Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Chương 1 “Quốc gia tái thiết” – Jonathan Tepperman

Trong tác phẩm Quốc gia tái thiết, trưởng ban biên tập của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Jonathan Tepperman đã nêu ra mười vấn đề khó khăn, tưởng như vô vọng, mà các quốc gia phải đối mặt, đồng thời giới thiệu mười giải pháp tiềm năng dựa trên những câu chuyện thành công từ các nhà lãnh đạo và chính phủ khác nhau trên thế giới.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Quốc gia tái thiết

Tác giả: Jonathan Tepperman

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: Tháng 12.2019

Giới thiệu sách:

Con người hiện đang sở hữu nhiều công nghệ tối tân và có khả năng sống lâu hơn bao giờ hết. Chúng ta đã thừa kế di sản của hàng triệu năm tiến hóa, và đó là một phước lành vượt xa khả năng hiểu biết của chính chúng ta. Song, không ít nhà nghiên cứu cho rằng xã hội loài người đang bước vào thời kỳ suy giảm đáng báo động. Tình trạng dân nhập cư, người tị nạn, sự nghèo đói và bệnh tật gia tăng đã gây nên nỗi kinh hoàng khắp thế giới. Các chính phủ đã đối mặt với những vấn đề nan giải đó ra sao?

Trong tác phẩm Quốc gia tái thiết, trưởng ban biên tập của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Jonathan Tepperman đã nêu ra mười vấn đề khó khăn, tưởng như vô vọng, mà các quốc gia phải đối mặt, đồng thời giới thiệu mười giải pháp tiềm năng dựa trên những câu chuyện thành công từ các nhà lãnh đạo và chính phủ khác nhau trên thế giới.

1

LỢI ÍCH CHO MỌI NGƯỜI

Brazil đã san sẻ sự giàu có của nó như thế nào

“NGHE NÀY.” LULA TỰA THÂN HÌNH CHẮC NỊCH trên tay vịn ghế ngồi và ghé mặt lại gần tôi, trừng mắt. “Đôi khi tôi làm cho những người bạn học thức của tôi phiền lòng khi nói ra. Nhưng người thầy số một trong đời tôi chính là người đàn bà đã sinh ra và chết đi trong mù chữ: mẹ tôi,” ông nói. “Với tất cả sự kính trọng dành cho các chuyên gia và học giả, họ chẳng biết gì về người nghèo cả. Họ biết nhiều về những con số thống kê, nhưng điều đó khác hẳn, anh hiểu không? Với người trí thức, việc dúi vào tay người nghèo 50 đô la là việc từ thiện; một học sĩ không có ý niệm gì về việc người nghèo có thể làm gì với nó. Nhưng đó là vì tại trường đại học, họ không dạy bạn phải quan tâm tới người nghèo như thế nào. Và đó là vì hầu hết các chuyên gia không bao giờ trải qua những gì mà người nghèo chịu đựng mỗi ngày. Họ không bao giờ phải đi làm với cái bụng đói. Họ không bao giờ sống trong ngôi nhà ngập nước, hoặc phải chờ xe buýt ba tiếng đồng hồ. Với các chuyên gia, một vấn đề xã hội như bất bình đẳng chỉ là những con số. Nhưng tôi tiếp lấy vấn đề xã hội đó và biến nó thành một vấn đề chính trị, vấn đề thực tế. Và rồi tôi cố gắng giải quyết nó.”

Đó là vào tháng 12 – mùa hè ở Brazil – Lula và tôi ngồi trong văn phòng riêng bề bộn của ông ở Ipiranga, một khu trung lưu hơi nhếch nhác của São Paulo. Tôi đến để hỏi ngài cựu Tổng thống Brazil – tên chính thức là Luiz Inácio Lula da Silva, mặc dù không ai gọi ông như vậy – rằng ông đã làm điều đó như thế nào. Làm cách nào Lula đã biến bất bình đẳng thành điều mà ông vừa mô tả như là vấn đề có thể xử lý về mặt chính trị – và rồi giải quyết nó thành công một cách đáng ngạc nhiên như vậy?

Cảm giác muốn tìm kiếm câu trả lời thật cấp bách. Suy cho cùng, sự bất bình đẳng thu nhập đã bùng nổ trên khắp thế giới trong những năm gần đây, trở thành nguồn cơn bất an vô cùng trên thế giới. Vực thẳm ngăn cách giữa giới siêu giàu và phần còn lại có vẻ mở rộng không vãn hồi ở hầu khắp mọi nơi. Và không ai biết phải làm gì với nó.

Một lý do cho sự bất lực này là tăng trưởng kinh tế – từ lâu được coi như chìa khóa để cải thiện sự thịnh vượng nói chung – đã không còn có tác dụng như mong đợi. Mặc dù các chính khách thường đổ lỗi cuộc khủng hoảng bất bình đẳng hiện nay cho Đại suy thoái và những dư chấn của nó, giả thuyết này không đứng vững được. Vì nếu bạn nhìn vào nhiều quốc gia với khoảng cách thu nhập đã mở rộng khủng khiếp trong vài năm qua, bạn sẽ đi đến phát hiện lạ thường: danh sách này bao gồm một vài nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh nhất thế giới, như Trung Quốc.

Điều này có nghĩa là việc đưa các nền kinh tế đang chệch choạng của thế giới trở lại đúng đường hướng không thôi sẽ không giúp ích nhiều để thu hẹp các hố sâu thu nhập. Nó có thể chỉ càng tạo ra thêm nhiều Trung Quốc mà thôi. Để thật sự giải quyết vấn đề bất bình đẳng đòi hỏi cách tiếp cận sáng tạo và thông minh hơn nhiều.

Cuộc săn lùng chiến lược đã được tiến hành tốt, với các chuyên gia và các nhà lãnh đạo quốc gia ngày càng tuyệt vọng đang nặn óc tìm câu trả lời. Trong số những giải pháp được đề xuất đến nay, nổi tiếng nhất có lẽ là của Thomas Piketty, nhà kinh tế học siêu sao người Pháp đã kêu gọi áp đặt một loại thuế tài sản toàn cầu trong tác phẩm best-seller năm 2014 của mình.

Không khó để hiểu vì sao có nhiều người say mê ý tưởng này đến vậy. Nó đơn giản một cách cảm động, một tuyệt chiêu lấy của người giàu chia cho kẻ nghèo. Nhưng có hai vấn đề lớn với kế hoạch của Piketty, cũng như những phương pháp cực đoan tương tự đối với sự bất bình đẳng. Thứ nhất, chúng sẽ không bao giờ có tác dụng, vì những lý do chính trị lẫn chuyên môn; giới tinh hoa toàn cầu quá giỏi trong việc bảo vệ lợi ích của mình và né tránh những khoản thuế được cho là phải đóng.

Và thứ hai, những chiến lược gây tranh cãi như vậy là quá mức cần thiết.

Trong khoảng chục năm qua, Brazil đã chứng tỏ có một cách tốt hơn, ít cực đoan hơn, và thân thiện với thị trường hơn nhiều để chống lại sự bất bình đẳng. Phương pháp này đã được thử thách, và nó có hiệu quả.

Người đàn ông ngồi đối diện tôi trong ngày nóng nực ấy ở Ipiranga là người đã làm cho điều đó xảy ra, đã chủ trì một trong những cuộc cải biến xã hội thành công nhất, ít gây xáo trộn nhất mà thế giới từng chứng kiến.

TRONG ĐỜI THỰC, thậm chí còn hơn cả tiểu thuyết, mọi chuyện thường diễn ra theo những kịch bản có thể dự báo trước. Người đẹp lấy được chồng giàu. Chính trị gia gây quỹ được nhiều hơn với mái tóc dầy hơn thắng cuộc. Người giàu càng giàu thêm, và số còn lại bị chơi xỏ. Những chiến thắng khó khăn và bất ngờ thì cực hiếm hoi.

Song họa hoằn chúng vẫn xảy ra, và đây là một trong những trường hợp như vậy. Vì thế trước khi giải thích điều này diễn ra như thế nào – Brazil đã thành công ra làm sao – thật đáng để xem xét điều gì khiến cho cái kết có hậu này có vẻ khó tin, và do đó, truyền cảm hứng đến vậy.

Trước hết là bối cảnh của câu chuyện. Thật khó để hình dung Brazil ngày nay có thể là hình mẫu cho bất cứ cái gì. Quốc gia này là một mớ hỗn độn, tan tác bởi cuộc khủng hoảng này đến cuộc khủng hoảng khác. Khi mọi chuyện bung bét, quốc hội bị tê liệt và các lực lượng chính trị lao đao bởi các vụ bê bối tham nhũng cấp thượng tầng. Bản thân Lula đã bị nghi ngờ khi trở thành đối tượng của một cuộc điều tra mở rộng.

Hơn nữa, mãi cho đến rất gần đây, ý tưởng rằng Brazil có thể có điều gì đó để dạy thế giới về sự bất bình đẳng ắt hẳn nghe như một chuyện đùa. Trong nhiều thập kỷ, đất nước này không chỉ có vấn đề với sự bất bình đẳng mà thôi – bản thân nó vấn đề. Quốc gia lớn nhất Mỹ Latin này nằm trong số những nơi chốn bất bình đẳng nhất hành tinh, tình trạng đồng nghĩa với sự bất công xã hội tàn tệ. Hẳn nhiên rồi, nó được phú cho một nền dân số lớn, trẻ trung và dồi dào tài nguyên thiên nhiên (bao gồm vị trí thứ tám thế giới về dự trữ nước ngọt và nằm trong số các quốc gia có trữ lượng lớn nhất về dầu và khí đốt xa bờ). Nhưng khi nói tới việc phân phối của cải, Brazil làm tệ hơn mức mà bạn có thể tưởng tượng; ngay cả một Haiti bé nhỏ, chìm trong tăm tối còn công bằng hơn. Xuyên suốt những năm 1980 và 1990, mặc dù Brazil đã chuyển từ chế độ độc tài sang dân chủ và những cải cách táo bạo của Tổng thống Fernando Henrique cuối cùng đã đưa mức lạm phát phi mã xuống tầm kiểm soát, đại bộ phận dân chúng cùng khổ của nó vẫn kẹt cứng trong cảnh cơ hàn ở nông thôn và các khu ổ chuột ở thành thị trong khi một thiểu số may mắn vút bay trên những siêu đô thị không thể quản lý của quốc gia bằng trực thăng riêng. Khi thế kỷ mới bắt đầu ló dạng, khoảng một phần ba dân số Brazil sống lay lắt dưới lằn ranh đói nghèo của thế giới (thường được định nghĩa bằng mức sống dưới 2 đô la một ngày), và khoảng 15% dân chúng sống cảnh bần cùng (dưới 1,25 đô la mỗi ngày).

Nhưng đó là thời khắc mà Brazil rốt cuộc bắt đầu thay đổi, thoạt đầu chậm chạp và sau đó với tốc độ khủng khiếp kể từ năm 2003. Đến năm 2011 nền kinh tế của nó, nhờ có những cải cách của Cardoso và sự khích lệ sau đó của Lula, đã tăng trưởng với tốc độ đáng kể 4% một năm và tỉ lệ thất nghiệp xuống thấp kỷ lục. Và lần này, phúc lợi đã thật sự được sẻ chia rộng rãi. Trong cùng giai đoạn này, gần bốn mươi triệu người Brazil đã thoát khỏi đói nghèo để gia nhập tầng lớp trung lưu. Thu nhập bình quân hộ gia đình tăng vọt lên 27%. Và, có lẽ ấn tượng nhất, mức độ bất bình đẳng hạ thấp đột ngột – trong khi nó đang tăng lên ở hầu khắp mọi nơi.

ĐIỀU GÂY KINH NGẠC không kém tốc độ của cuộc chuyển biến này là nhân dạng của người đàn ông chịu trách nhiệm nhiều nhất về nó.

Trước khi dính phải các vụ bê bối gần đây, Lula đã trở thành hình tượng nổi bật – trong năm 2012 ông rời nhiệm sở với tỉ lệ ủng hộ 87%, không lâu sau khi Tổng thống Obama gọi ông là “nhà chính trị được yêu mến nhất hành tinh” – đến nỗi thật khó để nhớ việc ông từng là nhân vật gây phân cực ra sao vào năm 2002, khi chiến dịch đưa ông vào chức vụ tổng thống bắt đầu khởi động. Râu ria tua tủa và ánh mắt dữ dội, với thân thể của một công nhân bốc vác thấp bè, ứng viên này gây hoang mang cho giới tinh anh Brazil, các tập đoàn, các nhà đầu tư, và nhiều đối tác ngoại quốc của nó – nhất là Mỹ.

Vấn đề nằm ở cá nhân con người. Trong khi vị tiền nhiệm của Lula, Cardoso, là người chủ trương ôn hòa và một học sĩ lịch thiệp, Lula lại xù xì và thô ráp đến mức người ta có thể tưởng tượng được nơi ông có một điều gì đó mà ông không hề cố gắng che giấu. Thực vậy, ông là người con kiêu hãnh của miền đông bắc cơ cực của đất nước. Sinh năm 1945 tại bang Pernambuco khô cằn sỏi đá, Lula là con thứ bảy trong tám anh chị em. Gia đình ông lay lắt cơ hàn và càng khốn đốn hơn nữa khi mà, không lâu sau khi Lula chào đời, cha ông bỏ nhà ra đi và chết trong cảnh nát rượu. Điều này đã đẩy cả gia đình lâm vào bế tắc đến nỗi vị tổng thống tương lai đã buộc phải bỏ học sau khi xong lớp hai để đi đánh giày. Năm mười tuổi ông tự học đọc, và năm mười bốn tuổi Lula bằng cách nào đó đã tìm được việc làm trong một nhà máy, nơi ông mất ngón tay út trái sau vụ tai nạn lao động. Không lâu sau đó, ông đã để hết tâm trí vào phong trào lao động mạnh mẽ ở Brazil và tìm thấy thiên hướng của mình. Thăng tiến nhanh chóng qua các cấp bậc của Công đoàn Luyện kim São Bernardo, Lula đã trở thành nhà lãnh đạo của tổ chức này vào tuổi ba mươi. Và vào năm 1980 – thời điểm Brazil vẫn còn bị thống trị bởi tập đoàn quân sự – ông đã giúp sáng lập Đảng Công nhân cánh tả (được biết đến là đảng PT, viết tắt tiếng Bồ Đào Nha) trong niềm hy vọng trao cho tầng lớp bị áp bức tiếng nói mạnh mẽ hơn trên vũ đài chính trị quốc gia.

Đến thời điểm cuộc bầu cử năm 2002, Lula đã ra tranh cử tổng thống – và thất bại – những ba lần. Dù không bao giờ là một nhà Marxist (khác với nhiều đồng chí trong đảng PT), các chiến dịch trước đó của ông nổi bật lên bởi lời kêu gọi quốc hữu hóa ngành công nghiệp và cho vỡ nợ quốc gia. Với luận điệu như vậy cộng với gốc gác cần lao và chiến dịch vận động cùng lời hứa xóa bỏ đói nghèo, Lula đã hoàn toàn làm kinh hãi giai cấp giàu có ở Brazil và các nhà tư bản nước ngoài khi ông rốt cuộc nổi bật lên trong các cuộc thăm dò ý kiến. Như Mac Margolis, nhà báo kỳ cựu ở Rio, nhớ lại, sự trỗi dậy của Lula khiến cho nhiều người Brazil – vốn lo sợ “người đàn ông râu ria bù xù của liên minh cánh tả sẽ giành được ghế tổng thống và biến Brazil thành một Cuba ngoại cỡ” – toát mồ hôi hột.

Bất chấp việc bản thân Lula quả quyết rằng “Brazil đã thay đổi, đảng Công nhân đã thay đổi, và tôi đã thay đổi,” ít người tin vào điều đó. Ở Hoa Kỳ, đảng viên Cộng hòa Henry Hyde, chủ tịch Ủy ban Quan hệ Quốc tế Hạ viện, đã cáo buộc ông là một “người cực đoan thân Castro.” Còn Goldman Sachs bắt đầu công bố một “Lula thử biểu” với mục đích theo dõi rủi ro cho các nhà đầu tư nếu đảng PT giành thắng lợi. Ngay cả George Soros cũng đã cảnh báo rằng chiến thắng của Lula sẽ mang đến sự hỗn loạn. Các ngân hàng ngoại quốc dễ hoảng sợ bắt đầu cắt giảm tín dụng. Và nền kinh tế yếu ớt của Brazil, vốn vừa bắt đầu hồi phục, đã quay đầu lặn sâu. Các chỉ số chứng khoán chính lao dốc 30%. Các nhà đầu tư cũng bắt đầu bán tháo cổ phần, khiến cho dòng vốn 12 tỉ đô la chảy ồ ạt ra khỏi quốc gia chỉ trong vài tháng. Và đồng real của Brazil giảm giá trị 40% so với đồng đô la Mỹ, chạm mức thấp chưa từng có vào thời điểm sắp khép lại năm 2002.

Song người Brazil đã đủ mệt mỏi với kết cấu xã hội phong kiến ở quốc gia này và nỗi đau đớn gây ra bởi các cải cách cấu trúc và những biện pháp khắc khổ cần thiết nhưng không được lòng người của Cardoso khiến cho Lula rốt cuộc vẫn giành chiến thắng. Khi người đàn ông xù xì của liên minh chuẩn bị nhậm chức và nền kinh tế tiếp tục oằn mình dưới phong ba bão táp, quốc gia này đã chuẩn bị tinh thần cho một cuộc đương đầu bi tráng tất phải đến.

NHƯNG MỘT SỰ THỂ KHÔI HÀI đã xảy ra: cơn đại chấn đó không bao giờ đến.

Lula quả thực đã nhậm chức với cuộc cách mạng nung nấu trong đầu. Nhưng nó hóa ra là một kiểu chuyển biến rất khác so với điều mà những người bảo thủ chỉ trích ông lo sợ. Cả những thất bại trước đó lẫn những phản ứng xấu xí dành cho chiến thắng sau cùng của ông đều không làm suy yếu cam kết của Lula đối với việc thay đổi xã hội. Nhưng – và xem ra đây là chữ nhưng then chốt của toàn bộ câu chuyện – chúng đã thay đổi sâu sắc cách thức ông hoạch định để làm cho sự thay đổi ấy diễn ra. Tất cả những sự thất bại và tranh cãi bủa vây đã thúc đẩy Lula nghiêm túc tiến hành tự vấn lương tâm. Giữa những năm 1993 và 2001, ông và José Graziano da Silva, một nhà nông học hói đầu đậm râu gốc Mỹ vốn là một trong những cố vấn thân cận nhất của ông (dù cùng họ Silva, hai người này không phải họ hàng), đã đi khoảng 90.000 kilômét khắp Brazil trong những chuyến vi hành mà họ gọi là caravanas da cidadania. Và vị chính khách đã xuất hiện như một người ôn hòa, đầy tinh thần hòa giải, và lọc lõi về chính trị hơn nhiều khiến hầu hết mọi người không kịp nhận ra.

