một cách siêng năng và chăm chỉ; tốt nhất là khi nó vẫn còn dễ dàng.

Vì thế, ngày yêu thích của tôi là ngày có thể ngủ cho đến khi thức dậy, và tham vọng khiêm tốn là có càng nhiều ngày trong số này càng tốt. Điều đó không nhất thiết có nghĩa là bắt đầu muộn - nếu tôi có ý tưởng trước lúc bình minh thì đó là khi công việc bắt đầu.

Tôi sẽ hoàn thành những công việc lặt vặt vào buổi trưa nếu có thể, và đẩy chúng ra khỏi tâm trí để có thể làm một số công việc thực sự. Tôi cảm thấy ngại ngùng khi nói điều này, bởi đối với những người không phải nhà văn, điều đó nghe có vẻ biếng nhác - nhưng nếu, bảy ngày trong tuần, bạn có thể dành ra hai giờ cho chính mình, khi không phân tâm chỉ để tập trung làm việc, bạn sẽ sớm có một cuốn sách. Thông thường, tôi gọi đây là “những giờ vàng”. Tôi tìm thấy chúng ở đâu không quan trọng, miễn là tôi làm được. Thường thì tôi làm việc nhiều giờ hơn. Nhưng đôi khi tôi tự hỏi tại sao.

Tuy nhiên, bạn phải nhận ra rằng một khi bước chân vào cuộc sống này, bạn có thể phải xử lý cuốn sách xuyên suốt ngày đêm. Và không có ngày nghỉ.

*

Tôi nghi ngờ về sự tồn tại của writer’s block2 hoặc những trạng thái thất vọng chỉ xuất hiện ở các nhà văn. Đôi khi người ta cho rằng họ bị tạm ngưng khi không có gì để viết, hoặc tạm thời đã kiệt sức với chủ đề của mình; nhưng đây không phải là một loại bệnh lý. Đôi khi một dự án chuyển sang giai đoạn ủ bệnh; như tôi đã nói rất thường xuyên, khoảnh khắc nhận ra bạn có một ý tưởng hay không phải lúc nào cũng là lúc bạn nhìn thấu nó. Viết là một trò chơi nhiều chặng và bạn phải thật kiên nhẫn với bản thân mình và chất liệu riêng. Rất nhiều điều có thể xảy ra trong bóng tối, như nó vốn thế; công việc diễn ra một cách nửa tỉnh nửa mê và bạn phải tin tưởng quá trình này vẫn đang diễn ra.

Tất nhiên, người viết khó mà tin tưởng vào chính bản thân mình. Nghe như là một tuyên bố thổi phồng, khi nói rằng bạn là một nhà văn. Vì thế, bạn nghĩ mình phải liên tục chứng minh điều đó, bằng cách làm đầy giấy bằng mực hoặc gõ mạnh lên bàn phím, như thể bạn cần nhân chứng để tự biện minh cho tính kiên định của mục tiêu này. Nhưng chẳng ích gì khi đếm số từ, trừ phi đó là những từ phù hợp. Viết không phải là một quy trình công nghiệp. Bạn không thể đo lường năng suất của mình theo bất kỳ cách nào mà thế giới công nhận. Chắt lọc là ân sủng đầu tiên của phong cách và cần phải lao động nặng nhọc. Những ngày đẹp nhất đôi khi là những ngày kết thúc với số chữ trên trang ít hơn thời điểm bắt đầu.

Căn bệnh trầm cảm cũ kỹ có thể là nguyên nhân dễ thấy cho phần lớn những gì đã làm khổ các nhà văn - loại bệnh trầm cảm đã theo chân những ai thuộc mọi ngành nghề hay không ngành nghề. Điều kiện ủ bệnh hoàn toàn hợp lý. Công việc đòi hỏi phải cắt đứt các mối quan hệ vốn có với những người khác; bạn phải phụ thuộc vào chính mình, bởi không ai làm điều đó cho bạn; thu nhập của bạn cũng không chắc chắn; và vào cuối quá trình, bạn buông xuôi quyền kiểm soát, phụ thuộc vào sự đánh giá của những người lạ; bạn phải đối mặt với rất nhiều lời từ chối. Tại sao lại không chán nản? Điều ngạc nhiên là hàng ngàn người vẫn lao vào nghề này, năm này qua năm khác.

*

Và lời khuyên tốt nhất đã đến từ người đại diện của tôi, khi tôi mới vào nghề tầm được một năm. Tôi đang buồn bã về một dự án trong tương lai, cho rằng có một cách để thực hiện nó đại chúng hơn và thương mại hơn; cách khác tuy thông minh nhưng không phổ biến. Và anh ấy nói, "Cô chỉ cần viết tốt nhất có thể."