Trong tất cả những bài học mà thất bại đã dạy cho vị tổng thống mới, bài học quan trọng nhất là ông sẽ không bao giờ tiến xa nếu cố cai trị vì lợi ích của chỉ một phần Brazil mà thôi. Nếu muốn sử dụng quyền hành mới được trao để thật sự thay đổi tình hình, trước hết ông phải lôi kéo về mình nhiều người hoài nghi có thế lực. Và điều này có nghĩa là phải tìm một phương án để đảm bảo sao cho công cuộc thay đổi làm lợi cho mọi người.

Và thế là kẻ kích động quần chúng đã hóa thân thành Người hòa giải vĩ đại. Lula gạt bỏ tất cả những diễn ngôn về vỡ nợ và tái phân phối của cải ra khỏi từ vựng của mình. Ông cắt tóc và bắt đầu mặc com lê. Và ông chấn chỉnh bản thân thành hình tượng mà Margolis gọi là “CEO-whisperer, người bạn của tầng lớp trung lưu, [và] người bênh vực nền dân chủ thị trường trọng pháp.” Dù bước dịch chuyển về phía tầng lớp trung lưu này đã gây ra nhiều tiếng lầm bầm trong nội bộ đảng PT – “nhiều thành viên trong đảng, và người trong các hiệp hội thương mại, hoàn toàn không thích ý tưởng này,” Lula nhớ lại – ông vẫn giữ vững niềm tin. Vào ngày nhậm chức, Lula đã cam kết bảo lưu các chính sách tài chính và tiền tệ chặt chẽ của Cardoso. Và không lâu sau lễ nhậm chức vào tháng 1 năm 2003, ông bắt đầu hành động, chỉ định Henrique Meirelles – cựu ủy viên quản trị được trọng vọng của BankBoston và thành viên trong đảng của Cardoso, đảng PSDB – điều hành ngân hàng trung ương Brazil. Ông cũng bổ nhiệm Antonio Palocci, một người ôn hòa khác, làm bộ trưởng tài chính. Đoạn Lula bắt đầu chĩa mũi dùi vào ngân sách quốc gia trương phình của Brazil, cắt giảm chi tiêu khoảng 4 tỉ đô la trong năm đầu và áp đặt một mục tiêu thặng dư ngân sách thậm chí khắt khe hơn mức Quỹ Tiền tệ Quốc tế đề nghị.

Kết quả nhìn thấy ngay lập tức. Nhiều địch thủ từng công kích ông xuyên suốt chiến dịch năm ngoái đã im hơi lặng tiếng. Vào tháng 3 năm 2003, Mohamed El-Erian, giám đốc điều hành của quỹ đầu tư trái phiếu khổng lồ PIMCO, tuyên bố rằng những nước đi đầu tiên của ngài tổng thống – “từ công bố chính sách, đến bổ nhiệm, và thi hành” – là “rất tốt.” Các thị trường tán thành điều đó; trong vòng sáu tháng sau lễ nhậm chức của Lula, giá trị trái phiếu Brazil đã tăng lên 20%. Ngay cả Goldman Sachs cũng ngượng ngùng thừa nhận rằng những cảnh báo trước đó của nó là sai lầm.

Tuy nhiên, cùng lúc ve vãn những gã lắm tiền nhiều của, Lula còn dốc sức trên một mặt trận khác, chuẩn bị sử dụng vốn liếng chính trị đang lên của mình để tiến hành một chiến dịch phúc lợi xã hội mới vô cùng tham vọng. Triển khai vài tháng sau khi đắc cử, chiến dịch Fome Zero (Không còn đói nghèo) bao gồm hơn bốn mươi chương trình khác nhau được điều hành bởi gần hai mươi bộ của chính phủ. Nhưng sáng kiến đứng ở vị trí nòng cốt của chiến dịch là Bolsa Família (Trợ cấp gia đình), một nỗ lực chống đói nghèo vốn mang tính đột phá với quy mô, sự tham vọng, và thiết kế của nó.

BOLSA FAMÍLIA KẾT HỢP vài sáng kiến tỏ ra có tính quyết định đối với thành công cuối cùng của chương trình – cả trên phương diện chính sách cũng như chính trị.

Trước hết, thay vì cấp cho người nghèo hàng hóa hay dịch vụ, như hầu hết chương trình phát triển khác lúc bấy giờ, Bolsa Família thử làm một điều gì đó táo bạo hơn nhiều: chỉ đưa tiền mà thôi. Brazil thật sự đã bắt đầu thử nghiệm phương pháp này vài năm trước đó. Năm 1995, hai thành phố Campinas và Brasília đã thực thi các chương trình phát-tiền-mặt trên cơ sở thử nghiệm. Chúng tỏ ra có hiệu quả trong việc cải thiện đói nghèo đến mức sớm được mô phỏng bởi hơn một trăm chính quyền địa phương khác. Và Tổng thống Cardoso đã cho thử nghiệm kế hoạch tương tự trên quy mô toàn quốc vào năm 2001, dù số tiền phát ra rất nhỏ và việc thực hiện có sai sót. Tuy vậy, kết quả vẫn đầy hứa hẹn khiến cho Lula, nghe theo lời khuyên của Graziano, quyết định gộp tất cả chương trình khác nhau này vào một sáng kiến quốc gia mới được tổ chức hợp lý – và mở rộng ra trên quy mô lớn hơn nhiều so với hình dung của hầu hết chuyên gia.

Bất chấp sự thành công của những thử nghiệm Campinas và Brasília, Bolsa Família gây tranh cãi kịch liệt khi Lula lần đầu thực hiện vào tháng 10 năm 2003. Lúc bấy giờ, hầu hết các chuyên gia và tổ chức quốc tế vẫn coi ý tưởng đưa tiền cho người nghèo là một sai lầm nguy hiểm. Đơn giản là theo trực giác, nó có vẻ gì đó kỳ khôi. Nó cũng ra mặt thách thức nhiều thập kỷ nghiên cứu khoa học xã hội và những gì mà Ngân hàng Thế giới từ lâu coi là cách làm tốt nhất. “Các chuyên gia không chấp nhận ý tưởng này,” Lula nhớ lại. “Họ thích cho người nghèo nhu yếu phẩm hàng ngày, hoặc làm cái gì đó cho họ hơn.” Như Lena Lavinas, nhà kinh tế học tại Đại học liên bang Rio de Janeiro, nói với tôi, đó là vì lý lẽ cho rằng “người nghèo không biết dùng nguồn lực một cách đúng đắn.” Dịch ra: người ta cho rằng người nghèo sẽ tiêu hoang số tiền vào rượu chè, thuốc lá, hoặc những món đồ lòe loẹt vô giá trị. Các nhà làm chính sách, không phải người dân, biết rõ nhất, vì vậy họ nên là người ra quyết định.

Thế nhưng ba cái nhìn sáng suốt đã thuyết phục Lula và các cố vấn của ông bác bỏ ý niệm này. Thứ nhất, kinh nghiệm của chính Brazil đã chứng tỏ rằng các nỗ lực trên quy mô lớn nhằm giảm đói nghèo thông qua phân phối hàng hóa, như chương trình lương thực đồ sộ mà Cardoso đã thực hiện vào cuối những năm 1990, thường rơi tõm vào các khuôn mẫu rắc rối và đắt đỏ. Việc cấp nhu yếu phẩm cho người nghèo là cực kỳ phức tạp, tốn kém, và không hiệu quả. Nó cũng đòi hỏi một bộ máy quan liêu cồng kềnh, vốn tạo ra vô số cơ hội cho sự tham nhũng – vấn nạn kinh niên ở Brazil.

Thứ hai, một vài cuộc nghiên cứu học thuật có tính bước ngoặt (mà về sau được xác nhận bởi hàng loạt nghiên cứu tiếp theo) bắt đầu củng cố điều mà Lula đã biết rất rõ: rằng người hiểu rõ nhất người nghèo thật sự cần gì là những người như mẹ ông – ấy là, bản thân người nghèo. Nghiên cứu mới cũng chứng tỏ rằng, khi được trao cơ hội, các gia đình cơ cực thường không chi tiêu hoang phí. Hầu hết chi tiêu khá hợp lý – nhất là khi số tiền ấy rơi vào tay người mẹ, không phải những người cha, như trong chương trình Bolsa Família.

Cuối cùng, Lula nhận thức rằng làn sóng tư hữu hóa đã quét qua Mỹ Latin trong những năm tám mươi và chín mươi – khi các chính phủ bán tháo hầu hết mọi thứ từ sân bay và nhà máy năng lượng cho đến các nhà cung ứng dịch vụ – đã bỏ mặc hàng trăm triệu dân thường tụt lại phía sau, vì quá nghèo để tham gia vào nền kinh tế thị trường đang rộng mở. Lula và đội ngũ cố vấn của ông cho rằng thay vì trải qua cơn ác mộng tái quốc hữu hóa các doanh nghiệp lớn, cách tốt nhất và đơn giản nhất để đảo ngược quá trình chặn cửa người nghèo này là cho một ít tiền mặt vào túi họ.

Vậy đó là điều mà họ quyết tâm làm.

NHƯ NGÀI TỔNG THỐNG và những phụ tá đã đặt định, tư cách để được hỗ trợ theo chương trình Bolsa Família rất đơn giản. Bất kỳ gia đình nào có thể chứng minh đang sống trong cảnh nghèo cùng cực – bấy giờ được định nghĩa là dưới 50 real (khoảng 42 đô la) một người mỗi tháng – sẽ đủ tư cách nhận tiền, cũng như những gia đình nghèo vừa phải vốn kiếm ít hơn 100 real mỗi đầu người.

Nhưng Lula cũng quyết định rằng Bolsa Família không đơn giản là phát tiền khơi khơi như thế. Tham gia vào chương trình là điều dễ dàng, nhưng để lưu lại với nó đòi hỏi phải làm việc. Những người tham gia sẽ phải đáp ứng vài điều kiện, hay contrapartidas (trách nhiệm bên tương ứng): đảm bảo rằng tất cả các con từ 6 đến 15 tuổi phải có mặt ở trường ít nhất 85% thời gian; đảm bảo mọi đứa con dưới 7 tuổi được chủng ngừa; và cam đoan rằng cả mẹ lẫn con đều đi kiểm tra y tế đều đặn. (Thai phụ cũng được yêu cầu đi khám thai và nuôi con bằng sữa mẹ.)

Lula có hai lý do rất thông minh để áp đặt những quy tắc ấy. Thứ nhất, trong khi bản thân ông có thể đào ra con đường thoát khỏi đói nghèo bằng chín đầu ngón tay của mình, ông biết rằng ông là một cá biệt may mắn khi làm được điều đó. Với hầu hết người Brazil, nhân khẩu học là định số: nếu bạn sinh ra trong nghèo đói, bạn cũng sẽ chết trong nghèo đói. Thực vậy, các nghiên cứu học thuật đương thời chứng tỏ rằng mối tương quan giữa số tiền cha mẹ kiếm được so với mức thu nhập sau này của con cái họ cao hơn ở Brazil so với hầu hết các quốc gia khác. Lý do cho sự thiếu cơ hội vươn lên này là nhiều người Brazil cảm thấy buộc phải để cho các con đi làm thay vì đến trường, ngay cho dù làm như vậy là tước đoạt của chúng những công cụ có thể giúp chúng cải thiện cuộc sống sau này. Lula quyết tâm phá tan cái bẫy nhiều thế hệ này bằng cách chống lại sự nghèo đói hôm nay ngày mai. Nói bằng ngôn ngữ thực tế, điều đó có nghĩa là tạo điều kiện – và đòi hỏi – các bậc cha mẹ trao cho con cái những lợi thế lớn lao, dưới dạng giáo dục, chăm sóc y tế, và dinh dưỡng, hơn là chính họ từng được hưởng.

Nhưng động cơ của Lula trong việc thiết kế Bolsa Família theo cách ông đã làm chỉ phần nào liên quan tới chính sách. Người hòa giải vĩ đại vừa tìm thấy nhiệt huyết với con đường trung dung này cũng đang ấp ủ một tư duy chiến lược: ông biết rằng điều kiện chặt chẽ đi kèm chương trình viện trợ của ông sẽ khiến nó dễ thuyết phục phần còn lại của xã hội hơn. Và ông biết mình cần mọi sự giúp đỡ có thể tìm được. Trước Lula, hầu hết các chương trình cứu trợ xã hội ở Brazil mang hình thức kế hoạch bảo hiểm vốn làm lợi một cách bất xứng cho các tầng lớp trung và thượng lưu (khó lòng đủ tư cách được hưởng trợ cấp chính phủ nếu bạn không làm việc trong nền kinh tế chính quy). Với Bolsa Família, đây là lần đầu tiên một Tổng thống Brazil thật sự đưa việc chống đói nghèo và bất bình đẳng vào trung tâm nghị trình (dù các chính trị gia trước đây từng làm điệu bộ với nó.) Điều này gần như đảm bảo một trận chiến khó tránh.

Quả nhiên, sự phản đối bắt đầu nổi lên ngay khi chương trình được giới thiệu vào đầu tháng 10 năm 2003. Bolsa Família chẳng những công khai thách thức thông lệ lâu nay, vả chăng một vài nhà kinh tế học còn biện luận rằng chính phủ nên đầu tư vào cơ sở hạ tầng như trường học thay vì chăm lo người nghèo bằng cách đưa tiền cho họ. Số khác nói rằng không nên chỉ bảo các bậc cha mẹ phải làm gì với con cái họ. Và các ngài học giả bảo thủ thì cảnh báo rằng việc trao tiền mặt sẽ tạo ra một tầng lớp sống bám vào phúc lợi, mà tiếng Bồ Đào Nha gọi là assistencialismo. (Đừng bao giờ quên sự kiện rằng ý tưởng trao tiền mặt đã được ấp ủ đầu tiên bởi thần tượng của cánh hữu, nhà kinh tế học người Mỹ Milton Friedman.) Như Tereza Campello, Bộ trưởng Phát triển Xã hội, nhớ lại, trong ngày đầu của chương trình Bolsa Família, những người chỉ trích liên tục công kích bà bằng một châm ngôn lạc hậu rằng dạy người ta cách câu thì hơn cho cá. “Phe đối lập cáo buộc chúng tôi sắp sửa tạo ra một đám người lười biếng,” Lula nói với tôi.

Hiến pháp Brazil cho tổng thống khả năng thực hiện Bolsa Família bằng chính thẩm quyền hành pháp của mình. Nhưng luật cũng quy định rằng ông cần sự phê chuẩn của quốc hội để thay mới chương trình trong vòng 1 năm. Điều đó có nghĩa Lula phải đảm bảo có được sự ủng hộ rộng rãi nếu muốn chương trình mang chữ ký của ông sống sót – và contrapartidas là chìa khóa để ông đạt được nó. “Ý tưởng ở đây là chứng minh rằng chúng tôi không trao tiền khơi khơi,” Lula giải thích với tôi. “Chúng tôi phải xây dựng lòng tin, ngay cả trong số những người hoài nghi về chương trình này.” Như Ariel Fiszbein và Norbert Schady, hai nhà kinh tế học của Ngân hàng Thế giới, ghi lại, điều kiện giúp Lula thực hiện điều đó chính là tạo ấn tượng phổ biến rằng Bolsa Família không phải là chiêu dỗ dành người nghèo, nhưng đúng ra là một kiểu giao ước xã hội mới theo đó những người thụ nhận phải làm phần việc của mình. Việc bắt người thụ hưởng thể hiện “bằng chứng rõ ràng của sự cam kết” với “những hành vi tích cực” mà chương trình yêu cầu khiến họ cảm thấy xứng đáng hơn, tạo cho công chúng cảm tưởng rằng họ đã kiếm được số tiền đó.

Tất nhiên, việc đơn giản công bố những điều kiện chính thức là chưa đủ; phải có cả hình phạt cho người không tuân thủ. Với mục đích đó, các kiến trúc sư của Bolsa Família đã thiết kế một hệ thống các mức phạt tăng dần cho những người không làm tròn phần việc của mình. Những người phá luật sẽ nhận được lời cảnh cáo; nếu họ vẫn không tuân thủ, phúc lợi sẽ bị đình chỉ, và nếu vấn đề tiếp diễn, họ rốt cuộc sẽ bị gạt khỏi chương trình.

Trong khi sắc lệnh như vậy trông có vẻ tốt trên giấy, Lula sớm phát hiện ra rằng để mọi người thật sự coi trọng chúng đòi hỏi liều thuốc mạnh hơn: bằng cớ không thể chối cãi là ban hành luật. Năm 2004, chính quyền Lula trở nên bận tâm tới việc mở rộng phạm vi chương trình (số người thụ hưởng tăng từ 3,8 triệu gia đình, hay gần 16 triệu người, vào cuối năm 2003 lên gần gấp ba năm 2006) đến nỗi nó đã thôi chú ý nhiều tới việc liệu những người thụ hưởng mới này có giữ vững cam kết của mình. Khi mà, một phần năm trôi qua, chính phủ phát hiện ra rằng chỉ có 55% số trường công lập Brazil báo cáo việc những người thụ hưởng Bolsa Família có đáp ứng được chỉ tiêu cho con đến trường, bèn quyết định tạm thời đình chỉ những nỗ lực giám sát hoàn toàn.

Lựa chọn này có thể gây cảm tưởng về sự quan liêu; chính quyền chỉ đang cố mua thời gian để dọn nhà cho ngăn nắp. Và điều đó quả thật là một thảm họa. Ngày 17 tháng 10, chỉ vài ngày trước cuộc bầu cử thành phố toàn quốc, Fantástico, chương trình thời sự tối Chủ nhật nổi tiếng đã phát phóng sự điều tra về những người nhận không xứng đáng đã lạm dụng chương trình Bolsa Família. (Hãy nghĩ tới những lời ta thán thời Reagan về các nữ hoàng phúc lợi lái Cadillac và bạn sẽ hình dung ra giọng điệu của bài phóng sự.) Cả thế giới truyền thông Brazil nhao nhao nhảy vào câu chuyện, lên án chính phủ từ khắp mọi nơi. Công chúng đùng đùng nổi giận; chỉ trong một tuần sau bài phóng sự của Fantástico, chính phủ đã nhận được vài ngàn lời kêu ca giận dữ.

Cảm nhận sự nguy hiểm, Lula quyết định đương đầu trực diện với những người chỉ trích. “Chúng tôi đã rút ra bài học nào từ thời khắc này? Sự khiêm tốn,” ông nói với tôi. “Bạn phải thừa nhận rằng một chương trình rất lớn sẽ có những sai sót. Bạn phải thú nhận chúng. Và sau đó bạn phải sửa chữa.” Với mục đích đó, Lula lập ra Bộ Phát triển Xã hội mới (được biết đến bởi từ viết tắt tiếng Bồ của nó, MDS) để tập trung giám sát Bolsa Família. Rời bỏ truyền thống chính trị bảo trợ bấy lâu của Brazil, ông bố trí nhân lực cho bộ mới với các nhà kỹ trị được đào tạo tới nơi tới chốn (bao gồm nhiều thành viên của đảng PSDB đối lập) thay vì những cánh hẩu cùng đảng phái. Vào tháng 1 năm 2005, ông đích thân chủ trì một chiến lược liên bộ hoàn toàn mới nhằm cải thiện việc thực thi Bolsa Família; trong số những biện pháp khác, ông thiết lập một cơ quan đăng kiểm thống nhất toàn quốc để theo dõi mọi người từng hưởng trợ cấp chính phủ dưới mọi hình thức, tập trung vào các tiêu chuẩn thích hợp của Bolsa Família, tiến hành các cuộc kiểm toán chính quy và kiểm tra đột xuất, lập ra các ủy ban giám sát công dân và những đường dây nóng, và yêu cầu người tham gia chương trình phải được chứng thực lại mỗi 2 năm.

Đến giữa năm 2006, việc giám sát và thực thi đã cải thiện mạnh mẽ: vào tháng 6 năm đó, MDS đã gạt khoảng nửa triệu người nhận không đủ tư cách ra khỏi danh sách. Người Brazil chú ý, và bị ấn tượng. Làn sóng chỉ trích Bolsa Família nhanh chóng lắng dịu, và sự ủng hộ của công luận dành cho chương trình bắt đầu tăng lên. Thật vậy, một phân tích năm 2010 về dữ liệu thăm dò và luận bàn của truyền thông đối với Bolsa Família của Kathy Lindert và Vanina Vincensini, hai chuyên gia từ Ngân hàng Thế giới, cho thấy rằng bằng việc áp đặt những điều kiện viện trợ nghiêm ngặt, chính quyền Lula đã hợp pháp hóa Bolsa Família với các cử tri Brazil, tạo ra sự nhiệt tình rộng khắp đối với nó từ cả hai đầu của phổ chính trị.

CŨNG HỮU DỤNG như là contrapartidas trong việc nâng cao tính phổ biến của Bolsa Família, có hai sự đổi mới khác tỏ ra quan trọng không kém.

Thứ nhất, với tất cả tham vọng của mình, Bolsa Família đã, và vẫn rẻ bèo so với hầu hết các chương trình phúc lợi xã hội ở Brazil và nhiều nơi khác. Hôm nay, hơn một thập niên sau thực hiện, Bolsa Família đã vươn ra với khoảng 14 triệu gia đình, chừng 55 triệu người Brazil – một con số khổng lồ. Song vì Lula và đội ngũ cố vấn của ông nhận ra rằng chỉ cần một số tiền rất nhỏ để tạo nên một khác biệt rất lớn trong cuộc sống một gia đình nghèo, các khoản thanh toán cá nhân (vốn khác nhau tùy theo thu nhập và số nhân khẩu trong gia đình) là rất nhỏ: mỗi người nhận bình quân chừng 65 đô la một tháng, và mức trợ cấp cao nhất là 200 đô la. Kết quả, “tổng số tiền chi cho Bolsa Família” – bất chấp quy mô của nó – “là con số không,” như lời của Yoshiaki Nakano, chủ nhiệm khoa kinh tế của Viện nghiên cứu Getúlio Vargas Foundation ở São Paulo. Đây tất nhiên là lối nói cường điệu, nhưng không nói quá. Sự thật là một trong các chương trình chống đói nghèo tham vọng nhất thế giới hiện tiêu tốn của người đóng thuế Brazil chưa tới phân nửa của một phần trăm tổng GDP 2,2 ngàn tỉ đô la của đất nước – ít hơn nhiều so với mức 12% mà chính phủ chi cho trợ cấp hưu trí, chẳng hạn (một cơ chế hỗ trợ kém tiến bộ hơn nhiều). Mặc dù khó có thể thực hiện những so sánh chính xác trên bình diện quốc tế, song có bằng chứng cho thấy rằng Bolsa Família là một trong những chương trình chống đói nghèo rẻ nhất so với bất kỳ đâu. Thực vậy, nghiên cứu năm 2011 của chính phủ Anh xác nhận rằng chương trình Bolsa Família tiêu tốn của quốc gia ít hơn 30% mỗi đầu người so với các chương trình viện trợ truyền thống, một phần nhờ chi phí hành chính tối thiểu của nó.

Một khía cạnh sau cùng trong thiết kế của Bolsa Família cũng giúp Lula giành được sự ủng hộ rộng khắp: chương trình có kết cấu sao cho rốt cuộc nó sẽ làm lợi cho tất cả người Brazil, chứ không chỉ tầng lớp dưới cùng. Như Lula giải thích khi ông lần đầu giới thiệu Bolsa Família, “Khi hàng triệu người có thể đến siêu thị để mua sữa, mua bánh mì, nền kinh tế sẽ hoạt động tốt hơn. Những người cùng khổ sẽ trở thành người tiêu dùng.” Bằng việc trao tiền để người nghèo chi tiêu theo cách họ muốn, Lula đã tạo ra điều mà Lavinas, nhà kinh tế học phúc lợi ở Rio, gọi là “một phương pháp chống đói nghèo thân thiện với thị trường.” Thực vậy, chính cây bút Joge Castaneda, cựu bộ trưởng ngoại giao bảo thủ của Mexico, người đã trở thành ký giả chuyên mục và tự nhận là nhà phê bình nghiêm khắc đối với lực lượng cánh tả Mỹ Latin, đã gọi Bolsa Família là một “chương trình phúc lợi sáng tạo” rất “tân tự do… như người ta có thể hiểu.”

Phương diện này của chiến dịch chống đói nghèo của Lula đã gây kinh ngạc cho những người chỉ trích ở cánh hữu, vốn vẫn hoài nghi ông. Nhưng nét thân thiện của Bolsa Família chỉ là một biểu hiện của đường lối phi chính thống tài tình mà Lula sẽ theo đuổi suốt nhiệm kỳ tổng thống của mình. Như Bernardo Sorj, nhà xã hội học tại Đại học São Paulo, đã diễn đạt với tôi vào một chiều nọ ở Rio, tài năng của Lula như một chính trị gia – và bí mật thành công của ông – là xem thường các tín điều truyền thống. Thiên khiếu lớn nhất của Lula, Sorj nói, là khả năng “không ở cánh tả lẫn cánh hữu, nhưng là một biến hóa sinh động, và một người hoàn toàn thực tế.” Né tránh ý thức hệ, cách tiếp cận cơ bản của Tổng thống Lula là “làm cho mọi người hạnh phúc.”

Là người nghiên cứu Lyndon Johnson (Tổng thống Hoa Kỳ thứ 36) kỹ lưỡng, Lula – người thậm chí đã thông tỏ thói quen của LBJ trong việc gây bối rối và dụ hoặc người đối thoại (trong suốt buổi phỏng vấn, ngài tổng thống nhiều lần chạm tay tôi để nhấn mạnh câu chuyện, sau đó bắt đầu siết chặt bắp tay, và rồi, về cuối buổi gặp mặt, nắm tay tôi liền mấy phút) – đồng thời còn là bậc thầy vận động lôi kéo, người thậm chí đã xoay sở để thu phục các nhân vật quốc tế đối lập như Tổng thống George W. Bush. Xuyên suốt nhiệm kỳ của mình, Lula đã tìm cách giữ vững các nguyên tắc nền tảng, mà ông phụng sự qua những chính sách xã hội tiến bộ, đồng thời (đặc biệt ở nhiệm kỳ đầu) chấp nhận thương đau để “tôn trọng các quy tắc căn bản của nền kinh tế tự do hiện đại,” như cách diễn đạt của Sorj. Trước tiên “thuần hóa” những kẻ cực đoan trong đảng, Lula sau đó cam đoan đi cam đoan lại với những thành phần kinh tế chủ chốt – các nhà đầu tư và các chính phủ nước ngoài – thông qua những chính sách kinh tế vĩ mô bảo thủ. Ông cũng ve vãn các doanh nghiệp lớn bằng cách, chẳng hạn, đưa ra những khoản vay lãi suất thấp cho các công ty lớn từ Ngân hàng phát triển quốc gia Brazil thuộc sở hữu nhà nước.

Kết quả là một danh hiệu độc đáo của cái mà El-Erian của PIMCO gọi là “chủ nghĩa dân túy theo nguyên tắc tài chính.” Lula không ngần ngại về điều mình làm. “Tôi không cảm thấy xấu hổ khi nói với bạn rằng dưới thời cầm quyền của tôi, mọi người đều thắng, từ người nghèo nhất cho đến người giàu nhất,” ông thổ lộ. Từ chối bị trói buộc bởi vấn đề đảng phái hay giai cấp, ngài tổng thống trước sau luôn tìm cách đạt được những thành quả lớn nhất cho số đông nhất. Ông biết mục tiêu này đôi khi có thể mất phương hướng. “Đôi khi những người bạn cũ tìm đến tôi và nói, ‘Coi nào, Lula! Ông từng là một công nhân ngành thép! Ông không khó chịu khi các chủ ngân hàng đang làm ra nhiều lợi nhuận đến thế ư?” ông kể lại. “Tôi sẽ nói, ‘Không – điều tôi lo lắng là liệu họ có đang thua lỗ hay không.’ Nếu có một điều mà tôi không lấy làm xấu hổ, đó là lợi nhuận. Nhưng tôi muốn mọi người biết rằng triết lý của tôi, từ thâm tâm, là của một người mẹ. Không ai công bằng hơn một người mẹ. Ngay cho dù có ba trăm đứa con, bà sẽ đối xử với tất cả như nhau. Đó là điều tôi thường nói với người dân: rằng tôi cai trị vì tất cả. Và tôi cảm thấy rất tự hào rằng tôi duy trì quan hệ tốt đẹp với mọi người: từ những điền chủ lớn nhất cho đến những người không ruộng đất; từ những chủ nhà băng lớn nhất cho đến nhân viên của họ.”

Chiến lược ấy thành công rực rỡ. Tính thực dụng không thương xót và cách tiếp cận mọi-người-cùng-thắng của Lula hẳn đã, trong vòng vài năm, biến ông thành “thần tượng của mọi người,” Sorj nói. “Ông đã xoay sở để trở thành người hùng tại Davos tại Diễn đàn Xã hội Thế giới” – một phiên bản dân túy của Diễn đàn kinh tế thế giới ở Thụy Sĩ. “Và đó là một kỳ công không dễ dàng.”

*

TRONG KHI CÁC MỸ TỪ bao dung trước sau như một của Lula hữu ích về mặt chính trị, người Brazil (như bao người dân khác) vẫn biết rằng nói thì dễ hơn làm. Chính việc tạo ra những thành quả mà rốt cuộc Lula đã thu phục được người dân. Với những thành quả đó – từ mức tăng trưởng GDP bình quân gần 4% xuyên suốt nhiệm kỳ đến thành công vang dội trong cuộc chiến chống đói nghèo và bất bình đẳng – là cực kỳ ấn tượng. Dù chi phí dành cho Bolsa Família có thể nhỏ bé, nhưng sức tác động của nó tỏ ra thật to lớn. Chẳng những nó sau cùng đã vươn ra tới hơn một phần tư tổng dân số (và 85% người nghèo), nhưng số tiền thanh toán, dù ít ỏi, đã làm tăng gấp đôi thu nhập của các gia đình cơ cực nhất. Trong 3 năm đầu tiên, Bolsa Família đã cắt giảm mức nghèo đói cùng cực xuống 15%, và đến năm 2014, tỉ lệ người Brazil sống trong cảnh bần cùng đã giảm từ 9% xuống dưới 3% – mức độ mà Ngân hàng Thế giới coi là tương đương với thành tích xóa đói giảm nghèo. Cùng lúc đó, Bolsa Família đã giúp đưa tổng cộng 36 triệu người thoát khỏi đói nghèo, tạo ra điều mà Matias Spektor, nhà khoa học chính trị và cây bút chuyên mục của tờ báo lớn nhất Brazil, Folha de São Paulo, mô tả với tôi là “cuộc chuyển biến mười năm lớn nhất đối với kết cấu giai cấp của một quốc gia kể từ trường hợp Nhật Bản sau Thế chiến II.”

Về phần bất bình đẳng, các nghiên cứu gần đây đã quy công Bolsa Família cho việc giúp thu hẹp khoảng cách thu nhập tổng thể xuống một phần ba và xếp nó là nhân tố đóng góp quan trọng thứ hai cho sự chuyển biến này sau sự tăng trưởng kinh tế nói chung. Theo Tereza Campello, Bộ trưởng Phát triển Xã hội, thu nhập của 20% dân nghèo nhất Brazil đã tăng lên 6.2% giữa những năm 2002 và 2013; trong khi thu nhập của 5% dân giàu nhất Brazil chỉ tăng có 2.6%. (Điều này tương phản sâu sắc với tình hình ở Hoa Kỳ, nơi, trong cùng giai đoạn, thu nhập của 10% dân giàu nhất tăng 2.6% trong khi thu nhập của 10% dân nghèo nhất giảm 8.6%.) Bất chấp chính phủ Brazil đã tiến hành một số chương trình hỗ trợ xã hội quan trọng khác bao gồm các biện pháp tăng lương tối thiểu đột xuất, và bất chấp nền kinh tế tăng trưởng cũng giúp ích đáng kể, hầu hết chuyên gia đồng ý rằng Bolsa Família xứng đáng được ghi công lớn vì đã cải thiện toàn diện cuộc sống người nghèo trong nước. Bolsa Família cũng tỏ ra là tấm đệm đỡ quan trọng khi mức tăng trưởng của Brazil đã chững lại trong những năm gần đây. Nền kinh tế tổng thể của quốc gia có thể bị tổn thương hôm nay, nhưng nhờ có lớp giảm xóc do Bolsa Família mang lại, đại đa số dân chúng không – hay chí ít không khốn khổ nhiều như họ đã từng với nhiều cuộc khủng hoảng trong quá khứ của quốc gia.

Bolsa Família cũng đã tạo ra những bước tiến dài về phía mục tiêu của Lula là chấm dứt vòng luẩn quẩn đói nghèo giữa các thế hệ: bằng việc giúp gia tăng tỉ lệ tiêm chủng lên đến 99% dân số, bằng việc hạ thấp tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở những vùng nghèo nhất Brazil xuống 16%, và bằng việc gia tăng 26% khả năng đạt được mức-cân-nặng-theo-độ-tuổi lành mạnh. Tỉ lệ tử vong trẻ em đã giảm xuống 40% trong thập kỷ qua, đặc biệt tỉ lệ tử vong vì suy dinh dưỡng đã giảm 58% – một trong những mức giảm ấn tượng nhất từng thấy ở bất cứ đâu. Trong khi đó, số trẻ em bị buộc phải đi làm thay vì đến trường đã giảm 14%. Những người thụ hưởng Bolsa Família giờ đây tự hào có tỉ lệ tốt nghiệp cao gấp đôi con em nghèo nằm ngoài chương trình, và sáng kiến này được ghi nhận đã cải thiện tỉ lệ đến trường ở những vùng nghèo khổ nhất nước lên 14%. Một hệ quả đáng vui mừng: tỉ lệ biết chữ toàn quốc cũng tăng lên.

Chương trình này cũng đã tạo ra những thay đổi ít hiển nhiên hơn và khó tiên đoán hơn – dù không kém phần quan trọng – trong cuộc sống và thái độ của những công dân nghèo nhất. Nghiên cứu chứng tỏ rằng Bolsa Família đã trao cho phụ nữ Brazil nhiều quyền hạn hơn bằng việc để họ làm chủ các trương mục ngân hàng của gia đình; chẳng hạn, phụ nữ tham gia Bolsa Família có thêm 10% cơ hội để khẳng định đặc quyền đối với vấn đề tránh thai trong hôn nhân. Và chương trình dường như đã tạo tác động mạnh mẽ đến cảm thức tự chủ của người nghèo. Một khảo sát gần đây tiến hành với 1400 người thụ hưởng Bolsa Família trong ba thành phố khác nhau cho thấy rằng thay vì cảm thấy xấu hổ bởi sự lệ thuộc vào chương trình của chính phủ, ba phần tư số người thụ hưởng nói rằng họ tự hào được tham gia chương trình và rằng, bằng việc tạo điều kiện để họ chăm lo cho gia đình một cách tử tế mà không phải ngửa tay xin xỏ, Bolsa Família đã giúp họ “sống cuộc sống tự quyết và có phẩm cách hơn.”

Những người Brazil ghi danh trong chương trình thậm chí đã biểu đạt niềm tin sâu sắc hơn vào nền dân chủ của đất nước. Đây có vẻ là một kết quả kỳ lạ đối với chương trình phúc lợi, nhưng Spektor giải thích rằng Bolsa Família – vốn, nhờ có sự giám sát chặt chẽ và dùng thẻ ngân hàng điện tử để chuyển tiền, đã đánh bay tham nhũng một cách đáng khâm phục1 – “phá vỡ các cơ chế chính trị giam hãm người nghèo quá lâu trong cảnh bần cùng. Bolsa đã tống cổ những ông trùm móc ngoặc với chính quyền xuống địa ngục vì bỗng nhiên bạn có một nhóm rất nhỏ những người ở Brasília xa tít mù – tất cả đều có học vị tiến sĩ từ các trường đại học phương Tây – trao tiền trực tiếp cho người nghèo.” Trong cuộc trò chuyện của chúng tôi, Lula diễn đạt thẳng thừng hơn: “Một phần lý do Bolsa Família thành công như vậy là vì tiền được trao trực tiếp, không qua trung gian. Người nhận chỉ cần cầm thẻ tới ngân hàng để rút tiền nên họ không nợ ân huệ từ bất kỳ ai, dù đó là tổng thống, thống đốc, đại biểu quốc hội, hay thị trưởng.” Cuối cùng, đúng như Lula đã hứa, Bolsa Família mang đến sự kích thích đáng kể cho toàn bộ nền kinh tế. Bằng việc trao người nghèo tiền để chi tiêu, chương trình đã làm gia tăng mức tiêu thụ nội địa, một động lực kinh tế đặc biệt quan trọng đối với quốc gia như Brazil, vốn lảng tránh hầu hết hoạt động nhập khẩu. Trong khi phần lớn tiền được chi cho thức ăn, Lula nói rằng “trong số những người nhận phúc lợi theo chương trình Bolsa, 80% mua ti vi, 79% mua tủ lạnh, và 50% mua máy giặt. Bởi vậy cái dường như là chương trình chỉ dành cho người sống trong điều kiện của thế kỷ 18 đã giúp đáp ứng nhu cầu của các nhà sản xuất hiện đại, tạo ra hàng triệu việc làm. Mọi người đều thắng.” Điều này nghe có vẻ khoa trương, nhưng những con số không biết nói dối: các nhà kinh tế học tính toán rằng, kể từ khi thực thi, Bolsa Família đã gia tăng mức tăng trưởng GDP 1,78 real với mỗi 1 real chi tiêu.

DANH SÁCH DÀI những thành tựu hợp lại đã làm cho Bolsa Família được ưa thích một cách khó tin ở Brazil; các cuộc thăm dò cho thấy tỉ lệ tán thành nó vào khoảng 75%. Mọi người đều hạnh phúc với nó, Lavinas nói với tôi. “Người nghèo vì họ bớt nghèo, và người giàu vì chương trình này quá rẻ nên họ chẳng để tâm.” Ngay cả tầng lớp trung lưu, theo truyền thống là bộ phận bảo thủ nhất trong số cử tri Brazil, cũng chấp nhận Bolsa Família. Như Spektor lý giải, nhóm này “lớn lên trong một đất nước vốn luôn trở nên tồi tệ hơn. Khi Brazil dân chủ hóa [vào giữa những năm 1980], bạo lực gia tăng, bất bình đẳng gia tăng, lạm phát gia tăng. Chúng tôi bị cuốn vào suy nghĩ rằng mọi chuyện thật khủng khiếp. Nếu bạn hy vọng về một tương lai, bạn cần học tiếng Anh và biến khỏi đây. Giờ thì, bỗng nhiên, tôi lại thích ở đây hơn bất kỳ nơi nào khác. Và đó là nhờ Bolsa.”