Lời khuyên đó đã cứu rỗi tôi nhiều năm. Tôi không bao giờ hỏi lại bản thân hay bất cứ ai khác. Đó là cách duy nhất để làm việc — đừng viết vì những gì bạn coi là thị trường. Đừng viết ra khỏi nhu cầu của bất kỳ ai ngoại trừ chính bạn. Đừng cố phục vụ đối tượng mà bạn cho rằng không thể theo kịp — hãy đi tìm đối tượng phù hợp. Tôi đã khuếch đại lời khuyên trong đầu: chỉ cần phục vụ đối tượng của tôi. Mỗi cuốn sách đưa ra những yêu cầu khác nhau và độ khốc liệt khác nhau. Mỗi cuốn sách sử dụng hết tất cả những gì bạn có. Sau này bạn có thể làm được nhiều việc hơn.

Một điều khác cũng giúp tôi, không phải là một lời khuyên, mà là sự quan sát. Khi bắt đầu sự nghiệp của mình, nếu tôi viết một chuyên mục, bài phê bình hoặc bất kỳ bài báo ngắn nào, tôi sẽ hoàn thiện nó tốt nhất có thể, nhưng tôi không tài nào chịu đựng việc đọc lại khi nó đã được xuất bản; mắt tôi lướt qua như thể đó là xác chết. Người bảo trợ ban đầu của tôi là Auberon Waugh - một nhà văn, nhà báo giàu kinh nghiệm. Một ngày nọ, anh ấy hỏi, “Em có chịu được khi đọc lại những thứ mình đã viết không? Tôi thì không.” Anh ấy trông như phát bệnh khi nghĩ đến điều đó.

Tôi cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng. Tôi đã nghĩ mình là một kẻ hèn nhát đơn độc, nhưng tôi thấy mình không cô độc và thời gian sẽ không thể chữa lành tình trạng này. Điều đó thật khó chấp nhận, nhưng một phần của quá trình trưởng thành trong nghề là biết rằng không phải mọi thứ ta viết ra đều quan trọng. Tôi sớm quên hầu hết những gì tôi đã viết ra, cũng là một điều tốt nữa. Miễn là nội dung rõ ràng, chính xác, mang lại hiệu quả giải trí dù trong giây lát và không bôi nhọ ai; thế là ta đã đạt mục tiêu và ngừng lo lắng.

Thế nhưng điều này không đúng đối với tiểu thuyết hay bất kỳ hình thức hư cấu nào. Bạn nên hòa thuận với những gì mình đã viết ra.

*

Những bản thảo ban đầu, từng đoạn và từng câu: Tôi yêu cầu chồng tôi, người từng là biên tập viên khoa học, đọc năm mươi trang cùng lúc để xem liệu tôi có nắm bắt được nền tảng không. Tôi không mong đợi nhận định ​​văn học từ phía anh ấy. Thực sự, tôi muốn được anh trấn an. Anh đã làm điều đấy rất tốt. Nếu anh cho rằng có điều gì đó không thật rõ ràng, tôi sẽ bực bội đôi chút — nhưng ngay sau đó sẽ lưu ý hơn.

Tôi nghĩ người viết cần những người rộng lượng xung quanh mình. Người viết gai góc, kỳ lạ, túng thiếu tình cảm, nhưng luôn muốn một mình. Những độc giả đầu tiên cần nhận thức rằng tác giả đang đòi hỏi điều gì từ họ; và đó chủ yếu là sự ủng hộ về mặt tinh thần, nhưng bất kỳ bằng chứng nào về việc đọc kỹ và đánh giá đều thực sự được hoan nghênh đối với những người khốn khổ đang có cảm giác như đi trong bóng tối này — như thể ai đó bật đèn và nói: “Lối này”. Đối với những cuốn sách khác nhau, tôi có những độc giả khác nhau. Tình bạn sẽ tiếp tục và một số người tự kết nối với các dự án nhất định. Người đọc ban đầu đóng vai như một chứng nhân cho quá trình hình thành cuốn sách, bởi có lúc nó biến mất và rồi trở lại giống như ban đầu. Đối với The Mirror & the Light, độc giả đầu tiên của tôi là nam diễn viên Ben Miles, người đóng vai Thomas Cromwell, nhân vật chính trên màn ảnh. Và cùng lúc một tệp đính kèm sẽ gửi đến với anh trai Ben, George, một nhiếp ảnh gia, người nhìn thấy nhiều hơn và tôi nghi ngờ anh viết cũng hay hơn. Tôi cảm thấy một khi họ đã đọc nó, dù chưa hoàn chỉnh, nó vẫn tồn tại.

Hết.

Chú thích:

  1. Ý của Hilary Mantel muốn diễn đạt là, những bài tường thuật có thể chuyển tải nội dung phỏng vấn thông qua con chữ, nhưng không thể diễn tả thái độ chính xác của nhà văn trong cuộc phỏng vấn ấy.
  2. Writer's block là hiện tượng người viết bị tạm ngưng/mất ý tưởng sáng tác trong việc viết lách.

minh.