Sự hăng hái trên mọi lĩnh vực như thế lần đầu được biểu thị trong suốt chiến dịch tái tranh cử của Lula năm 2006. Bất chấp các số liệu tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và sự ân cần vươn tay về cả cánh hữu lẫn cánh tả, Lula đã phải đương đầu với trận gió ngược dữ dội nổi lên trong cuộc đua. Hàng loạt các vụ bê bối tham nhũng gây bẽ mặt đã nổ ra trong năm 2005 và 2006, dẫn đến sự từ chức bắt buộc của nhiều người trong đội ngũ cố vấn cấp cao của ông. (Không liên quan tới những luận điệu gần đây xung quanh công ty dầu khí nhà nước, Petrobras, vụ bê bối lớn nhất cũng được biết đến là mensalão, là những cáo buộc cho rằng chính phủ đã thanh toán lợi tức hàng tháng cho các đồng minh trong quốc hội để mua chuộc sự ủng hộ của họ.) Những cáo buộc đã giáng một đòn nặng nề vào số phiếu của Lula, và nhiều nhà phân tích bắt đầu tiên đoán rằng ông sẽ thua trong hiệp đầu tiên (Brazil tổ chức bầu cử chia làm hai giai đoạn). Vậy mà khi người Brazil sau cùng đi bỏ phiếu, Lula chẳng những sống sót qua vòng đầu; ông nghiền nát đối thủ của mình, Geraldo Alckmin của đảng PSDB, tới 22 điểm trong cuộc đua thêm.

Lý giải? Bất chấp tất cả nỗi tức giận và bối rối trước thái độ thờ ơ rõ ràng của Lula với nạn hối lộ (sự thờ ơ sau này sẽ khiến ông gặp rắc rối hơn nữa), sau cùng vẫn có nhiều người Brazil chọn bỏ phiếu cho ví tiền của họ. Đặc biệt là với những người nghèo và ít học, đối tượng hưởng lợi nhiều nhất từ Bolsa Família. Theo một cuộc phân tích bầu cử được thực hiện bởi hai học giả Mỹ, Wendy Hunter và Timothy J. Power, 60% những người kiếm ít hơn năm lần mức lương tối thiểu chọn người đương chức trong năm đó, và Lula giành được tới 85% số phiếu của vùng đông bắc kém phát triển.

Việc những người Brazil với cuộc sống được đổi thay nhờ chính sách của chính phủ muốn đền đáp nhà hảo tâm của mình xem ra không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng bất chấp gốc gác của mình, màn trình diễn mạnh mẽ của Lula giữa những người nghèo năm 2006 đã thật sự phá vỡ khuôn khổ bầu cử trước kia. Trước năm đó, hầu hết các cử tri nghèo lảng tránh ông và đảng PT, mà họ coi là một đảng phái của những trí thức. Trên thực tế, dù xuất thân từ cánh tả, hầu hết những người ủng hộ Lula trong bốn chiến dịch trước đều đến từ những tỉnh giàu hơn của đất nước. Người nghèo đã luôn nhìn ông, theo lời Spektor, như “một gã có hàm râu buồn cười, hứa hẹn cách mạng. Và vì họ đã bị chơi xỏ bởi hệ thống chính trị Brazil bấy lâu nay,” những lời hứa này “có vẻ điên rồ đối với họ.” Bởi vậy họ đã cự tuyệt Lula – cho đến năm 2006, đó là khi Bolsa Família vẽ lại bản đồ cử tri.

Sự đổi ý này không gây phương hại tới các chính khách khác ở Brazil, và trong những năm sau đó, gần như tất cả họ đã nhiệt thành kế tục sáng kiến của Lula. Tổng thống Dilma Rousseff, người kế nhiệm được chọn lựa cẩn thận của Lula, đã mở rộng phạm vi chương trình và gia tăng mức phúc lợi lên vài lần. Bà thậm chí khởi xướng chương trình Busca Ativa (Chủ động Tìm kiếm), đưa các nhân viên xã hội gan dạ đến các ngõ ngách xa xôi nhất đất nước – đôi khi bằng thuyền đi xuyên rừng – tìm kiếm thêm nhiều người nghèo để ghi vào danh sách. Và cả hai đối thủ của bà trong cuộc tranh cử năm 2014 đều hứa hẹn sẽ mở rộng Bolsa Família hơn nữa. Làm khác đi tức là “tự sát về chính trị,” nói như Thiago de Aragão, một cố vấn chính trị ở Brasília.

Sự hăng hái này không có nghĩa là Bolsa Família hoàn hảo. Trong khi chương trình giúp Brazil đạt được bước tiến lịch sử, quốc gia này vẫn còn có quá nhiều bất công. Dưới bàn tay vụng về của người được Lula che chở, mức tăng trưởng kinh tế đã chững lại và nợ quốc gia tăng lên vùn vụt. Và mặc cho tầm với rộng lớn của Bolsa Família, khoảng 28 triệu người Brazil vẫn đang sống trong đói nghèo. Một vài chuyên gia lo ngại rằng bằng việc tập trung thái quá vào nhu cầu của trẻ em, chương trình đã làm ngơ các bậc phụ huynh (những người bị cắt đứt hoàn toàn phúc lợi khi con họ đến tuổi mười bảy). Các học giả nữ quyền như Maxine Molyneux của Đại học College London cảnh báo rằng “bằng việc đặt điều kiện ‘về trách nhiệm làm mẹ tốt’ để trao tiền”, các sáng kiến như Bolsa Família đã củng cố hơn nữa vai trò giới tính truyền thống. Lavinas, trong số những điều khác, chỉ ra rằng trong khi chính phủ Brazil đã làm tốt việc đưa trẻ em đến trường, nó thật sự kém cỏi trong việc cải thiện chất lượng giáo dục – một trong nhiều lý do khiến đám đông người Brazil ồ ạt đổ xuống đường phản đối các dịch vụ kém cỏi của chính quyền vào năm 2013.

Tác động tích cực của Bolsa cũng bị giảm đáng kể bởi hệ thống thuế phản tiến bộ của Brazil, vốn dựa dẫm quá đáng vào thuế tiêu thụ; những mức phí này, vốn đánh vào hầu như mọi mặt hàng có thể tưởng tượng và nhiều loại dịch vụ, ngốn hết một phần lớn – lên đến 55%, theo một vài ước tính – vốn liếng của Bolsa Família. Cuối cùng, các nhà phân tích tài chính công kích Bolsa Família đã giảm bớt bất công với cái giá của sự tăng trưởng tổng thể, trong khi một số người Brazil vẫn khăng khăng cho rằng biện pháp trao tiền mặt chỉ khiến người ta lệ thuộc hơn vào nó mà thôi.

Bolsa Família, nói cách khác, tất nhiên có thể và nên được cải thiện. Ngoài ra đất nước này còn vô cùng cần đến những cải cách về thuế, chăm sóc y tế, và giáo dục, cũng như đầu tư thật nhiều vào cơ sở hạ tầng. Nhưng rất nhiều chứng cứ đã bác bỏ ít nhất là hai cáo buộc sau cùng được liệt kê ở trên. Những số liệu thống kê của chính phủ cho hay rằng 75% số người trưởng thành nhận trợ cấp Bolsa Família có làm việc, và với những người nói chung không làm – họ sống trong những khu vực có quá ít cơ hội việc làm. Phát hiện này không gây nhiều ngạc nhiên khi bạn xét đến sự kiện rằng, như Wendy Hunter chỉ ra, các khoản trợ cấp của Bolsa Família ít ỏi đến độ “không ai có đầu óc tỉnh táo sẽ chịu nhận chúng thay vì có một việc làm tử tế.”

Sau nữa cũng đừng ngạc nhiên khi mà, mặc cho sự bất toàn của mình, những người hâm mộ chương trình có số lượng áp đảo hơn những người chỉ trích nó. Nancy Birdsall, giám đốc Trung tâm Phát triển Toàn cầu (nhóm chuyên gia cố vấn của Washington), đã gọi Bolsa Família “gần như là viên đạn thần kỳ cho sự phát triển mà bạn có được.” Những người tán thưởng khác đi từ New York Times, vốn cho rằng Bolsa Família “có lẽ là chương trình chống đói nghèo của chính phủ quan trọng nhất mà thế giới từng thấy,” cho đến The Economist, quả quyết nó là “một thành công choáng váng.”

Tuy nhiên, có lẽ bằng chứng tốt nhất cho sự tài hoa của thiết kế Bolsa Família – cũng như cách tiếp cận phi chính thống, dành-cho-mọi-người mà Lula thường trình bày và sau đó phổ biến nó – là sự kiện rằng kể từ khi thực thi chương trình, hơn sáu mươi ba quốc gia đã cử chuyên gia tới Brazil để sao chép mô hình. Trên thực tế, chỉ trong vài năm khởi đầu Bolsa Família, Bộ Phát triển Xã hội bị dìm trong hàng đống thư xin lời khuyên từ nước ngoài đến nỗi nó đã tổ chức các hội nghị chuyên đề mỗi năm hai lần về cách thức tổ chức chương trình tương tự ở nơi khác. Từ thời điểm những dòng này được viết, ít nhất bốn mươi quốc gia khác đã đi theo bước ấy, bao gồm hầu hết các quốc gia Mỹ Latin cũng như Bangladesh, Indonesia, Ma Rốc, Nam Phi, và Thổ Nhĩ Kỳ (và còn nhiều nơi khác nữa).

Sức hấp dẫn của Bolsa Família thậm chí đã lan sang thế giới giàu có. Vào tháng 4 năm 2007, thị trưởng Michael Bloomberg – một chính trị gia khác nổi tiếng với thái độ phớt lờ những tín điều chính thống và thu tóm những ý tưởng tốt nhất từ bất kỳ đâu có thể tìm được – đã triển khai Cơ hội cho Thành phố New York (Opportunity NYC), chương trình trao tiền có điều kiện theo kiểu Bolsa Família đầu tiên của thế giới phát triển, trên cơ sở thử nghiệm. Những chương trình như Bolsa Família phức tạp và vận hành tốn kém hơn ở các nước giàu có, vì các lý do hiển nhiên, và chương trình thí điểm ở New York đúng như dự báo đã bị chỉ trích bởi những người bảo thủ (vốn cằn nhằn về chi phí và sự kiện rằng nó trả tiền để người ta làm điều mà đằng nào họ cũng làm) cũng như tự do (những người gọi nó là cử chỉ hạ cố). Thế nhưng một phân tích của Trung tâm nghiên cứu đói nghèo quốc gia (NPC) thuộc Đại học Michigan cho thấy rằng dù có vài khiếm khuyết, chương trình đã có sức tác động đặc biệt tốt với những gia đình tham dự. Đó là lý do mà cả New York lẫn Memphis gần đây đã triển khai một chương trình thử nghiệm nữa lấy cảm hứng từ Bolsa Família, gọi là Family Rewards 2.0, vốn dựa trên nỗ lực đầu tiên của Bloomberg, và của Lula trước đó – thêm một bằng chứng nữa, nếu cần, về sức hấp dẫn toàn cầu của cuộc thể nghiệm vĩ đại ở Brazil.

Chú thích:

  1. Một điều đáng ghi nhận là mặc dù thanh danh của Lula đã bị tổn hại bởi cuộc điều tra tham nhũng gần đây, không một ai đặt vấn đề về sự thành công hay tính chính trực của Bolsa Família.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Gieo trồng điều tốt – Trích “Lập trình hạnh phúc”

Published

on

By

Dựa trên nền tảng khoa học về bộ não, Tiến sĩ Rick Hanson – tác giả có lượng sách bán chạy nhất New York Times đã viết quyển sách Lập trình hạnh phúc vô cùng thiết thực này với đầy đủ các phương pháp dễ thực hành để phát triển cảm giác cân bằng, ổn định, nhận thức giá trị bản thân và đạt được sự bình an nội tâm.

“Tôi sẽ chỉ cho bạn cách làm sao biến các khoảnh khắc tốt đẹp thành một bộ não vĩ đại, tin tưởng vào giá trị bản thân và cảm giác được quan tâm. Đây chẳng phải những giây phút đáng giá triệu đô gì cả. Chỉ đơn giản là cảm giác dễ chịu khi mặc vào chiếc áo len ưa thích, thưởng thức một tách cà phê, cảm nhận sự ấm áp từ một người bạn, hài lòng sau khi hoàn thành một nhiệm vụ, hay là cảm nhận được tình yêu từ người bạn đời."

  • Trích từ: Lập trình hạnh phúc
  • Tác giả: Rick Hanson
  • Phát hành: Tháng 10.2020
  • Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

*

CHƯƠNG 1
Gieo trồng điều tốt

Lúc còn đi học, tôi nhỏ hơn mấy đứa bạn cùng lớp một, hai tuổi, một cậu bé nhút nhát, gầy gò, ngốc nghếch đeo kính. Chẳng có gì tệ hại xảy ra với tôi cả, nhưng tôi có cảm giác như là mình đang quan sát người khác qua một bức tường bằng kính. Như một kẻ lạc loài, bị phớt lờ, bị coi thường, không ai muốn ở gần. Vấn đề của tôi nếu so với người khác thì không có gì to tát. Nhưng tất cả chúng ta về cơ bản đều mong muốn được cảm thấy mình hiện diện và có giá trị với người khác, đặc biệt khi còn là con trẻ. Khi những nhu cầu này không được thỏa mãn, ta cảm giác như thể đang sống nhờ xúp loãng. Bạn sẽ sống sót, nhưng không bao giờ cảm thấy mình có đầy đủ dinh dưỡng. Với tôi, đó là cảm giác như thể có một lỗ hổng to lớn bên trong, một khoảng trống trong tim.

Nhưng khi lên đại học, tôi chạm đến một điều gì đó có vẻ như rất đặc biệt vào lúc đó, và đến giờ vẫn có giá trị đáng kể với tôi. Một điều nhỏ bé nào đó đã xảy ra. Có lẽ là vài cậu bạn đã bảo “Đi nào, mình cùng đi ăn pizza”, hay một cô gái nào đó đã mỉm cười với tôi. Không quan trọng. Nhưng tôi phát hiện ra nếu tôi để sự kiện tốt đẹp ấy trở thành một trải nghiệm thú vị, chứ không phải chỉ là một ý tưởng, và lưu lại nó ít nhất trong vài hơi thở, chứ không vội vàng phủi đi hay xoay qua thứ khác thật nhanh, thì nó tạo cảm giác như thể điều tốt đẹp đã thấm vào bên trong tôi, trở thành một phần của tôi. Thực tế là tôi đã tiếp nhận điều tốt đẹp – khoảng chục giây vào lúc ấy. Nó nhanh chóng, dễ dàng mà lại rất dễ chịu. Tôi bắt đầu cảm thấy khá hơn.

Lúc ban đầu, khoảng trống trong tim tôi có vẻ to như một chiếc hồ bơi rỗng tuếch. Nhưng khi tôi bắt đầu thu nhận mỗi ngày một vài trải nghiệm được đón nhận, được cảm kích,
được quan tâm, thì tôi cảm thấy như mình đang đổ vài xô nước vào chiếc hồ. Từng ngày một, từng xô một, từng tháng một trôi qua. Tôi dần lấp đầy khoảng trống ấy trong lòng mình. Cách làm này đã nâng tinh thần tôi lên và giúp tôi cảm thấy càng lúc càng dễ chịu, tươi vui và tự tin.

Nhiều năm sau đó, sau khi đã trở thành nhà tâm lý học, tôi hiểu ra vì sao cách làm này tưởng chừng như nhỏ bé nhưng lại có thể tạo nên khác biệt lớn lao đến vậy đối với mình. Tôi đã đan kết được sức mạnh bên trong với tấm thảm tâm trí mình, bộ não cũng như đời sống của bản thân – đó là ý tôi muốn trình bày khi nói đến “lập trình hạnh phúc”.

Sức mạnh nội tại

Tôi hay đi leo núi và thường phải phụ thuộc vào những thứ có trong ba-lô của mình. Sức mạnh nội tại chính là nguồn dự trữ bạn có trong ba-lô trên hành trình bạn vượt qua các bước ngoặt và thường là những đoạn đường khó đi trong đời. Chúng gồm có tâm trạng tích cực, kiến thức cơ bản, lòng chính trực, bình an nội tại, lòng quyết tâm và một trái tim ấm áp. Các nhà nghiên cứu còn xác định thêm các sức mạnh khác nữa, chẳng hạn như lòng trắc ẩn với bản thân, sự gắn kết an toàn, trí tuệ cảm xúc, tính lạc quan học được, phản xạ thư giãn, lòng tự trân trọng, khả năng dung nạp căng thẳng, khả năng tự điều hòa, năng lực phục hồi, và năng lực thực thi. Tôi sử dụng từ sức mạnh với nghĩa rộng để bao gồm cả các cảm giác tích cực như bình tâm, sự mãn nguyện, và sự quan tâm, cũng như các kỹ năng, các xu hướng và góc nhìn hữu ích, cộng với các đặc tính được biểu hiện ra ngoài như sinh khí hay sự thư thái. Không giống như các trạng thái tinh thần thoáng qua, sức mạnh nội tại là các nét đặc trưng ổn định, là nguồn sống khỏe mạnh bền vững, là hành động cũng như đóng góp hữu hiệu và thông thái cho mọi người.

Ý tưởng về sức mạnh nội tại có thể ban đầu nghe có vẻ trừu tượng. Nào ta hãy đưa nó xuống mặt đất với vài ví dụ cụ thể sau. Báo thức vang lên và bạn muốn ngủ nướng – thế là bạn tìm đến sức mạnh ý chí để rời giường. Giả dụ bạn có con nhỏ, lũ trẻ đang cãi vã bực dọc – thay vì quát thét thì bạn tìm về nơi nào đó bên trong, vững vàng thay vì giận dữ. Bạn bối rối với một sai sót trong công việc – thế là bạn gợi nhớ lại cảm giác mình có giá trị từ các thành quả trước đây. Bạn căng thẳng với những cạnh tranh xung quanh – thế là bạn tìm đến sự bình yên trong vài hơi thở ra thật sâu. Bạn thấy buồn vì không có ai đồng hành – thế là bạn tìm sự ủi an khi nghĩ đến những người bạn mình đang có. Trong suốt ngày dài của bạn, các sức mạnh nội tại vẫn luôn vận hành tự động bên trong tâm trí, chẳng hạn như cảm giác về tầm nhìn, về lòng tin, hay là cảm giác tự nhận thức về bản thân.

Có một ý tưởng nổi tiếng trong y khoa và tâm lý học rằng cách bạn cảm nhận và hành động – cả trong hành trình đời mình cũng như trong hoàn cảnh hay các mối quan hệ đặc thù – được quyết định bởi ba yếu tố: thách thức bạn đối mặt, điểm yếu ớt mà các thử thách này gây ra, và các sức mạnh bạn có để xử lý được các thử thách này và bảo vệ được điểm yếu ớt của mình. Ví dụ, thách thức từ một người chủ hay chỉ trích có thể bị phóng đại lên nhiều lần bởi điểm yếu hay lo âu của một người, nhưng người này hoàn toàn có thể đương đầu bằng cách tìm đến sức mạnh bên trong của mình, tự xoa dịu bản thân và cảm giác được tôn trọng từ người khác.

Tất cả chúng ta đều có những điểm yếu ớt dễ bị tổn thương. Cá nhân tôi ước gì mình không quá dễ bị lo âu và tự chỉ trích bản thân như vậy. Và cuộc sống thì không bao giờ thiếu thử thách, từ chuyện vặt như cuộc gọi nhỡ cho đến những vấn đề lớn hơn như tuổi già, bệnh tật và cái chết. Bạn cần có sức mạnh đương đầu với khó khăn và những điểm yếu ớt, và khi một trong hai điều này phát triển lên, thì sức mạnh của bạn cũng phải tiến triển tương ứng với chúng. Nếu bạn muốn cảm thấy ít căng thẳng hơn, ít lo âu, bực dọc, khó chịu, ít cảm thấy trầm uất, thất vọng, cô đơn hơn, ít cảm giác tội lỗi, bị tổn thương, hay cảm giác thiếu thốn, thì sức mạnh bên trong sẽ giúp được bạn.

Sức mạnh nội tại là nền tảng cho một cuộc đời hạnh phúc, hiệu quả và tràn đầy yêu thương. Ví dụ, nghiên cứu trên một sức mạnh – cảm xúc tích cực – đã cho thấy nó có thể giảm bớt căng thẳng và tính phản ứng thụ động, giúp chữa lành các vết thương tâm lý và cải thiện năng lực phục hồi, tình trạng khỏe mạnh nói chung, và mức độ mãn nguyện trong cuộc sống. Cảm xúc tích cực khuyến khích ta tìm kiếm cơ hội, tạo ra những vòng lặp tích cực và thúc đẩy thành công. Chúng còn làm tăng cường hệ miễn dịch, bảo vệ trái tim của chúng ta, và nuôi dưỡng một cuộc đời lành mạnh dài lâu.

Trung bình có khoảng một phần ba sức mạnh của một người là bẩm sinh, được tích hợp sẵn vào trong tính khí di truyền, tài năng, khí sắc và nhân cách của họ. Hai phần ba kia được phát triển theo thời gian. Bạn có được bằng cách nuôi trồng chúng. Đối với tôi đây là tin tốt, bởi lẽ điều đó có nghĩa là chúng ta có thể phát triển hạnh phúc và các sức mạnh nội tại có lợi cho sự hài lòng, tình yêu, và tính hiệu quả, cũng như sự thông tuệ và bình an nội tâm. Tìm hiểu cách làm thế nào để nuôi trồng các sức mạnh bên trong này có lẽ là điều quan trọng nhất bạn từng học. Quyển sách này viết về điều đó.

Trong khu vườn

Hãy hình dung tâm trí bạn như một khu vườn. Bạn có thể đơn giản là ở cùng nó, nhìn ngắm các thảm cỏ và hoa, không cần phải phán xét hay thay đổi gì cả. Hoặc là, bạn có thể nhổ vài cọng cỏ bằng cách giảm bớt một số cái tiêu cực trong đầu mình. Hoặc bạn còn có thể trồng thêm hoa bằng cách tăng thêm điều tích cực trong tâm mình. (Hãy xem quan niệm của tôi về tích cực và tiêu cực ở ô trong trang 26.) Về cơ bản bạn có thể quản lý tâm trí mình theo ba cách chính: để nó diễn ra như thế, buông bỏ, tiếp nhận. Quyển sách này viết về cách thứ ba, gieo trồng sức mạnh nội tại: gieo trồng những bông hoa trong khu vườn tâm trí. Để giúp bạn làm được điều này hiệu quả nhất, tôi muốn liên hệ nó với hai cách thức tiếp cận tâm trí.

Ở cùng tâm trí của mình

Hãy để tâm trí của ta như vậy, đơn giản chỉ cần quan sát trải nghiệm của mình, cho phép bản thân khuây khỏa và nhìn toàn cảnh, như thể bạn bước ra khỏi màn hình chiếu phim và quan sát mọi thứ từ đằng sau cách đó hai mươi hàng ghế.

THẾ NÀO LÀ TÍCH CỰC?

Với từ tích cực và tốt, ý tôi là những thứ dẫn đến hạnh phúc cũng như tạo ra lợi ích cho bản thân người đó và người khác. Tiêu cực và xấu nghĩa là những gì dẫn đến đau khổ và tổn hại. Tôi đang nói về mặt ngữ nghĩa thực dụng, không bàn trên khía cạnh đạo đức hay tín ngưỡng.

Trải nghiệm tích cực thường tạo cảm giác tốt đẹp. Bên cạnh đó, một số trải nghiệm gây cảm giác tồi tệ nhưng lại đưa đến kết quả tốt đẹp, cho nên tôi cũng gọi đó là tích cực. Ví dụ, cơn đau do vết bỏng trên tay khi chạm vào lò nóng, cơn lo âu khi không tìm thấy con ở công viên, và nỗi hối hận khiến ta quyết tâm cư xử cao thượng, có thể gây ra cảm giác khó chịu bây giờ nhưng sẽ có ích và giúp ta cảm thấy tốt hơn về sau.

Tương tự, trải nghiệm tiêu cực thường gây cảm giác tồi tệ. Cũng vậy, có những trải nghiệm tạo cảm giác tốt đẹp nhưng lại có hậu quả xấu, nên tôi cũng cho đó là tiêu cực. Sự hưng phấn sau ba cốc bia hay cảm giác trả đũa có được khi ngồi buôn chuyện về người vừa đối xử tệ với bạn có thể tạo ra cơn khoái chí tạm thời, thế nhưng lợi bất cập hại bạn ạ! Những trải nghiệm như vậy làm ta dễ chịu tức thời nhưng sau đó thì rất tệ.

Để cho dòng ý thức chạy tự do có thể giúp bạn ngừng đuổi theo những điều dễ chịu cũng như thôi vật vã với những thứ khó chịu. Bạn có thể trải nghiệm đời sống của mình với niềm hứng thú và (mong là) với sự tử tế với bản thân, và có thể kết nối với các tầng lớp mềm mại hơn, dễ bị tổn thương hơn và hẳn là non nớt hơn bên trong tâm trí mình. Khi xét đến khả năng nhận thức có tính chấp nhận và bớt tính phản ứng thụ động thì suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực của ta đôi lúc có thể tan ra ngay lập tức như sương sớm trong một ngày đầy nắng.

Làm việc với tâm trí

Nhưng mà chỉ ở cùng với tâm trí thôi chưa đủ. Bạn còn cần phải làm việc với nó, tạo ra các nỗ lực khôn ngoan, nhổ cỏ và trồng hoa. Chỉ thuần quan sát căng thẳng, lo âu, bực dọc
hay một tâm trạng buồn bã sẽ không đào được tận gốc những vấn đề này. Như bạn sẽ thấy trong chương tiếp theo, não ta tiến hóa để học hỏi rất tốt từ các trải nghiệm tiêu cực, và nó lưu trữ chúng trong các cấu trúc thần kinh bền vững. Cũng vậy, chỉ ở đó với tâm trí sẽ không phát triển được lòng biết ơn, nhiệt huyết, lòng chân thật, tính sáng tạo hay nhiều sức mạnh nội tại khác. Các phẩm chất tinh thần này được đặt nền tảng trên các cấu trúc thần kinh sâu bên trong, chúng sẽ không nảy nòi và phát triển một cách tự thân. Thêm nữa, để có thể hoàn toàn ở đó cùng khu vườn tâm trí, bạn cần phải hợp tác với nó để phát triển các sức mạnh nội tại như sự bình tâm và năng lực tự soi chiếu để có thể giúp bản thân bạn cảm nhận toàn bộ cảm xúc của mình cũng như đối mặt với những góc tối bên trong ngay cả khi khó khăn nhất. Bằng không, mở lòng với trải nghiệm sẽ tựa như đang mở ra chiếc nắp hầm dẫn đến Địa ngục.

Giữ tâm tỉnh thức

Bất kể là bạn đang để mọi chuyện như thế, đang buông bỏ hay đang tiếp nhận, hãy luôn tỉnh thức, đơn giản nghĩa là hiện diện trong khoảnh khắc hiện tại từng giây từng phút. Tự thân sự tỉnh thức vốn chỉ có quan sát, nhưng việc quan sát ấy có thể đi kèm nỗ lực có chủ đích hướng tới mục tiêu định hướng tâm trí ta theo hướng này hay hướng khác. Làm việc với tâm trí không mâu thuẫn với sự tỉnh thức. Thực tế là, bạn cần phải làm việc với tâm trí mình mới có thể dựng xây nên sức mạnh nội tại của sự tỉnh thức.

Hãy tỉnh táo với thế giới bên ngoài lẫn thế giới nội tâm của bạn, với cả sự vật sự việc xảy ra chung quanh lẫn cái cách bạn cảm nhận chúng. Tỉnh thức không đơn thuần chỉ là tự nhận thức bản thân. Khi leo núi đá, tôi cực kỳ ý thức về việc người bạn đồng hành hãm dây bảo hộ cho mình và luôn ngoái đầu tìm kiếm tôi đang ở tít bên dưới!

Hệ quả tự nhiên

Khi điều gì đó vất vả hay khó chịu xảy ra – khi một cơn bão ập tới khu vườn của bạn – thì có ba cách vận động tâm trí của mình, giúp đem đến cho bạn một hệ quả từng bước hữu dụng. Đầu tiên, hãy ở đó với trải nghiệm của mình. Quan sát và chấp nhận nó như bản chất của nó, cho dù đau đớn đến mức nào. Thứ hai, khi đến thời điểm – có thể tính bằng giây với một cơn lo âu quen thuộc hay tính bằng tháng bằng năm khi mất đi một người thân yêu – hãy bắt đầu buông bỏ những điều tiêu cực. Ví dụ, hãy thư giãn cơ thể mình để giảm bớt căng thẳng. Thứ ba, một lần nữa khi đến thời điểm, sau khi đã giải tỏa một phần hay toàn bộ sự tiêu cực, hãy thay thế nó với điều gì đó tích cực. Ví dụ, bạn có thể nhớ đến lúc có ai đó trân trọng mình thì cảm giác như thế nào, và ở lại với trải nghiệm ấy chừng mười đến hai mươi giây. Bên cạnh cảm giác tốt đẹp vào lúc đó, bước thứ ba này còn có các ích lợi lâu dài, vì khi bạn đang thu nhận các trải nghiệm tích cực vào trong thì bạn không chỉ đang trồng hoa trong tâm trí mình đâu. Bạn đang gieo trồng các luồng thần kinh mới trong não mình. Bạn đang lập trình hạnh phúc.

Tính mềm dẻo thần kinh dựa trên trải nghiệm

Não bộ là một cơ quan có khả năng học hỏi, cho nên nó được thiết kế để thay đổi bởi trải nghiệm. Điều này đến nay vẫn còn làm tôi kinh ngạc, nhưng mà đó là sự thật: bất cứ điều gì chúng ta cảm giác, cảm nhận và mong muốn cũng như suy nghĩ lặp đi lặp lại, dù là chậm nhưng chắc chắn rằng chúng đang khắc nên một cấu trúc thần kinh. Trong khi bạn đang đọc, một khối mô nặng khoảng 1,5kg trông giống đậu hũ bên trong đầu bạn, bao bọc trong một nghìn tỷ tế bào nâng đỡ, có từ 80 đến 100 tỷ nơ-ron đang phát tín hiệu cho một tế bào khác trong một mạng lưới với nửa triệu tỷ liên kết, được gọi là các khớp thần kinh synapse. Toàn bộ hoạt động thần kinh phức tạp, nhanh chóng và nhộn nhịp này vẫn luôn đang điều chỉnh não bạn liên tục. Các khớp thần kinh năng động trở nên nhạy cảm hơn, các khớp thần kinh mới bắt đầu phát triển chỉ trong vài phút, các trung khu bận rộn được nhận nhiều máu hơn bởi chúng cần nhiều oxy và đường glucose hơn để công tác, và bộ gien bên trong tế bào thần kinh sẽ tắt bật tùy theo nhu cầu. Trong khi đó, các kết nối ít năng động hơn thì bắt đầu tàn lụi đi trong một quá trình mà đôi khi được gọi là thuyết Darwin thần kinh: kẻ sống sót là kẻ bận rộn nhất.

Tất cả hoạt động của tâm trí – hình ảnh và âm thanh, suy nghĩ và cảm giác, ý thức và vô thức – đều đặt nền tảng trên hoạt động thần kinh bên dưới. Quá nhiều hoạt động thần kinh ào ạt chảy qua não như những gợn sóng lăn tăn trên dòng sông, không để lại mấy tác động trên dòng chảy của mình. Nhưng một hoạt động thần kinh có cường độ mạnh, kéo dài hoặc là lặp đi lặp lại – đặc biệt khi nó có tính ý thức – sẽ để lại một dấu ấn lâu bền trong cấu trúc thần kinh, giống như một dòng chảy mạnh mẽ trào dâng làm biến dạng lòng sông vậy. Như người ta bảo trong khoa học thần kinh: tế bào thần kinh nào bắn tín hiệu cho nhau thì liên kết với nhau. Trạng thái tinh thần trở thành nét đặc trưng thần kinh. Từng ngày trôi qua, tâm trí đang đắp nặn bộ não của bạn.

Các nhà khoa học gọi đây là tính mềm dẻo thần kinh dựa trên trải nghiệm, một lĩnh vực nghiên cứu mới khá nổi bật hiện nay. Lấy ví dụ, các tài xế taxi ở London có khả năng ghi nhớ mạng lưới đường sá rối rắm như đĩa mì spaghetti sẽ có những lớp thần kinh dày đặc trong khu hồi hải mã, vùng não giúp hình thành trí nhớ không gian-thị giác; như thể họ đang tập luyện để lên cơ bắp, các tài xế này vận động rèn luyện một vùng não của mình và phát triển mô mới ở đó. Đó là câu chuyện về các tài xế taxi; lại nói về những người thiền tỉnh thức, họ có trong não mình vùng chất xám rất phát triển – nghĩa là một vỏ não dày hơn – trong ba khu vực chính: vỏ não trán trước đằng sau trán kiểm soát sự tập trung; thùy đảo, được dùng để thấu hiểu bản thân và người khác; và hồi hải mã. Trải nghiệm của ta không chỉ phát triển khớp thần kinh mới, vốn đã vô cùng đáng nể, mà một cách nào đấy còn vươn vào trong bộ gien của ta – đến các dải nguyên tử nhỏ bé trên chiếc thang xoắn phân tử DNA bên trong hạt nhân của các tế bào thần kinh – và thay đổi cách chúng vận hành. Ví dụ, nếu bạn thường kỳ luyện tập thư giãn, thì hoạt động của gien có chức năng điều hòa phản ứng căng thẳng sẽ gia tăng, khiến bạn dẻo dai hơn và có năng lực phục hồi tốt hơn.

Thay đổi não bộ theo chiều hướng tốt hơn

Nếu bạn lui một bước để nhìn bao quát các chi tiết khoa học này, sẽ có một thực tế nổi bật lên trước mắt: trải nghiệm của ta có giá trị quan trọng. Không chỉ trong cách chúng ta cảm thấy như thế nào vào thời điểm ấy mà còn trong các dấu hằn bền vững chúng để lại trên não bộ chúng ta. Trải nghiệm của ta về hạnh phúc, phiền muộn, tình yêu, và lo âu có thể tạo nên thay đổi thực thụ trong mạng lưới thần kinh của mình. Quá trình xây dựng cấu trúc hệ thần kinh này được tiếp thêm năng lượng bởi trải nghiệm có ý thức, và đặc biệt bởi những gì hiện diện nổi bật nhất trước nhận thức của bạn. Sự chú ý của bạn giống như là sự kết hợp của đèn pha và máy hút bụi: nó làm bật lên những thứ nó bắt thấy trước mắt và sau đó hút tọt vào não bạn – theo chiều hướng tốt hơn hoặc tệ hơn.

Dân gian có câu rằng tâm trí ta sẽ định hình từ cái mà nó tựa vào. Dựa trên những gì ta học được về tính mềm dẻo thần kinh dựa trên trải nghiệm, một phiên bản hiện đại có thể phát biểu rằng, bộ não ta định hình từ cái mà nó tựa vào. Nếu bạn vẫn tiếp tục đặt tâm trí trên các nền tảng như tự chỉ trích, lo âu, căng thẳng, tổn thương, oán thán người khác, thì não bạn rồi sẽ định hình theo cách thức phản ứng thụ động nhiều hơn, yếu ớt trước lo âu và trầm uất nhiều hơn, tâm trí bạn rồi sẽ chỉ còn tập trung rất hẹp vào các mối nguy hại và mất mát, và có xu hướng thiên về giận dữ, buồn đau và cắn rứt. Ngược lại, nếu bạn đặt tâm trí mình vào những hoàn cảnh và sự kiện tốt đẹp (ai đó tử tế với bạn, bạn vẫn còn nhà để về), cảm giác dễ chịu, những điều bạn đã làm được, những niềm vui về thân thể hay vật chất, và các dự định hay phẩm chất tốt đẹp, thì theo thời gian bộ não của bạn sẽ nhận lấy một hình dạng khác, một hình dạng có sức mạnh và khả năng phục hồi được lập trình, cũng như một cái nhìn lạc quan thực tế, một tâm trạng tích cực, và một cảm giác về giá trị nội tại. Hãy nhìn lại tuần vừa qua hay trước đó nữa, bạn đã đặt tâm trí mình dựa vào đâu là chủ yếu?

Trên thực tế, cái mà bạn chú tâm vào – cái mà bạn đặt tâm trí mình vào – chính là yếu tố định dạng chính cho não bạn. Đúng là có một số thứ tự động bắt lấy sự chú ý của một người – chẳng hạn như một rắc rối ở chỗ làm, một cơn đau trên cơ thể, hay một cơn lo âu nghiêm trọng – nhưng nhìn chung thì bạn có nhiều ảnh hưởng lên những điều mà tâm trí mình để tâm. Điều này có nghĩa là bạn hoàn toàn có thể chủ động kéo dài hay thậm chí là tạo ra các trải nghiệm có khả năng định hình lại não bạn theo cách tốt hơn.

Tôi sẽ chỉ cho bạn cách làm chi tiết, bắt đầu từ Chương 4. Trong khi đó, hãy thoải mái thu nhận điều tốt đẹp vào lòng ngay bây giờ. Phương pháp này, kết hợp với một trải nghiệm tích cực, được cô đọng chỉ trong bốn chữ: có nó, và tận hưởng (nó). Và hãy tự mình chứng kiến điều gì sẽ xảy ra khi bạn làm được.