Bài gốc được thực hiện bởi Hilary Mantel, đăng tại Literary Hub.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Chekhov: Cửa vào Vĩnh Cửu

Published

on

"Một trong những nhà văn 'phá hoại, lật đổ' sâu thẳm nhất từng có mặt trên cõi đời này".

Rất ít người, ngay cả trong số những độc giả ái mộ Chekhov, đồng ý với nhận định trên của Simon Karlinsky, người tuyển chọn và bình luận một số thư từ của nhà văn Nga thường vẫn được coi là "hiền lành" này.[1]

Khác với tiểu thuyết của Dostoevsky - cơn lũ ma quái, của cái gọi là tâm lý con người - kịch và truyện của Chekhov là về những con người bình thường, với cuộc sống nhàm chán, vô vị của họ. Trong khi Tolstoy rao giảng chủ nghĩa vô chính phủ chống lại Nhà Thờ Nga và Nhà Nước, Anton Chekhov lặng lẽ làm một ông thầy thuốc nhà quê, một ông chủ trại nho nhỏ, cho tới khi tình trạng sức khoẻ bắt buộc ông phải lui về sống những mùa đông ở Yalta. Một cuộc sống tránh né mọi vấn nạn nóng hổi của thời đại, cuối cùng cho thấy sự thiếu vắng ý thức "dấn thân" như thế đó đã làm cho những gì ông viết ra đầy chất phá hoại (subversive). Ông "coi thường" rất nhiều những "tín lý" của xã hội hiện đại, về tiến bộ, tự do, đạo đức cá nhân và (không như Tolstoy), ông không tìm cách thay thế những gì mà ông huỷ diệt, bằng những "huyền thoại" riêng của mình.

Xã hội thời đó trông mong nhà văn như những người dẫn đường về ý thức hệ và đạo đức trong cuộc chiến chống lại vương quyền. Trong khi những nhà phê bình cấp tiến đề cao những nhà văn "hạng nhì" như Zlatovrasky và Gled Uspensky với những nhân vật đối nghịch: thầy tu, nhà buôn, sĩ quan (những nhân vật phản diện xấu xa) trong thế đối lập với những người dân quê và những con người trẻ tuổi lý tưởng (những nhân vật với trái tim trong trắng), Chekhov viết thư cho vị chủ báo bắt đầu in tác phẩm của mình: Tôi chẳng cấp tiến, chẳng bảo thủ, chẳng tu sĩ, chẳng dửng dưng. Tôi chỉ muốn là một nghệ sĩ tự do, và chẳng cần chi nữa. Thái độ đạo đức giả, sự ngu si đần độn, hành động hiếp đáp, cả vú lấp miệng em, bạo chúa... ngự trị không chỉ ở trong những gia đình con buôn, những trạm cảnh sát. Tôi thấy chúng ở trong khoa học, văn chương, thế hệ trẻ. Đó là lý do tại sao tôi chẳng trông mong gì ở đó. Điều thánh thiện nhất trong mọi điều thánh thiện, riêng với tôi, đó là thân thể người ta, sức khoẻ, sự thông minh, tài năng, hứng khởi, tình yêu và... tự do - thoát ra khỏi bạo lực và những điều dối trá - không cần biết hai thứ sau mang hình dáng nào."

Lá thư, một tập hợp 12 truyện ngắn của Chekhov, mỗi truyện như một thước phim sinh động ghi lại cuộc sống của những người xung quanh ông.

Sự ghê tởm bạo lực và giọng ấm ớ đạo đức, Chekhov có rất sớm, ngày càng lộ rõ. Ông có lần nhận xét (nhân nói về thái độ lý tưởng của Tolstoy đối với dân quê Nga): "Tôi nhà quê ở trong máu, và tôi chẳng hề bị xúc động bởi những đức hạnh của họ."

Ông sinh năm 1860, được một tuổi là bãi bỏ chế độ nông nô. Ông nội, ông ngoại là nông nô. Ông già trút được lốt nhà quê khi chen chân làm chủ một cửa tiệm tại thành phố Taganrog ở phía Nam nước Nga. Là con trai thứ ba trong sáu người, ông nhớ hoài nguồn gốc nông dân, chế độ gia trưởng tàn bạo của ông bố mà ông và hai người em trai là nạn nhân, chưa kể những giờ dài đằng đẵng quỳ trên đá lạnh, hát thánh ca tại nhà thờ dưới con mắt khắc nghiệt của ông thầy dậy nhạc. Mười sáu tuổi, bị bỏ lại ở Taganrog, tự lo thân khi ông bố khánh tận phải đem gia đình về Moscow tìm việc làm. Trong ba năm vừa học vừa lo kèm trẻ, ông làm được điều Tolstoy suốt đời mơ ước nhưng không sao thực hiện được: tái tạo ra chính mình, một con người như một toàn thể đạo đức, thoát ra khỏi những biến dạng bởi chế độ bạo chúa vốn đè nặng đời đời kiếp kiếp lên người dân Nga.

Ông trở thành đầu đàn trong gia đình; sự sống còn chỉ còn trông vào số tiền ông gửi về. Cùng thời gian, ông lo tự trau dồi bằng những giờ tại thư viện thành phố. Thành quả của những năm tháng cô đơn đó, chúng ta có thể nhìn ra, trong thư viết cho người em Nicolai: "để vượt lên khỏi những ngọn roi khốc liệt thuở ấu thời, (em) phải làm sao tạo được sự kính trọng của những con người có nhân cách; phải tự kiềm chế trước hành động nông nổi, liều lĩnh, và lừa dối; không được ngừng đọc, nghiền ngẫm sâu xa, trau dồi ý nguyện của mình. Mỗi giờ là một hiếm hoi, quý báu." Vào năm ba mươi tuổi, ông đã chứng tỏ điều này, khi một nhà xuất bản coi ông là một nhà văn "vô nguyên tắc": "Tôi chưa từng nịnh bợ, nói dối, sỉ nhục bất cứ một ai", "chưa từng viết ra một dòng mà tôi cảm thấy nhục nhã vì nó."

Đời văn của Chekhov bắt đầu là để giúp đỡ gia đình khi ông được học bổng và rời thành phố quê hương tới Moscow làm sinh viên Đại học Y khoa. Trước tiên là những bài viết nho nhỏ, gửi cho những tuần báo. Thành công đến nỗi, sau khi tốt nghiệp y khoa, ông "đành" phải chia thời giờ ra làm hai, "giữa y học... người vợ hợp pháp, và văn chương... người tình (bà vợ bé), của tôi."

Truyện ngắn của ông có một sắc thái riêng, đề tài đa dạng, trải dài toàn cảnh nước Nga với những con người của nó. Chưa tới ba mươi, ông đã là một nhà văn lớn. Năm 1887, vở Ivanov cho ông danh hiệu: người viết bi kịch. Nhờ nó, ông mua được căn nhà cho gia đình thuộc vùng ngoại vi Moscow. Trở thành nhân vật trung tâm của giới văn nghệ thủ đô và của phái đẹp; một số người tình (trước khi có vợ, vào năm bốn mươi) sau này trở thành bạn thân. Bạn trai cũng "mê" ông: họa sĩ Konstantin Korovin mô tả bạn mình "cực kỳ đẹp trai", với đôi mắt dịu dàng, và một nụ cuời "e thẹn lạ chi đâu", "toàn vẻ bề ngoài gây một sự tin cậy đặc biệt". Niềm tin cậy đặc biệt này, là do tình nhân loại "chân trần", luôn luôn bám vào đất của ông. Chính nó đem đến cho ông "một cái mũi rất nhọn" chuyên trị mùi ghê tởm, của "thói đời".

Những nghiên cứu, ghi nhận riêng của ông, về "việc thiện", các công trình nhân đạo, thật đáng nể. Cuốn sách của ông về đảo tù Sakhalin (The Island of Sakhalin, 1893, dựa trên số liệu từ những cuộc thanh tra tình trạng y tế ở đó) đã bầy ra cho cả nước Nga thấy sự khủng khiếp, ghê rợn của hệ thống nhà tù. Những cố gắng của ông trong việc cứu đói tại vùng ông vào năm 1891-1892, được kèm theo bằng những chuyến đi mệt nhoài, thường lội bộ suốt vùng băng giá, như một ông thầy thuốc không được trả lương có nhiệm vụ ngăn chặn một trận dịch, bên cạnh một trận đói. Ông đã chữa trị hàng ngàn dân quê tại y viện địa phương, hoạch định, tham gia việc xây cất trường lớp, thư viện, đóng góp tiền bạc cho những công trình phúc lợi, trong đó có việc cứu trợ một tờ báo y học bị khánh tận, mua ngựa phân phát cho dân chúng, làm phương tiện chuyên chở lúa gạo. Chính thái độ lăn xả vào cuộc sống hàng ngày đã khiến ông trở nên khinh khi những phương thuốc về một "ngày mai ca hát", hay rõ hơn, một cuộc cứu đói toàn cầu: nhân một chuyến thăm Venice, ông đưa ra nhận xét, một trong những niềm vui của "Đến thăm Venice rồi hãy chết": thành phố thiếu vắng hẳn những bộ mặt làm ra vẻ quan trọng của mấy ông Mác-xít. Khi đến thăm Hong Kong, ông nhận xét, so với người Nga, người Anh vậy mà đã nhiệt tình quan tâm tới những "người làm" (employees) của họ. Ông viết, tôi chẳng hề tin vào tầng lớp trí thức "en masse"; ông đặt để niềm hy vọng của mình ở nơi những cá nhân, bất kể trí thức hay nông dân, rải rác khắp nước Nga, chỉ có họ là đáng kể: chỉ với những hiểu biết, những cố gắng của họ mà xã hội từ từ biến đổi.