Các trải nghiệm có lợi cho bạn nhất

Ngẫm thật kỹ về khu vườn tâm trí của mình lúc này, bạn thấy hoa nào nên được gieo trồng? Một số loại trải nghiệm nhất định sẽ có lợi cho bạn nhiều hơn những cái khác.

Đúng là trải nghiệm tiêu cực có thể có giá trị cho một người. Lấy ví dụ, làm việc ca đêm ở nhà máy đóng chai vào một mùa hè khi còn học đại học đã trui rèn tôi thành một người kiên cường. Thế nhưng trải nghiệm tiêu cực tự thân nó mang theo tác dụng phụ tiêu cực, chẳng hạn như sự bực bội về tâm lý hay hệ quả căng thẳng kéo theo về sức khỏe. Chúng còn có thể tạo ra xung đột với người khác, hay làm tệ hơn các xung đột này. Khi vợ chồng tôi mệt mỏi và kiệt sức trong việc nuôi dạy hai đứa con nhỏ, chúng tôi quát nạt nhau thường xuyên hơn. Cái giá của trải nghiệm tiêu cực thường kỳ vượt quá giá trị của nó, và thường thì chẳng có lợi ích gì cả, chỉ toàn là đau đớn chứ không được lợi gì. Cũng bởi tế bào thần kinh nào bắn tín hiệu cho nhau thì liên kết với nhau, cho nên nếu bạn ở lại với trải nghiệm tiêu cực mà đã vượt quá giá trị hữu dụng của nó thì đồng nghĩa với việc chạy đua nhiều vòng ở Địa ngục: bạn đào cái rãnh trong não mỗi lúc một sâu hơn mỗi khi bạn chạy qua nó một vòng lại một vòng.

Ngược lại, trải nghiệm tích cực thì luôn luôn có lợi và ít khi đau đớn. Chúng thường tạo cảm giác tốt đẹp tại thời điểm đó. Thêm nữa, cách trực tiếp nhất để phát triển các sức mạnh nội tại như lòng kiên tâm, cảm giác về bức tranh toàn cảnh, cảm xúc tích cực, và lòng trắc ẩn, đó là có được các trải nghiệm về các sức mạnh này ngay từ đầu. Nếu bạn muốn phát triển lòng biết ơn, hãy đặt tâm trí bạn vào cảm giác biết ơn. Nếu bạn muốn cảm thấy được yêu thương nhiều hơn, hãy tìm kiếm và ở lại với trải nghiệm mà trong đó bạn cảm thấy mình được đón nhận, nhìn nhận, công nhận, được yêu mến, và được bảo bọc. Câu trả lời cho câu hỏi về việc làm thế nào để gieo trồng điều tốt trong tâm trí nằm ở đây: tiếp nhận các trải nghiệm về chúng. Việc ấy sẽ đan bện chúng vào trong não bạn, hình thành các dòng thần kinh về chúng, giúp bạn mang chúng theo bên mình đến mọi nơi.

Bên cạnh việc gieo trồng các sức mạnh nội tại đặc hiệu cho bản thân, việc tiếp nhận điều tốt có những lợi ích tổng quát đi kèm như tính chủ động thay vì bị động, cư xử với bản thân như một người có giá trị, và tăng cường sức tập trung của mình. Thêm nữa, ta sẽ đọc thấy trong Chương 3, theo thời gian bạn có thể dần dần khiến bộ não mình nhạy cảm hơn với trải nghiệm tích cực để chúng trở thành các sức mạnh nội tại nhanh hơn và dễ dàng hơn.

Tính mềm dẻo thần kinh tự định hướng

Một nhà thần kinh học bạn tôi từng mô tả não bộ như một cái “bánh pudding bằng bột năng”. Trông như một đốm nhơm nhớp không có gì hấp dẫn. Thế nhưng nó là cơ quan chủ lực trong cơ thể người và là nguồn lực chính bên trong cho tình trạng lành mạnh của bạn, tính hiệu quả mỗi ngày, sự chữa lành về tâm lý, phát triển cá nhân, tính sáng tạo, và thành công. Bất kể bạn cảm thấy giận dữ hay đang thư giãn, bực bội hay mãn nguyện, cô đơn hay được yêu, tất cả đều phụ thuộc vào mạng lưới thần kinh của bạn. Xa hơn nữa, cách bộ não tương tác chính là cơ sở cho các mối quan hệ đủ đầy, các tổ chức thành công, các quốc gia thịnh vượng, và đích đến sau cùng, là cơ sở cho việc liệu ta có sống trong một thế giới hòa bình và phát triển bền vững hay không.

Khoa học về tính mềm dẻo dựa trên trải nghiệm cho thấy mỗi người đều có năng lực thay đổi bộ não của chính mình theo chiều hướng tốt hơn – và đó được Jeffrey Schwartz gọi là tính mềm dẻo thần kinh tự định hướng. Nếu bạn không lợi dụng sức mạnh này cho mình, thì các thế lực khác sẽ định hình não bạn thay cho bạn, chẳng hạn như áp lực ở chỗ làm hay ở nhà, công nghệ và truyền thông, những người hay thúc ép, tác dụng dai dẳng từ các trải nghiệm đau thương trong quá khứ và kể cả, như ta sẽ xem xét trong chương tới, Mẹ Thiên Nhiên nữa.

Mặt khác, với những cách nhanh, dễ làm và thú vị, trong dòng chảy cuộc sống đời thường của mình, bạn có thể sử dụng quyền năng của tính mềm dẻo thần kinh tự định hướng để xây nên một cảm giác lâu dài về sự thư thái, tự tin, chấp nhận bản thân, lòng tử tế, cảm giác được yêu thương, mãn nguyện, và bình an nội tâm. Về cốt lõi, việc bạn cần làm với những phương pháp trong sách này thực ra rất đơn giản: biến các trải nghiệm tốt đẹp mỗi ngày thành một cấu trúc thần kinh tích cực. Nói một cách công nghệ hơn, đó là: bạn sẽ kích hoạt các trạng thái tinh thần và rồi cài đặt chúng thành các nét đặc trưng thần kinh. Khi cần đến, bạn sẽ có thể rút ra sử dụng các đặc trưng này, khi chúng đã trở thành sức mạnh nội tại của bạn, khi ấy điều tốt đẹp đã được cấy vào tâm trí bạn.

Bạn sẽ sử dụng tâm trí mình để thay đổi não bộ và rồi để não bộ thay đổi tâm trí bạn theo hướng tốt hơn. Từng mẩu một, từng khớp thần kinh một, bạn hoàn toàn có thể xây dựng hạnh phúc vào trong não bộ của mình.

Và bằng cách này, bạn sẽ vượt qua được thiên kiến tiêu cực: não bộ giỏi học hỏi từ trải nghiệm xấu, nhưng kém cỏi trong việc học từ trải nghiệm tốt. Khi bạn đọc chương tiếp theo, bạn sẽ thấy nếu tâm trí là một khu vườn thì “đất” của bộ não sẽ màu mỡ dinh dưỡng cho cỏ hơn là hoa. Vì thế, điều vô cùng quan trọng là ta phải gieo trồng hạt giống sức mạnh nội tại bằng cách liên tục thu nhận điều tốt vào lòng.

THẤM NHẬP VÀO LÒNG

  • Sức mạnh nội tại của một người bao gồm sự bình yên, sự mãn nguyện, và tình yêu, cũng như khả năng phục hồi, tự tin, lòng kiên tâm và tri kiến nội tại. Các sức mạnh này giúp bạn đương đầu với những khó khăn trong đời, hồi phục lại từ căng thẳng, hàn gắn các đau thương cũ, duy trì thể trạng và tinh thần khỏe mạnh, hoàn thành được những điều muốn làm ở nhà cũng như chỗ làm, cũng như có thể nhẫn nại và quan tâm đến người chung quanh.
  • Phần lớn các sức mạnh nội tại được hình thành phát triển theo thời gian. Quyển sách này viết về công cuộc gieo trồng các sức mạnh bên trong thông qua trải nghiệm tích cực, đó chính là lập trình hạnh phúc.
  • Đơn giản quan sát tâm trí của mình đã là một việc cực kỳ hữu ích, nhưng bạn còn cần phải giảm bớt những tiêu cực và gia tăng điều tích cực. Tôi tập trung vào việc gia tăng điều tích cực: trồng hoa trong khu vườn tâm trí. Đồng nghĩa với thay đổi cấu trúc não bộ của bạn.
  • Tất cả hoạt động của tâm trí – hình ảnh và âm thanh, suy nghĩ và cảm giác, ý thức và vô thức – đều đặt nền tảng trên hoạt động thần kinh bên dưới. Hoạt động thần kinh/ tinh thần lặp đi lặp lại đều để lại các thay đổi bền vững trong cấu trúc thần kinh: đó được gọi là tính mềm dẻo thần kinh dựa trên trải nghiệm. Điều này nghĩa là bạn có thể sử dụng tâm trí mình để thay đổi não bộ, và rồi bộ não sẽ thay đổi tâm trí bạn theo hướng tốt hơn.
  • Cách tốt nhất để phát triển niềm hạnh phúc to lớn hơn và các sức mạnh nội tại khác là hãy có trải nghiệm về chúng, sau đó giúp các trạng thái tinh thần tốt đẹp này trở thành các nét đặc trưng thần kinh. Đây chính là nguyên lý của tiếp nhận điều tốt: kích hoạt một trải nghiệm tích cực và cài đặt nó vào trong não bạn.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chương 1 “Đừng lỗi hẹn với thực tại” – Nguyễn Duy Nhiên

“Đừng lỗi hẹn với thực tại” là một tuyển tập những mẫu chuyện, cảm nghĩ, chia sẻ… liên quan đến thiền tập, giúp cho ta nhìn nhận cuộc sống sâu sắc hơn, thấy rõ được chính mình và biết cách tiếp xúc, trở về với thực tại.

Published

on

Trích từ: Đừng lỗi hẹn với thực tại

Tác giả: Nguyễn Duy Nhiên

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 9.2019

*

Có vị thiền sư dạy chúng ta trong khi tiếp xúc với những gì đang xảy ra, đừng nên chấp theo một phương pháp có sẵn nào, mà hãy để tất cả có mặt trong điều kiện tự nhiên. Hãy tiếp xúc bằng một cái thấy như thực, còn đối tượng là gì, hay trạng thái nào, cũng không quan trọng.

Vấn đề không phải là ta nên giải quyết như thế nào, mà quan trọng là ta có thấy rõ lại chính mình trong thực tại này không. Thấy đúng rồi thì ta mới có thể làm đúng được.

Chúng ta bao giờ cũng muốn sửa đổi hoàn cảnh, nhưng ta có thật sự thấy được những gì đang cần sửa đổi không?

Muốn có hành động đúng, lời nói đúng, suy nghĩ đúng, hành xử đúng, đức Phậy dạy, trước hết chúng ta cần phải có một cái thấy sáng tỏ. 

Mà quên sương tuyết

Tôi thích thơ Haiku. Mỗi chữ như hạt sương nhỏ chứa trọn một vầng trăng, mỗi câu thơ đơn sơ nhưng chuyên chở được cả một thực tại. Nơi tôi ở bây giờ là mùa đông. Mấy hôm trước trời có một cơn mưa tuyết. Buổi tối bước ra vườn, con đường nhỏ phủ tuyết màu trắng sáng xanh dưới ánh trăng. Chợt nhớ đến câu thơ của Basho:

Quét tuyết sương

Mà quên sương tuyết

Cây chổi trong vườn

Hình ảnh tuy đơn sơ nhưng người đọc vẫn cảm nhận được sâu sắc một sự tĩnh lặng và một thái độ vô cầu. Giữa cuộc đời, ta hãy làm những gì cần làm mà vẫn thong dong giữa những đến đi, mất còn.

Chỉ cần một ý thức sáng tỏ

Trong đạo Phật có nói về một yếu tố giúp ta có được một cuộc sống thong dong hơn, bớt vướng mắc hơn khi tiếp xúc với thực tại, đó là một cái thấy chân thật, tự nhiên.

Có một câu chuyện về Tổ Long Thọ (Nagarjuna). Một anh ăn trộm tìm đến gặp ngài Long Thọ nói, “Thưa Thầy, con là một tên trộm, nhưng con rất muốn được làm đệ tử của Thầy, con thật lòng và nhất định dầu cho Thầy có đuổi con cũng không đi. Xin Thầy hãy nhận con làm đệ tử, nhưng cũng xin Thầy đừng bắt con phải bỏ nghề ăn trộm này, vì con đã cố gắng từ bỏ nhiều lần nhưng không thể nào được!”

Ngài Long Thọ nhìn anh ta rồi nói, “Ta không có vấn đề hay lo ngại gì hết. Anh có tâm cầu đạo như vậy rất tốt, ta sẽ nhận anh làm đệ tử. Từ nay anh hãy sống và làm những gì anh muốn, ta chỉ có một điều kiện: là anh phải có ý thức rõ ràng về những hành động của mình, một cách đơn giản và tự nhiên, không cần phải dụng công.” Anh ăn trộm vui mừng nhận lời ngay, vì Ngài không hề bắt anh phải từ bỏ nghề sống của mình. 

Một tháng sau anh ăn trộm trở lại gặp ngài Long Thọ và nói, “Lời dạy của Thầy quả thật khó thực hiện, vì mỗi khi con có ý thức rõ ràng thì tự nhiên con không thể nào làm chuyện bất thiện được, vì con thấy được nguyên nhân của khổ đau. Và những khi con bất cần, cứ làm việc bất thiện, thì cái thấy trong sáng của con cũng không thể nào có mặt nữa!”

Một mảnh trăng lấp đầy

Cuộc sống có những ràng buộc và bất an, nhưng ta vẫn có thể bước đi thong dong, bạn có nghĩ vậy không? Quét tuyết sương, mà quên sương tuyết… Chúng ta không bao giờ chối bỏ được sự có mặt của khổ đau, nhưng chúng ta cũng có thể tiếp xúc được với hạnh phúc bằng một cái nhìn sáng tỏ.

Đối với tôi trong giờ phút này, hạnh phúc là được ngồi yên bên ly cà phê với một người bạn, nghe một lời kinh xưa, đi dạo dưới trời nắng ấm hoặc được đọc một bài Haiku hay... Còn bạn thì sao? Mỗi phút giây này là một phút giây duy nhất trong cuộc đời. Chúng ta có thể chán nản, phiền muộn về nó, hoặc ta cũng có thể nhận ra sự bình yên đang hiện hữu quanh mình.

Trên đầu ngọn cây

Khoảng trống nơi cành khô gãy

Một mảnh trăng lấp đầy

(Phan Thị Kiều Trang)

Trong đêm khuya, nơi khoảng trống giữa những nhành cây gầy guộc khô gãy ấy, bạn có thấy chăng một vầng trăng sáng.

Là thực tại tự nhiên

Thiền sư Lâm Tế có nói về địa hành thần thông, có nghĩa là ta đang thể hiện thần thông trong mỗi bước chân của mình. Sự tu tập không phải để giúp ta đạt được những khả năng phi thường như là đi được trên lửa, bay trên mây hoặc bước trên mặt nước, mà phép lạ là đi trên mặt đất. Và khi ta ý thức được rằng những gì ta muốn chưa chắc sẽ có mặt ở nơi ta đến, nhưng lúc nào cũng có thể có mặt trong bước ta đi, ta sẽ thanh thản và thật sự có mặt với mỗi bước chân của mình. Phép lạ không phải là làm sao để vượt qua hoặc tránh né, mà là để thật sự có mặt trong thực tại.

Có lẽ, lý thuyết thì bao giờ cũng dễ hơn thực hành! Nhưng tất cả đều bắt đầu từ sự thay đổi nhận thức và cái nhìn của mình mà thôi. Muốn có cái thấy sáng tỏ ấy ta phải dùng đến thần nhãn của mình. Ta thường cho rằng, người có thần nhãn là người có thể nhìn xuyên suốt được qua khắp ba nghìn thế giới, thấy được quá khứ và tương lai, hoặc nhìn thấy được hào quang của Phật... Nhưng có lẽ thiền sư Lâm Tế sẽ nghĩ khác, thần nhãn là thấy được những gì đang có mặt trong giây phút này, như chúng thật sự là. Có tuyết sương thì ta quét sương tuyết, nhưng rồi ta nắm giữ sương tuyết lại làm gì, hạnh phúc cũng sẽ là một thực tại tự nhiên thôi, phải không bạn?

Trăng vào cửa sổ

Mùa đông năm nay trời có mưa nhiều và thật lạnh. Những ngày bước ra ngoài, sương mù dày đặc không gian phủ kín khu vườn, che khuất lối đi. Trong cuộc đời, đôi lúc nhờ lối đi xưa bị che lấp mà ta chợt thấy được con đường mới. Nhờ có những khổ đau mà mình lại tìm được sự thong dong.

Có những đêm khuya sau khi tắt chiếc đèn nhỏ bên bàn viết, tôi thấy trăng soi vào thật sáng.

Trong lều nhỏ

Một ánh sáng vuông

Trăng vào cửa sổ

(Basho)

Và bạn có thấy không, ánh sáng vuông ấy cũng thật như một vầng trăng trong sáng ngoài kia...

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chương 1 “Bẻ khóa sinh học trong 90 ngày” – Đóng lại khoảng hở trong nhân cách

Published

on

Mệt mỏi và trầm cảm, Ben Angel quyết định bỏ ra 90 ngày đi tìm nguồn cơn của những triệu chứng tinh thần nhằm giải quyết chúng một cách triệt để. Theo tác giả, phần lớn sách về self-help đều tập trung giải quyết các vấn đề tâm lý, tinh thần hoặc thái độ, trong khi nguyên nhân lại nằm ở khía cạnh hóa sinh của cơ thể. Ben Angel đề cập đến việc “biohack” cơ thể và tâm trí, thông qua một chương trình dinh dưỡng phù hợp, kết hợp thiền tập, đồng thời áp dụng những thiết bị kỹ thuật hiện đại. Nếu cơ thể được bẻ khóa sinh học đúng cách, vấn đề tâm lý sẽ được giải quyết, từ đó con người phá được thói quen xấu, tạo được thói quen tốt, giải quyết được tâm bệnh, có được năng lượng mới và đạt được hiệu quả mong muốn trong cuộc sống và công việc.

Trích từ: Bẻ khóa sinh học trong 90 ngày

Tác giả: Ben Angel

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 9.2020

*

CHƯƠNG 1
Một sự chuyển đổi mô hình trong nhiều thập kỷ: Đóng lại khoảng hở trong nhân cách

Đang trên bờ vực suy sụp thần kinh, bắt đầu có ý nghĩ tự tử, không còn chỗ nào bấu víu, cuộc sống của tôi tại thời điểm đó hoàn toàn là một lời nói dối. Tôi được quảng cáo là “Người gây ảnh hưởng” đến hàng trăm ngàn doanh nhân và công ty, vậy mà tôi thậm chí không thể tạo động lực cho bản thân hướng tới mục tiêu tiếp theo. Tôi giận dữ.