"Tôi có niềm tin vào sự tiến bộ, ngay khi còn là một đứa bé, nhưng chuyện đó chẳng giúp tôi, khi không tin vào nó, bởi vì sự khác biệt giữa thời kỳ thấm đòn và hết còn bị đòn thật là lớn lao." Ông ngưỡng mộ thái độ lý tưởng của những người Nga cấp tiến, nhưng những lời hô hào của họ chỉ làm ông nhớ lại ấu thời: "Tôi quá ớn sự lạm dụng, bất kể nó nhắm vào ai." Ông buộc tội tầng lớp trí thức, do không tưởng nên bỏ qua những thành quả của zemstva - Những Thay Đổi Lớn, The Great Reforms, hay là những định chế mà chính quyền đưa ra vào thập niên 1860 - nhằm canh tân xã hội Nga. Về những tiến bộ trong ngành giải phẫu tại Nga trên hai thập niên trước đó, ông có lần đưa ra nhận xét, "nếu phải chọn lựa giữa không tưởng cấp tiến, được miêu tả như trong tiểu thuyết của Nicolai Chernyshevsky, What Is to Be Done? nổi tiếng vào thập niên 1980, và bệnh viện tồi tệ nhất 'zemstvo', tôi chẳng do dự lấy một chút, khi ôm lấy bệnh viện."

Đề tài trấn ngự cơ bản của nghệ thuật "Chekhovian" là từ cuộc chiến đấu đầu đời, cộng với những thực hành do nghề thầy thuốc mang lại: cuộc chiến đấu của những ước vọng con người, chống lại những hoàn cảnh "bất thuận lợi". Những năm tháng ở Taganrog đã dạy ông một điều: những cuộc chiến đấu quan trọng nhất, mang tính đạo đức, "được hay thua" không phải vào thời điểm căng thẳng, bi đát, mà thông qua một quá trình những chọn lựa chẳng có gì đáng kể, rất cá nhân. Chúng ta có thể nhận ra dáng dấp của "người hùng Chekhovian" qua lời khuyên của ông gửi tới nhà xuất bản, và cũng là bạn, Aleksei Suvorin, khi ông này viết một bi hài kịch truyền thống: Bạn không thể kết thúc với những người theo chủ nghĩa hư vô. Với họ, chỉ có bão tố, hung bạo. Điều vở kịch của bạn cần là một kết cục êm ả, trữ tình, cảm động... Nếu nữ nhân vật của bạn, sau cùng nhận ra, những con người quanh cô đều làm tầm thường, vô dụng, xấu xa... điều này chẳng lẽ không "khủng khiếp" hơn cả chủ nghĩa hư vô hay sao?

Điều kỳ lạ ở cái bình thường; thảm kịch của điều "chẳng có gì bi thảm", đó là đề tài kịch Chekhov, cùng với nó là cuộc cách mạng kịch nghệ Nga vào thập niên cuối đời ông. Vở kịch lớn đầu tay, Ivanov, vẫn còn giữ những yếu tố bi kịch truyền thống, đã được đón nhận khá nồng nhiệt; vở kế, The Seagull (trong đó, ông đưa ra kỹ thuật của mình, bỏ đi những "mưu đồ" kịch mang tính ước lệ) là một thất bại thê thảm ngay đêm đầu được trình diễn vào tháng Mười 1896; nhưng lần trình diễn thứ nhì, tại Moscow vào năm 1898, đã được nồng nhiệt đón nhận, cũng như những vở kế tiếp: Uncle Vanya, Three Sisters, và vào tháng Giêng 1904, The Cherry Orchard. Sự kiện "chẳng có gì xảy ra" ở trong kịch Chekhov đã trở thành "dấu ấn" của ông, nhưng giới phê bình lại coi đây là khả năng tạo nên không khí, trạng thái kịch, chúng thường được cắt nghĩa như những gợi nhớ u buồn về một nước Nga tranh tối tranh sáng, khi những bậc trưởng thượng, đại diện cho giai cấp đang hấp hối, "nhìn ngắm những cuộc đời thừa thãi của họ."

Richard Gilman, trong Kịch Chekhov: Cửa vào Vĩnh cửu[2], đả phá những nhận định "bản kẽm" như thế. Ảnh hưởng Francis Ferguson, khi coi The Cherry Orchard là "thơ-kịch của nỗi khổ đau, do tang thương dâu bể", Gilamn tiếp cận kịch Chekhov: "một điều giả dụ như là không-bi đát"; "miêu tả, không phải một hành động, nhưng một điều kiện"; nỗi thống khổ ở đây là do cảm nghĩ của chúng ta - những con người sinh tử lão bệnh - về thế gian; chúng ta: mồi ngon của thời gian, và của đổi dời. Khả năng của Chekhov - khi "bi đát hóa" nỗi "không-bi đát", thảm kịch của điều vô ích, của chuyện thường ngày - thật mãnh liệt, ở Three Sisters, trong đó, bước đi thời gian xói mòn dần mọi hy vọng về tương lai vẹn toàn, qua chuyến về thành phố, nơi đồng nhất với quá khứ lý tưởng của họ. "Nó đâu mất rồi? Đâu? Đâu? Chúng ta sẽ chẳng bao giờ trở về được Moscow, chẳng bao giờ... giờ này, tôi thấy rõ điều đó."

Như Gilman chỉ ra, rất nhiều nhân vật của Chekhov mong ước trở thành một người nào khác, ở một nơi chốn nào khác, "kịch" bắt họ trở về nơi chốn, con người, là họ hiện giờ. Nhưng ở đây không có vấn đề "số mệnh, căn phần". Diễn tiến đơn tuyến, ước lệ đưa đến nút mở chót, được thay thế bằng điều mà Gilman gọi là "trường bi kịch" (dramatic field): chuỗi phản ứng đưa đến cảm nhận về sự mất mát. Chúng ta chỉ nhìn thấy những nhân vật, một khi bị giam cứng vào vùng ao tù đóng váng, họ chẳng còn chi để mà vui đùa, giải trí, ngoại trừ những câu nói dấm dẳn, những mẩu chuyện nhát gừng, đong đưa giữa hoài nhớ và nhận thức, được đánh dấu bằng những trống vắng, bằng đột biến, từ khôi hài qua nghiêm trọng. Như Karlinsky chỉ ra, một trong những tư tưởng "chìa khóa" của Chekhov là trong bản tự thuật tóm tắt (resumé), theo đó, tác giả khẳng định nghề y của ông đã có một ảnh hưởng quan trọng đến sáng tác văn học. Ông nhấn mạnh, nhà văn phải trung thành với thực tại thực nghiệm, với thế giới, hành vi cư xử của con người; và đưa ra những nhân vật, với những cái nhìn "khách quan tuyệt hảo". Khi một truyện ngắn của ông bị coi là không có một thái độ rõ ràng về chủ nghĩa bi quan, ông trả lời: công việc của nhà văn không phải là giải quyết những vấn đề như là Thượng Đế, bi quan... nhưng ghi nhận, ai, trong điều kiện nào, đã nói hay đã nghĩ thế này thế nọ về Thượng Đế, về bi quan.

Trên tờ TLS, July 18, 97, John Stokes, khi điểm cuốn Anton Chekhov: A Life, đã cho rằng chủ nghĩa nhân bản Chekhovian, vốn nhập thân vào những nhân vật thầy thuốc, mãnh liệt, vì nó kính trọng "tiếng hát nhân ngư" từ cõi tư riêng (the siren-songs of privacy), từ nỗi bầm rập, té lên té xuống của con người. Những đức hạnh của con người, "chân thật nhất, hướng thượng nhất, nhưng cũng khó khăn nhất", có cội rễ ở từ "Sod", tên con mongoose, hay mangu, của Chekhov. Ông nói, những đặc tính của con vật, là "can đảm, tò mò, và rất mến con người". Con vật Sod tội nghiệp có cơ hội là bỏ chạy, cuối cùng chấm dứt cuộc đời, tại Sở Thú Moscow. Chủ của nó cũng chia sẻ với con vật thân yêu của ông, "đặc tính" chạy trốn đó, nhất là khi có đàn bà dính vào! Rayfield cho biết Chekhov sợ tình dục như sợ bệnh nghiền; nếu ông đầu hàng, nó sẽ tiêu huỷ tự do và tài năng sáng tạo của ông. Thù Zola, khi miêu tả những cuộc tình "nhà nghề, thô bỉ", ông đã viết về một gái điếm Nhật, "nghề riêng ăn đứt" đến nỗi "bạn cảm thấy không phải đang tình tự, mà là tham dự một lớp cao học, về nghệ thuật cưỡi ngựa." Tuy đẹp trai, nhưng qua cuốn tiểu sử của Rayfield, chúng ta thấy đây là một con người với những cuộc tình "bỏ đi". Thê thảm nhất là cuộc tình với "Lika" Mizinova, một người đẹp nghệ sĩ. Trong nhiều năm họ chia sẻ hoan lạc, hiến dâng và sự lạnh lùng, dửng dưng.

"Tin tưởng vào Chúa, một chuyện quá dễ dàng. Đám 'mật vụ' nhà thờ người Tây Ban Nha (inquisitors) tin vào Chúa. Không, bạn phải tin vào con người! Niềm tin này, chỉ có thể khả hữu, ở một số rất ít những con người hiểu và cảm thấy Christ.", một truyện ngắn Giáng Sinh của Chekhov đã kết thúc như vậy, nhưng đã bị kiểm duyệt đục bỏ.