Ước mơ của tôi là chuyển đến New York và tiếp tục sự nghiệp viết lách. Đã bao nhiêu lần tôi hình dung về mục tiêu này. Tôi tưởng tượng cảnh mình đi dạo trên những con đường thành phố náo nhiệt, đi đến quán cà-phê và nhà hàng, và, vâng, thậm chí có khoảnh khắc sến súa y như nhân vật nữ chính Carrie Bradshaw trong loạt phim Sex and the City, tư lự ngồi viết bài bên cửa sổ một ngôi nhà phố cổ điển đắt tiền ở New York (Độc giả đừng phán xét tôi nhé!). Tuy nhiên, không biết vì lý do gì, tôi thậm chí không dám nhìn vào danh sách việc cần làm; thật quá sức. Tôi đang nhanh chóng trở thành kẻ hết thời, đó là những gì mà những người trong ngành này nhìn nhận. Ước mơ của tôi ngày càng xa tầm với, và việc tôi cố gắng thuyết phục bản thân rằng mình vẫn ổn chẳng có nghĩa lý gì nữa. Sự thật là tôi không ổn, nhưng không ai trả lời cho tôi biết tại sao.

Có lẽ bạn hiểu được điều tôi nói. Bạn biết mình có khả năng, nhưng vì lý do nào đó bạn không thể mở khóa tài năng này, thể hiện nó triệt để bằng mục đích, tầm nhìn và mục tiêu của bạn. Bạn luôn cảm thấy ước mơ của mình ngoài tầm với. Và dù có cố gắng nắm lấy nó bao nhiêu, giấc mơ đó vẫn luôn tuột qua tay bạn. Bạn cố gắng thuyết phục bản thân rằng sẽ dậy sớm hơn, làm việc chăm chỉ hơn và làm bất cứ điều gì cần thiết để đạt được mục tiêu của mình, nhưng hết lần này đến lần khác, bạn thất bại. Chúng ta là như vậy sao? Có phải chỉ vì chúng ta có thái độ kém? Chúng ta chỉ cần cứng rắn lên? Những người siêu thành công đang làm điều gì mà chúng ta không làm được? Tôi đã làm theo chiến lược của họ, nhưng tôi không nhận được kết quả giống họ. Tại sao?

Chúng ta được dạy rằng để hết buồn thì cần suy nghĩ tích cực lên. Nếu tức giận, bạn cần tìm sự bình yên. Nếu bạn hay trì hoãn, bạn là kẻ lười biếng. Nếu bạn kiếm cớ, bạn yếu đuối. Mọi thứ đều ở trong đầu bạn thôi. Hãy cầm lấy một quyển sách dạy cách tự lực và vượt lên chính mình đi.

Hoặc nếu đến chỗ bác sĩ để phàn nàn về các triệu chứng tương tự, bạn sẽ được chẩn đoán y khoa là bị trầm cảm và được kê đơn thuốc chống trầm cảm để khắc phục sự mất cân bằng hóa học trong não bộ. Ngay cả khi đó, do những hạn chế trong đào tạo, thái độ và thời gian của mình, bác sĩ cũng không thể dành thời gian để tìm hiểu nguyên nhân sự xuống dốc của bạn.

Tệ hơn là ngành công nghiệp sách tự lực cũng nhìn vào cùng những triệu chứng này, và họ tin rằng tiêm cho bạn một liều động lực và một câu chuyện truyền cảm hứng sẽ chữa được cho bạn. Những quyển sách đó cũng không quan tâm đến việc tìm ra nguyên nhân gốc rễ.

Nhận thức này khiến tôi phải đặt câu hỏi: Nếu đây là những triệu chứng của tôi, vậy nguyên nhân đằng sau đó là gì?

Tất cả chúng ta đều trải qua những thất bại ở các mức độ khác nhau trong suốt cuộc đời của mình, một số người gặp những thất bại lớn hơn người khác. Trong một cuộc khảo sát trực tuyến qua Facebook vào năm 2018 mà nhóm của tôi đã thực hiện với 2.000 doanh nhân trên khắp thế giới, chúng tôi đã có những phát hiện sau:

  • 75% từng bị chứng “sương mù não” hay chứng đờ đẫn, mất tập trung.
  • 82% cũng hay trì hoãn.
  • 82% dễ bị phân tâm.
  • 65% dễ cảm thấy quá tải.
  • 71% trải qua mức độ căng thẳng cao.
  • 58% không cảm thấy sảng khoái khi thức dậy buổi sáng.
  • 47% cảm thấy buồn bã.
  • 62% có năng lượng lên xuống thất thường trong suốt cả ngày.
  • 65% mắc kẹt trong những suy nghĩ tiêu cực.

Những con số này đáng kinh ngạc ở chỗ chúng chứng minh một tỷ lệ lớn trong những người này đều gặp phải các triệu chứng có thể liên quan đến trầm cảm. Mà những đối tượng cụ thể này, hầu hết là những người có động lực cao, những người say sưa với mục tiêu của họ và tham gia vào một lực lượng lao động gồm những con người năng động, có tầm ảnh hưởng trong thế giới kinh doanh, ấy vậy mà một lượng lớn những người này lại không hoàn toàn vui vẻ khi nói đến sức khỏe tinh thần của mình. Do những nhân tố sinh học, bao nhiêu người trong số họ sẽ kiệt sức trước khi có thể đạt được giấc mơ của mình?

Bằng cách xem xét kỹ hơn, chúng ta có thể thấy rằng có một nguyên nhân cơ bản gây ra các triệu chứng này. Tôi tin chắc rằng chúng ta có thể tự chữa khỏi “căn bệnh” khỏe mạnh ảo tưởng này. Đặc biệt là tại Hoa Kỳ, chúng ta đang chứng kiến việc sử dụng thuốc tràn lan nhằm chữa trị các triệu chứng này và ngành y tế chưa sẵn sàng thay các đơn thuốc bằng những bảng câu hỏi để khám phá nguyên nhân gốc rễ cho sự tuột dốc tinh thần của chúng ta.

Thu hẹp khoảng cách với con người thật của mình

Câu chuyện của tôi không phải là ngoại lệ của quy tắc; đó là quy tắc. Đây là tất cả các triệu chứng thể hiện ra ngoài của một vấn đề cơ bản ẩn bên dưới, một vấn đề đã bị ngành công nghiệp phát triển bản thân và ngành y tế hoàn toàn ngó lơ.

Giống như con ếch chết dần khi được cho vào nước ấm sau đó đun sôi dần dần, chúng ta cũng sẽ thích nghi với sự đau khổ của mình mà không nhận thức được cho đến khi các triệu chứng nghiêm trọng xuất hiện và cần phải can thiệp y tế. Và đến lúc đó, ta lo đi chữa bằng một biện pháp quyết liệt nào đó, thay vì sử dụng một biện pháp mang tính phòng ngừa ngay từ đầu.

Tất cả các triệu chứng này làm đầu óc ta giảm khả năng xử lý thông tin mới, gây ra hậu quả nguy hiểm khi nói đến việc thu hẹp khoảng hở nhân cách giữa bản thân hiện tại của chúng ta với người mà chúng ta cần trở thành để đạt được mục tiêu. Cụ thể, nó giới hạn niềm tin của ta về bản thân, giới hạn khả năng nhận thức cần thiết để hiện thực hóa những viễn cảnh ta tưởng tượng về cuộc sống của mình. Ngay cả khi những triệu chứng này chỉ ở thể nhẹ, chúng vẫn có thể khiến chúng ta lâm vào tình trạng tồi tệ nhất.

Mãi cho đến khi gặp một bác sĩ tại thành phố nông thôn Dubbo ở New South Wales, Úc, sau buổi nói chuyện với điệu bộ trịch thượng của người bác sĩ này thì lần đầu tiên tôi mới mở mắt.

Nhìn vào câu hỏi hóc búa

Tôi không mệt mỏi vì tôi bị trầm cảm; mà tôi trầm cảm vì tôi mệt mỏi. Tôi muốn biết tại sao tôi mệt mỏi! Bị trầm cảm do mệt mỏi là điều đầu tiên trong nhiều phát hiện giúp tôi khám phá ra giải pháp, không chỉ giải pháp cho các triệu chứng của tôi, mà còn là giải pháp để đạt được mục tiêu và viết lại mô hình thành công đi từ nền tảng. Nếu tôi có thể khám phá lý do tại sao tôi mệt mỏi, tại sao tôi lại kiếm cớ và chần chừ, mọi thứ khác sẽ quay lại đâu vào đó. Cuối cùng tôi sẽ lại có được động lực của mình, thôi kiếm cớ, và thắp lên lại nguồn năng lượng và niềm đam mê cho các dự án tôi từng yêu thích.

Giống như hàng triệu người khác, lúc bắt đầu tôi bị các triệu chứng nhẹ mà tôi nhanh chóng quy kết là do làm việc quá sức, thái độ tinh thần yếu đuối hoặc thức khuya và căng thẳng với những thời hạn sít sao. Tôi đã tán thành triết lý “cứ làm đi” mà không nhận thức được đầy đủ về hậu quả khi làm theo triết lý đó.

Khi lực bất tòng tâm, cơ thể không thể hoàn thành nhiệm vụ mà linh hồn đặt ra. Linh hồn thì lúc nào cũng sẵn sàng, sẵn lòng. Mặc dù đã đọc vô số sách tự lực, tham dự nhiều hội thảo, và đắm mình trong các chiến lược tạo động lực cho bản thân trong suốt 15 năm qua nhưng rốt cuộc tôi nhận ra rằng những thông tin mình có không hề đầy đủ.

Chúng ta đã được dạy rằng tâm lý của mình là chìa khóa số một để thành công; các chức năng sinh hóa của chúng ta không được đề cập đến trừ khi bạn là một vận động viên ưu tú hoặc gặp các triệu chứng thể chất nghiêm trọng mà ai cũng thấy. Nhưng ngay cả các vấn đề sinh hóa nhẹ cũng có thể ngăn cản bạn đạt được mục tiêu của mình.

Lập kế hoạch chiến lược, chuẩn bị tinh thần và ý chí là điều cần thiết để có được khả năng suy nghĩ và cạnh tranh trong công việc và cuộc sống. Những yếu tố này có thể giúp ta trở thành một đối thủ mạnh. Tuy nhiên, các cơ chế hóa sinh, những chức năng tạo ra sức bền và khả năng chịu đựng của một người, chính là thứ tạo ra vận tốc đạt tới thành công.

Chúng ta có xu hướng tự động cho rằng mình cũng có cơ chế sinh hóa ngang bằng với diễn giả Tony Robbins, doanh nhân Richard Branson, Đức Đạt Lai Lạt Ma hay những người đỉnh cao khác. Nhưng chúng ta không biết nhiều người trong số đó tích cực làm việc để nâng cao cơ chế sinh hóa của mình. Những người khác, thông qua sự kết hợp của các yếu tố mà chúng ta sẽ nói trong cuốn sách này, đã gặp may mắn; cơ chế sinh hóa của họ tự nhiên làm cho họ ít bị căng thẳng, đờ đẫn và buồn bã, giúp dọn đường cho sự thành công của họ.

Điều đó không có nghĩa là họ không trải qua những tình trạng này; họ có bị chứ nhưng ở những mức độ nhẹ hơn, kiểm soát được. Cũng không phải để nói rằng họ không làm việc chăm chỉ; chỉ là với họ không quá khó khăn như những người khác vì họ có cơ chế sinh hóa ổn định hơn, đây là một nền tảng vững chắc để từ đó mọi thứ khác có thể phát triển.

Chúng ta bắt chước chiến lược của họ. Chúng ta muốn biết họ thức dậy mấy giờ, họ ăn gì, họ nghĩ như thế nào, niềm tin cốt lõi và thói quen đọc sách của họ là gì, nhưng không một giây nào chúng ta nhìn ra một điều: mỗi người là một hệ thống sinh hóa độc nhất vô nhị không ai giống ai. Mỗi người chúng ta xử lý thức ăn, suy nghĩ và cảm xúc rất khác nhau do nhiều yếu tố – các yếu tố mà chúng ta bỏ qua trong quá trình tìm kiếm thành công cá nhân, trừ khi một trong những mục tiêu của chúng ta là giảm cân.

Bất cứ ai cũng có thể áp dụng các nguyên tắc tâm lý giống như những người siêu thành công, nhưng nếu bạn bị suy giảm nghiêm trọng những thứ như vitamin D, omega-3, vitamin C, vitamin B12, dopamine, serotonin hoặc thậm chí là testosterone (cả ở phụ nữ và nam giới), bạn có thể bị đờ đẫn từ nhẹ đến nặng, mệt mỏi, thờ ơ, lo lắng, căng thẳng và trầm cảm, tất cả những điều này sẽ cản trở nghiêm trọng khả năng duy trì sự tập trung và đạt được mục tiêu của bạn. Nó giống như trồng cây trong đất độc hại rồi lại mong nó lớn lên được. Bất kể bạn có nói với nó là nó có khả năng làm được mọi điều thì cái cây xui xẻo đó kiểu gì cũng sẽ chết mà thôi!

Sự thiếu hiểu biết về cơ chế hóa sinh làm suy yếu các nguyên tắc tâm lý mà chúng ta được dạy để áp dụng. Đó là yếu tố vô hình làm chúng ta trật đường ray, một bàn tay vô hình giữ bạn lại không cho vượt qua vạch đích. Không có thông tin này, bất kỳ chiến lược nâng cao năng suất và hiệu suất nào cũng không đầy đủ và không hiệu quả.

Thay vì nhận ra cơ chế hóa sinh bất ổn của mình, chúng ta gắn một trạng thái tinh thần cảm xúc tiêu cực vào các mục tiêu của mình và tự quyết định mục tiêu đó là quá khó hoặc quá cao. Rốt cuộc chúng ta tự hình thành những suy nghĩ thối chí, chẳng hạn như “Tôi quá mệt mỏi”, “Tôi không có thời gian cho việc này”, “Làm điều đó rồi được gì?” hay “Tôi căng thẳng quá”. Để tránh viễn cảnh đó, có lẽ chúng ta nên tự hỏi bản thân một vài câu:

  • Điều gì sẽ xảy ra nếu thay vì chỉ nghiên cứu thói quen của những người thành công, những bộ óc sáng tạo nhất, những tư tưởng triệu đô, chúng ta dành tâm sức đó để soạn một cơ sở dữ liệu y tế của họ để kiểm tra mức serotonin, dopamine và cơ cấu hệ vi sinh vật cơ thể của họ và so sánh với những người thường xuyên bỏ cuộc, kiếm cớ hoặc trải nghiệm những cảm xúc tiêu cực dữ dội hơn?
  • Liệu cơ chế hóa sinh kém có ảnh hưởng đến khả năng của họ, ngăn họ về đích? Những mức độ sinh hóa này có ảnh hưởng đến khả năng của những người thành công cao để giúp họ vượt qua những thất bại và cán đích? Những quá trình sinh học này có giúp chúng ta hiểu đúng, hiểu đầy đủ tại sao những người thành công lại cư xử theo một cách cụ thể nào đó chứ không chỉ dựa trên thái độ tinh thần và giáo dục?
  • Giả sử một người suy giảm mức độ dopamine và serotonin, hành vi của họ sẽ thay đổi như thế nào?
  • Liệu một người thành công, tự tin có thể bị mất khả năng về thể chất và tinh thần nếu thiếu hụt dinh dưỡng?
  • Nếu nhìn vào mức độ sinh hóa khi họ gặp phải một trở ngại lớn, chúng ta sẽ khám phá ra điều gì?
  • Bằng việc xem xét các khía cạnh khác của cuộc sống khi một người gặp một trở ngại lớn về thể chất và cảm xúc, chúng ta sẽ tìm thấy gì? Họ đã ăn gì vào thời điểm đó? Hành vi của họ đã thay đổi như thế nào? Điều gì xảy ra trong cơ thể chứ không chỉ trong thái độ của họ?

(Tất nhiên ở đây ta đang bỏ qua những nan giải về đạo đức khi thu thập một cơ sở dữ liệu như vậy; những câu hỏi này hoàn toàn là giả thiết.) Lần duy nhất chúng ta xem xét cơ chế hóa sinh là khi chúng ta suy nhược hoặc cố gắng giảm cân, chứ không phải khi chúng ta cố gắng trở thành một phiên bản tốt hơn của chính mình. Khi không đạt được mục tiêu của mình, điều đó ngụ ý rằng chúng ta có một thái độ tinh thần yếu đuối chứ không phải một điểm yếu sinh hóa có thể nhanh chóng được khắc phục nếu có sự giúp đỡ đúng đắn. Quá trình cải biến cá nhân đúng đắn đòi hỏi thay đổi ở cả mặt sinh hóa lẫn tâm lý mới có thể duy trì được sự thay đổi đó về lâu dài. Nếu không, chúng ta sẽ quay trở lại ngay với những gì dễ dàng.

Khi tâm trí yếu đuối, bạn sẽ chẳng làm được việc gì ra hồn. Một phát hiện trong cuộc khảo sát 2.000 doanh nhân khiến chúng tôi khá bất ngờ, nhưng khi nhìn lại thì rõ ràng: 57 đến 65% những người bị “sương mù não” hay đờ đẫn là những người dễ bị phân tâm, thường trì hoãn, mất đi dòng suy nghĩ, cảm thấy quá tải và buồn bã, và cũng cảm thấy thèm ăn. Đây là một yếu tố sinh hóa chính yếu giải thích tại sao họ dễ đi chệch hướng và tại sao họ có xu hướng bỏ cuộc. Khám phá này càng khiến tôi tin rằng thành công không chỉ ở trong tâm trí hay cơ thể; nó ở trong cả hai nơi.

Để thực sự thành công có nghĩa là không chỉ bẻ khóa tâm trí mà còn phải bẻ khóa cả cơ chế hóa sinh của bản thân nữa. Nhìn nhận câu hỏi hóc búa này từ một quan điểm mới đã thách thức mọi thứ tôi từng tin về sự tự lực. Tôi, cũng như những người khác, đã bị thuyết phục rằng mình có thể dùng ý chí để thoát khỏi những lý do, sự trì hoãn, sự đờ đẫn, suy nghĩ tiêu cực và nỗi buồn, nhưng khi bị trầm cảm bạn lại cần uống thuốc.

Nhưng nếu điều đó không đúng thì sao?

Tâm lý đóng vai trò như thế nào trong thành công của bạn, còn cơ chế sinh hóa đóng vai trò bao nhiêu?

Thực tế là bạn không thể sử dụng khả năng tinh thần để bù đắp cho một cơ chế sinh hóa yếu kém. Tinh thần tốt có thể hỗ trợ, nhưng nếu không hiểu và giải quyết được các vấn đề tiềm ẩn, bạn sẽ tiếp tục tránh né và trì hoãn. Những hoạt động thực hành phát triển cá nhân của bạn sẽ chỉ có hiệu quả khi cơ chế hóa sinh của bạn hoạt động với hiệu quả cao nhất và hỗ trợ cơ thể bạn hoạt động ở mức tối đa.

Cách tiếp cận mới đối với các vấn đề cũ

Bạn giải quyết vấn đề gì trước tiên, tâm lý hay sinh lý của mình? Trước đây, chúng ta sẽ chọn một cuốn sách tự lực hoặc tìm kiếm một nhà trị liệu, người có thể hoặc không thể giải quyết sự thiếu hụt dinh dưỡng của chúng ta.