Hết.

Chú thích:

  1. Anton Chekhov's Life and Thought: Selected Letters and Commentary, Michael Henry Heim và Simon Karlinsky dịch từ tiếng Nga, 494 trang, nhà xb Northwestern University Press, 1997.
  2. Yale University Press, 261 trang, 1997.

Nguyễn Quốc Trụ

Theo bài viết Chekhov, the Subversive của Aileen Kelly, NYR Nov 6, 1997; và The Human Virtues của John Stokes TLS July 18, 1997.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Viet Thanh Nguyen, giám khảo gốc Á đầu tiên của giải Pulitzer, và vai trò mới vượt quá lằn ranh văn chương

Published

on

Cuộc đời của Viet Thanh Nguyen đã thay đổi khi anh đoạt giải Pulitzer năm 2016 trong hạng mục tiểu thuyết cho cuốn tiểu thuyết đầu tay gây sửng sốt, The Sympathizer. Trong những năm gần đây, Nguyen – trưởng khoa Tiếng Anh tại Đại học Nam California – đã trở thành cây viết xã luận ​​cho tờ The New York Times, nhận được Học bổng MacArthur (hay còn được gọi là quỹ “tài trợ thiên tài”), tham gia nói chuyện vòng quanh đất nước và thậm chí còn xuất hiện trên chương trình truyền hình Late Night with Seth Meyers.

Một vai trò mới

Thành tựu mới nhất của anh là một trong những dấu mốc đáng ghi nhớ khi góp mặt vào Hội đồng giám khảo Pulitzer với tư cách là thành viên người Mỹ gốc Á đầu tiên trong lịch sử 103 năm của tổ chức này. Theo luật định, nhiệm kỳ này kéo dài ba năm và có thể gia hạn hai lần, tối đa là chín năm.

“Họ đã mời tôi vài lần trước đó, nhưng tôi không thể tham gia vì còn nhiều việc và vẫn đang cố gắng hoàn thành phần tiếp theo của The Sympathizer. Khi họ quay lại vài tháng trước và ngỏ ý, khi đó tôi vừa hoàn thành cuốn tiểu thuyết mới với tựa đề The Committed. Tôi coi trọng ý tưởng về quyền công dân, dù cho đó là phục vụ đất nước hay văn học hay người Mỹ gốc Á, vì vậy tôi gật đầu và đồng ý tham gia.”

R. O. Kwon, tác giả cuốn sách bán chạy The Incendants, nói rằng lẽ ra đã không phải mất quá nhiều thời gian để Hội đồng giám khảo Pulitzer mời một thành viên người Mỹ gốc Á nhưng bây giờ đã có. “Tôi nghĩ điều đó thật tuyệt vời, và may mắn cho chúng tôi - Việt là một nhà văn xuất sắc, đột phá và là đại diện vững chắc cho những giọng nói bị thiệt thòi. Anh mở những cánh cửa và luôn chào đón những người khác."

Về văn chương của người Mỹ gốc Á

Thời thế đã thay đổi từ ngày anh tốt nghiệp đại học California, Berkeley, nơi trưởng khoa tuyên bố rằng anh không thể viết luận án về văn học Mỹ gốc Việt vì đề tài ấy quá co cụm. Thay vào đó, anh mở rộng nghiên cứu sang văn chương người Mỹ gốc Á. Cuốn sách đầu tiên Race and Resistance: Literature and Politics in Asian America (tạm dịch Chủng tộc và Kháng cự: Văn học và chính trị người Mỹ gốc Á) xuất bản năm 2002, là một nghiên cứu văn chương về người Mỹ gốc Á bắt đầu với Onoto Watanna 1896 và kết thúc với Lois-Ann Yamanaka 1996.

“Đối với nhiều nhà văn người Mỹ gốc Á được xuất bản từ cuối thế kỷ 19 cho đến những năm 1990, họ hiểu rằng bản thân ít được biết đến và những câu chuyện của họ cũng thế […] Có rất nhiều áp lực đối với họ, bởi đó là những người tiên phong. Họ biết gia đình và cộng đồng sẽ nhìn vào những tác phẩm này. Có nhiều cảm giác mãnh liệt trong việc họ là người phơi bày cục diện ấy."

Viet Thanh Nguyen nhớ lại anh đã từng có thể theo kịp tất cả tác phẩm do người Mỹ gốc Á viết, nhưng giờ đây anh thấy điều đó là không tưởng bởi sự bùng nổ gần đây của thơ, tiểu thuyết và hồi ký. "Trong tất cả các lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật ở đất nước này, đặc biệt là trong văn học; những người Mỹ gốc Á mới thật sự là người thành công và sung mãn nhất" - Nguyễn, người viết cuốn sách phi hư cấu Không gì chết đi bao giờ: Việt Nam và ký ức chiến tranh và tập truyện ngắn Người tị nạn, nói. Anh cũng biên tập Kẻ ly hương, gồm 17 bài tiểu luận của các nhà văn tị nạn, và gần đây nhất đồng sáng tác cuốn sách thiếu nhi Chicken of the Sea với con trai mình, Ellison Nguyễn, khi đó 5 tuổi.

Theo anh, dù ngành xuất bản chủ yếu vẫn là địa hạt của người da trắng, nhưng người Mỹ gốc Á đã đạt được thành công trong văn học một phần vì đây là loại hình nghệ thuật có chi phí thâm nhập thấp. “Một loại hình nghệ thuật càng đắt tiền, thì những người bị loại trừ càng khó thâm nhập. Đó là lý do tại sao có Hollywood, nơi chống lại sự thay đổi và tồn tại định kiến nhất với những câu chuyện của người Mỹ gốc Á; trong khi trong văn chương, đặc biệt là thơ, rất ít tốn kém, là nơi những người bị loại trừ có cơ hội. Bởi vì ai cũng có thể viết. "

Anh tin rằng gánh nặng đại diện mà các tác giả người Mỹ gốc Á đã từng cảm thấy giờ không còn quá nặng nề với các nhà văn ngày nay, điều này cho phép tạo ra sự lập dị và tính thể nghiệm nhiều hơn. Nguyễn cho biết tiểu thuyết của chính mình có lợi vì được xuất bản sau khi văn học Việt - Mỹ "đã có vài thập kỷ thực sự phát triển”. The Sympathizer được phát hành vào năm 2015 trùng đúng 40 năm kết thúc Chiến tranh Việt Nam, đề cập đến vai trò của Hoa Kỳ tại Việt Nam dưới giọng kể của một người nửa Việt, nửa Pháp không tên làm việc như một điệp viên hai mang trong hậu quốc chiến tranh.

Phần tiếp theo rất được mong đợi sẽ nối tiếp cuốn tiểu thuyết đoạt nhiều giải thưởng này. The Committed, một tiểu thuyết giật gân lấy bối cảnh ở Paris, sẽ được xuất bản vào tháng Ba. Anh nói: “Tôi nghĩ điều quan trọng là phải điều tra và tìm lại những gì người Pháp đã làm ở Việt Nam, bởi Pháp và Mỹ là hai trong số những cường quốc thuộc địa lớn trong thế kỷ trước, và tầm nhìn của họ về dân chủ, tự do và giải phóng chắc chắn là rất quan trọng trong cuộc đời tôi và quyết định số phận của rất nhiều người ở rất nhiều quốc gia.

Nói thẳng sự thật

Nguyễn đã tận mắt chứng kiến những tác động lâu dài của chiến tranh, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân. Anh đến Hoa Kỳ năm 1975 cùng gia đình với tư cách là người tị nạn khi đó 4 tuổi và ban đầu được định cư tại một trại ở Fort Indiantown Gap, Pennsylvania. Họ bị chia tách và sống với những người bảo lãnh khác nhau trong vài tháng trước khi được đoàn tụ để chuyển đến San Jose, California, nơi cha mẹ anh mở một trong những cửa hàng tạp hóa Việt Nam đầu tiên trong thành phố.

Cha mẹ của Nguyễn làm việc mệt mỏi hàng giờ quanh năm và bị thương trong một vụ cướp có vũ trang tại cửa hàng của họ vào đêm Giáng sinh. Khi anh còn là một thiếu niên, gia đình của anh là nạn nhân của một cuộc xâm nhập có chủ đích, trong đó kẻ đột nhập chĩa súng vào mặt họ. Khi Nguyễn trở thành sinh viên đại học tại Berkeley, nơi sau này anh nhận bằng tiến sĩ Anh, anh đã cống hiến cho công bằng xã hội và viết op-eds [bài xã luận với quan điểm cá nhân độc lập] cho tờ báo của trường.

“Tôi luôn thẳng thắn,” anh nói. "Cuốn sách đã cho tôi một nền tảng lớn để nói tất cả những gì tôi luôn muốn nói." Là một nhà phê bình văn hóa, anh đề cập đến mọi thứ: từ hiển hình khuôn mẫu ở Hollywood đến phản ứng của chính phủ với Covid-19 và thậm chí cả cộng đồng mình. "Cộng đồng người Mỹ gốc Việt là nhóm gốc Á duy nhất có đại đa số ủng hộ Trump, và tôi không quá băn khoăn khi lên tiếng về sự phân biệt chủng tộc, đồng lõa và đạo đức giả của họ. Nếu người Mỹ gốc Á đứng về phía bất công, công việc của chúng ta vẫn là phải chỉ trích chính cộng đồng ấy”.

Hết.

Ngô Thuận Phát dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Victoria Namkung, đăng tại NBC News.

*



Đọc bài viết

Cafe sáng