Nếu là một thập kỷ trước, cách này có thể hiệu quả, vì đó là trước khi có những thay đổi lớn diễn ra trong môi trường và nguồn cung thực phẩm, trước khi ô nhiễm ánh sáng và tác động tâm lý của phương tiện truyền thông xã hội bắt đầu ảnh hưởng đến hành vi hàng ngày của chúng ta. Tuy nhiên, bộ não thời tiền sử của chúng ta đã không bắt kịp những tiến bộ công nghệ ngày nay; hệ thống sinh hóa của chúng ta bị mắc kẹt trong quá khứ tiến hóa. Do đó, chúng ta dán mắt vào màn hình máy tính, điện thoại và máy tính xách tay 24/7, và việc nghiện công nghệ này đang có tác động sâu sắc đến cách chúng ta cư xử.

Các nghiên cứu cho thấy các công ty phát triển ứng dụng và mạng xã hội đang sử dụng công nghệ của họ để tạo ra những nền tảng gây nghiện mà chúng ta vô tình phải trả giá.[1] Họ sử dụng những biểu tượng cảm xúc dễ thương và theo dõi số lần chúng ta sử dụng ứng dụng của họ, do đó tạo ra thói quen truyền thông xã hội gây nghiện. Những thói quen này thỏa mãn người dùng, tạo ra cho họ nhu cầu phải lặp lại hành vi đó một lần nữa để có được niềm vui thích ngắn ngủi như thế. Facebook đúng là đã tấn công một trong những chất dẫn truyền thần kinh của chúng ta, dopamine, để thu lợi tài chính. Dopamine, hay còn được gọi là “hormone khen thưởng” do nó chịu trách nhiệm về hệ thống khen-thưởng-gợi-cảm-giáchài-lòng (pleasure-reward system) của não bộ, mang lại cho chúng ta động lực và sự tập trung mà chúng ta cần để làm việc hiệu quả. Thật không may, chúng ta luôn luôn không nhận thức rằng điều này đang xảy ra, cho đến khi chúng ta cảm thấy nó ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác trong cuộc sống.

Dopamine là thành tố quan trọng tham gia vào nhiều chức năng khác nhau của não bộ, liên quan đến giấc ngủ, học tập, điều khiển vận động, trí nhớ làm việc, khả năng tập trung và chú ý.[2] Trong phổ nồng độ dopamine từ thấp tới cao, các bệnh như Parkinson, rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) và các tình trạng bệnh khác nằm ở phân cực nồng độ dopamine thấp. Nói cách khác, nghiện mạng xã hội có phải là kết quả của mức độ dopamine thấp hơn do tình trạng căng thẳng và thế giới hiện đại mà chúng ta đang sống? Những lời bào chữa, tính chần chừ và tình trạng đờ đẫn là những triệu chứng có thể do mức độ thiếu hụt dopamine gây ra, chứ chúng không phải là nguyên nhân gây thiếu dopamine.

Bạn không phải là một người giống như trong những cái cớ bạn đưa ra; cái nguyên cớ đúng lý ở đây chính là cơ chế hóa sinh của bạn.


Đó chính là khi một tia sáng chói lóa giúp tôi nhận ra: Những lời bào chữa của tôi, những suy nghĩ tiêu cực, sự thiếu động lực và tinh thần không chỉ đơn giản là kết quả của một thái độ tinh thần yếu đuối. Vấn đề nằm ở sự thiếu hụt chất dẫn truyền thần kinh kết hợp với nhiều yếu tố khác. Vốn dĩ không ai là không xứng đáng, vô dụng hoặc yếu đuối; tất cả chúng ta luôn thay đổi trong suốt cuộc đời của mình. Cuộc sống, như bạn sẽ tìm hiểu trong suốt cuốn sách này, không phải là một thử nghiệm có kiểm soát. Suy nghĩ tích cực không thể thay thế cho sự thiếu hụt dinh dưỡng. Thật không may, chúng ta không liên kết các triệu chứng mơ hồ như lòng tự trọng thấp, tức giận, cơn thèm carbohydrate, rối loạn tiêu hóa, cảm thấy quá tải, mất ngủ, không vui, đờ đẫn, chức năng nhận thức kém với mức độ serotonin thấp. Thay vào đó, chúng ta tự hành hạ bản thân vì không giỏi được như những người khác.[3]

Khi nghĩ đến điều đó, liệu cơ chế hóa học bên trong có phải là yếu tố kích hoạt sự trì hoãn, sợ hãi, lo lắng, muốn bỏ cuộc không? Trong quá khứ, tôi đã từng trải nghiệm những điều này nhưng chúng chỉ thoáng qua và luôn lắng xuống. Còn lần này chúng đã cắm rễ, tôi phải đào lên. Câu trả lời ngắn gọn là một tiếng CÓ vang vọng.

“Chẩn đoán” sự thất bại

Vấn đề lớn nhất với cách tiếp cận cũ về thành công là nó không thể thu hẹp khoảng cách giữa cơ chế hóa sinh và tâm lý học. Cả hai hòa quyện đến mức không thể tách rời, tuy nhiên hệ thống y tế của chúng ta, lĩnh vực phát triển cá nhân, nhà tâm lý học, những người tin tưởng liệu pháp chữa bệnh tự nhiên, các chuyên gia dinh dưỡng và nhà trị liệu đã phân tách các phương pháp của họ trong nhiều thập kỷ, dẫn đến việc tâm lý học được nhấn mạnh hơn sinh hóa hoặc ngược lại chứ không kết hợp cả hai.

Sự tiến hóa thực sự sẽ xảy ra khi chúng ta có sự hội tụ của tất cả các ngành y học. Điều này đang bắt đầu xảy ra trong lĩnh vực dược chức năng, và nó sẽ cách mạng hóa việc chăm sóc sức khỏe và cách chúng ta nghĩ về bản thân, về khoa học của sự thành công. Nhưng trước khi nói về thành công, hãy nói về thất bại.

Tại sao chúng ta thực sự thất bại

Thất bại không chỉ do mức độ dopamine thấp. Đó còn là vấn đề làm chủ phản ứng “chiến đấu hay trốn chạy” của chúng ta. Khi chúng ta bị căng thẳng, hệ thống thần kinh soma của cơ thể (hệ thần kinh thân thể) sẽ kích hoạt phản ứng chiến đấu hoặc trốn chạy. Cơ thể rơi vào trạng thái tập trung cao độ và dồn các nguồn năng lượng của nó vào việc chống lại mối đe dọa hoặc chạy trốn khỏi kẻ thù.

Phản ứng chiến đấu hay trốn chạy giải phóng các hormone adrenaline và cortisol, tạo ra một loạt các quá trình bên trong, bao gồm hô hấp nhanh, tim đập nhanh và mạch máu giãn ra ở tay và chân, kích hoạt hệ thống tiêu hóa tăng mức đường huyết để đối phó với tình huống khẩn cấp. Một khi tình trạng khẩn cấp kết thúc, mọi thứ trở lại bình thường.[4]

Tuy nhiên, nếu điều này tiếp tục trong một thời gian dài, căng thẳng mãn tính có thể gây ra các vấn đề từ suy giảm nhận thức và mất ổn định cảm xúc cho tới bệnh tật thể chất. Các triệu chứng cảm xúc bao gồm kích động, ủ rũ, cảm thấy quá tải, không có khả năng thư giãn, lòng tự trọng thấp, cảm giác vô dụng, trầm cảm và cô lập. Các triệu chứng thể chất có thể bao gồm đau đầu, năng lượng thấp, đau dạ dày, căng cơ, đau ngực, mất ngủ, cảm lạnh và nhiễm trùng, mất ham muốn, hồi hộp, run rẩy hoặc khó nuốt. Căng thẳng cũng có thể dẫn đến các triệu chứng nhận thức: suy nghĩ lướt qua nhanh, hay quên, vô tổ chức, không có khả năng tập trung, đờ đẫn, phán đoán kém, bi quan và lo lắng liên tục.[5]

Căng thẳng, thèm ăn và không có khả năng tập trung vào những gì quan trọng

Căng thẳng có tác động rất lớn. Một tỷ lệ đáng kinh ngạc 71% trong số 2.000 người được hỏi cho biết họ đã trải qua mức độ căng thẳng cao, và điểm thú vị là: Căng thẳng gây ra cảm giác thèm ăn, đặc biệt thèm đường và thực phẩm chế biến nhiều lần. Quá trình tiêu hóa loại thực phẩm này giải phóng chất dẫn truyền thần kinh serotonin, mang lại cho chúng ta làn sóng bình tĩnh và thư giãn, cho phép chúng ta lấy lại sự tập trung tạm thời, cho đến khi mức serotonin giảm dần.

Từ 57 đến 65% số người đang bị đờ đẫn, cảm thấy choáng ngợp, lo lắng và buồn bã cũng trải qua cảm giác thèm ăn.

Cảm giác thèm ăn carbohydrate có thể là do mức serotonin thấp vì loại “hormone hạnh phúc” này được tiết ra trong quá trình tiêu hóa thức ăn. Điều này dẫn đến một vòng luẩn quẩn khi người ta tiêu thụ lượng carbohydrate quá mức nhằm cảm thấy vui vẻ hơn. Những cảm giác thèm ăn này thường thấy ở những cá nhân phải chịu mức độ căng thẳng cao.[6]

Mối liên hệ với việc chúng ta không có khả năng thành công nằm ở hai yếu tố đang diễn ra hàng ngày. Khi cảm thấy thèm ăn hoặc căng thẳng, phản ứng chiến đấu hay trốn chạy của chúng ta được kích hoạt lên. Quá trình này dẫn máu ra khỏi vỏ não trước, nơi điều khiển vô số chức năng điều hành, bao gồm các hành vi phức tạp như phối hợp, kiểm soát xung lực, phản ứng cảm xúc, tính cách, tập trung, tổ chức, lập kế hoạch phức tạp và ưu tiên thông tin đồng thời.[7]

Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn khó chịu: Lượng đường trong máu của chúng ta giảm, cảm giác thèm ăn của chúng ta tăng lên và lượng cortisol tăng, làm hạn chế khả năng kiểm soát các xung động, sự chú ý và phản ứng cảm xúc của chúng ta. Chúng ta tìm đến carbohydrate ngọt hoặc tinh chế cao và lượng đường trong máu tăng lên, sau đó là sự sụt giảm đột ngột, dẫn đến sự đờ đẫn, không thể tập trung, mất động lực, mất khả năng đạt được mục tiêu.

Chúng ta cố gắng giải quyết vòng luẩn quẩn này ở con cái bằng cách hạn chế lượng đường của chúng, nhưng lại không kiểm soát nó vì sức khỏe tâm lý của chính mình. Chúng ta cũng đã bị bịt mắt bởi các công ty nói rằng họ đang đưa “nhân tố lành mạnh” vào sản phẩm, mặc dù nhiều sản phẩm trong số đó có nhiều đường, chất làm ngọt nhân tạo sucralose, carbohydrate tinh chế, caffeine và chất bảo quản, tất cả đều ảnh hưởng đến khả năng suy nghĩ thông suốt của chúng ta.

Khi lượng đường trong máu của bạn giảm hoặc bạn gặp phải mức độ căng thẳng cao, não của bạn sẽ chuyển sang chế độ sinh tồn, thúc đẩy bạn liều lĩnh hơn và đưa bộ não nguyên thủy của bạn vào trạng thái hưng phấn kích thích cao độ. Sự thay đổi này khiến tính cách, tâm trạng và bản sắc của bạn dao động suốt cả ngày. Động lực của bạn có thể cao vào buổi sáng, nhưng vào buổi chiều, bạn thà ngồi trên ghế và xem tivi còn hơn vì bạn đã sử dụng hết khả năng tinh thần của mình trong ngày.

Trong trạng thái nguyên thủy này, mục đích chính của bộ não là duy trì sự sống chứ không phải để khiến bạn tập trung vào việc đạt được mục tiêu của mình. Não bộ thậm chí còn không xếp việc “đạt được mục tiêu” vào danh sách các chức năng quan trọng cần thiết để duy trì cuộc sống. Trong trạng thái này, còn được gọi là chế độ tự bảo tồn, não bộ mặc định duy trì hiện trạng của bạn chứ không làm thêm gì khác.

Vấn đề là hầu hết chúng ta không thể tắt chế độ này đi, hoặc nếu chúng ta làm vậy, nó sẽ nhanh chóng quay trở lại sau đó, tạo ra một chuyến tàu lượn đầy cung bậc cảm xúc và cảm giác bất lực không thể hoàn thành các dự án đúng hạn. Sự xáo trộn cảm xúc này dễ dàng diễn ra như vậy là do ảnh hưởng trực tiếp của quá trình chúng ta học cách xử lý các mối đe dọa tiềm tàng. Quá trình đó dựa trên nhiều yếu tố như giáo dục, di truyền và cả mức độ các hormone như serotonin và dopamine. Nếu mức serotonin hoặc dopamine của bạn thấp, bạn sẽ khó đương đầu với những thất bại, và nhiều khả năng có tâm thế thụ động thay vì chủ động.

Ngày qua ngày, lối sống hiện tại tàn phá chúng ta bằng các yếu tố căng thẳng, bắt đầu từ một yếu tố nhỏ nào đó tưởng chừng vô hại. Ví dụ về các yếu tố căng thẳng này có thể là phản ứng với thực phẩm không lành mạnh, dị ứng, tin xấu, mất ngủ, ô nhiễm, đồng nghiệp thù địch, căng thẳng tài chính, quá nhiều caffeine, xung đột trong các mối quan hệ, vấn đề gia đình, căng thẳng liên tục hoặc đơn giản là ai đó trên đường nhìn bạn đầy soi mói. Sự căng thẳng bắt đầu tăng tốc và kết quả là các vấn đề khác xuất hiện. Quá trình này xảy ra chậm đến mức ban đầu chúng ta không nhận ra cho đến khi mọi nỗ lực thoát ra đều trở nên vô ích vì các chức năng nhận thức của chúng ta đã bị vô hiệu hóa; nó giống như đi tìm chìa khóa trong một căn phòng tắt đèn tối om vậy.

Để tìm ra công tắc bật đèn, chúng ta phải thay đổi nhân cách và nguồn nhiên liệu, ngay cả khi chỉ trong chốc lát, để khởi động lại tinh thần, cơ thể và tâm trí của chúng ta cùng một lúc.

Các mô hình điều trị cũ

Khi nói chuyện với các chuyên gia trong lĩnh vực y học, tâm thần học, phát triển cá nhân, bẻ khóa sinh học, phản hồi thần kinh, phản hồi sinh học và khoa học thần kinh, tôi phát hiện ra một điều thú vị. Mỗi người trong số họ đều có công thức riêng để thành công, nhưng họ hiếm khi hợp nhất chúng thành một khuôn khổ gắn kết để tạo ra sự thay đổi lâu dài cho chúng ta, những người đang đòi hỏi nhiều hơn từ chính mình. Một số khung này bao gồm:

  • Mô hình y tế: chẩn đoán và điều trị bệnh, kê đơn thuốc để kiểm soát các triệu chứng mà thường không phát hiện và giải quyết nguyên nhân gốc rễ, dẫn đến các tác dụng phụ có thể xảy ra. Mô hình này xem cơ thể như một tập hợp các cơ quan độc lập được phân chia theo các chuyên ngành y tế.
  • Mô hình tự lực: thúc đẩy nhận thức, khám phá hành vi tự phá hoại, truyền cảm hứng thông qua cách kể chuyện, khuyến khích khách hàng thay đổi niềm tin của họ và noi gương những người thành công, có bàn luận thêm các yếu tố tâm lý. Thật không may, phương pháp này không xác định được bất kỳ sự thiếu hụt dinh dưỡng nào có thể góp phần vào những hành vi này, những thiếu hụt dinh dưỡng vẫn tạo ra được thành công nhưng chỉ trong ngắn hạn chứ không thể tạo được sự thay đổi lâu dài. Khách hàng được “tiêm” một luồng ý chí, nhưng khi hết, họ mặc định trở lại chế độ cài đặt trước đây của mình.
  • Các mô hình trị liệu: gồm nhiều liệu pháp như nhận thức, chánh niệm, liệu pháp hành vi và liên nhân. Tương tự như mô hình tự lực, những liệu pháp này có thể khiến bệnh nhân không thực hiện những thay đổi cơ bản trong cơ chế sinh hóa của họ mà chỉ đưa cho họ một mảnh ghép về lý do tại sao họ lại thiếu động lực, thiếu tinh thần, thiếu tập trung, thiếu bình tĩnh.

Lĩnh vực y học chức năng đang thay đổi cách thức điều trị bệnh tật. Nó tìm kiếm và giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của bệnh. Không giống như y học truyền thống vốn xem cơ thể là một tập hợp các cơ quan độc lập, y học chức năng xem cơ thể như một hệ thống tích hợp. Mục tiêu của nó là điều trị toàn bộ cơ thể, không chỉ các triệu chứng.

Những hiểu biết tôi nhận được từ các chuyên gia mà tôi đã nói chuyện và từ vô số các thực phẩm chức năng, chế độ ăn uống, chiến lược chánh niệm và các thiết bị đeo tôi thử nghiệm trong thời gian 90 ngày này dẫn đến việc tôi suy ngẫm lại toàn bộ ngành khoa học về thành công, nhìn nhận lại đâu là gốc rễ để đạt được thành công đó. Tôi đã thử nghiệm một phương pháp y học chức năng hoàn chỉnh để đạt hiệu suất cao nhất và giờ tôi sẽ hướng dẫn bạn bắt đầu từ việc tìm ra khoảng hở trong nhân cách cho đến trở thành người dẫn đầu, thành người không thể cản ngăn. Hãy cùng tìm hiểu nào.

-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Eva Ritvo, “Facebook and Your Brain: The Inside Dope on Facebook” (Facebook và bộ não của bạn: Thuốc mê trên Facebook), Psychology Today, 24/5/2012, www.psychologytoday.com/us/blog/vitality/201205/facebook-and-your-brain.
  2. Deane Alban, “Dopamine Deficiency, Depression and Mental Health” (Thiếu hụt dopamine, trầm cảm và sức khỏe tâm thần), Be Brain Fit, https://bebrainfit. com/dopamine-deficiency/.
  3. Deane Alban, “Serotonin Deficiency: Signs, Symptoms, Solutions” (Thiếu hụt serotonin: Dấu hiệu, triệu chứng, giải pháp), Be Brain Fit, https://bebrainfit. com/serotonin-deficiency/.
  4. “Stress Effects on the Body” (Tác động của căng thẳng đến cơ thể), Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ, www.apa.org/helpcenter/stress-body.aspx.
  5. “Stress Symptoms” (Các triệu chứng căng thẳng), WebMD, 11/7/2017, www.webmd. com/balance/stress-management/stress-symptoms-effects_of-stress-on-the-body#2.
  6. R.J. Wurtman, “Brain serotonin, carbohydrate-craving, obesity and depression” (Serotonin của não, thèm carbohydrate, béo phì và trầm cảm), 3/11/1995, www. ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/8697046.
  7. “Prefrontal Cortex” (Vùng vỏ não trước trán), GoodTherapy.org, www. goodtherapy.org/blog/psychpedia/prefrontal-cortex.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng